1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khoá luận tốt nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa quán sứ (hà nội)

82 179 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 3,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuốn sách đã trình bày về chùa Quán Sứ qua các thời kỳ lịch sử, giá trị của ngôi chùa về mặt kiến trúc và giá trị trong đời sống văn hóa của người Việt Nam.. Trong “Việt Nam Phật G

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

=======o0o=======

TRẦN THỊ HÒA

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

DI TÍCH CHÙA QUÁN SỨ (HÀ NỘI)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

RƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

=======o0o=======

TRẦN THỊ HÒA

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

DI TÍCH CHÙA QUÁN SỨ (HÀ NỘI)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khóa luận

ThS Nguyễn Thị Nhung

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn trường ĐHSP Hà Nội 2 cùng tất cả các thầy

cô, nhân viên của khoa, trường đã tạo điều kiện cho em được tham gia làm khóa luận tốt nghiệp Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Nhung đã giúp đỡ, hướng dẫn em trong quá trình học tập tại trường

Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Thị Nhung đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện tốt nhất để

em hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô, công nhân viên chức của trường, khoa đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian làm bản khóa luận tốt nghiệp này

Một lần nữa em xin cảm ơn sự giúp đỡ của tất cả các thầy cô Em kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Trần Thị Hòa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu không sao chép và không trùng với bất kì khóa luận nào

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Trần Thị Hòa

Trang 5

(?-?): Không rõ năm sinh, năm mất

(?-năm): Không rõ năm sinh

(năm-?): Không rõ năm mất

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 BẢO TỒN PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ CHÙA VIỆT NAM 5

1.1 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay 9

1.1.3 Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 12

1.2 Tổng quan về chùa Việt Nam 14

1.2.1 Khái quát chùa Việt Nam 15

1.3 Tổng quan hệ thống chùa Hà Nội 16

Chương 2 GIÁ TRỊ CỦA CHÙA QUÁN SỨ (HÀ NỘI) 18

2.1 Đôi nét về chùa Quán Sứ 18

2.1.1 Tên gọi, vị trí địa lý 18

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 19

2.2 Giá trị ch a Quán Sứ Hà Nội 25

2.2.1 Giá trị cảnh quan 25

2.2.2 Giá trị kiến trúc 26

2.2.3 Giá trị lịch sử, văn hóa 36

2.2.4 Giá trị tâm linh 38

Trang 7

2.2.5 Giá trị xã hội 40

2.2.6 Giá trị du lịch 42

Chương 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CHÙA QUÁN SỨ 44

3.1 Bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc 44

3.2 Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử 45

3.3 Bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan 46

3.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và quảng bá 47

3.5 Biện pháp nâng cao năng lực quản lý 47

KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong chương trình học ngành Việt Nam học, chùa Việt Nam giữ một vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức, năng lực cho sinh viên và phát triển ngành học Chùa cũng là một tài nguyên du lịch để phát triển du lịch tâm linh, là đối tượng nghiên cứu văn hóa Chùa của Việt nam rất đa dạng

và phong phú Mỗi chùa lại có sự khác nhau về thời gian xây dựng, trùng tu, kiến trúc và nét độc đáo riêng

Chùa Quán Sứ là một ngôi chùa cổ, có nét kiến trúc độc đáo, có giá trị lớn, là trụ sở Trung ương hội Phật giáo Việt Nam Ngôi chùa nằm ở số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Trước đây, chùa Quán Sứ thuộc địa phận thôn An Tập, phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương Chùa Quán Sứ được xây dựng từ thế kỷ thứ 15 vào thời vua Lý Thế Tông Đây cũng là ngôi chùa được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm, các nhà kiến trúc tìm hiểu và là nơi thu hút đông đảo khách trong nước và quốc tế đến tham quan

Xuất phát từ ngành học chuyên sâu về đất nước, con người, lịch sử Việt Nam thì chùa là một trong những địa điểm không thể bỏ qua Nó giúp tôi hiểu hơn về đời sống tâm linh, tâm lý của người Việt Nam từ xưa cho đến nay Đồng thời hiểu sâu hơn về kiến trúc của chùa Việt Nam ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau Trong số các ngôi chùa của Việt Nam tôi đặc biệt có cảm hứng yêu thích đối với ngôi chùa Quán Sứ Xét về mặt địa lý, chùa Quán Sứ nằm tại khu vực Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội cho nên nó rất thuận tiện cho việc đi khảo sát, nghiên cứu thực địa của tôi

Chùa Quán Sứ cũng là một trong những ngôi chùa thuần Việt Chùa Quán Sứ không thờ Mẫu và Thánh như hầu hết các ngôi chùa Việt Nam hiện nay Đây cũng là nơi diễn ra nhiều hoạt động Phật giáo quan trọng của cả nước và các hoạt động tôn giáo mang tính quốc tế

Trang 9

Nhưng hiện tại do sự phát triển kinh tế cùng với sự tăng lên về số lượng

du khách đã làm cho một số các giá trị của ngôi chùa xuống cấp Chính vì vậy cần phải có những cái nhìn đúng đắn về giá trị, thực trạng hiện nay của ngôi chùa để từ đó đề ra những biện pháp bảo vệ và phát huy các giá trị đó

Với tất cả những lý do trên đã thúc đẩy tôi quyết định nghiên cứu về việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Quán Sứ Từ việc nghiên cứu đó

có thể rút ra được những mặt tích cực, tiêu cực, đưa ra các đề xuất biện pháp,

kế hoạch để phát triển một cách tốt hơn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các công trình nghiên cứu về chùa Quán Sứ từ xưa đến nay được

nghiên cứu những khía cạnh khác nhau Cuốn “Hà Nội- di tích lịch sử và

danh thắng” của nhóm nhà sử học Đinh Xuân Lâm, Doãn Đoan Trinh,

Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Thanh Mai, Đàm Tái Hưng cũng đã tiến hành nghiên cứu về vị trí, giá trị đặc sắc trong kiến trúc của chùa Quán Sứ Xong công trình mới chỉ đi sâu vào một giá trị của ngôi chùa

Tiếp theo là cuốn “Chùa Việt Nam” là công trình dày công nghiên cứu,

khảo sát của các tác giả Hà Văn Tuấn, Nguyễn Văn Cự, Phạm Ngọc Long Trong cuốn sách đã trình bày về chùa Quán Sứ qua các thời kỳ lịch sử, giá trị của ngôi chùa về mặt kiến trúc và giá trị trong đời sống văn hóa của người Việt Nam

Trong “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” của Nguyễn Lang có nói đến

các hoạt động và việc xây dựng chùa Quán Sứ nhưng chủ yếu là hoạt động của các tăng ni, giáo hội Phật giáo ít đề cập đến những giá trị đặc sắc của chùa Quán Sứ

Và còn rất nhiều các công trình nghiên cứu có giá trị khác như “Hồi ký

thành lập Hội Phật Giáo Việt Nam” của Hòa thượng Thích Trí Hải, “Chùa Quán Sứ” của Nguyễn Lâm, “Ngôi chùa và vai trò Phật giáo trong đời sống văn hóa của người dân đô thị” của Phạm Thu Hương xong số công trình

Trang 10

nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào tầm ảnh hưởng của chùa Quán Sứ đến đời sống của người dân Đồng thời còn có rất nhiều công trình viết về thực trạng ngôi chùa, chủ yếu là các bài báo, tạp chí ở mức khái quát Đặc biệt chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về các giá trị của chùa Quán Sứ, hiện trạng các

giá trị và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị

Từ thực tế đó tôi chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa

Quán Sứ (Hà Nội)” và đi sâu nghiên cứu về nó Đồng thời đưa ra một số biện

pháp pháp triển trước những thực trạng các giá trị và phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực tại chùa Quán Sứ hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Chứng minh những giá trị nổi bật của chùa Quán Sứ

- Chỉ ra một số thực trạng các giá trị của chùa Quán Sứ hiện nay từ đó đưa ra biện pháp bảo vệ và phát huy các giá trị đó

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhiệm vụ 1: Khái quát về chùa Việt và thực trạng bảo tồn, phát huy,

các chính sách, quan điểm, đường lối của Đảng về giá trị di sản văn hóa

- Nhiệm vụ 2: Làm rõ các giá trị về mặt văn hóa, xã hội, tâm linh, cảnh quan của ngôi chùa Quán Sứ

- Nhiệm vụ 3: Đề ra các giải pháp bảo lưu, gìn giữ và phát huy các giá trị của ngôi chùa

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chùa Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Chùa Quán Sứ, số 73 Quán Sứ, Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Trang 11

- Phạm vi thời gian: từ khi hình thành đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điền giã

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thư viện

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa và tổng quan về chùa Việt Nam

Chương 2: Giá trị của chùa Quán Sứ (Hà Nội)

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát huy các giá trị di tích chùa Quán Sứ

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 BẢO TỒN PHÁT HUY

GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ CHÙA VIỆT NAM 1.1 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam

1.1.1 Khái niệm

Khái niệm giá trị

Giá trị được hiểu theo hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng đa số được hiểu theo 5 nghĩa chính Mỗi cách hiểu đều được xét trong một phạm trù nhất định và được giải thích ở những góc độ khác nhau

Thứ nhất, giá trị là cơ sở để xem xét một sự vật, hiện tượng có lợi ích đối với con người ở một mức độ nhất định nào đó Một bài văn có giá trị phải

là một tác phẩm hay, để lại hay đem lại nhiều xúc cảm đối độc giả

Thứ hai, giá trị là thước đo về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng của một người đáng quý đến mức độ nào Những việc làm tốt của con người sẽ được được xem là một giá trị về phẩm chất đạo đức

Thứ ba, giá trị là những quan niệm của con người về cái đẹp, cái thiện của con người Giá trị này quy định một phần cách ứng xử của con người trong xã hội

Thứ 4, giá trị là lao động xã hội của những người sản xuất được kết tinh lại trong hàng hóa, có thể được quy thành tiền, thường đặt trong quan hệ mua bán, trao đổi Một chiếc xe đạp có giá 2.000.000 đồng Như vậy, 2.000.000 đồng được xem là giá trị của một chiếc xe đạp

Thứ 5, trong toán học giá trị được hiểu là một đại lượng, một lượng biến thiên (giá trị âm, giá trị dương)

Khái niệm văn hóa

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hóa Nhưng cơ bản được hiểu theo hai nghĩa: hẹp và rộng Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những giá trị tinh hoa trong nhiều lĩnh vực, giai đoạn, vùng khác nhau Chúng ta có thể

Trang 13

kể đến một số văn hóa ở các giai đoạn khác nhau như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn, Federico Mayor - Tổng giám đốc UNESCO đưa ra cách hiểu

văn hóa: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời

trong những lĩnh vực tư duy và sáng tạo, đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến những tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [UNESCO 1989, tr5]

Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những sáng tạo của con

người trong quá trình hình thành và phát triển cho đến ngày nay “Văn hóa là

toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán ) mà con người sáng tạo ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử” [Từ điển học

sinh, NXB Giáo dục, năm 1971]

Năm 1940, Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn như mục đích của cuộc

sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và cách thưc sử dụng Toàn bộ những sáng tạo

và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh 1995,

tr431]

Di sản văn hoá

Theo “Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9” thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp

Trang 14

dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” Theo “Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII” đã xác định 10 nhiệm vụ

về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị

quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là tài

sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”

Di sản văn hoá tồn tại dưới dạng di sản vật thể và di sản phi vật thể Di sản văn hóa vật thể gồm di tích, di vật Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các lễ hội dân gian, các phong tục, nghi lễ, đời sống văn hóa bản làng, văn hóa ẩm thực, các sinh hoạt nghệ thuật

Đến tháng 1 năm 2018, cả nước có 248 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, bao gồm 93 lễ hội truyền thống, 60 di sản nghệ thuật trình diễn dân gian, 59 di sản tập quán xã hội và tín ngưỡng, 23 di sản nghề thủ công truyền, 5 di sản tri thức dân gian, 5 di sản tiếng nói, chữ viết và 4 di sản ngữ văn dân gian

Theo kết quả thống kê, hiện nay cả nước có trên 40000 di tích, trong đó tới hết năm 2006 có 2882 di tích đã được xếp hạng di tích quốc gia và 4286 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh

Di sản vật thể

“Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia”[12, tr19]

Di sản văn hóa phi vật thể

“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền

Trang 15

khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, về văn hóa

ẩm thực, về trang phục truyền dân tộc và những tri thức dân gian khác” [12,

tr19]

Di tích

Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử Ở Việt Nam phân theo cấp độ bao gồm di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt Đến tháng 11 - 2013, Hà Nội có 2.264 di tích được xếp hạng (1.176 di tích cấp quốc gia và 1.088 di tích cấp thành phố) Số di tích được xếp hạng quốc gia, tính đến thời điểm này nhiều nhất nước (1.176/3.231) Từ năm 2009 đến tháng 9 năm 2013, có hơn 300 di tích của Hà Nội được xếp hạng

Căn cứ “Điều 4 Luật di sản văn hóa, Điều 14 Nghị định số

92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002” của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết

thi hành một số điều của “Luật Di sản văn hóa”, các di tích được phân loại

thành di tích lịch sử - văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, di tích thắng cảnh, di tích lịch sử cách mạng

Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình Những công trình đó có giá trị

về mặt lịch sử, văn hóa và khoa học Những địa điểm đó phải gắn với những địa điểm lịch sử quan trọng, gắn với thân thế và sự nghiệp của các anh hùng Tính đến năm 2010, di tích lịch sử- văn hóa Việt Nam chiếm 51.2% số các di tích được xếp hạng

Di tích nghệ thuật kiến trúc là công trình kiến trúc nghệ thuật, đô thị, kiến trúc đô thị có giá trị tiêu biểu trong nghệ thuật kiến trúc của dân tộc

Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật, đánh dấu những giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ Các di tích nghệ thuật

Trang 16

kiến trúc tiêu biểu như Hoàng thành Thăng Long, Động Người Xưa, Thánh địa Mỹ Sơn, hang Con Moong Tính đến năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1,3% các di tích của Việt Nam

Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là những cảnh đẹp thiên nhiên, hay những địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên và các công trình kến trúc có giá trị lịch sử Di tích thắng cảnh chiếm 3,3% trên tổng

số di tích của Việt Nam

Di tích lịch sử cách mạng là một bộ phận cấu thành nên hệ thống di tích lịch sử - văn hóa Đây là những công trình kiến trúc do con người tạo nên gắn liền với các sự kiện lịch sử, những anh hùng lịch sử cụ thể Những di tích lịch

sử cách mạng nổi tiếng như Chiến Khu Tân Trào, Chiến khu Quỳnh Lưu, Khu

di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,

Chùa Quán Sứ thuộc loại di tích lịch sử - văn hóa và di tích nghệ thuật kiến trúc Chùa Quán Sứ được xếp loại di tích lịch sử - văn hóa bởi vì đây là nơi lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa của dân tộc Chùa Quán Sứ là một ngôi chùa cổ trải qua quá trình lịch sử, hình thành và phát triển lâu dài, gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc Đây cũng là một công trình có kiến trúc đặc biệt chính vì thế chùa Quán Sứ còn là di tích kiến trúc nghệ thuật

Di vật

“Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”

[12, tr19]

1.1.2 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay

Xã hội ngày càng đề cao vai trò, ý nghĩa giá trị lịch sử của di sản văn hóa Bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của Đảng, toàn dân Hàng ngàn di sản văn hóa được xếp hạng theo từng cấp và tu

bổ trong mấy chục năm qua thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội

Trang 17

trong việc tôn tạo, tu bổ Tuy nhiên, do chiến tranh kéo dài nhiều năm, chúng

ta chưa có điều kiện chăm lo, bảo vệ di sản văn hóa nên đến nay vẫn còn rất nhiều di sản văn hóa bị xâm phạm chưa được giải quyết Phần lớn các vi phạm này diễn ra nhiều năm nên việc giải quyết cần có sự quyết tâm và kết hợp của nhiều ngành, nhiều cấp

Những di sản văn hóa tiêu biểu của đất nước đã được đầu tu tu bổ từng bước Tuy nhiên vẫn còn nhiều di sản văn hóa đang trong tình trạng xuống cấp nhưng việc tu bổ di sản văn hóa hiện nay mới chỉ đầu tư vào các hạng mục chính, nối tiếng, hầu như chưa có di sản văn hóa nào được đầu tư đồng

bộ từ kiến trúc tới hạ tầng, từ nội thất tới ngoại thất Chất lượng tu bổ chưa cao, đáng chú ý là những hạng mục tu bổ bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp chưa đạt yêu cầu chuyên môn Do vậy cần phải tăng cường đào tạo đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư, nghệ nhân, công nhân, có chuyên môn để phục vụ tu

bổ di sản văn hóa là vấn đề cấp thiết hiện nay

Nhiều di sản văn hóa đã được phát huy một cách tích cực dưới các mức

độ khác nhau Các chương trình lễ hội ở Cố đô Huế, đêm rằm Phố cổ Hội An, hành trình du lịch về nguồn (di tích Cách mạng ở ba miền) đã thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, dần trở thành ngày hội văn hóa lớn

Các di sản văn hóa được xếp hạng di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đều trở thành những điểm đến du lịch hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Điều đó làm tăng nguồn thu từ việc bán vé tham quan tại điểm có di sản văn hóa và các dịch vụ văn hóa, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của địa phương Nhiều

di sản văn hóa có nguồn thu lớn như Cố đô Huế, chùa Hương, vịnh Hạ Long,

cố đô Hoa Lư, đền Ngọc Sơn, Côn Sơn - Kiếp Bạc…

Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa còn bộc

lộ những hạn chế cơ bản sau:

Trang 18

Thứ nhất, nhận thức của các ngành các cấp và của toàn xã hội về vài trò

và ý nghĩa của di sản chưa thực sự sâu sắc và toàn diện, cũng chưa được cụ thể hóa bằng các chương trình cụ thể, biện pháp, kế hoạch trùng tu tôn tạo một cách đồng bộ

Thứ hai, chưa hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, cá biệt nhiều nơi còn

có hiện tượng thương mại hóa di sản, đề cao mục tiêu phát triển kinh tế hơn mục tiêu bảo vệ di sản Thậm chí có dự án phát triển kinh tế được triển khai tại khu vực có di sản nhưng không đề xuất bất cứ một biện pháp nào bảo tồn bảo quản di tích

Thứ ba, công tác quản lý di sản cần được củng cố, nhiều di sản bị xâm phạm cần được giải tỏa, tháo dỡ và di dời

Thứ tư, nhiều dự án tu bổ di sản được thực hiện nhưng thiếu đồng bộ,

cơ sở hạ tầng tại các di tích còn yếu Hệ thống giao thông đến di tích chưa hoàn toàn thuận tiện, nhiều nơi còn rất khó thăn trong việc tiếp cận di sản mà đặc biệt là các di sản tại miền núi

Thứ năm, công tác xã hội hóa bảo tồn di sản cần được nhân rộng, khuyến khích, nguồn lực do nhân dân đóng góp chưa được quy tụ dưới sự quản lý của nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản

Thứ sáu, việc giới thiệu tổ chức khai thác tại các di tích còn đơn điệu, chưa có sự kết hợp giữ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

Thứ bảy, chưa có sự kết hợp giữa các nghành, các cấp trong việc khai thác du lịch, dịch vụ tại các di tích Tại một số di tích còn sử dụng hướng dẫn viên không chuyên làm ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch đến tham quan và làm giảm các giá trị di sản

Thứ tám, công tác tuyên truyền cho di sản chưa được chú trọng, thông tin về một số di sản còn thiếu, còn yếu, thiếu những cuốn sách, tờ rơi giới thiệu về di sản cho du khách

Trang 19

Cuối cùng, công tác giáo dục, đào tạo cán bộ quản lý, người khai thác cần được chú trọng hơn nữa

1.1.3 Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Năm 1945 ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã ký “Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945” về bảo tồn di sản trên

toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Ngày 29/10/1957, nghị định số 519-TTG của thủ tướng Chính phủ về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh ở các tỉnh thành phố trên toàn miền Bắc đã thể hiện sự quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản

Ngày 31/3/1984 Hội đồng nhà nước ban hành pháp lệnh “Bảo vệ và sử

dụng di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh” đã thể hiện sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước tới việc bảo tổn và phát huy giá trị di sản

Trong thời kỳ đầu đổi mới, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới việc bảo

tồn và phát huy giá trị di sản thể hiện ở “Điều 30, Hiến pháp năm 1992” quy định:: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: Dân

tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân; nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa, nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hóa phản động, bài trừ hủ tục và mê tín dị đoan”

“Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII)” về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" đã nêu rõ di sản văn hóa là gì và khẳng định nhiệm vụ bảo

tồn và phát huy các di sản trong bối cảnh mới ở nước ta: "Di sản văn hóa là

tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ

sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng việc bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (văn hóa bác

Trang 20

học và văn hóa dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể

và phi vật thể"

“Luật Di sản văn hóa” đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông

qua ngày 26/9/2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002 cũng đã

khẳng định "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các

dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại trên thế giới, có vai trò to lớn trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước của nhân dân ta" Là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản

Văn bản “Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch

sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020” đã được “Bộ Trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao” ký “Quyết định phê duyệt số 1706/QĐ - BVHTT ngày 24/7/2001” đã có ảnh hưởng quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các

giá trị di sản Cùng với đó là danh sách của 32 di tích ưu tiên đầu tư tôn tạo, chống xuống cấp đến năm 2020 Dự án đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và bảo tồn giá trị di sản văn hóa hiện nay

Như vậy, quan điểm Ðảng, chính sách của Nhà nước từ khi thành lập tới nay đã có tác dụng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, ngăn chặn tình trạng xuống cấp của di sản văn hóa có tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực phát triển ngành du lịch không khói mang lại lợi nhuận kinh tế cao

Bằng chính sách xếp hạng của nhà nước, các di sản có giá trị tiêu biểu

về lịch sử, văn hóa, khoa học đã được đặt dưới sự quản lý của pháp luật

Tổng mức vốn đầu tư hàng năm cho hoạt động tu bổ các di sản văn hóa liên tục được tăng lên theo hướng đa dạng hóa, huy động mọi nguồn lực cùng tham gia tu bổ, tôn tạo các di sản văn hóa Đặc biệt ưu tiên tập trung đầu tư cho các di tích quốc gia đặc biệt, di tích cách mạng

Trang 21

Quá trình mục tiêu quốc gia về chống xuống cấp và tôn tạo di tích tạo

ra những sản phẩm văn hóa đặc thù, có sức hút mới làm tăng đáng kể lượng khách đến tham quan, tìm hiểu

Thực tế cho thấy nguồn thu từ lệ phí tham quan và các dịch vụ văn hóa tại di tích chỉ chiếm 10% tổng số chi của khách du lịch, 90% là do ngành du lịch và cộng đồng dân từ địa phương

1.2 Tổng quan về chùa Việt Nam

Ở Việt Nam có 11 tôn giáo được công nhận bao gồm: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Hồi giáo, Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Tứ

Ân Hiếu Nghĩa, Phật đường Nam tông Minh sư Đạo, đạo Bihai, Minh Lý Đạo Tam tông miếu Ngoài ra còn có các tổ chức tôn giáo khác được công nhận như hệ phái Tin Lành, Bửu Sơn Kỳ Hương Phần đông người Việt Nam theo tôn giáo Phật giáo Chính vì thế mà số lượng tín đồ Phật giáo và chùa ở Việt Nam chiếm một số lượng lớn Đây cũng là tôn giáo có số lượng tín đồ và nơi thờ tự cao nhất cả nước

Năm 2005, “Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam” thống kê Việt Nam có đến 10 triệu tín đồ Phật giáo Nhưng theo cuộc “Tổng điều tra dân số năm

2009”, “Tổng cục Thống kê” đưa ra con số 6.802.318 người theo tôn giáo Phật

giáo, chiếm 43,5% trong tổng số người theo các tôn giáo Theo “Báo cáo Tự do

Tôn giáo Quốc tế”, giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2010, đăng trên

“Đại sứ quán Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” tại Việt Nam có đưa ra: “Việt Nam có diện tích 330.000 và dân số 89,6 triệu người Phần đông các ước tính đều cho thấy hơn nửa dân số theo đạo Phật trên danh nghĩa” Ban Tôn giáo Chính

phủ ước tính có khoảng 10 triệu tín đồ Phật giáo Đại thừa, chiếm 11% dân số Theo số liệu thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam công bố ở Hội nghị thường niên Hội đồng Trị sự Trung ương vào hai ngày 26 và 27 tháng 12 năm

2003 tại Thiền viện Quảng Đức (thành phố Hồ Chí Minh) có 14.401 ngôi tự viện Trong đó bao gồm 12.036 ngôi chùa Bắc tông, 539 chùa Nam tông Việt

Trang 22

và Nam tông Khmer, 467 tịnh thất, 361 tịnh xá Khất sĩ, 998 niệm Phật đường

1.2.1 Khái quát chùa Việt Nam

Khái niệm chùa Việt Nam

Theo “Bách khoa toàn thư mở”: “Chùa là một công trình kiến trúc

phục vụ mục đích tín ngưỡng Chùa được xây dựng phổ biến ở các nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và thường là nơi thờ Phật Tại nhiều nơi, chùa có nhiều điểm giống với chùa tháp của Ấn

Độ, vốn là nơi cất giữ Xá - lị và chôn cất các vị đại sư, thường có rất nhiều tháp bao xung quanh Chùa là nơi tiêu biểu cho chân như, được nhân cách hóa bằng hình tượng một Đức Phật được thờ ngay giữa chùa Nhiều chùa được thiết kế như một Mạn - Đà - La, gồm một trục ở giữa với các vị Phật ở bốn phương Cũng có nhiều chùa có nhiều tầng, đại diện cho ba thế giới (tam giới), các bậc tiêu biểu cho Thập địa của Bồ Tát Có nhiều chùa được xây dựng tám mặt đại diện cho Pháp luân hoặc Bát chánh đạo Chùa còn là nơi tập trung của các sư, tăng, ni sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật Tại nơi này, mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ tôn giáo”

Cũng theo “Bách khoa mở toàn thư”: ““Chùa chiền” theo Hán - Việt

còn có nghĩa là “tự viện”, là một nơi an trí tượng Phật và là chỗ cư trú tu hành của các tăng ni Ngày nay trong thực tế chùa được gọi bằng cả từ Hán - Việt phổ thông như “Tự”, “Quán”, “Am””

Ngày nay chùa mang nhiều chức năng hơn như tổ chức các sự kiện trọng đại của tôn giáo, nơi giáo dục đạo đức con người thông qua các khóa tu, nơi nghỉ ngơi, an dưỡng,

Kiến trúc chùa Việt Nam

Chùa Việt Nam có một số kiến trúc cơ bản như chùa chữ Đinh(丁),chữ Công (工),chữ Tam(三),chữ Quốc(國) Chùa chữ Đinh(丁)

là chùa có cấu trúc Thượng điện nối liền với nhà Tiền đường ở phía trước

Trang 23

Ban thờ Phật sẽ được đặt tại nhà Thượng điện Chùa chữ Công (工) có cấu trúc nhà Chính điện và nhà Bái đường song song với nhau được nối với nhau bởi nhà Thiêu hương Chùa chữ Tam(三) là kiểu chùa có ba dãy nhà song song với nhau bao gồm chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng Cuối cùng là kiểu kiến trúc chữ Quốc (國) Kiểu kiến trúc này có hai hành lang dài nối với nhà Tiền đường ở phía trước Phía trước là nhà Hậu đường Tất cả tạo nên một tổng thể hình chữ nhật bao quanh nhà Thiêu hương, Thượng điện và một

số công trình khác

1.3 Tổng quan hệ thống chùa Hà Nội

Hà Nội là thủ đô, nơi kết tinh nhiều giá trị văn hóa đặc sắc Theo số liệu thống kê sơ bộ Hà Nội có khoảng hơn 100 ngôi chùa lớn, nhỏ khác nhau

đan xen giữa các phố phường, làng quê Theo số liệu thống kê của “Giáo hội

Phật giáo Việt Nam”, Hà Nội là nơi tập trung nhiều tự viện nhất với cón số

lên đến 1.792 ngôi

Các ngôi chùa Hà Nội hiện nay đều là những ngôi chùa lưu giữ những nét độc đáo của Phật giáo qua các triều đại lịch sử Xong do quá trình phát triển và thời gian rất nhiều ngôi chùa đã được tu sử lại làm mất đi một số nét độc đáo trong kiến trúc Trong quá trình trùng tu các ngôi chùa của Hà Nội cũng ghi dấu lại những nét kiến trúc của thời đại Quá trình tu sử cũng kéo theo đó là sự phát triển việc kết hợp giữa thờ Phật và thờ Mẫu, thờ Thánh

“Tiền Phật hậu Mẫu”, “Tiền Phật hậu Thánh” Trong chính việc thờ Phật

cũng có nhiều thay đổi về việc bày trí Phật điện Dù có những thay đổi nhất định theo thời gian nhưng chùa vẫn là nơi không thể thiếu ở các làng, xã, phường Hà Nội - cội nguồn của đời sống tâm linh cư dân Việt

Khác với nhiều ngôi chùa khác trên địa bàn Hà Nội, chùa Quán Sứ có những nét độc đáo riêng trong kiến trúc, là ngôi chùa thuần Việt Trong chùa chỉ thờ Phật, không thờ Thánh và Mẫu Chùa Quán Sứ còn giữ vị trí là trung tâm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trang 24

Tiểu kết: Việt Nam có số lượng các di sản văn hóa chiếm số lượng lớn

Trong đó có di tích chùa Quán Sứ Chùa Quán Sứ được xếp vào loại di tích lịch sử - văn hóa và di tích kiến trúc nghệ thuật Trong hệ thống chùa Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng chùa Quán Sứ là một trong những ngôi chùa cổ, thuần Việt của Việt Nam Ngôi chùa gắn bó mật thiết với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, quá trình hình thành, phát triển của giáo hội

Trang 25

Chương 2 GIÁ TRỊ CỦA CHÙA QUÁN SỨ (HÀ NỘI)

2.1 Đôi nét về chùa Quán Sứ

2.1.1.Tên gọi, vị trí địa lý

Phố Quán Sứ dài 740m, từ phố Trần Hưng Đạo đến phố Hàng Bông cắt

ngang qua các phố Tràng Thi, phố Hai Bà Trưng, phố Thợ Nhuộm, phố Lý Thường Kiệt và kết thúc ở Quảng trường 1-5, trước Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt - Xô Đất thôn Hội Vũ và Yên Lập thuộc phố Quán Sứ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ, ngày nay ở giữa Hà Nội Thời Pháp phố Quán Sứ được gọi là Rue Richaud Từ năm 1945 lấy tên là phố Quán Sứ cho đến ngày nay Thời xưa ở đây chưa có chùa, chỉ có xóm An Tập với những mái nhà tranh ở phía Nam để dân làng qua lại tế thần Sau đó vua Lê Trang Tông dựng một tòa gọi là Quán Sứ để tiếp đón các sứ thần các nước Chiêm Thành, Ai Lao đến Thăng Long sang cống nước ta Đa số các vị sứ giả này đều sùng đạo Phật chính vì thế vua Lê Thế Tông lại dựng một ngôi chùa trong khuôn viên của tòa Quán Sứ Các vị sứ giả có điều kiện hành lễ khi sang sứ tại Việt Nam Theo thời gian, tòa Quán Sứ dần mất đi nhưng ngôi chùa thì vẫn còn đó

Địa chỉ cụ thể của chùa Quán Sứ ở tại số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Chùa Quán Sứ nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội, cách bờ hồ Hoàn Kiếm chỉ khoảng hơn 1km rất thích hợp cho các cư dân địa phương, khách thập phương đến vãn cảnh, cúng bái Đặc biệt là các dịp quan trọng của Phật giáo và những ngày đầu năm chùa Quán Sứ thu hút rất nhiều các thiện nam, tín nữ đến hành hương, cúng bái Nằm giữa thủ đô với rất nhiều công trình hiện đại, phát triển chùa Quán Sứ như một điểm nhấn với nét cổ kính, trầm mặc Giữa phố phường xô bồ, tấp nập của thủ đô là không gian thanh tịnh và vô cùng liêng thiêng của ngôi chùa

Tên gọi chùa Quán Sứ bắt nguồn từ tòa Quán Sứ Ban đầu là nơi đặt bộ máy hành chính về mặt ngoại giao của nước Việt Nam thời vua Lê Trang

Trang 26

Tông Chùa Quán Sứ có tên chữ là Quán Sứ tự ( 馆使寺) Theo nghĩa tiếng Hán chùa Quán Sứ là nơi ở cho các sứ giả khi đến Việt Nam (馆 - nơi ở, quán trọ, 使 - sứ giả, đi sứ, 寺 - chùa)

Theo Phan Huy Chú (1782 - 1840), trong “Hoàng Việt địa dư chí” (NXB Thuận Hóa, 1997) quyển 1 phủ Lý Nhân: “Chùa Quán Sứ tại thôn An

Tập thuộc huyện Thọ Xương Từ đời Lê Trung Hưng về sau, các sứ nước Nam Cường, Vạn Tường, Trấn Ninh hàng năm đến cống đều đến nghỉ tại đó nên mới gọi là Quán Sứ” [3, tr123]

Quá trình hình thành chùa Quán Sứ (1533 - 1750) đến năm 1934

Trong “Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ” Đặng Xuân Khanh có viết: “Ở thôn Yên Tập huyện Thọ Xương, nguyên trước kia nơi đây chưa có

chùa, thường có một con yêu quái hoành hành tác hại dân Người trong thôn xây dựng một cái am nhỏ thờ phụng Sát cạnh có một đoạn lũy bỏ hoang Đời vua Trần Dụ Tông, phá am xây dựng thành Quán Sứ Phàm sứ giá các nước Chiêm Thành, Ai Lao, Cao Miên, Nam Chưởng, Vạn Tượng sang cống phương vật đều đến đây nghỉ ngơi Sau đời Lê Trung Hưng, sứ thần phương

xa cũng đều nghỉ tại quán này Trong bọn họ nếu có người nào áo quần không sạch sẽ, cử chỉ không cung kính lễ độ thì thường hay mắc các chứng đau bụng, tả lị, nếu biện hương hoa cầu khấn thì khỏi, vì thế mới cho xây chùa Phật ở đây để trấn, từ đó mới được yên ổn Nhân đấy đặt tên là chùa Quán Sứ” [13, tr449]

Theo “Thăng long cổ tích”: “Đến thời Lê Trang Tông ra lệch cho lập một ngôi chùa ba gian lợp ngói để thờ phụng Đức Phật Triều đình ban cấp

Trang 27

lương tháng cho sư tăng để thờ phụng Phật, nhân đó gọi là chùa Quán Sứ, ở phía Nam thành” [ bản chép tay, Thăng long cổ tích khảo]

Trong “Bắc Thành Địa Dư Chí Lục” Lê Chất có viết: “Ở thôn An Tập, huyện Thọ Xương Sau khi nhà Lê Trung Hưng, sứ các thuộc quốc như Nam Chưởng, Vạn Tượng, Trấn Ninh đến cống nạp đều nghỉ ngơi ở chùa này Vì vậy mới đặt tên là chùa Quán Sứ” [13, tr503]

Theo Tiến sĩ Trần Bá Lãm trong “La Thành cổ tích vịnh” soạn năm

1787 ghi: “Vào khoảng đời vua Trần Dụ Tông triều đình cho xây dựng một

tòa sứ quán ở đây để tiếp sứ thần các nước Chiêm Thành, Vạn Tượng, Ai Lao Triều đình ta vẫn theo nề nếp ấy Từ đời Lê Trung Hưng về sau sứ chân đến cống nạp phương vật nghỉ ngơi ở đây cho xây dựng ngôi chùa thờ Phật ở đây để trấn yểm, từ đó về sau mới được bình an vô sự Nhân thế gọi tên là chùa Quán Sứ”

Quốc Sử Quán triều Nguyễn có ghi lại trong “Đại Nam Nhất Thống

Chí” rằng: “Ở thôn An Tập huyện Thọ Xương Đời xưa sứ các nước Chiêm Thành, Vạn Tượng, Nam Cường đến cống nạp đều ở đấy Vì tục các nước đều thờ Phật cho nên làm chùa cho họ ở, nhân đấy gọi tên chùa” [13, tr610] “Hà Nội sơn xuyên phong vực” cũng khẳng định chùa Quán Sứ được

xây vào đời Lê Trung Hưng: “Chùa ở thôn Yên Tập huyện Thọ Xương Đời

Lê Trung Hưng trở về sau, sứ giả các nước Nam Chưởng, Vạn Tượng và Trấn Ninh đến triều cống đều nghỉ trọ tại đây nên lấy tên là Quán Sứ Nay tham khảo sách Địa Lý Bắc Triều, thấy nói quán sứ giả thiên triều ở phủ Giao Châu, vào đời Nguyên, sứ giả Phó Dữ Lệ sứ sang nước ta trú ở đây có đề câu thơ:

Sứ tinh nhập quán thanh vân động

Tiên cái lâm giang bạch nhật hồi

( Cờ sứ đến quán, mây xanh xao động

Lọng tiên về bến, mặt trời gác núi)

Trang 28

Đó là chỉ chùa Quán Sứ này vậy” [ 13, tr213]

Theo “Bia ghi công đức chùa Quán Sứ” dựng năm Tự Đức thứ 8

(1885) tại chùa do Tiến sĩ Lê Huy Vĩnh soạn: “Chùa nằm ở địa phận thôn An

Tập, huyện Thọ Xương đến thời Lê Mạt, các danh lam thắng cảnh nơi đô thành này bị tàn phá hết cả Di tích ngôi chùa này cũng mất hết diện mạo chân thực, lại không có bia ký để mà tra cứu ”

Theo như các tài liệu được nêu ở trên từ “Thăng Long cổ tích khảo tịnh

hội đồ”, “La Thành cổ tích vịnh”, “Bắc Thành Địa Dư Chí Lục”, “Thăng Long cổ tích khảo”, “Hoàng Việt địa dư chí”, “Đại Nam Nhất Thống Trí”,

“Đại Nam Nhất Thống Chí”, văn bia, tôi thấy các tác giả đều khẳng định rằng

chùa Quán Sứ đã được hình thành từ nhà Lê Trung Hưng ở thôn An Tập, huyện Thọ Xương Nhưng vào khoảng thời gian nào thì chưa có thông tin rõ

vì nhà Lê Trung Hưng kéo dài hơn 200 năm với 17 đời vua khác nhau Trong

đó có “Thăng Long cổ tích khảo” là tài liệu duy nhất nói chùa xây dựng vào

đời Lê Trang Tông tức thế kỷ XV Với những tài liệu nêu trên, không tài liệu nào khẳng định chùa được xây dựng vào thế kỷ XIV thời Trần Dụ Tông hoặc

Lê Sơ (1428 - 1527)

Chùa Quán Sứ bị phá hủy năm 1781 do hai đợt quân tam phủ nổi loạn (1751 và 1781) trong đó loạn kiêu binh năm 1781 dữ dội hơn, phá phách, gây

náo loạn cả kinh thành: “Chỉ trong chốc lát, nhà cửa của quận Huy bị phá tan

tành, một mảnh ngói cũng không còn Rồi bọn quân lính càng thừ thế hoành hành Phàm các quan văn võ hễ ai thuộc bè phái của thị Huệ và quận Huy, cùng những người dự vào việc tố giác vụ án năm Canh - Tý (việc Tông mưu cướp ngôi khi trước) những viên quan hầu mọi ngày có tính nghiệt ngã mà quân lính vẫn ghét, lúc ấy cũng đều bị phá nhà hàng loạt và bị lùng bắt đem giết chết Luôn mấy ngày, họ làm náo động cả kinh thành” [15, tr28] Một vài

năm sau (1783 - 1784) chùa được xây dựng lại Lúc này đã có một số sự thay đổi, Tiền đường của chùa thờ Phật, Hậu đường thờ Lý triều Quốc Sư

Trang 29

Đến đời vua Gia Long (1802 - 1819), khi kinh thành Thăng Long đổi thành Bắc Thành thì chùa Quán Sứ lúc này trở nên hưng thịnh Phó tướng Vĩnh Tài Hầu là một người hết lòng với Phật giáo Ông đã cúng tiến kinh phí đầu tư tu bổ sửa sang lại chùa Quán Sứ Vĩnh Tài Hầu đã có công trong việc

mở rộng Tiền đường, Hậu đường, tu sửa tả hữu hành lang, đúc Tòa Cửu Long cho chùa Quán Sứ từ năm 1802 đến năm 1811 Đến đầu năm 1820 ông cho đúc chuông Ông cấm người ngoài cũng như binh sĩ của mình có những hành

vi xâm hại đến chùa Quán Sứ Chính vì thế mà ngôi chùa ngày càng thu hút được nhiều người đến chiêm ngưỡng, lễ bái hơn Khi đó chùa trở thành một địa điểm nổi tiếng ở đất Thăng Long

Năm 1822 - năm Minh Mạng thứ 3, ông lại cho sửa sang chùa Quán

Sứ, cho đồn quân của mình ở tại đây để thực hiện việc cầu đảo thánh thần gia

hộ Đến năm 1827, đồn quân rút đi chùa Quán Sứ được bàn giao lại cho nhân dân địa phương Đến cuối năm 1827, nhà sư Thanh Phương (Đan Thầm, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay là Hà Nội) ra nhận chùa và làm trụ trì Sau khi nhận chùa nhà sư tiến hành tu sửa chùa, xây dựng hành lang, đúc chuông, đúc tượng

Vào thời Tự Đức (1848 - 1883), vào năm 1851 nhà sư Nguyễn Văn Nghiêm lên làm trụ trì chùa Quán Sứ Nhà sư là người đã cho dựng văn bia và

tô thêm 27 pho tượng tại chùa Quán Sứ với sự giúp sức của các thiện tín Ông nhờ Tiến sĩ, Đốc học Thanh Hóa, Hàm Lâm Thị Giảng học sĩ Thành Trai Lê Huy Vĩnh soạn văn bia về lịch sử của chùa Nhà sư đã nhờ Nga Mi Liên Gián Thanh Sĩ Tịnh ở làng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì viết lên bia Sau đó ông

Hà Đình Chính ở thôn Tân Khai khắc bia Năm 1855 chính thức dựng bia tại chùa Quán Sứ

Nhà sư Thanh Minh tiếp tục kế nghiệp trụ trì chùa Quán Sứ vào năm

1864 sau nhà sư Nguyễn Văn Nghiêm Lúc bấy giờ chùa Quán Sư sa sút, sư

ni Thanh Minh đã kêu gọi, vận động các thiện tín, cư dân địa phương cùng

Trang 30

đóng góp để sửa sang lại chùa Nhờ sự giúp đỡ từ nhân dân năm 1873 (Quý Dậu) sư ni Thanh Minh cho xây lại thượng điện, đổi theo hướng Tây Nam Năm 1874 (Giáp Tuất) làm tiền đường, tô lại tượng Phật

Sau khi sư ni Thanh Minh mất sư thầy Nguyễn Đoan về làm trụ trì Thời gian sư thầy Nguyễn Đoan làm trụ trì chùa không có bất kỳ sự tu sử nào khác Lúc đó chùa Quán Sứ tuy là một thắng tích của đất Hà Thành nhưng cũng chỉ như những ngôi chùa bình thường của kinh thành Thăng Long

Thời kỳ chùa Quán Sứ được chọn làm trụ sở Hội Phật giáo Bắc Kỳ (năm

1934 đến năm 1958)

Theo Kỷ yếu số 1 ra tháng 5 năm 1935 của Hội Phật giáo Bắc Kỳ:

“Ngày 06 tháng 11 năm 1934, Hội Phật giáo Bắc Kỳ đƣợc nhà cầm quyền cho phép thành lập” đã chọn chùa Quán Sứ Làm Hội quán tạm thời Sau đó

có 10 đến 20 mẫu xong không có nơi nào đất rộng như mong muốn để làm Hội quán nên Hội quyết định chọn chùa Quán Sứ làm Hội quán chính thức Hội quán tổ chức thi thiết kế chùa để tiến hành xây dựng lại chùa Quán Sứ

Năm 1935 báo Đuốc Tuệ (báo Nguyệt san) ra đời Đây là cơ quan hoằng pháp của Hội Phật giáo Bắc Kỳ Báo Đuốc Tuệ ra số đầu tiên vào thứ bảy, ngày 10 tháng 12 năm 1935 Cơ sở của báo Đuốc Tuệ nằm tại số 73 phố Richaud, nay là phố Quán Sứ Ngày 15 tháng 8 năm 1945 Đuốc Tuệ ra số cuối cùng (257 - 258)

Từ năm 1936, kế hoạch xây dựng lại chùa được tiến hành Nhưng chùa Quán Sứ lại gặp khó khăn trong vấn đề nhân sự, tài chính, bản vẽ nên mãi đến tháng 3 năm 1938 với bản vẽ kiến trúc chính thức theo bản vẽ thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng, Hội Phật giáo Việt Nam quyết định ngày 26 tháng 6 năm 1938 làm lễ đặt viên đá mỏng thứ nhất bắt đầu công trình Đến ngày 12 tháng 5 năm 1940 nhà Tổ hoàn thiện và tổ chức lễ khánh thành Vào tháng 9 năm 1942, Hội hoàn thành xong Chánh điện, đặt tượng pháp, xây dựng cơ sở in ấn và nơi sinh hoạt cho tăng Hai năm

Trang 31

sau đó năm 1944 làm xong Tam quan và câu đố hai bên Tam quan Tam quan xây bằng gạch chồng diêm, ở giữa có lầu chuông Trên Tam quan có nhiều cặp câu đối đắp nổi bằng chữ quốc ngữ như:

“Chùa Trung ương Hội Phật mở mang

Cảnh Quán Sứ nhà Tăng truyền nối”

“Đường bệ đội giời đạp đất chấn cõi Niết Bàn

Hiên ngang phất gió dẽ mây nêu đường chính giác”

“Hội Phật đủ mười phương bảy chúng đóng bè tập phúc thân sơ viễn cận tự

do

Cửa thuyền chung bốn bể một nhà mượn cảnh tu thân quý tiện hiền ngu bình đẳng”

Lúc này việc xây dựng Hội quán trung ương hoàn tất Đến ngày 13 tháng

05 năm 1951 (08/04/ năm Tân Mão), lá cờ Phật giáo thế giới gồm sáu dải màu nằm dọc đại diện cho sáu màu sắc của vầng hào quang khi Phật thành đạo do Thượng tọa Thích Tố Liên mang về từ Colombo đã xuất hiện tại Việt Nam

Thời kỳ chùa Quán Sứ được chọn làm trụ sở của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cho đến ngày nay (năm 1959 đến nay 2019)

Vì năm 1934 chùa Quán Sứ đã được chọn làm tổng hội Phật Giáo Bắc

Kỳ, là nơi trụ sở của trung ương, nơi diễn ra và chứng kiến rất nhiều hoạt động vô cùng quan trọng của Hội Phật giáo Việt Nam

Phật giáo miền Bắc tiến hành Đại hội thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam vào tháng 3 năm 1958 Tháng 11 năm 1981, Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam gồm 200 Đại biểu đại diện cho 09 tổ chức hệ phái họp tại Thủ đô Hà Nội đã nhất trí thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Đại hội quyết định chọn chùa Quán Sứ làm trụ sở của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Nơi đây vẫn là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng của Phật giáo, là sự hòa nhập giữa tổ chức Phật giáo nước ta với Phật giáo thế giới

Trang 32

Từ thời gian đó đến nay chùa vẫn là trụ sở của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Chùa được tu sửa thêm vài ba lần chủ yếu là lợp lại ngói Chánh điện và nâng cấp nội thất các dãy nhà Còn về mặt kiến trúc chùa Quán

Sứ gần như không có sự thay đổi nào khác

Hiện nay, chùa là nơi đặt văn phòng Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và văn phòng tổ chức Phật giáo Châu Á vì hòa bình ở Việt Nam Đây cũng là nơi đặt văn phòng Hội đồng trị sự, Hội đồng chứng minh và phòng khách quốc tế Các hội nghị mang tính quốc gia và quốc tế của Việt Nam đều được tổ chức tại chùa Quán Sứ Ngôi chùa Quán Sứ là một trong những ngôi chùa nổi tiếng, điểm du lịch hấp dẫn, danh lam cổ tự bậc nhất ở

Hà Nội, là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng và của tôn giáo Phật giáo nói chung Đây còn là điểm tham quan hấp dẫn, điểm du lịch văn hóa tâm linh thu hút nhiều cư dân địa phương,

du khách thập phương đến vãn cảnh chùa, cúng dường, lễ bái

2.2 Giá trị độc đáo của ngôi chùa

Chùa Quán Sứ mang nhiều giá trị cảnh quan, lịch sử, kiến trúc, văn hóa,

tâm linh góp phần vào sự phát triển chung của dân tộc và Phật giáo Ngôi chùa là biểu tượng cho đời sống văn hóa tâm linh của người Việt, trung tâm đầu não của Phật giáo Việt Nam hiện nay

2.2.1 Giá trị cảnh quan

Chùa Quán Sứ là một chùa cổ thuần Việt hiếm có ở miền Bắc Mang một

vẻ đẹp cổ kính giữa lòng Hà Nội đầy sôi động, chùa Quán Sứ như một điểm

nhấn cho Thủ đô Được xây dựng theo kết cấu “nội Công ngoại Quốc” - một

kết cấu truyền thống trong kiến trúc xây dựng chùa của miền Bắc cùng với hoa đại được trồng phía hành lang làm cho ngôi chùa càng thêm vẻ cổ kính Ngôi chùa là một điểm lý tưởng cho tất cả những ai đang muộn phiền hay quá

áp lực trước nhịp sống nhộn nhịp, công việc quá bộn bề, muốn tìm những phút giây tĩnh lặng quay về với chính bản thân mình Đây cũng là một nơi

Trang 33

thích hợp để thể hiện những niềm vui, những mong ước về một cuộc sống tốt đẹp của con người Với những giá trị cảnh quan của mình, chùa còn là một nơi thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan vãn cảnh Cũng bởi những giá trị cảnh quan đó, các nhà kinh doanh du lịch đã xây dựng nhiều chương trình du lịch gắn với ngôi chùa tạo ra nguồn kinh tế cho tổ chức, doanh nghiệp và đất nước.Cảnh quan của chùa có giá trị góp phần tích cực vào tìm hiểu các nét văn hóa truyền thống trong đời sống, cách xây dựng chùa chiền miền Bắc nước ta Cùng với bệnh viện K theo phong cách cổ điển, Đài Tiếng nói Việt Nam, chùa Quán Sứ đã tạo nên cho phố Quán Sứ mang nhiều màu sắc hơn

Chùa Quán Sứ nằm ở gần ngay trung tâm Hà Nội nên sau khi hành hương du khách có thể thưởng thức các món ăn chay ở các khu vực gần chùa

Du khách cũng có thể dễ dàng di chuyển đến tham quan các điểm nổi tiếng khác trong khu vực Hà Nội như hồ Hoàn Kiếm, Phố Cổ Hà Nội, Nhà hát lớn

Hà Nội, đền Bà Kiệu, tượng đài Lý Thái Tổ, Bảo tàng Công an Hà Nội, Du khách có thể di chuyển đến chùa Quán Sứ trên các tuyến xe bus 01,34, 40 (điểm dừng ở phố Quán Sứ) và 43, 49 (điểm dừng ở phố Lý Thường Kiệt)

2.2.2 Giá trị kiến trúc

Du khách có thể dễ dàng đến vãn cảnh hay hành hương tại chùa Quán

Sứ Vì chùa Quán Sứ nằm ngay trên phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Khi đến với chùa Quán Sứ ngoài việc tham gia các hoạt động lớn của Phật giáo, du khách còn được chiêm ngưỡng những nét độc đáo trong kiến trúc của ngôi chùa Tổng thể ngôi chùa được xây dựng theo lối kiến trúc

của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ Chùa được xây dựng theo lối “ nội

Công ngoại Quốc” (工:chữ Công, 国: chữ Quốc) Chùa có kiểu hai hành

lang dài nối liền với chính điện, nhà hậu đường Ở phía sau là các công trình kiến trúc khác tạo thành một hình chữ nhật

Trang 34

2.2.2.1 Sơ đồ mặt bằng chùa Quán Sứ

Chùa được xây dựng theo kiến trúc “nội Công ngoại Quốc” Bố cục

mặt bằng của chùa có dạng bên trong hình chữ Công (工) bao gồm Nhà Tiền Đường và hai bên hành lang Còn phía ngoài có khung bao quanh như bộ Vi (口) bao quanh như hình chữ (国)

Sơ đồ mặt bằng chùa Quán Sứ

2.2.2.2 Tam Quan

Từ ngoài nhìn vào ngôi chùa Quán Sứ toát lên vẻ cổ kính của một ngôi

chùa miền Bắc được lợp ngói âm dương bằng đất nung Tam quan chùa Quán

Sứ gồm có ba tầng được xây dựng một cách cân xứng, có mái lợp ngói đỏ, theo chiều nhỏ dần từ thấp lên cao Ở cả ba tầng của Tam quan đều có những câu đối bằng chữ quốc ngữ Đây là một trong những nét độc đáo của ngôi chùa Bởi lẽ chùa Quán Sứ là một trong rất ít ngôi chùa ở miền Bắc nói chung

và Hà Nội nói riêng viết câu đối, thơ ở ngoài cổng Tam quan bằng chữ quốc

ngữ Nếu nhìn theo hướng đi từ ngoài vào trong chùa sẽ thấy bên trái đề “Nhà

Trang 35

Tăng” (Tùy duyên) và bên phải để “Cửa Pháp” (Phương tiện) Thông thường

cửa “Nhà Tăng” là lối đi dành cho các vị tăng, ni Còn cửa “Cửa Pháp” dành

cho Phật tử, du khách khi đến vãn cảnh, hành hương tại chùa Cửa chính giữa thường để đón các vị tăng ni quan trọng trong Hội Phật giáo Việt Nam, các quan chức chính quyền thời xưa Nhưng ngày nay, do sự phát triển và thay đổi của xã hội cũng như sự gia tăng của số lượng, thành phần, sự hiểu biết của

du khách nên người đến chùa Quán Sứ sẽ chọn cho mình hướng vào chùa thuận tiện nhất

Chính giữa của Tam quan là lầu chuông Lầu chuông được xây dựng theo kết cấu hình vuông, phía trước và sau là khoảng trống hình tròn Nếu đi

từ ngoài vào trong chùa hay từ trong chùa ra ngoài, khi nhìn lên lầu chuông ta đều có thể nhìn được chuông bên trên lầu Phía trên là tên của ngôi chùa:

“CHÙA QUÁN SỨ”.Ở giữa cổng Tam quan là bốn chữ lớn “Từ Bi Hỉ Xả”

thể hiện cho nếp sống, đức cần có của một người con Phật, là điều cần thiết

của một bậc tu hành hay “Trụ sở Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” - tên trụ sở

tôn giáo Phật giáo

2.2.2.3 Chánh điện

Đi qua cổng Tam quan, bên trong là một khoảng sân rộng được lát bằng

đá xanh vuông vức Trước sân ngay dưới bậc thềm đầu tiên khi bước lên trên Chánh điện là ba lư hương mà gần như bất cứ ai đến đây đều thắp hương trước khi vào Chánh điện Bước thêm vài bước là hình ảnh Quan Âm với kích thước vừa đủ để hài hòa với khung cảnh chùa được đặt ở giữa 11 bậc thềm của Chánh điện Bước lên 11 bước là Chánh điện Chánh điện được xây cao, rộng sơn toàn bộ bằng màu vàng, gồm hai tầng mái Tất cả cửa của tòa Chánh điện đều được làm bằng gỗ tạo nên một vẻ cổ kính, thanh tịnh cho ngôi chùa Tòa Tam Bảo được đặt ở tầng hai, còn tầng dưới để cách ẩm Hai bên bậc thêm đi lên Chính điện có tượng rồng hóa mây đã nhuốm màu rêu phong Ngày nay, tượng rồng đá vân mây đã được tu sửa lại do những tác động của

Trang 36

thời gian Vẻ rêu phong cổ kính của tượng bị mất đi một phần nhưng về mặt kiến trúc tượng vẫn giữ được những nét độc đáo riêng

Điện Tam Bảo (Điện Phật, Đại Hùng Bảo Điện) là nơi quan trọng nhất

trong Chánh Điện Theo nhà Phật “Tam Bảo” ở đây là ba ngôi báu bao gồm

Phật, Pháp, Tăng Đây là nơi hội tụ của ba yếu tố Phật, giáo lý của Phật (Pháp), người hộ trì Phật Pháp (Tăng) Các pho tượng ở Điện Phật đều có kích cỡ khá lớn, trang trí một cách trang nghiêm và sơn son thiếp vàng lộng lẫy Phía trong cùng thờ ba vị Phật Tam Thế ở vị trí cao nhất Phía dưới Phật Tam Thế thờ Phật A Di Đà, hai bên là hai vị Bồ Tát Quan Âm và Đại Thế Chí Tiếp theo đó, ở giữa thờ tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng tượng tôn giả A Nan Đà và Ca Diếp ở hai bên Cuối cùng, có tòa Cửu Long ở giữa đặt ở chính giữa là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh (sơ sinh)

Điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh Không) với hai thị giả nằm ở gian bên phải của Chánh điện Lý Quốc Sư là một vị thiền sư nổi tiếng và có những đóng góp quan trọng cho Phật giáo Việt Nam Ông là một vị cao tăng, nhà thuốc có công lớn chữa bệnh cho vua và nhân dân, ông tổ của nghề đúc đồng Gian bên trái thờ tượng Đức Ông và tượng Châu Sương, Quan Bình Theo Kinh điển của Phật giáo Bắc tông, Đức Ông tên thật là Tu Đạt (trưởng giả Cấp Cô Độc) đã mua khu vườn của Thái Tử Kỳ Đà nước Xá Vệ bằng cách dát vàng kín mặt vườn, cúng dường cho Đức Phật và tăng đoàn đến thuyết pháp Đức Ông là một trong những vị Hộ pháp (hộ trì, bảo vệ chính Pháp) quan trọng trong Phật giáo Người đến chùa, thường sẽ vào ban Đức Ông rồi mới đến lễ Phật

Ngoài ra, còn có ban anh hùng liệt sĩ, trên ban có một bia ghi tên của các anh hùng liệt sĩ của phường Trần Hưng Đạo, phố Quán Sứ Đây là nơi con người thể hiện sự biết ơn đối với những anh hùng đã hy sinh để đem lại

sự bình yên cho đất nước, dân tộc Ở đây có danh sách các anh hùng phường Trần Hưng Đạo đã hy sinh vì đất nước

Trang 37

2.2.2.4 Nhà thờ Tổ

Nhà thờ Tổ nằm ở khu vực phía sau của Chánh điện Hậu đường chùa

Quán Sứ được trùng tu và nâng cấp gồm có ba tầng Điểm đặc biệt, giữa Chánh điện và hậu đường được nối với nhau qua một cầu thang lộ thiên ở tầng hai Chính giữa nhà thờ Tổ có thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma - vị tổ thứ 28 của Phật giáo Ấn Độ là người khai sáng Thiền tông Trung Quốc Phật giáo miền Bắc Việt Nam có sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Đại Thừa Trung Quốc mang tư tưởng của các thiền sư Trung Quốc Chính vì vậy, Bồ Đề Đạt Ma là

vị tổ được thờ ở các chùa Việt Nam nói chung và chùa Quán Sứ nói riêng Bên phải gian thờ Tổ thờ các đời trụ trì của chùa Quán Sứ Bên trái gian thờ

Tổ thờ các sư hoạt động trong Báo Đuốc Tuệ - cơ quan hoằng pháp của Hội Phật giáo Bắc Kỳ

Đặc biệt trong nhà thờ Tổ của ngôi chùa Quán Sứ còn có một pho tượng hết sức độc đáo là pho tượng vị sư Thích Bình Lương Pho tượng giống như người thật đang ngồi thiền Từng đường nét, nếp nhăn, gân tay, đồi mồi, đều trông sống động giống như bằng xương bằng thịt.Vị sư mặc áo cà

sa màu vàng, ngồi kiết già, được đặt trong một tủ kính nhỏ Trên đầu vị sư có lấm tấm một chút tóc bạc Đã có thời gian mọi người đồn thổi nhau tượng sư

cụ Thích Bình Lương bỗng dưng mọc tóc Điều đó thu hút rất nhiều du khách gần xa đến với chùa Quán Sứ để được chiêm ngưỡng bức tượng

Sư cụ Thích Bình Lương - trụ trì chùa Từ Tế ở Thái Lan, người đã có công cưu mang Bác Hồ trong quá trình người hoạt động cách mạng ở đây Năm 2008, đệ tử của hòa thượng Thích Bình Lương sau khi dự Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc tại Việt Nam đã đặt làm một pho tượng sư cụ rồi rước về thờ ở chùa Quán Sứ cho đến ngày nay

Trang 38

Bảng danh sách Danh Tăng Tổ Đình Danh tăng năm

sinh, năm mất)

Sơn môn pháp phái(chức vụ, giáo vụ)

Thời gian trụ trì

1938- 1940 Sư là Chánh Đốc

Công trùng tu chùa Quán Sứ giai đoạn 1938-

Trang 39

Trưởng)

Hòa thượng là người vẽ thiết kê

và tái thiết kế chùa Quán Sứ năm 1936

Ủy viên Đoàn Chủ tịch TWMTTQVN, Ủy viên Liên Việt, Ủy viên Ủy ban VN bảo vệ hòa bình

TG, Hội Trưởng Hội Phật giáo thống nhất, Hiệu trưởng Trường Tu học Phật Pháp TW

1955-1969 không có

Trang 40

Hòa thượng

Thích Tâm An

(1892- 1982)

Phó Hiệu trưởng Trường Tu học Phật Pháp Trung Ương

Chánh Đương Gia

Ngày đăng: 28/08/2019, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w