1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn

110 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian tới, các cấp ủy, chính quyền các cấp từ huyện đến cơ sở cầnquan tâm hơn nữa đến mục tiêu xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã đảm bảo về chấtlượng, đồng bộ về cơ cấu, có trình độ

Trang 1

LÊ THỊ NGA

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ GÓP PHẦN TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

LÊ THỊ NGA

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ GÓP PHẦN TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 86.20.115

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ QUANG TRUNG

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luậnvăn là trung thực và là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, nội dungđược trình bày là hoàn toàn hợp lệ, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận vănnày đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Thị Nga

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ

cán bộ, công chức cấp xã góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động

viên của các cá nhân và tập thể Cho phép tôi được bày tỏ sự quan tâm và cảm ơnchân thành đến Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo, các khoa, phòng, cácthầy giáo, cô giáo Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điềukiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của TS Hà Quang Trung người đã hướng dẫn,

truyền thụ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn Cảm ơn sự giúp đỡ và cộng tác của các cơ quan chuyên môn trên địa bànhuyện, lãnh đạo, CBCC các xã thị trấn đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thôngtin, số liệu, dành thời gian tham gia ý kiến phiếu điều tra giúp tôi có dữ liệu để hoànthiện luận văn

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Thị Nga

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

4 Những đóng góp mới của luận văn, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 6

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.1.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và sự cần thiết nâng cao chất lượng CBCC cấp xã 9

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã 14

1.1.4 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 16

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 20

1.2 Cơ sở thực tiễn 26

1.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của các địa phương 26

1.2.2 Những bài học kinh nghiệm cho huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 28

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 29

1.4 Đánh giá chung từ tổng quan tài liệu 31

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 32

Trang 6

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 34

2.2 Nội dung nghiên cứu 37

2.3 Phương pháp nghiên cứu 37

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 37

2.3.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 39

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 39

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 40

2.4.1 Nhóm chỉ tiêu thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 40

2.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 42

2.4.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 42

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Bắc Sơn giai đoạn 2016 - 2018 44

3.1.1 Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 46

3.1.2 Trình độ văn hóa của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 49

3.1.3 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 51

3.1.4 Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 52

3.1.5 Trình độ tin học, ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 54

3.1.6 Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 55

3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Bắc Sơn 57

3.2.1 Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 57

3.2.2 Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 58

3.2.3 Chế độ, chính sách của cán bộ, công chức cấp xã 59

3.2.4 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 59

3.2.5 Công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 60

Trang 7

3.3 Phân tích thực trạng về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công

chức cấp xã huyện Bắc Sơn 61

3.3.1 Thực trạng về thể lực 61

3.3.2 Thực trạng về trí lực 62

3.3.3 Thực trạng về tâm lực 63

3.3.4 Về kết quả thực thi công vụ và kỹ năng thực thi công vụ 64

3.4 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Bắc Sơn 67

3.4.1 Những ưu điểm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Bắc Sơn

67 3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 69

3.5.1 Quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 70

3.5.2 Mục tiêu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Bắc Sơn trong thời gian tới 71

3.5.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 72

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Khuyến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 86

Trang 8

ĐQĐT : Đã qua đào tạo

HĐND : Hội đồng nhân dân

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình biến động đất đai huyện Bắc Sơn qua 2 năm 33

Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động huyện Bắc Sơn qua 2 năm 34

Bảng 2.3: Tình hình phát triển kinh tế của huyện Bắc Sơn 35

Bảng 2.4: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Bắc Sơn 35

Bảng 3.5: Biên chế cán bộ, công chức cấp xã của huyện Bắc Sơn 45

Bảng 3.6: Số lượng, cơ cấu phân bổ CBCC cấp xã huyện Bắc Sơn theo giới tính 47

Bảng 3.7: Cơ cấu phân bổ CBCC cấp xã huyện Bắc Sơn theo độ tuổi 48

Bảng 3.8: Trình độ văn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Bắc Sơn 50

Bảng 3.9: Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 52

Bảng 3.10: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBCC cấp xã huyện Bắc Sơn 53

Bảng 3.11: Trình độ tin học, ngoại ngữ của đội ngũ CBCC cấp xã 55

Bảng 3.12: Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC cấp xã 56

Bảng 3.13: Đánh giá của cán bộ, công chức cấp xã về công tác đào tạo, bồi dưỡng 57

Bảng 3.14: Đánh giá về cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm phân công cán bộ, công chức cấp xã 58

Bảng 3.15: Đánh giá chế độ, chính sách của cán bộ, công chức cấp xã 59

Bảng 3.16: Đánh giá về công tác quản lý, kiểm tra, giám sát 60

Bảng 3.17: Công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức cấp xã 60

Bảng 3.18: Đánh giá của người dân về mặt thể lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 61

Bảng 3.19: Đánh giá của người dân về mặt trí lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 62

Bảng 3.20: Đánh giá của CBCC về mặt trí lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 63

Bảng 3.21: Đánh giá của người dân về mặt tâm lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 64

Bảng 3.22: Đánh giá của người dân về thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 65

Bảng 3.23: Đánh giá của CBCC về kỹ năng cơ bản trong thực thi công vụ 66

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn tới

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Số liệu thứ cấp: Các sách báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo có liên

quan, các báo cáo khoa học đã được công bố; thông tin trên Internet liên quan đến

đề tài nghiên cứu Các báo cáo phát triển kinh tế xã hội của huyện qua các năm từ

2016 - 2018; Chi cục thống kê huyện, phòng Nội vụ huyện và các đơn vị cấp xã, thịtrấn Các thông tư, hướng dẫn của các bộ ngành, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn củaTỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Lạng Sơn

- Số liệu sơ cấp

+ Đối tượng điều tra: Điều tra phỏng vấn hai đối tượng chính là đại diện các

hộ dân và cán bộ tại địa phương thông qua phiếu điều tra khảo sát được thiết kế theonhững nội dung có liên quan tới mục đích của luận văn nhằm đánh giá thái độ, ýthức, tác phong, tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ của CBCC xã

+ Phương pháp chọn mẫu:

Xác định quy mô mẫu: Áp dụng công thức Slovin (1960) để tính toán cỡ mẫu:

n = Trong đó: n: là cỡ mẫu điều tra tối thiểu

N: Số lượng tổng thểe: Khoảng tin cậy (mức độ sai số)

- Phương pháp điều tra xã hội học

+ Thu thập số liệu bằng bảng hỏi: Xây dựng 2 mẫu phiếu gồm một số câu hỏivới nội dung xoay quanh chủ đề nghiên cứu của luận văn

Trong đó:

Mẫu phiếu 1: Khảo sát điều tra dành cho cán bộ, công chức cấp xã: 80 phiếu.Mẫu phiếu 2: Khảo sát điều tra dành cho công dân địa phương: 100 phiếu

Trang 11

2.3 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng sau khi số liệu đã

được tổng hợp, phân tích nhằm so sánh sự biến động qua các năm về các chỉ tiêu cụthể khi xem xét chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, so sánh giữa các năm Từ đó,xác định được thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của huyện Bắc Sơn

- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được sử dụng để thống kê

số tuyệt đối, tương đối, số bình quân của các chỉ tiêu thống kê để mô tả thực trạngchất lượng cán bộ, công chức

- Phương pháp thang đo Likert: Trong đề tài nghiên cứu tác giả dùng

thang đo Likert 5 lựa chọn trong bảng khảo sát.

Khi đó: Giá trị khoảng cách = (Maximum - Minimum) / n = (5-1)/5 = 0.8

Ý nghĩa các mức như sau:

1.00 - 1.80: Rất không đồng ý/Rất không hài lòng/Rất không quan trọng…1.81 - 2.60: Không đồng ý/Không hài lòng/Không quan trọng…

2.61 - 3.40: Không ý kiến/Trung bình…

3.41 - 4.20: Đồng ý/ Hài lòng/ Quan trọng…

4.21 - 5.00: Rất đồng ý/ Rất hài lòng/ Rất quan trọng…

3 Kết quả nghiên cứu

Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng độingũ CBCC cấp xã Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã huyện Bắc Sơn giai đoạn 2016 - 2018

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã tại huyện Bắc Sơn; thực trạng về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã huyện Bắc Sơn

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã đáp ứng nhiệm vụ chính trị hiện nay

4 Kết luận

- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Bắc Sơn đã và đang là nhân tốquan trọng quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của từng xã, thị trấn nói riêng và

Trang 12

của huyện Bắc Sơn nói chung Đã thực thi tốt nhiệm vụ của mình, hoàn thànhnhiệm vụ chuyên môn được giao Số lượng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên môn

ở cấp xã đảm bảo theo quy định

- Về chất lượng nhìn chung những năm gần đây đã có sự chuyển biến tíchcực, ngày càng được nâng cao Công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường vàduy trì thường xuyên Công tác tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ công chức cấp xãđược thực hiện ngày càng khách quan và hiệu quả Công tác đánh giá cán bộ, côngchức được thực hiện đúng quy định Hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, côngchức cấp xã đã được nâng lên

- Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một số hạn chế: Số lượng cán bộ, công chứccấp xã có xu hướng ngày càng tăng, tạo nên tình trạng vừa thừa vừa thiếu; trình độchuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước vẫn ở mức trung bình sovới mặt bằng chung đội ngũ CBCC cấp xã toàn tỉnh; một số cán bộ, công chức cấp

xã chưa đáp ứng được yêu cầu đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thônmới giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tại Quyết định số 315/QĐ-UBND ngày 28/02/2017 của UBND tỉnh Lạng Sơn Tinh thần trách nhiệm trongthực thi công vụ chưa cao Sự chênh lệch trong cơ cấu giới tính (tỷ lệ CBCC nữthấp), cán bộ chủ chốt là nữ rất ít

- Căn cứ vào điều kiện thực tế và phân tích thực trạng tác giả đã đưa ra 05giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Nếuthực hiện tốt những giải pháp đó sẽ giúp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quátrình phát triển kinh tế - xã hội cũng như thực hiện thành công chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bắc Sơn và tỉnh Lạng Sơn

Trong thời gian tới, các cấp ủy, chính quyền các cấp từ huyện đến cơ sở cầnquan tâm hơn nữa đến mục tiêu xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã đảm bảo về chấtlượng, đồng bộ về cơ cấu, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản

lý nhà nước, các kỹ năng thực thi công vụ, có năng lực, phẩm chất đạo đức nhằmnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện, góp phầntái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”,một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, việc phát triển con người, pháttriển nguồn nhân lực chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực.Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phát triểnbền vững, phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Ngay từ những năm 60 của thế

kỷ XX, nhiều nước đã tăng trưởng kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa gắn liền với việc phát triển nguồn nhân lực Nếu trước đây sự phát triểncủa một quốc gia chủ yếu dựa vào các nguồn lực như: Tài nguyên thiên nhiên,nguồn vốn, nguồn lao động, thị trường tiêu thụ thì hiện nay chính tri thức lại có ýnghĩa hết sức quan trọng, góp phần tạo nên sự thịnh vượng, giàu có cho một quốcgia, lãnh thổ

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của Đảng ta đã chỉ rõ: “Con người là nguồn lực quan trọng nhất, lànguồn lực của mọi nguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước” Nhận thứcđược tầm quan trọng của nguồn nhân lực nên từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiếnlược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng đã ban hành nhiều nghịquyết về nhiều lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi dưỡng và pháthuy nhân tố con người

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) về định hướng chiến lượcphát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụđến năm 2000 đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực

Nghị quyết nêu: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự

phát triển nhanh và bền vững” (Nxb Chính trị quốc gia, H.1997, tr 85).

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ, công chức (CBCC) đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nướcnhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết

số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011của Chính phủ về Chương trình tổng thểcải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 xác định một trong 5 mục tiêu

Trang 14

quan trọng của chương trình là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có

đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự pháttriển đất nước” Trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những thời cơ và tháchthức mới, đòi hỏi phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn nữa trong việc nângcao chất lượng đội ngũ CBCC, đây là chìa khóa để giải quyết các vấn đề do thựctiễn đặt ra

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày18-3-2002) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,phường, thị trấn đã chỉ ra những mục tiêu cơ bản là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở

cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng,pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân,không tham nhũng; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyếthợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở…” Quan điểm, chủ trương nàyđặt cơ sở cho việc xác định các chức danh cán bộ, công chức và chuẩn hóa đội ngũcán bộ, công chức cấp xã Do vậy, nâng cao chất lượng cho CBCC cấp xã là mộtyêu cầu bức thiết nhằm góp phần xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã trong sạch, vữngmạnh, đủ khả năng thực thi chức năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, thực hiệntrọng trách là "công bộc" của nhân dân

Bắc Sơn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Lạng Sơn, huyện có 19 xã và 1thị trấn, trong đó có 11 xã đặc biệt khó khăn Là nơi tập trung nhiều hộ dân tộc thiểu

số, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, mặt bằng dân trí không đồng đều, chất lượng cuộc sốngcủa dân cư nông thôn còn thấp Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyệnđặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ CBCC nói chung, đặc biệt đối vớiCBCC cấp xã nói riêng, bởi lẽ đây là đội ngũ CBCC của hệ thống chính trị ở cơ sởtrực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước trên địa bàn Đặc biệt là nhiệm vụ tái cơ cấu ngànhnông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của cư dân nông thôn Việc huy động các nguồn lực để thực hiện nhiệm

vụ này có vai trò hết sức quan trọng quyết định đến sự phát triển bền vững của địaphương; ngoài việc huy động nguồn lực về tài nguyên đất đai, nguồn vốn, cơ sở vậtchất thì nguồn nhân lực về đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò chủ động, sáng tạochi phối toàn bộ

Trang 15

quá trình phát triển kinh tế xã hội Là huyện có nhiều tiềm năng, lợi thế về phát triểnnông nghiệp, vì nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế và giữ vị tríđặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện; huyện Bắc Sơn đãtriển khai nhiều giải pháp đồng bộ sớm trước đó nhiều năm như: chuẩn bị hạ tầng

cơ sở, xây dựng chiến lược phát triển cho từng lĩnh vực tái cơ cấu ngành nôngnghiệp… và một trong những nhiệm vụ lớn được đặc biệt quan tâm đó là công táccán bộ, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và cán bộ ngành nôngnghiệp nói riêng có chuyên ngành sâu, khả năng tham mưu tốt, trở thành động lựcquan trọng trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp tại địa phương

Tuy nhiên, một thực tế khách quan của huyện hiện nay chất lượng CBCC cấp

xã chưa tương xứng với vai trò, vị trí của họ cũng như chức trách của các chức danh

do nhà nước quy định Trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, côngchức cấp xã còn hạn chế; ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lề lối làm việc chưanghiêm; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn nhiều khó khăn bất cập.Việc tổng kết, đánh giá đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của độingũ CBCC cấp xã chưa được quan tâm thực hiện đúng mức, chưa có các giảipháp đồng bộ phù hợp với đặc thù của đội ngũ CBCC cấp xã; điều này đã gây ảnhhưởng không nhỏ tới hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở nói riêng

và của Đảng và nhà nước nói chung Vì vậy, việc đổi mới công tác quản lý, nângcao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, văn hóa, có đạo đứclối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực thi chức năng,nhiệm vụ theo đúng pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng,Nhà nước và cả hệ thống chính trị là một yêu cầu có tính tất yếu khách quan, vừamang tính cấp thiết, tính kế thừa, thường xuyên, liên tục và lâu dài trong xu thếphát triển kinh tế - xã hội của huyện Bắc Sơn nói riêng, tỉnh Lạng Sơn và cảnước nói chung

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất

lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc

sỹ của mình

Trang 16

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đề

xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bànhuyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn tới

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Đội ngũ cán bộ, công chức các xã, thị trấn trong phạm vi nghiên cứu của

đề tài bao gồm tất cả các chức danh cán bộ, công chức cấp xã và thị trấn theoquy định của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ vàNghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 8/4/2013 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sungmột số điều của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP

Trang 17

4 Những đóng góp mới của luận văn, ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng độingũ CBCC cấp xã huyện Bắc Sơn

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấpxã; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã huyệnBắc Sơn; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức cấp xã đáp ứng nhiệm vụ chính trị hiện nay đối với một huyện miền núi, cónhiều dân tộc thiểu số, kinh tế còn chưa được phát triển như huyện Bắc Sơn, tỉnhLạng Sơn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị trong thựctiễn về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã; giúp cho cấp ủy, chính quyền huyện BắcSơn đưa ra giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã trên địa bàn huyện, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắnvới xây dựng nông thôn mới

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức và cán bộ, công chức cấp xã

a Khái niệm cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức là nhóm nhân lực đặc biệt trong nguồn nhân lực nóichung bởi đây là nhóm nhân lực quản lý nhà nước Theo Luật Cán bộ công chứccủa Quốc hội ban hành ngày 13/11/2008 thì cán bộ và công chức có những tiêuchí chung: Là công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ ngân sách nhànước (riêng trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị

sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ, nhiệm vụthường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính (cán

bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã; công chức ở trung ương,cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ, công chức cấp xã) Theo Luật Cán bộ công chức củaQuốc hội ban hành ngày 13/11/2008 ta có thể tóm tắt các khái niệm như sau:

- Khái niệm Cán bộ:

Khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: “Cán bộ là côngdân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theonhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị -

xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung làcấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấphuyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

- Khái niệm Công chức:

Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức làcông dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danhtrong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ởtrung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân màkhông phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơquan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyênnghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của ĐảngCộng sản

Trang 19

Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sựnghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối vớicông chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý sự nghiệp công lập thì lương được đảmbảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Như vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các

cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở cácphòng, ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt Nam; các tổ chức Chính trị xãhội như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niêncộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc Quân độinhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấp trungương đến cấp huyện

b Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã

- Cán bộ xã, phường, thị trấn: Khoản 3 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức

2008 quy định: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là côngdân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chứcchính trị - xã hội”

- Công chức cấp xã: “Là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức

danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Theo khoản 2,3,4 Điều 61 Luật Cán bộ Công chức 2008 quy định chức vụ,chức danh cán bộ, công chức cấp xã bao gồm:

* Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ

tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản HồChí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân ViệtNam; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

* Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy

trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường(đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường(đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội

Trang 20

1.1.1.2 Khái niệm chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã

a Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Quan điểm chất lượng được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vàotừng lĩnh vực và từng mục đích khác nhau Theo tiêu chuẩn Pháp “Chất lượng làtiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng”.Theo Từ điển tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản

năm 2000 (tr.144): “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con

người, một sự vật, sự việc”.

Tuy nhiện, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức không hoàn toàn giống vớichất lượng của các loại hàng hóa, dịch vụ, mỗi cá nhân CBCC không thể tồn tại biệtlập mà phải được đặt trong mối quan hệ với cả tập thể Khi đánh giá chất lượng độingũ cán bộ công chức cấp xã, một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chấtlượng của đội ngũ CBCC Chất lượng của đội ngũ cán bộ được xem xét dưới nhiềugóc độ khác nhau được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp

xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã

Chất lượng của đội ngũ CBCC được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạođức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệuquả công tác của họ

Chất lượng của đội ngũ cán bộ là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng cán

bộ, được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinhcủa người cán bộ, công chức đối với công vụ được giao

Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng đội

ngũ CBCC cấp xã như sau: “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là chỉ

tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ”.

b Khái niệm về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã có thể hiểu: “là tập hợpnhững giải pháp có tác động tích cực đến chất lượng của từng CBCC trong các cơquan hành chính nhà nước cấp xã cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân trong tậpthể, tinh thần phối hợp trong thực thi công vụ nhằm hoàn thành công việc chuyên

Trang 21

môn và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, Quốc phòng an ninh mà địaphương đặt ra”.

Để đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cần phải xác định rõ những tiêu chí đánh giá chấtlượng đội ngũ cán bộ, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến chất lượng củađội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xãđược thực hiện thông qua các hoạt động tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,

bố trí sử dụng, đánh giá, xếp loại và kiểm tra giám sát đội ngũ CBCC cấp xã

1.1.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và sự cần thiết nâng cao chất lượng CBCC cấp xã

1.1.2.1 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xâydựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ.Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trịnói chung xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả côngtác của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở Có thể nói, đây là vấn đề đặc biệt quantrọng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựngNhà nước dân chủ nhân dân đến nay Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng,cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở… Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnhhay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường,thị trấn

Cán bộ, công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương,đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Không có đội ngũ cán bộ,công chức cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũngkhó biến thành hiện thực Cán bộ, công chức cấp xã vừa là người trực tiếp đem cácchủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước giải thích cho nhân dânhiểu rõ và thi hành, vừa là người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dânđến với Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phùhợp với thực tiễn Ở khía cạnh này, họ có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nướcvới quần chúng nhân dân

Trang 22

Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức côngviệc của chính quyền cơ sở Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quảntheo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sởthông qua việc giải quyết các công việc hành ngày có tính chất quản lý, tự quản mọimặt ở địa phương Họ còn có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ

sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân Thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhân dân thểhiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình

Chính vì đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong bộmáy chính quyền cơ sở nên việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vữngvàng về chính trị, có đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình

độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầucủa Đảng và Nhà nước ta; đây cũng là một nội dung rất quan trọng của công tác

cán bộ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định: “Cán bộ phải

là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân” (Văn kiện ĐH X tr.136).

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh cần phải “xây dựng

đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” (Văn kiện ĐH XI tr.252) Qua đó cần phải “rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực điều hành, quản

lý nhà nước” Có như thế mới tạo ra được một đội ngũ cán bộ, công chức “vừa

hồng, vừa chuyên” đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, có năng lực tổ chức, điều hành, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biếtphát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở,nâng cao trách nhiệm công tác, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức tổ chức

kỷ luật và đạo đức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả công việc, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo anninh, chính trị và quốc phòng trên địa bàn xã

Trang 23

Cán bộ và công tác cán bộ luôn là “khâu then chốt trong vấn đề then chốt”của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng Do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức nhà nước nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng vững mạnh là côngviệc hết sức quan trọng và đòi hỏi phải làm thường xuyên, nhất là trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Đảng ta cũng đã khẳngđịnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, có bản lĩnh chính trị, có phẩmchất cách mạng, có năng lực trí tuệ và tổ chức thực tiễn là việc làm vừa cơ bản, vừacấp bách và là công tác thường xuyên và lâu dài”.

1.1.2.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

a Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính

Chính quyền cấp xã là đơn vị hành chính ở cơ sở, trực tiếp tổ chức đưađường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.Đây cũng là nơi gần dân nhất, tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh choĐảng và Nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật Trên thực tế, CBCC cấp xãphải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đếnmọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ

sở Do đó nếu đội ngũ cán bộ, công chức sa sút về phẩm chất, không đủ năng lựccông tác sẽ gây những hậu quả tiêu cực và nghiêm trọng về nhiều mặt đối với mỗiđịa phương nói riêng và cả nước nói chung

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, việc nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ, công chức cấp xã là nhân tố then chốt trong xây dựng hệ thống chính

quyền vững mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy "Cấp xã là gần gũi dân nhất,

là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi" Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định:

“Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dânthực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tậntụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻhóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộchính sách đối với cán bộ cơ sở” Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ, công chức cấp xã là nội dung trọng tâm, then chốt góp phần xây dựng

hệ thống chính trị, chính quyền vững mạnh từ cơ sở

Trang 24

b Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại địa phương

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và quan tâm tớiviệc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nóiriêng Đây là nhân tố then chốt để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóađất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện thành công chương trình cải cách nềnhành chính nhà nước và xây dựng nông thôn mới, góp phần ổn định hệ thống chínhtrị và chất lượng bộ máy nhà nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra mục tiêu: “Xây dựngđội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh,không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, thamnhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụđáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có tinh thầnđoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôntrọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm Độingũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợplý”

Chương trình tổng thể cải cách nền hành chính nhà nước đến năm 2020cũng xác định: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức là một trong bảychương trình hành động chiến lược góp phần xây dựng nền hành chính dân chủ,trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, xây dựng bộ máy nhànước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Trong đó, đặt ra yêu cầu xây dựng được độingũ cán bộ, công chức hành chính vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực,trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng quản lý, vận hành bộ máy hành chính đểthực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước”

c Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cần đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa để bắt kịp xu thế phát triển hiện nay

Theo nghị định số: 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về Công chức xã,phường, thị trấn của Chính phủ quy định tiêu chuẩn cán bộ, công chức xã, phường,thị trấn là:

Trang 25

- Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

- Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quảchủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

- Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầunhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao

- Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địabàn công tác

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từng bước pháttriển cả số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thời kỳ mới

Đa số cán bộ, công chức cấp xã có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với lý tưởng,tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng; có lối sống giản dị, trong sáng, gần gũivới nhân dân, tâm huyết với công việc Đây là nhân tố quan trọng góp phần đảmbảo tổ chức thực hiện thành công đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước, lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện thắng lợi cácmục tiêu kế hoạch đề ra

Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, một bộ phận cán

bộ, công chức nói chung, CBCC cấp xã nói riêng có biểu hiện suy thoái về phẩmchất đạo đức, thái độ quan liêu, hách dịch, chưa thực hiện tốt công tác dân chủ cơsở; có biểu hiện tư tưởng cơ hội, ý thức kỷ luật kém gây mất đoàn kết nội bộ; tinhthần tự phê bình và phê bình còn thấp, gây tổn hại đến uy tín và làm giảm sút lòngtin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Mặt khác, tỉ lệ cán bộ, công chức chưađạt chuẩn còn cao Theo số liệu thống kê của Sở Nội vụ Lạng Sơn, tính đến tháng12/2017, số lượng và chất lượng cán bộ, công chức ở tỉnh Lạng Sơn như sau:

Về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có 4.694 người Trong đó: Cán bộ cấp

xã có 2.270 cán bộ chuyên trách; công chức chuyên môn là 2.424 người; cán bộnữ

1.542 người (chiếm 32,85%); dân tộc thiểu số 4.221 người (chiếm 89,71%)

Về trình độ chuyên môn, số cán bộ chưa qua đào tạo có 553 người (chiếm11,78%); trình độ sơ cấp là 193 người (chiếm 4,11%); trung cấp 2.115 người (chiếm45,1%); cao đẳng là 457 người (chiếm 9,73%) và đại học là 1.359 người (chiếm28,94%); thạc sỹ 17 người (chiếm 0,36%)

Trang 26

Về trình độ lý luận chính trị, số người chưa qua đào tạo là 748 người (chiếm15,93%); trình độ sơ cấp là 1.534 người (chiếm 33,33%); trung cấp 2.365 người(chiếm 50,38,5%) và cao cấp là 34 người (chiếm 0,72%).

Về trình độ quản lý nhà nước, số người chưa qua đào tạo là 2.381 người(chiếm 50,72%); cán sự là 746 người (chiếm 15,9%); chuyên viên là 196 người(chiếm 4,18%); chuyên viên chính 9 người (chiếm 0,19%)

Qua số liệu trên cho thấy, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức chínhquyền cấp xã ở tỉnh Lạng Sơn còn thấp Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ, công chức cấp xã là việc làm rất cần thiết hiện nay

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã

1.1.3.1 Trình độ năng lực, văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản

lý nhà nước

- Trình độ năng lực: Phản ánh kỹ năng làm việc, khả năng hoàn thành công

việc của mỗi CBCC; đối với người CBCC cấp xã phải kể đến năng lực lãnh đạo,quản lý Hiện nay đa số CBCC cấp xã là những người trẻ tuổi, chưa được đào tạo cơbản, nên khi nhận các chức danh lãnh đạo thì công tác quản lý CBCC còn thiếu kinhnghiệm, công tác quản lý, điều hành thiếu tính thuyết phục, thiếu khoa học, hiệu quảhoạt động không cao

- Về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Còn nhiều bất cập

cũng như những bảo đảm cho việc hình thành “nguồn” công chức cấp xã đã và đang

là những cản trở vô hình tới công cuộc cải cách hành chính ở cấp cơ sở nói riêng vàcải cách hành chính nhà nước nói chung Hạn chế về trình độ văn hóa, trình độchuyên môn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện cácvăn bản của Đảng và Nhà nước, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn vàtrách nhiệm của người cán bộ, công chức Vì vậy, việc nâng cao trình độ chuyênmôn của đội ngũ CBCC cấp xã là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

- Về trình độ lý luận chính trị: Là cơ sở xác định lập trường, quan điểm của

cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nóiriêng Hiện nay, tỷ lệ cán bộ, công chức chưa qua bồi dưỡng lý luận chính trị khánhiều, những CBCC cấp xã đã qua đào tạo chủ yếu dừng lại ở trình độ trung cấp,điều này chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác lãnh đạo, quản lý, điềuhành việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cấp cơ sở, đặcbiệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,

Trang 27

xây dựng nông thôn mới với nhiều nội dung, tiêu chí đòi hỏi phải có kiến thức khoa học, công nghệ, xây dựng, quản lý kinh tế,…

- Trình độ quản lý nhà nước: Phản ánh kỹ năng làm việc, khả năng hoàn

thành công việc của mỗi CBCC Đối với người CBCC cấp xã phải kể đến năng lựclãnh đạo, quản lý; hiện nay đa số CBCC cấp xã là những người trẻ tuổi, chưa đượcđào tạo cơ bản, nên khi nhận các chức danh lãnh đạo thì công tác quản lý CBCCcòn thiếu kinh nghiệm, công tác quản lý, điều hành thiếu tính thuyết phục, thiếukhoa học, hiệu quả hoạt động không cao

1.1.3.2 Phẩm chất chính trị, đạo đức

Phẩm chất chính trị là tiêu chuẩn, điều kiện quan trọng đối với mỗi CBCC.Nhất là trong bối cảnh hiện nay, sự suy thoái và xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, lốisống ở một bộ phận CBCC, đảng viên của Đảng đang ở mức báo động Phẩm chấtchính trị thể hiện nhận thức, tư tưởng chính trị, chấp hành đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự kiên định với đường lối đổi mớicủa Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với Chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi

trọng đạo đức cách mạng, Người viết: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,

không có nguồn thì cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" Phẩm chất chính trị còn được thể hiện ở tinh thần đấu tranh bảo vệ

quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; chống lại chủ nghĩa cơhội, bè phái, các biểu hiện tiêu cực, các tư tưởng thù địch, chống phá Đảng và Nhànước Đồng thời tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng, giữ vữngbản lĩnh chính trị trong mọi tình huống Đạo đức là tập hợp những quan điểm củamột xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, vềcách sống Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợiích của cộng đồng xã hội Chính vì vậy mà đạo đức là phẩm chất đáng quý, đángtrân trọng nhất của người CBCC

Về phẩm chất đạo đức của CBCC, chúng ta cần nhắc đến đạo đức cá nhân vàđạo đức nghề nghiệp Phẩm chất đạo đức của CBCC cấp xã được thể hiện thông qualối sống, tác phong, lề lối làm việc Đó là việc giữ gìn đạo đức trong sáng, lối sốnglành mạnh, giản dị, tiết kiệm, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những biểu

Trang 28

hiện tiêu cực khác; có tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân Muốn được nhân dântin tưởng, tín nhiệm thì mỗi CBCC cấp xã cần phải tận tụy với công việc, khônghách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho tổ chức, cho công dân trong thực hiệnnhiệm vụ; nhất là lợi dụng chức vụ, cửa quyền, gây phiền hà, đòi hỏi vật chất củanhân dân Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của CBCC được thể hiện thông qua ýthức tổ chức kỷ luật tại cơ quan, đơn vị và tinh thần trách nhiệm của CBCC trongthực thi nhiệm vụ như: chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, giữ gìn nếpsống văn hóa công sở, thời gian làm việc, chấp hành sự phân công của tổ chức, có ýthức giữ gìn đoàn kết nội bộ; tinh thần phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ và thểhiện sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những việc mìnhlàm Như vậy việc đề cao phẩm chất chính trị, đạo đức của người CBCC cấp xã làtiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã và sinh thời Chủtịch Hồ Chí Minh của chúng ta đã đúc kết đạo đức cách mạng của người cán bộtrong 8 chữ vàng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô, tư” vẫn còn nguyên giá trịquý báu để mỗi CBCC học tập đến ngày hôm nay.

1.1.3.3 Khả năng hoàn thành nhiệm vụ

Là tiêu chí cơ bản để đánh giá đúng đắn nhất những gì mà mỗi CBCC cấp xã

đã làm được trong thời gian nhất định Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được phảnánh thông qua mức độ thực hiện nhiệm vụ được giao trong năm: Thể hiện ở khốilượng công việc được giao, chất lượng công việc được hoàn thành, tiến độ triểnkhai thực hiện, và hiệu quả của công việc đó trong từng vị trí, từng giai đoạn, baogồm cả những nhiệm vụ thường xuyên và những nhiệm vụ đột xuất Dựa trên kếtquả đánh giá về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ CBCC cấp xã có thểđánh giá được chất lượng hoạt động của đội ngũ đó trong thực tiễn công tác MộtCBCC cấp xã đạt chất lượng tốt thì phải thường xuyên được đánh giá là hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ Có những CBCC đạt trình độ chuyênmôn nhưng chỉ được đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ hoặc chưa hoàn thành nhiệm

vụ, người quản lý cần xem xét những khía cạnh khác của CBCC đó Kết quả đánhgiá này cũng là cơ sở để thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng và sắp xếp cán

bộ tại cơ quan, đơn vị

1.1.4 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức bao gồm:

Trang 29

Thể lực được hiểu là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự pháttriển bình thường, có đủ sức khỏe để đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức laođộng trong quá trình sản xuất với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo chocon người có khả năng học tập và lao động lâu dài Đó là một cơ thể khỏe mạnh,không chỉ đáp ứng trong điều kiện làm việc bình thường mà còn có khả năng chịuđựng áp lực công việc, tập trung cao độ khi phải đối mặt với những yều cầu cấpbách, khó khăn của công việc hay phải làm việc trong những điều kiện khắc nghiệt.Tất nhiên, thể lực không phải là yếu tố chính quyết định chất lượng nguồn nhân lực;song cũng không thể phủ nhận một thực tế là, nếu con người không được nâng caothể lực thì cũng khó có thể phát triển được trí tuệ, khả năng sáng tạo trong học tập

và lao động

CBCC cấp xã muốn hoàn thành nhiệm vụ được giao rất cần một thể lực tốt,một sức khỏe dồi dào; đó không chỉ là khỏe mạnh mà còn là lòng kiên trì, tinh thần,yếu tố tâm lý khi đứng trước sự việc mới phát sinh Sức khỏe tốt giúp cho đội ngũCBCC cấp xã có tinh thần thoải mái, sảng khoái, có trí tuệ, tư duy minh mẫn, giúp

họ sáng suốt, tỉnh táo trong công tác lãnh đạo, điều hành, tránh được stress trongcông việc và có đủ bản lĩnh, sự bình tĩnh, khôn khéo trong giải quyết khó khăn,đồng thời không bị dao động trước tư tưởng, thói quen xấu Nếu không có đủ sứckhỏe thì dù có trí tuệ, yêu nghề thì đội ngũ CBCC cấp xã cũng khó lòng có thể làmviệc, cống hiến cho công việc Việc chăm sóc tốt sức khỏe làm tăng chất lượngnguồn

Trang 30

nhân lực trong tương lai; sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự pháttriển, nên yêu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người là một đòi hỏi chính đáng

mà xã hội phải đảm bảo Sự phát triển bình thường về thể chất và tâm lý trong một

cơ thể khỏe mạnh cũng là một tiêu chí quan trọng của năng lực đội ngũ cán bộ,công chức cấp cơ sở Vì vậy, cấp ủy, chính quyền xã cần chăm lo hơn nữa đến việcrèn luyện thể lực cho đội ngũ CBCC địa phương, không chỉ khi tuyển dụng đầu vào

mà còn qua cả thời gian công tác của họ

Trí lực là yếu tố chiếm vị trí trung tâm chỉ đạo hành vi của con người trongmọi hoạt động, kể cả trong việc lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm phát huy tácdụng của các yếu tố khác trong cấu trúc chất lượng nguồn nhân lực Trí lực là yếu tốquyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, là yếu tố ngày càng đóng vaitrò quan trọng và quyết định trong chất lượng nguồn nhân lực nói riêng và sự pháttriển của nguồn lực con người nói chung Vì vậy trí lực cũng là yếu tố rất quantrọng quyết định hiệu quả công việc của đội ngũ cán bộ, công chức

Để đánh giá trí lực của người cán bộ, công chức có thể căn cứ vào các tiêuchí sau:

- Trình độ văn hóa: Là nền tảng cho nhận thực, tiếp thu đường lối, chủtrương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi choviệc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được hiểu là trình độ được đào tạo ở cáclĩnh vực khác nhau theo cấp độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học Đó là nhữngkiến thức mà các cơ sở đào tạo trang bị cho người học theo các chuyên ngành nhấtđịnh được thể hiện qua hệ thống bằng cấp Đội ngũ CBCC cấp xã phải nắm vữngchuyên môn, nghiệp vụ của ngành làm việc, phải am hiểu về nghề, thực hiện đúng

và đầy đủ những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân Nếu đội ngũcán bộ, công chức không có chuyên môn, nghiệp vụ chỉ làm theo kinh nghiệm hoặcgiải quyết tùy tiện chắc chắn sẽ không đạt hiệu quả cao thậm chí còn mắc sai lầm

Trang 31

- Trình độ quản lý Nhà nước: Quản lý Nhà nước là sự tác động mang tính tổchức đến các quan hệ xã hội Để thực hiện được các hoạt động này, đòi hỏi đội ngũcán bộ, công chức cần phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản vềquản lý Nhà nước thì mới có được những kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụđược giao.

Để nâng cao trí lực đội ngũ CBCC cấp xã, trước hết bản thân mỗi CBCCphải không ngừng học tập nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp

vụ cần thiết nhằm phục vụ tốt nhất cho công việc đang đảm nhận Thứ nữa là sựquan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác đào tạo, bồi dưỡng độingũ CBCC cấp xã, giúp CBCC cập nhật kịp thời những kiến thức liên quan lĩnh vựccông tác một cách nhanh chóng, ngày càng củng cố vững chắc nền tảng chuyênmôn; ngoài ra cần quan tâm cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, các chính sách đãi ngộ,tạo động lực và qua thực trạng bố trí công việc đúng người, đúng việc, CBCC cấp

xã phát huy tối đa trí lực, sức sáng tạo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

1.1.4.3 Nâng cao tâm lực

Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất tốt đẹp và sự hoànthiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực tiễn lao động sản xuất vàsáng tạo cá nhân Những giá trị đó gắn liền với năng lực tư duy và hành động cụ thểcủa con người, tạo nên chất lượng của nguồn nhân lực Tâm lực tạo ra động cơ bêntrong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con người Nói cách khác,tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tố thể lực và trí lực của conngười với tư cách nguồn nhân lực của xã hội

Tâm lực là nội dung quan trọng trong nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCcấp xã, là sức mạnh tâm lý của con người Tâm lực cao hay thấp thể hiện ở mức độnhận thức, ý thức trách nhiệm về động cơ làm việc, ý chí phấn đấu, thái độ và tácphong làm việc, kỷ luật lao động, tính tự lập trong thực thi nhiệm vụ, tinh thần hợptác tương trợ, khả năng làm việc tập thể và lòng trung thành với cơ quan, tổ chức.Tâm lực phản ánh nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống, thể hiện nét văn hóa củangười lao động, là cơ sở tâm lý cho việc nâng cao năng lực sáng tạo của họ tronglao động, là năng lực và ý chí, sự mong muốn sử dụng sức lực của mình: sức mạnhcủa ý chí, tinh thần trách nhiệm trong công việc, để hoàn thành tốt công việc Tâm

Trang 32

lực còn được hiểu là lương tâm nghề nghiệp, đó là ý thức, thái độ lương thiện,không sách nhiễu công dân, không lợi dụng quyền hành để làm những việc tráilương tâm, pháp luật Tâm lực còn thể hiện là lòng tự trọng, khiêm nhường, chânthành, biết cư xử lịch thiệp, giao tiếp với đồng nghiệp, với quần chúng.

Như người xưa đã đúc kết: Có tâm thì làm việc gì cũng xong Vậy tâm lực ởđây có nghĩa là tâm huyết, tận tâm, tận lực với tấm lòng trong sáng trong công việc,coi công việc là tất cả ý nghĩa cuộc sống Đó cũng chính là ý thức trách nhiệm caotrong công việc của CBCC nói chung Làm việc gì cũng phải có cái “tâm”, nếuthiếu tâm lực sẽ dẫn đến sự thờ ơ trong công việc Vì vậy, cần phải nâng cao hơnnữa tâm lực của CBCC cấp xã trong thực thi công vụ, vì chỉ cần có “tâm” thì dùcông việc có nhiều khó khăn đi chăng nữa, mỗi CBCC cấp xã cũng sẽ cố gắng, cóđộng lực để vượt qua hoàn thành tốt nhiệm vụ

1.1.4.4 Kết quả thực thi công vụ và kỹ năng thực thi công vụ

Kết quả thực thi công vụ và kỹ năng thực thi công vụ của cán bộ, công chứccấp xã phụ thuộc vào các yếu tố như: kiến thức, kỹ năng của bản thân cán bộ, côngchức; sự phân công công việc, tính chất công việc, môi trường làm việc, khuyếnkhích của người lãnh đạo, quản lý, tạo động lực cho cán bộ, công chức từ chế độ,chính sách đãi ngộ và cơ hội thăng tiến phát triển

Như vậy, muốn nâng cao kết quả thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, côngchức cấp xã thì phải chú trọng cải thiện từ kỹ năng làm việc của cán bộ, công chứcđến môi trường làm việc của cơ quan, cũng như cách thức tổ chức công việc và chế

độ, chính sách nhằm động viên, khuyến khích để có thể hăng say, nhiệt tình làmviệc đạt hiệu quả cao

Tóm lại: Một đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng là đội ngũ có phẩmchất chính trị, đạo đức cách mạng, có trình độ năng lực và có khả năng vận dụngđường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước một cách có hiệu quả nhấtnhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân tại địa phương gópphần xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

1.1.5.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò quan trọng, là nhân tốảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, nhất là trong giai đoạn

Trang 33

hiện nay khi mà cải cách hành chính diễn ra mạnh mẽ, đội ngũ CBCC cấp xã ngàycàng được trang bị những thiết bị làm việc hiện đại hơn: máy tính, máy in, máyphoto, scan hay vấn đề đơn giản là xử lý văn bản đi, đến cũng bằng hộp thư điệntử trong khi đó, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũCBCC cơ sở nhìn chung chưa cao, còn nhiều hạn chế Chủ tịch Hồ Chí Minh từngquan niệm "cán bộ là cái gốc của mọi công việc" Người xác định "huấn luyện cán

bộ là công việc gốc của Đảng" Chính vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC cấp

xã nhất thiết phải được quan tâm hàng đầu, thường xuyên và liên tục Đào tạo là quátrình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định củatừng cấp học, bậc học

Còn bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ nănglàm việc Nếu đào tạo là quá trình làm cho con người có năng lực theo những tiêuchuẩn nhất định thì bồi dưỡng làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất đó Mặc dùtrình độ học vấn của CBCC cấp xã ngày nay đã được nâng lên nhưng những kiếnthức, kỹ năng được đào tạo trong nhà trường chỉ là cơ bản, có những thứ chưa thể ápdụng trong thực tiễn làm việc Do đó, trong công tác đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp

xã đòi hỏi phải biết chọn lựa nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, phù hợpvới chuyên ngành, với chức danh công việc cụ thể của mỗi CBCC Đào tạo, bồidưỡng CBCC cấp xã đạt về số lượng, tránh tình trạng đào tạo, bồi dưỡng tràn lan,hình thức, đào tạo không phải để trang bị những kỹ năng cần thiết mà chỉ lấy chứngchỉ, bằng cấp bổ sung vào lý lịch CBCC Trong khi đó, người có nhu cầu thật sựkhông được cử đi, người không sử dụng kiến thức đó được đi học, gây lãng phínguồn kinh phí đào tạo của Nhà nước Nội dung đào tạo xuất phát từ sự cần thiếtthực tế, yếu khâu nào đào tạo, bồi dưỡng khâu đó Tuy nhiên, hiện nay, nội dungđào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã vẫn mang nặng về lý luận chính trị, ít chuyên sâuvào khoa học hành chính, các kỹ năng, nghiệp vụ quản lý nhà nước cần thiết củaCBCC

Bên cạnh đó, bản thân CBCC cũng xem nhẹ việc đào tạo, bồi dưỡng nângcao kiến thức, lý luận chính trị, các kỹ năng nghiệp vụ CBCC coi như việc đó là bắtbuộc, là phải đi học Hơn thế nữa, CBCC cấp xã lại thường thay đổi qua mỗi nhiệm

kỳ, thay đổi công việc, chuyên môn công tác Vì vậy, nếu không được đào tạo, bồidưỡng kiến thức, kỹ năng mới, không có ý chí học tập nâng cao trình độ sẽ khó đápứng được với yêu cầu, nhiệm vụ thực thi công vụ, ảnh hưởng đến chất lượng đội

Trang 34

ngũ CBCC cấp xã Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC có ý nghĩa quyếtđịnh đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã Địa phương nào chú trọng công tác đàotạo, bồi dưỡng CBCC thì địa phương đó sẽ xây dựng được nền tảng vững chắc củađội ngũ CBCC cấp cơ sở, hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ mà cấp trên giaophó và Đảng bộ địa phương đặt ra.

1.1.5.2 Công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Tuyển dụng công chức là một hoạt động do cơ quan, tổ chức và người cóthẩm quyền thực hiện và chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật thuộcngành Thông qua tuyển dụng để tạo nguồn công chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụcủa cơ quan, đơn vị, tổ chức “Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầunhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế”

Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên có vai trò quyết định đến chất lượngđầu vào Công tác tuyển dụng công chức giúp bổ sung nhân lực vào đội ngũ CBCCcấp xã Làm tốt khâu tuyển dụng có nghĩa là đã lựa chọn được những người phùhợp và đáp ứng được yêu cầu vị trí công việc, đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạođức để làm việc trong cơ quan Nhà nước, để phục nhân dân một cách tốt nhất.Ngược lại, nếu làm chưa tốt sẽ dẫn đến hình thành đội ngũ CBCC cấp xã yếu kém

về năng lực, trình độ, hạn chế về phẩm chất chính trị, đạo đức, gây ra tình trạng trìtrệ công việc và những tiêu cực trong giải quyết chính sách: nhũng nhiễu, gây phiềnhà cuối cùng là ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhân dân

Để có được đội ngũ công chức xã chất lượng cao thì việc tuyển dụng phảiđược thực hiện theo một quy trình chặt chẽ nhằm hạn chế những tiêu cực nảy sinhtrong quá trình tuyển chọn Các tiêu chuẩn tuyển dụng phải xuất phát trên cơ sở yêucầu tiêu chuẩn chức danh đảm nhận, phải bám sát yêu cầu của tổ chức và bám sátđịnh hướng chung của công tác tổ chức cán bộ là phải trẻ hóa đội ngũ công chức,nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu của của quá trình CNH,HĐH đất nước Tuyểndụng công chức phải chú ý đến việc tuyển dụng được nhân tài cho đội ngũ côngchức xã, cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng cho việc thu hút người giỏitham gia tuyển dụng

Đối với các chức danh cán bộ chủ chốt và các đoàn thể chính trị ở cấp xã đềuthông qua cơ chế đảng cử, dân bầu và quá trình lịch sử để lại Chính vì điều đó đã

Trang 35

dẫn đến tình trạng một bộ phận cán bộ cấp xã chưa được đào tạo qua bất cứ mộtchuyên môn nào Đó là chưa kể đến có cả cán bộ công chức mới có trình độ văn hóatiểu học, trung học cơ sở Bên cạnh đó, kết quả bầu cử phụ thuộc rất nhiều vào trình

độ dân trí, dân cư ở địa phương Yếu tố dòng họ trong nông thôn Việt Nam cũng cóảnh hưởng không nhỏ tới kết quả bầu cử Còn đối với cán bộ chuyên trách và khôngchuyên trách thì việc tuyển chọn mặc dù đã có các tiêu chí cụ thể là phải có trình độchuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm nhưng chưa được thực hiệnnghiêm túc theo quy định Do đó, có khá đông cán bộ chuyên trách mà không cótrình độ, năng lực phù hợp với đòi hỏi của nhiệm vụ được giao

Trong quá trình xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

xã việc bố trí, sử dụng đúng cán bộ luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm và có thểnói đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức xã Nếu bố trí, sắp xếp, phân công đúng người, đúng việc, sẽtạo điều kiện phát huy tin thần hăng say làm việc, phát huy được năng lực, sởtrường, rèn luyện kỹ năng thành thạo công việc khuyến khích tinh thần học tập vàrèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần chủ yếu đảm bảo cho việc hoànthành nhiệm vụ của cơ quan Vì vậy, công tác phân công, bố trí, sử dụng cán bộ,công chức có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chứcxã

Từ năm 2010 trở lại đây khi thực hiện Luật Cán bộ, công chức năm 2008 vàNghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ thì chế độ, chính sách đã có nhiều thay

Trang 36

đổi theo hướng tích cực hơn đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Nếu cácchính sách, chế độ của Nhà nước đối vối CBCC cấp xã được đảm bảo, kịp thời,công bằng, minh bạch sẽ thu hút lượng lớn lao động, nhất là lao động trẻ tuổi, cónhiệt huyết, trình độ, năng lực về làm việc CBCC trẻ với tư duy sáng tạo sẽ gópphần phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương Hơn nữa, nếu những chính sách, chế

độ của Nhà nước tốt, tiền lương đáp ứng nhu cầu sinh hoạt sẽ hạn chế tham ô, hối lộ,tham nhũng, sách nhiễu nhân dân Các chế độ, chính sách Nhà nước chưa hợp lý:chính sách tiền lương, phụ cấp lương làm cho người cán bộ cấp xã không an tâmtrong công tác, không có lòng nhiệt tình đối với công việc mà mình được giao,không có chí tiến thủ Đồng thời, địa bàn cấp xã không có sức hút đối với nhữngngười có năng lực, có trình độ học vấn và nhất là đối với đội ngũ sinh viên tốtnghiệp đại học, cao đẳng về công tác tại cấp xã

Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” từ khuvực hành chính Nhà nước sang khu vực ngoài Nhà nước đang xảy ra khá nhiều.Một trong những nguyên nhân cơ bản là chính sách đãi ngộ, tạo động lực của Nhànước chưa công bằng và chưa xứng đáng đối với CBCC Nhiều người gắn bó vớikhu vực Nhà nước do tính ổn định, nhưng chỉ ổn định thôi chưa đủ mà các chínhsách, chế độ của Nhà nước đối với CBCC cấp xã phải là động lực thúc đẩy CBCCtích cực học tập, làm việc, cống hiến hết sức mình cho công việc, cho nhân dân,đồng thời góp phần ngăn chặn tệ nạn tham nhũng đang ngày càng gia tăng, làmtrong sạch bộ máy công vụ các cấp Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chấtlượng đội ngũ CBCC cấp xã

1.1.5.4 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Trong công tác kiểm tra, giám sát, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:

“Khi có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” và “có kiểm tra… mới biết rõ năng lực

và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời” Điều đó cho thấy

những tác động mạnh mẽ của công tác kiểm tra giám sát đến chất lượng đội ngũCBCC Nó là căn cứ chính xác nhất để đánh giá, nhận xét về mức độ hoàn thànhcông việc của đội ngũ CBCC cấp xã Vì vậy cần nghiêm túc triển khai công tác

Trang 37

quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ CBCC cấp xã Thông qua đó, nắm bắt được hệthống những tư tưởng trong từng giai đoạn và thực trạng hoạt động của đội ngũCBCC nhằm kịp thời ngăn chặn những tư tưởng tiêu cực, lệch lạc, hạn chế nhữngkhuyết điểm, thiếu sót, phát huy những mặt tích cực trong thực thi công vụ Nếu địaphương nào làm tốt, chặt chẽ và thường xuyên công tác quản lý, kiểm tra, giám sátCBCC thì địa phương đó có đội ngũ CBCC cấp xã giàu tinh thần trách nhiệm vớicông việc, tư tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức của người CBCC được nâng cao.Đây là công tác rất nhạy cảm, là nhiệm vụ khó khăn vì đôi khi ảnh hưởng đếnquyền lợi của một bộ phận CBCC nên trong thực tế, việc thực hiện chưa thật sựquyết liệt, mạnh tay, còn cả nể Đây cũng là nguyên nhân khiến cho hiệu quả giámsát, kiểm tra chưa cao, khiến cho CBCC cấp xã dễ tha hóa, biến chất, lạm dụngchức vụ, quyền hạn Chính vì vậy, công tác này có ảnh hưởng rất lớn đến chấtlượng đội ngũ CBCC cấp xã, nhất là khía cạnh đạo đức Để công tác quản lý, kiểmtra, giám sát được diễn ra công bằng thì phải cần sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, sựphối hợp của chính quyền; tinh thần chủ động, sáng tạo của Mặt trận tổ quốc và cácđoàn thể Chính trị - xã hội của mỗi địa phương.

1.1.5.5 Công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Đánh giá đúng cán bộ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ CBCCcấp xã Thông qua hệ thống các chỉ tiêu đánh giá cán bộ, công chức do Nhà nướcquy định, công tác đánh giá, xếp loại đưa ra kết luận xác đáng về đức và tài, về trình

độ năng lực, khả năng phát triển của CBCC Vì vậy, nếu khen đúng người, kỷ luậtđúng tội, đánh giá đúng về CBCC cấp xã sẽ là động lực thúc đẩy tinh thần và tráchnhiệm đối với công việc của họ Ngược lại nếu đánh giá chưa đầy đủ, chưa chínhxác về CBCC sẽ nảy sinh những bất mãn, ý nghĩ tiêu cực trong CBCC, ảnh hưởngđến kết quả làm việc Làm tốt công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ CBCC cấp xã còn

là căn cứ để tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, xác định nhu cầu và nội dung đào tạo,bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế

độ, chính sách đối với cán bộ: nâng lương trước thời hạn, xem xét ưu tiên, độngviên CBCC tham dự các kỳ thi nâng ngạch, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo vàhưởng thêm các chế độ khác

Trang 38

Tuy nhiên, trong thực tế công tác này còn bị coi nhẹ, chỉ mang tính hình thức,đánh giá thiên về tình cảm, làm cho qua loa xong chuyện Công tác đánh giá, xếploại CBCC không chỉ giúp cơ quan quản lý cán bộ nắm và hiểu được cán bộ củamình mà đồng thời còn giúp cho bản thân người cán bộ, công chức cấp xã hiểuđúng hơn về mình, nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm (nếu có), gópphần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có chất lượng cao, đáp ứng yêucầu của sự nghiệp đổi mới.

- Hàng năm, công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC được quan tâm trên cơ sởcăn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, chức danh, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợpvới quy hoạch CBCC

- Quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bản lĩnh chính trị, ý thứctrách nhiệm, tác phong, thái độ làm việc cho đội ngũ CBCC cấp xã Không ngừngnêu cao tinh thần đoàn kết; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranhchống các biểu hiện quan liêu, hách dịch xa rời nhân dân các hành vi tham nhũng,lãng phí Trong công tác quy hoạch, xem xét lựa chọn những người có đủ các tiêuchuẩn, phù hợp với tình hình của địa phương để đưa vào nguồn quy hoạch, từngbước thử thách, giao nhiệm vụ cùng với rèn luyện trong môi trường thực tiễn, sau

đó cử đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu các chức danh tạo nguồn CBCC kế cận, bổsung Công tác tuyển dụng, thu hút nhân tài được ưu tiên một bước, trước tiên là ưutiên người địa phương, người tham gia công tác lâu năm và người có trình độ.Trongquá trình đánh giá nhận xét cán bộ có sự phối hợp giữa chính quyền cơ sở và cácphòng ban chuyên môn cấp huyện Trên cơ sở đánh giá xếp loại CBCC cấp xã hàng

Trang 39

năm huyện đã tiến hành tổng hợp, phân tích chất lượng đội ngũ CBCC từ đó có biệnpháp bổ sung, điều chỉnh kịp thời về công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sửdụng CBCC cho từng xã trên địa bàn toàn huyện.

- Huyện rất chú ý bố trí, sử dụng CBCC là người dân tộc địa phương có đảmbảo đủ tiêu chuẩn theo quy định Ngoài ra đối với CBCC là nữ đã được quan tâmtrong công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và bố trí

tỷ lệ hợp lý trong bộ máy chính quyền cấp xã

- Xây dựng kế hoạch tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra công chứcthực thi công vụ, trong đó đặc biệt quan tâm kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ đượcgiao của CBCC Kịp thời luân chuyển những CBCC có năng lực ngay từ đầu nhiệm

kỳ để rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ cho nhiệm kỳ sau Đa số các CBCC luân chuyểnđược đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiều đóng góp, tạo động lực mới thúcđẩy hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của địa phương

1.2.1.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh, thời kỳ qua, cáccấp ủy ở Bắc Giang luôn chú trọng công tác rèn luyện đội ngũ CBCC cơ sở vớinhiều cách làm sáng tạo và cụ thể:

Một là, khắc phục những khâu yếu kém, nhất là về con người, nhằm tập

trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất,nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, xây dựng nông thôn mới Tân Yên, từ mộthuyện trung du nghèo, sau 4 năm có nhiều thay đổi lớn; song hành cùng nhữngthay đổi này có dấu ấn của đội ngũ CBCC cấp cơ sở Năm 2010, trong số 262 cán

bộ chuyên trách, chỉ có 20 người trình độ đại học, 120 người chưa qua đào tạo,chiếm gần 46%; trong 202 công chức, trình độ đại học có 47 người, 12 người chưaqua đào tạo Sự bất cập này là căn nguyên khiến nhiều mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội đặt ra trước đó khó hoàn thành Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đểvẫn đội ngũ ấy mà tạo được chuyển biến, Đảng ủy- HĐND - UBND huyện TânYên đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, trước hết là bồi dưỡng chuyên môn,nghiệp vụ cho CBCC theo hướng yếu lĩnh vực nào, bồi dưỡng lĩnh vực đó Huyện

ủy có giải pháp mới, yêu cầu các xã, thị trấn cử CBCC tham gia bồi dưỡng batháng, mỗi tuần học ba ngày tại các phòng, ban, cơ quan của huyện Các ngày cònlại, CBCC về xã, thị trấn thực hành, ứng dụng ngay kiến thức, kỹ năng được bồi

Trang 40

dưỡng theo phân công công tác Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thực hiện chế độnhận xét, đánh giá hàng tháng đối với cán bộ đến bồi dưỡng Với chương trình này,

đã có gần 200 cán bộ, công chức cấp xã được học việc Thực tế khẳng định, hầuhết số cán bộ được tập huấn, bồi dưỡng đều áp dụng được các kiến thức, kỹ nănghọc vào công việc hằng ngày

Hai là, cần hoàn thiện các kỹ năng của CBCC trong công tác chuyên môn.

Điểm yếu của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là khả năng nắm bắt, ra quyết định

xử lý tình huống, các vấn đề mới nảy sinh trong tiến trình đô thị hóa, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, nhất là khi luân chuyển CBCC xã chuyển sang công tác mới sẽ gặpkhông ít lúng túng: kỹ năng thuyết trình, điều hành cuộc họp, đến xử lý văn bản Thông qua các lớp bồi dưỡng theo chức danh do Huyện ủy tổ chức trong hai tuầnhọc, thảo luận, thực hành trên lớp, cùng việc tự học hỏi, nghiên cứu, CBCC tự tintrên diễn đàn, trong giải quyết các tình huống ở cơ sở

Ba là, cần hướng về cơ sở, giúp đào tạo đội ngũ CBCC tại chỗ, tăng cường

kinh nghiệm thực tiễn cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, hướng tới đội ngũ đạt chuẩntoàn diện Tỉnh ủy Bắc Giang đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ từ cấp huyện

về cơ sở và ngược lại Thực tế cho thấy, trong số 43 cán bộ cấp huyện được luânchuyển về cơ sở giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đều đã tận dụng được lợi thế chuyênmôn, vận dụng sáng tạo trong công việc, tạo sự gắn kết với cơ sở Phần lớn cán bộluân chuyển là người trẻ, năng động, có triển vọng, phát huy được khả năng tại cơsở; góp phần tạo nguồn cán bộ trước mắt và lâu dài

Cũng như nhiều địa phương khác, Bắc Giang còn nhiều việc phải bàn trongchuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức Trong lựa chọn ngành học, bố trí, sử dụngCBCC sau đào tạo; xây dựng chương trình bồi dưỡng sao cho thật sự hiệu quả,không hình thức, tránh lãng phí, từng bước phấn đấu nâng tầm đội ngũ CBCC cơ sở,góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở địa phương

1.2.2 Những bài học kinh nghiệm cho huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Từ việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của các địa phương,tác giả rút ra được một số kinh nghiệm cơ bản cho huyện Bắc Sơn như sau:

- Thực hiện tốt tuyển dụng công chức, ưu tiên những người có trình độ caonhư đại học, sau đại học Thực hiện chính sách thu hút, khuyến khích người có trình

độ cao Xây dựng và công khai tiêu chí tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ ở từng lĩnh

Ngày đăng: 27/08/2019, 16:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Nguyễn Ngọc Vinh (2012), "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực", Tạp chí Phát triển và Hội nhập (Số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Nguyễn Ngọc Vinh
Năm: 2012
24. Dương Trung Ý (2013), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn”, Trang thông tin điện tử NXB Chính trị quốc gia sự thật đăng ngày 17/07/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã,phường, thị trấn”
Tác giả: Dương Trung Ý
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia sự thậtđăng ngày 17/07/2013
Năm: 2013
16. Tỉnh ủy Lạng Sơn: Kết luận số 207-KL/TU ngày 06/8/2015 về thực hiện Nghị quyết số 37 - NQ/TU ngày 13/02/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đến năm 2015 và những năm tiếp theo Khác
17. UBND huyện Bắc Sơn, Báo cáo kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế xã hội huyện Bắc Sơn năm 2016, 2017,2018 Khác
18. UBND tỉnh Lạng Sơn: Kế hoạch số 44/KH-UBND ngày 05/3/2018 của UBND tỉnh Lạng Sơn về triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Khác
19. UBND tỉnh Lạng Sơn: Quyết định số 201/QĐ-UBND ngày 06/02/2013 của UBND tỉnh Lạng Sơn về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Khác
20. UBND tỉnh Lạng Sơn: Quyết định số 315/QĐ-UBND ngày 28/02/2017 về việc áp dụng một số tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 Khác
21. UBND tỉnh Lạng Sơn: Quyết định Số: 04/2010/QĐ-UBND ngày 24 tháng 9 năm 2010 về ban hành quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã Khác
22. UBND tỉnh Lạng Sơn: Quyết định Số: 2322/QĐ-UBND ngày 12 tháng 11 năm 2018 về việc phê duyệt Đề án tinh giản biên chế, sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã; những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, khối phố trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w