Larry Williams Thời gian: 01-02/2012 Phân tích văn hóa và thị trường Nhật bản trong việc đầu tư xuất khẩu Đề tài: Các anh chị hãy chọn một quốc gia và một sản phẩm hoặc dịch vụ để đầu t
Trang 1Bài tập nhóm IV
Môn: Quản trị kinh doanh quốc tế Giảng viên: Dr Larry Williams Thời gian: 01-02/2012
Phân tích văn hóa và thị trường Nhật bản trong việc đầu tư xuất khẩu
Đề tài:
Các anh chị hãy chọn một quốc gia và một sản phẩm hoặc dịch vụ để đầu tư
mở rộng doanh nghiệp Việt Nam của các anh chị vào một thị trường nước ngoài.
Thành viên:
Lê Thanh Nhàn Trần Công Long Phạm Xuân Nam Hoàng Ngọc Thanh Nguyễn Hoàng Hanh
Lê Phạm Thúy Nga
I Giới thiệu
Thực phẩm là ngành nghề mà việc đầu tư vào đó được xem là có lợi nhuận cao và bền vững - ít bị ảnh hưởng mạnh bởi khủng hoảng kinh tế, chính trị Hải sản là nhóm hàng thực phẩm có nhu cầu tiêu thụ lớn và ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn thế giới Vì vậy đầu tư
Chương trình đào tạo Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh quốc tế
Trang 2vào ngành hải sản là khoản đầu tư "thông minh” Bên cạnh đó, xu hướng thực phẩm ăn nhanh ngày càng phổ biến, nhằm đáp ứng nhu cầu của những người có ít thời gian Đặc biệt là sản phẩm an toàn, bổ dưỡng dành cho những người có thu nhập khá Từ cơ sở đó, ra đời ý tưởng
“Vi cá ghim tẩm gia vị ăn liền” (instant dried seasoned sting ray) là một sản phẩm chiến lược
để kinh doanh
Ngoài khai khác thị trường trong nước thì xuất khẩu luôn là giấc mơ đối với tất cả các doanh nghiệp trong ngành – vì lợi ích nhận được không đơn thuần chỉ từ số lãi của lượng hàng bán ra mà là cả giá trị thương hiệu to lớn và nền tảng để vươn ra toàn cầu Trong đó, thị trường Nhật Bản luôn là một thách thức to lớn vì những rào cản kỹ thuật và hệ thống phân phối nhiều cấp của thị trường hàng đầu thế giới này
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi dùng thông tin thực tế của Công ty cổ phần Đại Thuận
(Công ty của anh Phan Xuân Nam - thành viên trong nhóm) để phân tích hai vấn đề: “Tại sao
lại quyết định đầu tư vào thị trường Nhật Bản?” Và “Tại sao lại kinh doanh sản phẩm Vi cá ghim tẩm gia vị ăn liền.”
II Nội dung
1 Nhật Bản – những lợi thế và hạn chế khi đầu tư
Những lợi thế khi đầu tư vào Nhật Bản
Theo CIA the world factbook thống kê vào tháng 7, 2011, dân số Nhật Bản ước tính khoảng 126,475,664 Trong năm 2011, Nhật Bản được xem như là nền kinh tế lớn thứ 3 trên thế giớ chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc xét về chỉ số GDP danh nghĩa và là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới sau Hoa Kỳ, Trung Quốc, và Ấn Độ xét về sức mua tương đương Bên cạnh lợi thế về đông dân số và sức mua mạnh, Nhật Bản được coi như là một thị trường lớn vì thu nhập trung bình của người dân ở mức cao Nhật Bản còn có một số lợi thế khác mà chúng ta có thể thấy từ liệt kê dưới đây, khi chúng ta xem xét Nhật Bản là môi trường đầu tư cho sản phẩm hải sản của chúng ta:
• Xét về phương diện địa lý, Nhật Bản có thể coi là một Quốc gia gần Việt Nam Về mặt lịch sử, giữa hai quốc gia đã từng có những trao đổi thương mại văn hóa trong quá khứ,
do đó có nhiều tính tương đồng về tập tính và sinh hoạt
Trang 3• Theo thống kê của Ngân hàng thế giới vào tháng 6, 2011 Nhật Bản đứng trong top 20/183 quốc gia dễ dàng trong việc làm thương mại và đầu tư
• Thời gian để nhận được thông tin đầu tư khá là ngắn và thủ tục để tiến hành đầu tư rõ
ràng, được đăng tải tại trang “invest Japan” Thời gian trung bình để có câu trả lời từ
cơ quan chính quyền là 10 ngày
• Về mặt nhân lực, Nhật Bản có lực lượng lao động được đào tào dồi dào và có đạo đức làm việc rất tốt
• Nhật Bản được xem như là một quốc gia rất phát triển về công nghệ - tạo điều kiện dễ dàng trong việc giao tiếp và kết nối giữa chi nhánh của các Công ty đầu tư vào đây
• Dù rằng Nhật Bản có mật độ dân số rất đông trên một diện tích nhỏ, tuy nhiên, Nhật Bản là quốc gia có cơ sở hạ tầng giao thông rất hiện đại bao gồm, đường cao tốc, xe lửa nội đô, xe lửa liên thành phố, hệ thống tàu điện ngầm, cảng biển, hàng không, … Điều này tạo điều kiện thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa của các nhà đầu tư
• Về truyền thông, sự phát triển nhanh chóng của internet băng thông rộng, thông tin liên lạc, truyền hình tạo điều kiện thuận lợi trong việc quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng
• Nhật Bản có hệ thống phân phối đa dạng, hiện đại và rộng khắp như là siêu thị, cửa hàng tạp hóa, cửa hàng bán lẻ đã được xây dựng và quản lý rất tốt Hệ thống này giúp cho người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận hàng hóa
• Thông tin văn phòng kinh doanh và thương mại Canada thống kê, Nhật Bản là một nước tiêu thụ và nhập khẩu các sản phẩm cá và hải sản lớn nhất thế giới Thêm vào đó, những món ăn thường có trong bữa ăn của người Nhật Bản bao gồm cá, thịt, rau, có thể
có hải sản nói chung và cơm
• Thuế quan: Hiện Việt nam đã được hưởng mức thuế ưu đãi từ chính phủ Nhật Chi tiết thuế suất được tính theo mặt hàng, nhưng nhìn chung, đã không còn là rào cản thuế quan để xuất khẩu hải sản vào Nhật Thuế suất đối với mặt hàng “vi cá ghim tẩm gia vị
ăn liền” là 3,6 %
Trang 4 Những hạn chế khi đầu tư vào Nhật Bản
Bên cạnh nhiều lợi thế, Nhật Bản cũng có một số hạn chế mà chúng ta cần xem xét khi đầu tư vào thị trường này như liệt kê dưới đây:
• Người tiêu dùng có đòi hỏi rất cao trong việc thống nhất thông tin từ số, chất lượng,
và tài liệu kỹ thuật so với những sản phẩm thực tế bày bán trên thị trường
• Người Nhật kỹ càng đến chi tiết trong quá trình kiểm tra điều kiện, năng lực sản xuất, đàm phán và thực hiện hợp đồng Với các nhà máy chế biến thực phẩm, phải hết sức chú trọng đến các điều kiện vệ sinh, sinh hoạt và sức khỏe của người lao động – cả trong và ngoài nhà máy Hệ thống và qui trình cũng thuộc mối quan tâm hàng đầu của họ
• Nhật Bản là nước có luật lệ khá chặt chẽ về việc nhập khẩu thực phẩm nói chung và hải sản nói riêng – nhất là các qui định về cấm sử dụng các hóa chất có nguy cơ gây hại sức khỏe
• Người Nhật Bản ưu tiên dùng ngôn ngữ mẹ đẻ trong việc giao tiếp và làm ăn Hơn nữa, Nhật Bản có văn hóa kinh doanh riêng khá là đặc sắc, điều này cũng gây trở ngại và ảnh ưởng đến quá trình giao tiếp và hiệu quả làm việc đối với những người mới bắt đầu tham gia đầu tư ở Nhật Bản nếu chưa tìm hiểu kĩ
• Về vị trí địa lý, Nhật Bản tọa lạc trên vùng cung nơi kiến tạo núi lửa của Châu Á Thái Bình Dương, vì vậy, thường xảy ra động đất, bão lớn cũng như sóng thần Điều này có thể ảnh hưởng tới quá trình hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư, nếu một trong những hiện tượng thiên nhiên trên xảy ra Và cũng có thể nhà đầu tư phải mất chi phí phục hồi cho công việc kinh doanh của mình
• Cạnh tranh từ các Công ty cùng ngành trong và ngoài nước
Tuy nhiên, những hạn chế nêu trên có thể được khắc phục thông qua những nghiên cứu thị trường một cách bài bản và có đầu tư, đồng thời phát huy những lợi thế khi chọn Nhật Bản là thị trường xuất khẩu mục tiêu Từ đó tạo ra “sân chơi” đầy tiềm năng
và thách thức, buộc các doanh nghiệp phải có những định hướng rõ ràng và hoàn thiện mình khi tham gia vào lĩnh vực này
Trang 52 Nhật Bản – thị trường xuất khẩu hải sản tiềm năng của Việt Nam
- Nhật Bản luôn là thị trường lớn nhất thế giới về tiêu thụ hải sản
- Lao động trong ngành đánh bắt và chế biến hải sản được coi là nặng nhọc nên kém thu hút - nhất là đối với lực lượng lao động trẻ Vì vậy, Nhật Bản khó có đủ nguồn nhân lực cũng như chi phí lao động của họ trong lĩnh vực này rất cao dẫn đến việc họ phải mua hoặc sản xuất ở nước ngoài Hạ tầng cần thiết để có thể chế biến hải sản ăn liền có những đòi hỏi hết sức khắt khe (cả ở Nhật lẫn ở Việt nam) khiến các Công ty Nhật Bản ngày nay cũng không dễ đáp ứng (diện tích nhà máy phải rộng, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, nhu cầu cấp thoát nước lớn, cần nhiều nhân công , nói chung, chi phí sản xuất tại Nhật bản sẽ rất cao.)
- Như vậy, Việt nam có đủ các điểm mạnh để đáp ứng nhu cầu thị trường Nhật Bản về cả nguyên liệu, nhân công, môi trường
Tiềm năng thị trường và xu hướng phát triển
• Nhu cầu về thủy hải sản tăng cao ở Nhật, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật ngày càng có sự chuyển dịch tích cực, tương đồng với sự chuyển dịch
cơ cấu sản phẩm xuất khẩu ở các thị trường khác, từ các sản phẩm sơ chế, có giá trị gia tăng thấp, sang các sản phẩm chế biến, có giá trị gia tăng cao hơn
• Năm 2010, Việt Nam xuất khẩu 898 triệu đô la các sản phẩm thủy sản sang Nhật, tăng 18,7% so với năm 2009 Việt Nam là nhà cung cấp tôm đông lạnh hàng đầu, chiếm 21% thị phần, và là nhà cung cấp cá phile đông lạnh lớn thứ 8 cho thị trường Nhật Bản, chiếm 2,77% thị phần Theo số liệu thống kê Tổng cục Hải quan, 7 tháng đầu năm 2011 Việt Nam đã xuất khẩu 5,4 tỷ USD sang thị trường Nhật Bản, tăng 30,05% so với cùng kỳ năm 2010, chiếm 10,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tính riêng tháng 7, Việt Nam đã xuất khẩu 907 triệu USD, tăng 25,47% so với tháng trước đó và tăng 35,72% so với tháng 7/2010 Mặt hàng thủy sản có kim ngạch tăng trưởng đạt 92,2 triệu USD trong tháng 7, tăng 22,35% so với tháng 6 và tăng 2,44% so với tháng 7/2010, nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng
Trang 6thủy sản sang thị trường Nhật Bản 7 tháng đầu năm lên 469,4 triệu USD, tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước
• Dù không có thống kê đầy đủ – do tỷ trọng về doanh số khá thấp – nhưng thống kê của ngành cho thấy các sản phẩm hải sản khô tẩm gia vị xuất khẩu từ Việt nam vào Nhật Bản khá ổn định và nhận được sự đánh giá cao về mặt chất lượng Tuy nhiên,
do nhiều lý do khác nhau, hầu hết các sản phẩm nhóm này đều được xuất dưới dạng nguyên liệu dù đã được chế biến khá “tinh” (đã tẩm ướp đầy đủ, nhà chế biến ở Nhật chỉ còn nướng, cán là có thể đóng gói bán ra thị trường) Có những thống kê rời rạc về các lô hàng ăn liền đã được xuất sang Nhật Bản, nhưng chưa được làm rõ
về thương hiệu Đã có một thời gian dài, hàng chục ngàn tấn hải sản tẩm gia vị đã được xuất sang Nhật mỗi năm, và tới nay, thói quen tiêu thụ các loại hải sản khô tẩm gia vị ăn liền như một loại snack truyền thống của người Nhật Bản vẫn không suy giảm
• Có thể khẳng định một điều: tiềm năng thị trường Nhật Bản đối với mặt hàng hải sản tẩm gia vị ăn liền là cực kỳ to lớn và là “miếng bánh” lớn cho tất cả các doanh nghiệp Việt Nam đang sản xuất mặt hàng này
• Sau thảm họa sóng thần 3/2011, “Một làn sóng các doanh nghiệp Nhật Bản chuyển
cơ sở sản xuất từ trong nước ra nước ngoài” Theo ông Toshiyuki Obama - giám đốc điều hành, chủ tịch ban quản lý thông tin và phát triển thương mại khu vực châu Á của Tập đoàn Nikkei, phát biểu tại cuộc họp báo chuẩn bị hội thảo “Các kịch bản phục hồi và tái thiết Nhật Bản Xu hướng đầu tư ra nước ngoài” (do Bộ Kế hoạch -đầu tư phối hợp với Tập đoàn xuất bản Nikkei tổ chức ngày 10-8-2011) một xu hướng đáng kể là liên kết với các nhà đầu tư khác để mở rộng phạm vi lĩnh vực kinh doanh, thay vì tự làm một mình như trước Thực tế là các cơ sở chế biến thực phẩm dạng tinh (tốn nhiều nguồn lực và chịu nhiều rủi ro) đưa ra nước ngoài Ngành chế biến hải sản cũng không nằm ngoài xu thế này Đồng thời thuế suất các mặt hàng tinh chế cũng đã được giảm mạnh tới mức gần như bằng 0% (trước đây hàng tinh chế được bảo hộ mạnh mẽ bởi hàng rào thuế quan) Chính vì thế đây sẽ là
cơ hội cho cả doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản
Trang 7• Xét trên góc độ khác, sự gián đoạn bởi quá trình chuyển tiếp đã nêu, phần nào đã phá vỡ và tạo nên những “khoảng trống quyền lực” nhất định trong chuỗi cung ứng thực phẩm tới người tiêu dùng Nhật Bản (vốn không mấy hiệu quả do phải qua quá nhiều tầng nấc trung gian) Điều này cho phép các Công ty phân phối Nhật có cơ hội “thoát ra” (cắt bớt các công đoạn trước) để đặt hàng trực tiếp từ các nhà sản xuất ngoài biên giới Chính năng lực chế biến (và năng lực đảm bảo trách nhiệm) của các nhà sản xuất ngoài biên giới cùng hệ thống kiểm soát chất lượng hàng xuất nhập khẩu của cả hai nhà nước (xuất và nhập khẩu), cũng như xu hướng cởi mở hơn của người tiêu dùng Nhật Bản đối với các nhãn hiệu thực phẩm nước ngoài, đã cho phép các nhà phân phối Nhật “đi tắt đón đầu” Việc một khách hàng Nhật đề xuất về khả năng nhập khẩu trực tiếp mặt hàng khô tẩm gia vị ăn liền của Công ty Đại Thuận dưới dạng bao gói hoàn chỉnh (gói nhỏ), sử dụng nhãn hiệu của Công ty,
để phân phối theo hệ thống kênh bán lẻ hiện đại là một bằng chứng khẳng định điều này
Rõ ràng, Công ty cần đẩy nhanh quá trình nghiên cứu và chuẩn bị để thâm nhập vào thị trường Nhật Bản Trong mọi trường hợp, việc nghiên cứu và chuẩn bị này đều là bước đi hữu ích và cần thiêt – vì đây là hướng đi chủ động, tích cực, và nhất thiết phải thực hiện, để tham gia sâu rộng vào chuỗi cung ứng thực phẩm Nhật Bản nói riêng và toàn cầu nói chung
3 Công ty cổ phần Đại Thuận trong việc lựa chọn thị trường Nhât Bản để xuất khẩu
“Vi cá ghim tẩm gia vị ăn liền”
Đôi nét về Công ty cổ phần Đại Thuận
• Thành lập năm 1992, Công ty bắt đầu bằng hoạt động chế biến hải sản - dựa trên thế mạnh của địa phương (tỉnh Khánh hòa) là nguồn nguyên liệu phong phú và lao động dồi dào Sản phẩm tiêu thụ không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu sang một
số nước khác trong khu vực – tập trung chính vào Nhật Bản và Hàn quốc Hiện Công ty đã tham gia vào tất cả các công đoạn chính trong chuỗi cung ứng thực phẩm tới người tiêu dùng – từ sản xuất đến phân phối và bán lẻ
Trang 8• Để phân tán rủi ro và tận dụng cơ hội, Công ty đã dành khoảng 50% nguồn vốn tự
có để đầu tư vào các Công ty khác - có tiềm năng phát triển lâu dài trong các lĩnh vực chế biến sữa, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ du lịch & chăm sóc sức khỏe; thương mại, bất động sản Trong đó, hải sản là ngành nghề truyền thống từ 20 năm nay, đã có nhiều uy tín với đối tác trên thị trường Nhật Bản từ 15 năm – thông qua việc xuất khẩu nguyên liệu sơ chế (chỉ trừ công đoạn cuối cùng nướng, cán và đóng gói dưới thương hiệu của họ) Hiện tại Công ty muốn dùng sản phẩm “vi cá ghim tẩm gia vị ăn liền” để xây dựng hệ thống phân phối, rồi từ đó làm bàn đạp đưa những sản phẩm khác vào thị trường Nhật Các loại cá tẩm khác cũng là những mặt hàng truyền thống của Công ty, sẽ là những mặt hàng nối gót
Thông tin về mặt hàng “Vi cá ghim tẩm gia vị ăn liền”
Ưu điểm
• Sản phẩm được định vị như một loại snack nước ngoài (sản xuất theo công nghệ và đặt hàng của Nhật Bản) – đảm bảo an toàn, ngon và giàu dưỡng chất tự nhiên Đây
là mặt hàng được coi là thay thế cho sản phẩm “mực tẩm gia vị” do sự thiếu hụt nghiêm trọng và sự chênh lệch giá đáng kể trong thời gian qua giữa hai mặt hàng này (trong khi không có khác biệt lớn về chất lượng và hình thức cũng như mục đích sử dụng – trừ thói quen tiêu dùng)
• Mặt hàng cá ghim tẩm gia vị của Đại Thuận gần như đang độc chiếm thị trường Nhật Bản (so với các doanh nghiệp Việt Nam như: Baseafood, Hải nam, Agrex Saigon…) và được đánh giá cao hơn sản phẩm của các doanh nghiệp khác từ Thái lan và Trung quốc Ưu thế có được là nhờ công nghệ độc đáo và đội ngũ kỹ thuật viên, công nhân lành nghề cùng hệ thống thiết bị đồng bộ, phù hợp với các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm
• Về mặt quản lý chất lượng nguyên liệu, hiện nhận thức và kiến thức của ngư dân trong việc bảo quản nguyên liệu đã được nâng cao – kết hợp với các qui định của nhà nước trong việc qui chuẩn hóa và quản lý chặt chẽ việc khai báo lộ trình, kết quả đánh bắt, vùng đánh bắt nguyên liệu – phục vụ cho việc truy xuất nguồn gốc và
Trang 9quản lý nguồn lợi cũng như chất lượng hải sản đánh bắt đã góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu của ngành nói chung và doanh nghiệp nói riêng
Hạn chế
• Mặc dù đã có hệ thống thu mua và mối quan hệ bạn hàng lâu năm cũng như lợi thế
về giá mua do sự vượt trội trong cạnh tranh trên thương trường, nhưng thực sự, nguyên liệu đang là điểm yếu nhất có thể dẫn tới tình huống “khủng hoảng” của kế hoạch này
• Công ty đang thâu tóm hầu hết thị trường nguyên liệu trong nước (khoảng 70% sản lượng) Được thu mua từ ngư dân tại nhiều địa phương trong cả nước, hiện sản lượng thu mua đang khá tốt, nhưng vì nguyên liệu mặt hàng đang được đánh bắt tự nhiên nên hoàn toàn bị lệ thuộc vào mùa vụ Việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu nhập khẩu đang được coi là một giải pháp dự phòng, nhưng vẫn chưa cho những kết quả
rõ ràng Hiện cũng chưa có thông tin về khả năng tổ chức nuôi một cách có hiệu quả loại thủy sản này
• Vì những lý do trên mà chúng tôi phải tính tới giải pháp là tìm mặt hàng thay thế Đây là một trong các hướng đi cần thiết và có khả năng thành công cao
Với những nền tảng của Công ty cùng những nghiên cứu thị trường về nhu cầu hải sản tẩm gia vị thị trường Nhật Bản, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào tiềm năng xâm nhập thị trường của sản phẩm này
III Kết luận
Để chốt lại những phân tích về hai vấn đề “Tại sao lại quyết định đầu tư và thị trường Nhật Bản?” Và “Tại sao lại kinh doanh sản phẩm Vi cá ghim tẩm gia vị ăn liền.” chúng tôi tóm tắt bằng ma trận SWOT như sau:
─ ĐIỂM MẠNH :
• Hệ thống thu mua nguyên liệu rộng khắp
• Hạ tầng (facilities) đồng bộ & đạt chuẩn,
• Năng lực chế biến và chất lượng sản phẩm vượt trội
• Kinh nghiệm phân phối hiện đại (tới các kênh bán lẻ nội địa)
Trang 10• Có kinh nghiệm xuất khẩu vào Nhật (B2B)
─ ĐIỂM YẾU :
• Thương hiệu mới đối với người tiêu dùng Nhật Bản
• Chưa có hệ thống phân phối và bán hàng tại Nhật
• Thiếu nhân lực và hiểu biết về luật lệ & và văn hóa Nhật
• Lệ thuộc vào các khách hàng thương mại hiện tại
─ CƠ HỘI
• Nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tiện dụng được duy trì
• Hàng rào thuế quan được dỡ bỏ
• Xu hướng đặt hàng tinh chế thành phẩm của nước ngoài
• Rào cản tâm lý, văn hóa xã hội giảm dần
─ THÁCH THỨC :
• Sự yếu thế của thương hiệu và chất lượng Việt nam (hạng 2)
• Sự cạnh tranh từ đối thủ Trung quốc và các nước trong khu vực
• Thách thức của những rào cản về văn hóa, ngôn ngữ, tâm lý
• Khoảng cách địa lý
IV Tài liệu tham khảo
#
1 http://en.wikipedia.org/wiki/Japan
2
http://www.ats-sea.agr.gc.ca/asi/4345-eng.htm#N_1_
the Business Sectors Bureau and the
Canadian Trade Commissioner Service
3 http://www.jetro.go.jp the Japan External Trade
Organization
4 http://www.maff.go.jp/e/index.html Ministry of Agriculture, Forestry
and Fisheries
5 http://www.doingbusiness.org/rankings Easy To Do Business ranking
6 www.vasep.com.vn Vietname Fisheries Associations