Sự sáng tạo trong cách nhìn nhận lại tiểu thuyết lịch sử đã thôi thúc tôi chọn đề tài diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần của nhà văn Trần Thanh Cảnh 2.. Đức Thánh Trần
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI, 2019
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Vân Anh
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, đã tạo điều kiện để em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lòng biết ơn đến TS Nguyễn Thị Vân Anh đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu, dù bản thân em đã cố gắng nỗ lực song khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý quý báu của quý Thầy, Cô Đó sẽ là hành trang quý báu giúp em hoàn thiện bản thân mình
Em xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn đồng hành, tạo động lực để
em hoàn thành tốt khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Đặng Thị Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các trích dẫn và kết quả trong đề tài nghiên cứu đều trung thực và chưa được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào Tôi xin chịu trách nhiệm
về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Đặng Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 1
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.Mục đích nghiên cứu 3
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6.Phương pháp nghiên cứu 4
7.Bố cục khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN VÀ DIỄN NGÔN TÍNH DỤC 5
1.1 Khái niệm diễn ngôn 5
1.1.1 Một số quan niệm về diễn ngôn 5
1.1.2 Khái niệm diễn ngôn văn học 8
1.2 Vấn đề tính dục trong sáng tác và nghiên cứu văn học 9
CHƯƠNG 2: KIẾN TẠO DIỄN NGÔN DỰA TRÊN TINH THẦN KHAI PHÓNG TÍNH DỤC 16
2.1 Những yếu tố chi phối, tác động đến tinh thần khai phóng tính dục 16
2.1.1 Chủ trương giải mờ nhân vật lịch sử 16
2.1.2 Tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa dân gian 19
2.2 Đặc điểm diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần 21
2.2.1 Chủ thể diễn ngôn và nhiệt hứng miêu tả hình ảnh thân thể 22
2.2.2 Nhân vật lịch sử với đời sống tình dục mạnh mẽ, phóng khoáng 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC KIẾN TẠO DIỄN NGÔN TÍNH DỤC 31 3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 31
3.1.1 Sử dụng nhiều tính từ biểu thị cảm xúc tính dục 31
3.1.2 Sử dụng dày đặc các động từ chỉ hoạt động tính giao 33
3.2 Giọng điệu 34
3.2.1 Giọng điệu khát khao, mãnh liệt 35
3.2.2 Giọng điệu ngọt ngào tha thiết 37
3.3 Không gian nghệ thuật 38
Trang 63.3.1 Không gian trang trọng, đẹp đẽ 38 3.3.2 Không gian tự nhiên, thơ mộng 40
KẾT LUẬN 42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7có quyền khai thác lịch sử dưới cái nhìn chủ quan của mình, tạo thêm cho lịch
sử lớp vỏ bọc cũng như khai thác hết tài năng và sáng tạo của nhà văn
Văn xuôi viết về lịch sử sau 1986 có sự chuyển biến sâu sắc và mạnh
mẽ các hình thái diễn ngôn, nếu như ở giai đoạn trước diễn ngôn mang các đặc điểm chiêm bái, ngưỡng vọng và tính khẳng định cao thì diễn ngôn giai đoạn này mang tính giả định, giải thiêng, giải mờ và từ diễn ngôn dân tộc sang diễn ngôn đời tư Văn học chú trọng đi sâu khám phá chủ đề tính dục, nó vốn là một đặc tính tồn tại hiển nhiên trong mỗi người là yếu tố quan trọng làm nên bản thể Đây chính là cách thức để nhà văn khám phá sự đa chiều, đa diện về con người Nó cho con người những giây phút sống đích thực là mình với những rung động và thăng hoa cảm xúc
“Đại Việt sử kí toàn thư” viết về nhân vật lịch sử Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một trong những vị anh hùng nổi tiếng của dân tộc Việt Nam Ông là một vị tướng giữ vai trò trụ cột của nhà Trần và là vị tướng có đóng góp to lớn trong ba lần đánh thắng quân xâm lược Mông - Nguyên Với tầm vóc lịch sử quan trọng và những phẩm chất tốt đẹp của một vị tướng tài, sau khi mất, ông đã được nhân dân thần thánh hoá và được lập đền thờ trên khắp nước Nam Tuy nhiên, dưới cái nhìn “giải mờ” của mình trong tiểu
thuyết Đức Thánh Trần nhà văn Trần Thanh Cảnh đã xây dựng nên một Trần
Quốc Tuấn với một diện mạo đời tư mới hết sức đời thường và trần tục
Sự sáng tạo trong cách nhìn nhận lại tiểu thuyết lịch sử đã thôi thúc tôi
chọn đề tài diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần của nhà văn
Trần Thanh Cảnh
2 Lịch sử vấn đề
Trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần của nhà văn Trần Thanh Cảnh - hình
ảnh của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn hiện lên với “Võ nghiệp lẫy
Trang 82
lừng” và “Tình yêu bất diệt” Đây là sự sáng tạo hoàn toàn khác biệt và mới lạ với các tác phẩm văn học khác viết về Ngài và triều Trần Nhà văn Trần Thanh Cảnh chia sẻ: “Lịch sử là cái đinh cho tôi neo trí tưởng tượng… Tôi giải mờ một nhân vật kiệt xuất của lịch sử được nhân dân tôn thờ là vị Thánh” Quan đó ta thấy được dụng ý tác giả ngoài nhấn mạnh và khẳng định phẩm chất cao quý, linh thiêng thần thánh của Trần Quốc Tuấn Đồng thời cuộc đời đời thường của Trần Quốc Tuấn lâu nay vẫn bị che mờ khuất lấp, chính sử không đề cập đến, và nhà văn cần “giải mờ” bằng sự sáng tạo đa chiều, nhiều hướng của văn học, đây cũng là điều mà văn chương khác với lịch sử
Nhà phê bình văn học Nguyễn Hoài Nam khẳng định: “Nhà văn Trần Thanh Cảnh đã điền được vào chỗ khuyết trong lịch sử” Cho dù có thật là “điền vào chỗ khuyết trong lịch sử” hay không, thì qua tiểu thuyết,ta có thể thấy một chân dung Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là vị Thánh trong lòng dân Việt như đã từng, nhưng cũng là một vị Thánh rất “đời” như chưa từng biết cho
đến khi đọc tác phẩm.“Đức Thánh Trần ở góc nhìn khác trong tiểu thuyết của
Trần Thanh Cảnh” Tác giả Hoài Hương cho rằng: “Lịch sử là không xê dịch, nhưng văn chương lại có quyền tạo nên cái vỏ, cũng như làm đầy thêm, phong phú thêm bằng trí tưởng tượng và “công lực”, tài năng bút pháp của nhà văn mà
lịch sử không thể làm được Đức Thánh Trần của nhà văn Trần Thanh Cảnh ở
góc độ nào đó đã tạo nên chân dung rất “đời” của một nhân vật lịch sử kiệt xuất, một anh hùng dân tộc, một Thánh nhân được người Việt tôn xưng là Cha, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, và rất trân trọng tác giả tái hiện lịch sử theo cách nhìn mới mẻ này” Bên cạnh đó, tác giả Trần Long trong bài “Một diễn giải
mới về Trần Hưng Đạo” tiếp cận Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh từ góc nhìn diễn giải lịch sử Tác giả cho rằng: “Tiểu thuyết lịch sử Đức Thánh Trần
của nhà văn Trần Thanh Cảnh chính là diễn giải của tác giả về vương triều Trần lẫy lừng ba lần kháng Nguyên toàn thắng”
Nguyễn Văn Hùng trên tạp chí Sông Hương Nguyễn Văn Hùng viết:
“Có thể nói, với Trần Thanh Cảnh, lịch sử chỉ là cái cớ, phông nền để ông phân tích, luận giải, khám phá ý nghĩa mới, đem lại cách nhìn khác/mới về hiện thực lịch sử và bản chất con người Ông đã biết cách dung hòa hợp lý, tinh tế giữa chân lý và hư cấu trong diễn ngôn về lịch sử Và ở một phương
Trang 93
diện nào đó, ông đã tự tạo cho riêng mình một chân lý - chân lý của nơi tưởng tượng, hư cấu Đó là sự kết tinh của sự am tường, hiểu biết sâu sắc về quá khứ; cần mẫn, nghiêm túc trong việc xử lí tư liệu; sự dũng cảm, bản lĩnh trong sáng tạo nghệ thuật; lòng tự tôn dân tộc và đặc biệt là văn hóa ứng xử với những giá trị truyền thống”
Do tác phẩm Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh mới được ra mắt
bạn đọc nên chưa có nhiều sự nhận xét và nghiên cứu Vì vậy đề tài nghiên
cứu về diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần càng trở nên hấp
dẫn và có ý nghĩa hơn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Diễn ngôn về tính dục trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần của Trần
Thanh Cảnh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu đã chọn, tác giả khóa luận chú ý tập trung khảo sát và
phân tích tiểu thuyết Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh Ngoài ra khóa luận còn tham khảo một số tác phẩm chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư để bài nghiên
cứu được sâu sắc và sáng tạo hơn
Từ những lí thuyết về diễn ngôn tính dục để soi chiếu giải mã tiểu
thuyết Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh
Khẳng định nét đặc sắc và sự đóng góp lớn lao của cuốn tiểu thuyết lịch
sử vào kho tàng văn học Việt Nam hiện đại
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi nghiên cứu chúng tôi xác định một số nhiệm vụ như sau:
Trang 104
- Tìm hiểu và tập hợp một số lý thuyết có liên quan đến đề tài
- Tham khảo các tài liệu phục vụ việc nghiên cứu
- Phân tích, bình luận, đánh giá nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện khách quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành tiếp cận nghiên cứu đề tài, khóa luận này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp lịch sử: vấn đề diễn ngôn tính dục là đề tài có tính lịch sử
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trong quá trình phân tích tác phẩm người viết đưa ra những nhận xét, kết luận tránh áp đặt tư tưởng và xa rời tác phẩm
- Phương pháp hệ thống
- Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp không sử dụng riêng lẻ, tách rời mà có sự phối hợp bổ sung để đạt được kết quả tốt nhất và giải quyết được các yêu cầu đặt ra
Trang 115
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN
VÀ DIỄN NGÔN TÍNH DỤC
1.1 Khái niệm diễn ngôn
1.1.1 Một số quan niệm về diễn ngôn
Diễn ngôn là một thuật ngữ có lịch sử lâu đời và có tính chất vô cùng phức tạp bởi nó ứng dụng vào rất nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn: triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lí học, nghiên cứu văn học nên khó tránh khỏi việc có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về diễn ngôn Có thể nói trong lịch sử nghiên cứu về diễn ngôn có rất nhiều quan niệm và cách tiếp cận về khái niệm diễn ngôn
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học thì khái niệm diễn ngôn là một khái
niệm mới mẻ, có thể hiểu “ diễn” là diễn giải , trình bày, giăng rộng kéo dài
ra để mà trình bày một cái gì đó Còn “ngôn” là lời nói, tiếng nói là ngôn từ Vậy nên có thể hiểu đại khái diễn ngôn là sự giải bày, trình bày lời nói thông qua ngôn ngữ
Theo Foucault, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng người Pháp thì diễn ngôn là: “tất cả các phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực
nào đó trong thế giới thực, đều được coi là diễn ngôn” [19] Do đó có thể hiểu
diễn ngôn là tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống và là phương tiện để biểu đạt ý nghĩa của văn bản vậy nên diễn ngôn luôn bị quy chiếu vào đối tượng mà nó biểu đạt Đây là tiền đề quan trọng để Foucault triển khai tư duy của mình về mối quan hệ giữa diễn ngôn và hiện thực
Định nghĩa thứ hai của Foucault về diễn ngôn hình dung diễn ngôn như
là “một nhóm các nhận định được cá thể hóa” Đây là định nghĩa thường được Foucault sử dụng để nhận dạng các diễn ngôn cụ thể Diễn ngôn trong cách sử dụng này là một nhóm những nhận định được tổ chức theo một cách thức nào
đó và có một mạch lạc và một hiệu lực chung Theo đó, người ta có thể nói đến chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn nam tính,
Trang 12lí luận Ba định nghĩa của Foucault được nêu lên tuy chúng có tính độc lập nhưng trong quá trình thực tế nghiên cứu các định nghĩa này luôn được sử dụng xen kẽ, hỗ trợ nhau, và định nghĩa này bao trùm lên định nghĩa khác tùy theo hướng triển khai của người nghiên cứu
Theo Bakhtin về ngôn ngữ Ông cho rằng, “diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bối cảnh xã hội, của những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng Diễn ngôn là lãnh thổ chung của người nói và người nghe, khu vực tiếp xúc giữa ta và người” Diễn ngôn là mảnh đất giao cắt, hội tụ, tranh biện của những tư tưởng, quan niệm khác nhau
về thế giới Bởi thế, Bakhtin nhấn mạnh, đối thoại là bản chất của diễn ngôn Mỗi người nói không phải là người nói đầu tiên, mà đều là người trả lời, là người đối thoại với hàng ngàn những người nói trước đó Người nghe không phải là người lắng nghe một cách thụ động mà là người chủ động hồi đáp Mỗi đối tượng của phát ngôn đều đã từng được bàn bạc, soi sáng, đánh giá nhiều lần, theo những cách khác nhau, hay nói cách khác, “các quan điểm, thế giới quan, các xu hướng khác nhau giao cắt, tán đồng, đối địch với nhau ngay trên đối tượng ấy” Mỗi phát ngôn chỉ là một mắt xích, một khâu của một mạch các phát ngôn khác Lời nói của chúng ta, vì thế, “được hình thành và phát triển trong sự tác động qua lại, thường xuyên, liên tục với những phát ngôn của các
cá nhân khác” Lời nói của chúng ta “đầy ắp những từ ngữ lạ, với mức độ xa lạ hay thuần thục, mức độ hấp thu và đào thải khác nhau”
Quan niệm diễn ngôn của Bakhtin có nét tương đồng với Foucault vì đều nhấn mạnh đến thực tiễn của diễn ngôn Diễn ngôn là một sự kiện xã hội,
nó không thõa mãn với việc làm một yếu tố của ngôn ngữ trừu tượng , cũng không thể chỉ hiểu một cách cô lập là xuất phát từ ý thức chủ quan của người nói để rút ra các yếu tố tâm lí mà nó tồn tại bằng phương thức ngôn ngữ Như vậy ngôn ngữ khác với diễn ngôn, ngôn ngữ là công cụ, không có tác giả,
Trang 137
không có người đọc, tự thân cũng không có ý nghĩa, còn diễn ngôn thì khác,
nó gần với khái niệm tekst, có tác giả, có ý nghĩa và có người đọc
Theo Teun Adrianus Van Dijk: “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào
đó Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời”
Theo Jacob Torfing: “Diễn ngôn là kết quả của những cách đọc bá quyền mà mục đích của chúng là xác lập vai trò lãnh tụ về mặt chính trị, cũng như đạo đức - trí tuệ”
Trong khuôn khổ lí thuyết phát ngôn và ngữ dụng, “người ta gọi diễn ngôn là tác động của phát ngôn tới người tiếp nhận và sự chuyển nhập của nó vào “tình huống phát ngôn” (ý muốn nói tới chủ thể phát ngôn, đến người nhận, thời điểm và vị trí nào đó của phát ngôn);
Émile Benveniste gọi “diễn ngôn” là lời nói thuộc về người nói, lời nói trái ngược với “trần thuật” như là hoạt động được triển khai không có sự can thiệp rõ ràng của chủ thể phát ngôn;
Olga Rusakova cho rằng:“diễn ngôn là hệ thống cấu trúc giao tiếp - kí hiệu phức tạp có sáu bình diện cơ bản: chủ định (chủ định quyền uy, chiến lược, ý đồ), bức thiết (phản ánh chủ định quyền uy trong hoạt động thực tiễn
có đặc tính kí hiệu - biểu trưng), tiềm năng (xác định và thấu hiểu ý nghĩa, giá trị, bản sắc), ngữ cảnh (mở rộng trường nghĩa trên cơ sở ngữ cảnh văn hoá xã hội, lịch sử và các ngữ cảnh khác), tâm lí (dự trữ tình cảm, nghị lực chứa đựng trong diễn ngôn và cung cấp cho nó sức mạnh khơi gợi), “trầm tích” (dấu ấn của tất cả các bình diện nêu ra ở trên trong ý thức và kinh nghiệm xã hội, trong môi trường được xã hội cấu trúc hoá và vật chất hoá mà hình thứ của nó là sự phản ánh của văn hoá)”
Theo V.I Chiupa “Diễn ngôn là phát ngôn, hành động lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói và được xem là sự kiện giao tiếp tương tác văn hóa xã hội” [5] giữa chủ thể, khách thể và người tiếp nhận “ Diễn ngôn” có nguồn gốc từ tiếng La Tinh, nghĩa là “chạy tới chạy lui
Trang 148
khắp tứ phía” (trong các công trình của Thomas Aquinas, nó có nét nghĩa: đàm luận, nghị luận)
Nhận định về diễn ngôn, tác giả Trần Đình Sử khẳng định: “Diễn ngôn
là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con người, thế giới, về các sự việc trong đời sống Diễn ngôn là hiện tượng tư tưởng Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt,
mà là bản thể tư tưởng, bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn Ngoài diễn ngôn, tư tưởng không tồn tại” [15]
Như vậy, diễn ngôn là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của con người trong xã hội, nó có khả năng phản ánh, miêu thả thế giới khách quan Đồng thời diễn ngôn bị tác động, chi phối bởi hình thái ý thức xã hội, tiết chế quyền lực chính trị của xã hội ấy
1.1.2 Khái niệm diễn ngôn văn học
Theo Foucault, văn học được xem như là một diễn ngôn Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống, là bức tranh chân thực về xã hội muôn màu muôn vẻ, tuy nhiên bức tranh hiện thực đời sống được văn học phản ánh bị diễn ngôn chi phối Mà diễn ngôn vốn dĩ nó bị quy định từ những tương quan
về quyền lực, tri thức của giai đoạn lịch sử cụ thể Hay có thể nói để hình thành diễn ngôn văn học người ta cần quan tâm đến câu hỏi: trong các tương quan về quyền lực tri thức nào mà những sự vật nào đó được xuất hiện và miêu tả trong diễn ngôn văn học, yếu tố quyền lực, tri thức chi phối, quyết định đến những đề tài nào được và không được nói tới trong văn học Khi nhìn nhận tác phẩm văn học như một diễn ngôn ta sẽ thấy sự đặc biệt của diễn ngôn văn học như một không gian giao cắt và tác động vô cùng phức tạp giữa các diễn ngôn của một thời đại lịch sử cụ thể Đây là yếu tố tạo nên tính đa nghĩa cho tác phẩm văn học.\
Giáo sư Trần Đình Sử nhận định, diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học Trong văn học, diễn ngôn là chỉ chiến lược phát ngôn nghệ thuật, thể hiện trong các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ để vượt thoát khỏi các hạn chế nhằm phát ra được tiếng nói mới thể hiện quan điểm, cái nhìn mới trong chỉnh thể sáng tác Diễn ngôn văn học
Trang 159
mang tính đặc thù Nếu các nhà nghiên cứu khác xem diễn ngôn văn học như
là một diễn ngôn thông thường và nghiên cứu diễn ngôn văn học theo phương pháp thuần túy thì D Delas phát biểu: “Không thể nghiên cứu diễn ngôn văn học bằng cách đơn giản là ứng dụng các khái niệm dành cho việc nghiên cứu các diễn ngôn xã hội khác: nhất thiết phải có thi pháp” Cùng quan điểm này với D Delas, A Herschberg Pierrot cho rằng: “Diễn ngôn đối lập với tác phẩm văn học Tác phẩm văn học không phải là diễn ngôn như những diễn ngôn khác, đó là một sự kiện viết văn, đọc văn, một cấu hình thẩm mỹ [ ] Trong viễn cảnh đó, phân tích diễn ngôn và phân tích phong cách học không
có chung cách đặt vấn đề cũng như đối tượng nghiên cứu”
Diễn ngôn văn học tạo ra hiện thực, tạo ra cái nhìn mới về cuộc sống đồng thời diễn ngôn văn học tạo lập tri thức, biểu hiện sự cảm thụ cái đẹp, sự
lí giải, cắt nghĩa cuộc sống của tác giả Diễn ngôn văn học tạo ra nghĩa về một hiện tượng, một sự việc nó tham gia định nghĩa về bất cứ điều gì theo quy ước của nó, đồng thời diễn ngôn văn học còn có chức năng thông tin, tìm ra các định nghĩa mới cho sự vật, đem lại cái nhìn mới về thế giới và vũ trụ
Có thể khẳng định diễn ngôn văn học tạo ra tri thức và quyền lực, đồng thời nó chi phối tới nội dung phản ánh và tư tưởng của người cầm bút Quyền lực của một thể chế xã hội quy định cái gì được viết và cái gì không được phép viết trong diễn ngôn văn học Ví dụ văn học Trung đại là văn chương của sự quy phạm ước lệ, quy định của văn chương là “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”, vậy nên văn học phải là sự chuẩn mực để chuyên chở đạo lí, những
tư tưởng đạo lí mà không được phép vượt ra ngoài những quy chế đã quy định sẵn Qua đó ta thấy rõ sự chi phối mạnh mẽ của ý thức hệ đến phát ngôn Mặc
dù nhà văn được tự do phát biểu quan điểm của mình về đời sống tuy nhiên vẫn chịu sự chi phối cơ bản nào đó Cũng giống như diễn ngôn văn học mặc
dù phản ánh đời sống, thể hiên quan điểm triết lí của nhà văn nhưng vẫn chịu
sự chi phối của các cơ chế quyền lực trong xã hội
1.2 Vấn đề tính dục trong sáng tác và nghiên cứu văn học
Đề tài về tính dục là mảnh đất màu mỡ để người cầm bút cày xới Tính dục không chỉ đơn thuần là một đề tài phản ánh trong tác phẩm mà còn là một
Trang 1610
hệ quy chiếu để soi rọi đồng thời giải mã tác phẩm văn học Vậy tính dục là gì? Theo từ điển Wikipedia, “tính dục ở loài người là năng lực giới tính, thể chất, tâm lý và sinh dục, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của nam giới và nữ giới Tính dục là một khái niệm có nội hàm rộng, vừa phản ánh mối quan hệ giới tính, vừa chứa đựng những yếu tố hữu hình và ẩn dấu của cá nhân” Trong tiếng Việt, tính dục, đặc biệt khi chỉ đề cập tới mối quan hệ giới tính, còn được gọi là tình dục
Khái niệm tính dục bao hàm:
Nhận thức và cảm giác về cơ thể mình và cơ thể người khác
Tính chất tâm lý bên trong và hành vi ứng xử bên ngoài
Cảm xúc, suy nghĩ và nhu cầu gần gũi về tình cảm với một ai đó
Cảm giác hấp dẫn tình dục với người khác
Các tiếp xúc tình dục: từ động chạm cơ thể đến giao hợp
Tính dục - theo Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa: là “thú vui của xác thịt giữa nam và nữ” Còn Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển tiếng Việt thì cho rằng tính dục là những “đòi hỏi về quan
hệ tính giao” Trong “Bốn bài giảng mỹ học”, Lý Trạch Hậu đã khẳng định con người song song tồn tại trong sự thống nhất tính động vật và tính xã hội
và nhân tính chính là sự thống nhất giữa cảm tính và lý tính, tự nhiên và xã hội Khi con người “trở lại tính động vật, trở lại với tính dục là trở về với sự sống đích thực, bởi vì chỉ có như thế thì cái tôi có một lần mới có thể tồn tại như một thực thể” Trong văn học, khái niệm tính dục được dùng chủ yếu để phản ánh hoạt động luyến ái trong quan hệ nam nữ Tính dục thuộc về bản năng con người, đời sống tình dục, quan hệ ân ái là bản năng sinh lý tự nhiên của loài người không thể cấm đoán hay phủ nhận Mạnh Tử đã khẳng định:
“Thực sắc, tính dã ” nghĩa là ham ăn uống, mê sắc dục là bản tính tự nhiên có sẵn của con người Tính dục (sexuality) được xem là một hiện tượng văn hóa Theo Foucault: “Không nên nghĩ về tính dục như một cái gì đó tồn tại khách quan mà quyền lực cố gắng kiềm chế hoặc như một lĩnh vực mờ tối mà tri thức cố gắng từng bước khám phá ra Tính dục là một tạo tác mang tính
Trang 1711
lịch sử (historical construct)” Hoạt động tính dục là một trong những nhu cầu bình thường của con người, nó thể hiện khát vọng đời thường được giải tỏa nhu cầu sinh lí của cá nhân Cuộc sống đang phát triển không ngừng, người ta khích lệ và giải thoát cái cố hữu, để cái tôi cá nhân được cất lên tiếng nói Tuy nhiên khi nói đến vấn đề “ tình dục” không ít người còn rất e ngại và xem đấy như chủ đề cấm kị, chuyện riêng tư vì vốn dĩ văn hóa của người Việt mang đậm tính Á Đông nên chuyện chăn gối nhục dục được xem là chủ đề tế nhị, ít được đề cập đến Mặc dù vậy, đối với văn học xa xưa chủ đề tình dục đã cất tiếng nói khá sớm, từ thuở sơ khai các tác giả dân gian đã gửi gắm kí thác những từ ngữ táo bạo nói về hoạt động tính giao, về hình ảnh sinh thực khí hay những khát khao thầm kín của con người
“Chị kia lớn mổng cao mu
Lại đây cho tôi gởi con cu trọc đầu
Cu tôi vừa mới đâm lông
Cho mượn cái lồng nhốt đỡ vài đêm
Cu tui ăn đậu ăn mè
Ăn chi của chị mà chị đè cu tui
Tui chưa trách chị mà chị lại trách tui
Con chị đi lên đi xuống nên con tui mang bầu”
Còn hơn chụp bụp nữa ngoài nữa trong”
Ca dao vốn bình dị như hơi thở của người dân lao động, và từ lâu chủ
đề về tính dục đã đi vào ca dao một cách nhẹ nhàng, uyển chuyển nhất Người
Trang 1812
ta không còn phải né tránh, kiêng kị khi cất lời ca viết về tình dục hay hoạt động tính dao nữa mà giờ đây đề tài này đã trở thành mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu cho nhân dân cất lên mua vui, tạo tiếng cười cho vơi đi những cơ cực, khó khăn trong cuộc sống Qua đó gửi gắm những khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi, khát vọng thể hiện vẻ đẹp về sự sinh tồn của con người mà đôi khi nó bị xã hội cấm đoán, o ép làm mất đi cái tự nhiên vốn có Ca dao ra đời
từ rất sớm khi mà xã hội còn sơ khai chưa xuất hiện chữ viết nhưng nó đã dám đề cập đến đề tài sex đã phần nào nói lên tiếng nói mỉa mai, châm biếm, phản kháng và tố cáo xã hội đầy rẫy bất công ngang trái
Đến nền văn học viết, chủ đề tính dục vẫn được xem là một đề tài nổi bật và được chú ý Tuy nhiên, chủ đề tính dục được đề cập đến nhiều hay ít còn tùy thuộc vào hệ tư tưởng của từng thời kì, từng giai đoạn Nền văn học trung đại hình thành và phát triển cùng với chiều dài lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam Do đó nó chịu sự chi phối của tư tưởng thời đại và xã hội lúc bấy giờ đến nội dung và cách phản ánh Văn học trung đại là văn chương của sự quy phạm, ước lệ và chịu hệ tư tưởng của Nho giáo, trói buộc con người vào những giáo lí hà khắc, con người không được sống thuận theo tự nhiên:
“Trong tất cả các thứ tình, thứ dục thì Nho giáo sợ nhất là sắc đẹp đàn bà và tình yêu Đó là thứ tình mạnh nhất, thứ dục thiết tha nhất, thức đam mê da diết, dai dẳng, bất trị nhất Cho nên đối với tình yêu, các nhà nho tỏ ra có nhiều nghi ngại, đặt ra nhiều lễ tiết, lo nghĩ, phòng phạm rất cẩn thận” Vậy nên chủ đề tình dục rất ít được đề cập đến, nếu có chỉ là bài viết đơn lẻ, không thành chủ đề lớn Viết về đề tài tính dục thời kì trung đại không thể bỏ qua bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, đây được xem là cây viết xuất sắc về đề tài này Thơ của Hồ Xuân Hương là sự hòa quyện của cái “thanh” và cái “tục”
mà chính cái tục trong thơ Bà làm nên điểm nhấn nổi bật không lẫn vào đâu được Khó mà phân định được rõ ràng cái thanh khiết và cái thô tục trong thơ
Hồ Xuân Hương Trong bài vịnh “Hang Cắc Cớ”, đây là một bài tả về cái hang núi thiên nhiên thơ mộng nhưng đọc lên chúng ta không khỏi liên tưởng đến bộ phận sinh dục của người phụ nữ
“Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hom
Trang 1913
Kẽ hầm rêu mọc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm
Con đường vô ngạn tối om om
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm”
Xã hội phong kiến vốn phủ nhận con người cá nhân và đề cao con người người xã hội, họ trói buộc con người vào hệ tư tưởng Nho gia với những lễ giáo khắt khe và hệ tư tưởng độc đoán với tư tưởng:
“Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”
Bước ra khỏi hệ thống thi pháp của văn học trung đại, nền văn học hiện đại cho phép nhà văn được tự do sáng tạo, được tự do tháo gỡ những dây trói trong tâm hồn Đó là lí do mà văn học hiện đại xuất hiện vô số tác phẩm, tác giả viết về chủ đề tính dục Nếu như văn học lãng mạn ít đề cập đến tả thực cảnh hoan lạc, ái tình hay đi sâu khám phá vẻ đẹp hình thể thì văn học hiện thực lại chĩa ngòi bút sắc lạnh vào đề tài tình dục không e dè Nổi bật có lẽ phải nhắc đến Ông vua phóng sự đất Bắc Vũ Trọng Phụng qua các thiên tiểu thuyết như “Giông tố”, “Số đỏ” hay “Làm đĩ” Với bút pháp của một nhà văn hiện thực, Ông đã khẳng định “tiểu thuyết là sự thực ở đời”, với giọng văn sắc sảo kết hợp với ngôn ngữ gai góc đã làm cho tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng chân thực đến từng đường nét Ông đã đưa vào hệ thống ngôn ngữ những từ ngữ đầy tính dục, đặc biệt trong tiểu thuyết “Làm đĩ” diễn ngôn tính dục được thể hiện một cách rõ nét và mạnh mẽ Tiểu thuyết “Làm đĩ” được xem là tiểu thuyết sex đầu tiên của Việt Nam Xuyên suốt cả tác phẩm là những chi tiết miêu tả chân thực những nhục thể xác thịt, với các luận đề “Ái tình với sinh thực khí”, “những thủ hại về thủ dâm và ý dâm” Chưa dừng lại ở đấy Vũ Trọng Phụng còn đi sâu vào “sự phát triển âm thầm và đầy đủ của những cơ quan tỉ mỉ trong bộ phận sinh dục” Với bút pháp tả chân vốn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, mang đậm dấu ấn tự nhiên, đề cao bản năng của con
Trang 2014
người Do đó tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng không chỉ phơi bày xã hội thối nát, mục rỗng, những vấn đề đạo đức bị tha hóa trong đời sống mà còn in rõ dấu
ấn chủ nghĩa tự nhiên của E.Zola
Văn học Việt Nam hiện đại đang bứt phá những bước cuối cùng đầy nội lực để tiến về đích, do đó yếu tố sex ngày càng được đề cập với tần suất liên tục và có chiều sâu rõ nét Rất nhiều cây bút nữ mạnh dạn trong việc đề cập về yếu tố tình dục trong trang viết của mình như Đỗ Hoàng Diệu trong tập truyện ngắn “Bóng đè”, với cái nhìn hiện đại và cách thể hiện táo bạo Chuyện viết về một cô dâu mỗi khi về nhà chồng, mỗi đêm mỗi lần cô về trên tấm phản trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng… Cô không có cách nào để né tránh, thậm chí còn có cảm giác thích thú với cảm giác đó, vì bản thân cô là một người ham muốn mạnh mẽ… Các truyện ngắn trong tập truyện cũng tràn ngập yếu tố nhục dục, ham muốn
Hay cây bút trẻ Vi Thùy Linh đã trở thành một hiện tượng “nguy hiểm” trên thi đàn Việt Nam hiện đại Thơ chị thể hiện thành thực những khát vọng tình yêu, hay những bản năng người nhất Trong những bản năng tự nhiên nhất đi vào thơ Vi Thùy Linh đó là khát vọng tình dục, nó đi vào thơ một cách
tự nhiên, bình dị nhưng vô cùng mãnh liệt
“Những sinh vật tuyệt chủng bỗng bật dậy tính dục
Vẫn còn trên từng tế bào em
Dư chấn cơ thể anh
Con sư tử kiêu hùng và đơn độc
…
Núi vú lại cương lên sự sống
Những cặp chân khóa chặt nhau khước từ chân lý!”
(Sư tử buồn) Như vậy, theo dòng chảy văn học từ xa xưa đến nay thì yếu tố tính dục vẫn là một trong những chủ đề lớn và ít nhiều chịu sự chi phối của hệ tư tưởng thời đại Tuy nhiên mỗi thời kì thì cách nhìn nhận và phản ánh về tính
Trang 2216
CHƯƠNG 2: KIẾN TẠO DIỄN NGÔN DỰA TRÊN TINH THẦN KHAI PHÓNG TÍNH DỤC
2.1 Những yếu tố chi phối, tác động đến tinh thần khai phóng tính dục
Tác phẩm văn học là nơi nhà văn kí thác, gửi gắm những tư tưởng, thông điệp về cuộc sống Vậy nên mỗi nhà văn khi nhìn nhận về một vấn đề trong xã hội lại có những nhãn quan cá nhân riêng Cùng viết về một một đề tài, một chủ đề hay một số phận người nhưng mỗi nhà văn nhìn nhận đối tượng ở một điểm nhìn khác nhau sẽ cho ra một sản phẩm nghệ thuật ngôn từ khác nhau Trong địa hạt văn chương tối kị việc lặp lại, kể cả lặp lại mình hay
lặp lại người Tiểu thuyết Đức Thánh Trần là một diễn giải lịch sử mang đậm
dấu ấn cá nhân nhà văn Tuy lặp lại của đề tài song cách thể hiện lại đưa đến cái nhìn đặc biệt khác lạ đối với đối tượng được nói tới Viết về đối tượng nhân vật lịch sử nổi tiếng không chỉ lịch sử mà văn học cũng đã đề cập rất nhiều vậy nên để không trùng lặp mình và trùng lặp người thì nhà văn phải có hướng đi và cách khai thác mới Trong cuốn tiểu thuyết lịch sử này Trần Thanh Cảnh đã làm “sống lại” lịch sử bằng việc khám phá, phục hiện, luận giải những sự kiện, biến cố, nhân vật của một thời đã qua; khỏa lấp, làm sáng những “khoảng trắng”, “khoảng trống”,“vùng mờ” bị lịch sử bỏ quên Tiểu
thuyết Đức Thánh Trần đã kiến tạo nhân vật lịch sử gắn với tinh thần khai
phóng tính dục Có nhiều yếu tố chi phối đến tinh thần khai phóng tính dục trong tác phẩm tuy nhiên có ba yếu tố chính đóng vai trò chủ đạo, then chốt
đó là tác giả chủ trương giải mờ nhân vật lịch sử thứ hai là tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa của người Việt và thứ ba là vấn đề tình dục trong văn hóa phương Đông
2.1.1 Chủ trương giải mờ nhân vật lịch sử
Nếu như ở các nước phương Tây, cuộc cách mạng tình dục bùng nổ từ
thập niên 60 của thế kỷ trước thì Việt Nam vẫn dữ cái nếp văn hóa thuần khiết
“kín cửa cao tường” cho đến mãi về sau Thế kỉ 21 là thế kỉ của sự hội nhập, hòa nhập và tiếp thu những nét văn hóa ngoại lai trong đó có sự tiếp thu tư tưởng về chủ đề sex Tư tưởng tiến bộ và nhu cầu được giải phóng con người
Trang 2317
cá nhân, khẳng định các giá trị nhân bản của con người đã được nhà văn phản
ánh thông qua thế giới nhân vật của mình Như chúng ta đã biết tác phẩm Đức
Thánh Trần thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử, nhà văn diễn giải những hiện
tượng lịch sử dưới góc độ văn chương Theo lời tựa của cuốn sách, nhà phê
bình văn học Nguyễn Hoài Nam nhận xét: “Trần Thanh Cảnh khởi thảo Đức
Thánh Trần sau khi đã cho ra mắt độc giả hai tập truyện ngắn mang đậm chất hoa tình, thậm chí là tinh thần “phóng túng”, khá đặc trưng cho đất và người Kinh Bắc Cái nếp ấy vẫn được ông giữ lại trong cuốn tiểu thuyết đầu tay này, qua những trường đoạn viết về ái tình hừng hực nhựa sống của những người đàn ông, đàn bà Việt Nam thế kỷ 18” [2- tr.10] Mặc dù Trong cuốn Đại
Việt sử kí toàn thư đã ghi chép tỉ mĩ về con người, cuộc đời cũng như những chiến công vang dội của Trần Quốc Tuấn đối với lịch sử dân tộc Ông đã lập chiến công lớn khi ba lần đại thắng quân nguyên Mông trong khoảng thời gian
43 năm (1257 - 1300), chiến thắng vẻ vang ấy đã khẳng định vị thế cũng như nền độc lập của nước Đại Việt lúc bấy giờ Với những đóng góp lớn lao ấy tín ngưỡng thờ Mẫu đã tôn thờ Trần Quốc Tuấn như vột vị Thánh Tuy nhiên
dưới góc nhìn văn học tiểu thuyết Đức Thánh Trần đã khai thác nhân vật lịch
sử dưới góc nhìn đời tư với những khát vọng và bản năng thầm kín Kiến tạo diễn ngôn về nhân vật lịch sử đã sống trong lòng dân tộc hàng nghìn năm tưởng dễ vì vị thế của họ đã được khẳng định như bức tượng đài bất tử với thời gian nhưng khó bởi làm thế nào để bạn đọc hình dung ra Trần Quốc Tuấn khác biệt với lịch sử thì nhà văn phải có cách kiến giải và hướng tiếp cận mới Khai thác về vị anh hung Hưng Đạo Đại Vương cùng các nhân vật lịch sử của triều đại nhà Trần nhưng nhà văn không hề phản ánh giản đơn, hời hợt hay nông cạn, một chiều mà ngược lại tác giả có cách luận giải, khám phá rất mới
mẻ, độc đáo trên tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử Nhà văn Trần Thanh Cảnh
đã xây dựng nên một Hưng Đạo Đại Vương dù trong cuộc sống đời thường cũng toát lên phong thái thần thánh với võ công cái thế, sức mạnh phi thường, thần thái uy nghiêm, tài đức vẹn trọn Khi chiến đấu với giặc ngoại xâm Ngài
hiện lên với vẻ đẹp của “một thiên tướng nhà trời”, mang “thiên mệnh cứu
giúp hộ trì cho muôn dân vượt qua cơn binh lửa tàn khốc”, vẻ đẹp khí phách
ấy làm cho quân xâm lược phải khiếp sợ Còn trong tình yêu Trần Quốc Tuấn
là hình mẫu khiến cho tất cả các cô gái cả đời đều ao ước, nàng Quế Lan từng
viết thư tâm sự với Trần Quốc Tuấn: “Đời này kiếp này thiếp không còn gì
Trang 2418
mong mỏi nữa Mong ước của thiếp từ khi mới là một cô bé lên mười là lớn lên, chỉ cần được chàng cầm tay một lần là đủ Thế mà hôm nay thiếp được trọn vẹn ái ân với người yêu mình cả ngày đêm” [2- tr.32] Trần Quốc Tuấn là
tinh hoa, là hiện thân của sức mạnh bất diệt của dân tộc Đại Việt
Bên cạnh vẻ đẹp thần thánh với khí phách, bản lĩnh và tài năng hơn người, thì cuộc sống đời tư của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn còn
được tác giả Trần Thanh Cảnh diễn giải trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần hết
sức mộc mạc, chân thực qua mối tình thầm kín của Ngài với hai người đàn bà Đầu tiên là mối tình của Ngài với nàng Quế Lan ở bãi dâu bên bờ sông Thiên
Đức hết sức nên thơ, trữ tình “Trong buổi sáng thanh bình trên nương dâu
bên bờ sông Thiên Đức, được chiêm ngưỡng nhan sắc của người con gái trẻ đẹp, mọi cảm giác khát khao trần tục của một viên võ tướng trẻ tuổi sung mãn
từ đâu bỗng bừng bừng trỗi dậy” [2- tr.25] Mối tình đẹp đẽ đó được sự
chứng kiến của thiên nhiên đất trời “như duyên tiền định Họ giao tình với
nhau Trai tài gái sắc Rồng gặp mây Cá gặp nước Cả nương dâu xanh ngát bên bờ sông Thiên Đức hân hoan ca hát Gió sông ào ạt thổi, gió xuân nhảy nhót reo vui mừng mối duyên trời” [2- tr.31] Mối tình thứ hai của Quốc Tuấn
với công chúa Thiên Thành trong lễ hội Mo Nang “Họ lập tức ôm nghiến lấy
nhau Quốc Tuấn đỡ Thiên Thành nằm xuống thảm cỏ êm mượt Họ tuột xiêm
y nhau ra Bàn tay họ da diết thèm muốn quấn quýt vuốt ve những chỗ đã từng khao khát thầm kín nhau bấy lâu nay Dưới ánh trăng đêm rờ rỡ, họ âu yếm ngắm nhìn khuôn mặt và thân thể trẻ trung đẹp đẽ của nhau” [2- tr.85]
Trong đêm hội Mo Nang ấy Quốc Tuấn và Thiên Thành đã trao nhau cả thể xác lẫn tâm hồn trong tiếng sáo tiếng đàn và sự chứng kiến của đất trời trăng sao
Cả hai mối tình đều chất chứa sự nhiệm màu, huyền ảo với sự hài hòa của đất trời vũ trụ của thiên nhiên cây cỏ Đây được xem là mối nhân duyên trời định, là nguồn “thiên ân” bất tận, dù chỉ một lần nhưng cũng đủ làm thỏa nguyện cho một kiếp người ngắn ngủi Qua đó ta thấy được một tình yêu vừa bình dị trần tục vừa huyền bí thần thánh của Trần Quốc Tuấn với hai người phụ nữ của đời mình
Do đó,với cái nhìn khách quan, nhân bản và tài năng khai thác thế sự đời tư sâu sắc nhà văn Trần Thanh Cảnh đã mạnh dạn khám phá những bí ẩn
Trang 2519
đời tư, những ẩn ức khó nói hay giải mờ những vấn đề lịch sử mà văn học e ngại, né tránh hay ít chạm tới Đặc điểm của văn học là hư cấu và sáng tạo,
tiểu thuyết Đức Thánh Trần đã hư cấu nhân vật lịch sử, giải mã nhân vật từ
điểm nhìn đời tư thế sự Qua đó ta thấy được cái nhìn khách quan, nhân bản của tác giả về nhân vật lịch sử Trần Quốc Tuấn cũng như tinh thần phóng túng, tự do yêu đương, tình ái tình dục của triều đại nhà Trần hay tín ngưỡng phồn thực của nhân dân Đại Việt qua lễ Hội Mo Nang
2.1.2 Tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa dân gian
Việt Nam vốn là đất nước nông nghiệp với nền nông nghiệp lúa nước nên người dân xem tín ngưỡng phồn thực như một nét văn hóa dân gian Có thể hiểu “phồn” nghĩa là nhiều, “thực” là biểu hiện cho sự sinh sôi, nảy nở của vạn vật Quan niệm về tín ngưỡng phồn thực thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi, trời đất giao hòa Trong một bài thơ khuyết danh tác giả viết:
“Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng”
Đây chính là ước mơ, khát vọng giản dị của những người nông dân về thiên nhiên thuận lợi để họ không gặp phải thiên tai Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ sinh thực khí tức là cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ là Linga và Yoni và thờ việc sinh đẻ nghĩa là thờ hành
vi giao phối
Ở Phương Đông người ta nghiên cứu quy luật âm dương ngũ hành để làm cơ sở tiền đề giải thích cho đời sống tình dục Theo đó vạn vật từ con người, cây cỏ, vũ trũ đều có sự kết hợp hài hòa giữa âm và dương Trong đó trời là dương, đất là âm, trời trùm lên đất còn đối với động vật và con người thì cái là âm còn đực là dương Theo Secretchina “Những vật chất có thuộc tính dương sẽ mang đặc tính mạnh mẽ, hướng lên trên, sinh sôi, phát triển, mở rộng ra, hướng ra ngoài, rõ ràng, tích cực, hiếu động… Trái lại, những vật