ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LÊ THỊ BÍCH HẢO QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ BÍCH HẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ BÍCH HẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG THỊ HẰNG
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn đề “Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa được công bố ở bất kì
công trình nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản luận văn này
Điện Biên, ngày 18 tháng 03 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Bích Hảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới
ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” tác giả đã nhận được sự
động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, củacác thầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Với tình cảm chân thành tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầygiáo, cô giáo Khoa Tâm lí Giáo dục, Phòng Đào tạo bộ phận sau đại học của trườngĐại học sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và tư vấn giúp đỡ tác giả trongquá trình học tập và nghiên cứu thực hiện luận văn
Tác giả bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với:
PGS TS Phùng Thị Hằng, cô giáo trực tiếp hướng dẫn, đã tận tình địnhhướng, chỉ dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả vượt qua những khó khăn trongsuốt quá trình hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Điện Biên; lãnh đạo,cán bộ chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Ban giám hiệu
và giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; các bạnđồng nghiệp cùng gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ, đóng góp ý kiến và tạomọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn này
Mặc dù cố gắng rất nhiều trong việc nghiên cứu, song do thời gian và kinhnghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế, đề tài không tránh khỏi những khiếmkhuyết Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy (cô), các bạn đồng nghiệp
và những người quan tâm đến đề tài này để luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Điện Biên, ngày 18 tháng 3 năm 2019
Tác giả
Lê Thị Bích Hảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 5
1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Các khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 10
1.2.2 Hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học 12
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới 14
1.3 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS 15
1.3.1 Vị trí, vai trò của môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS 15
1.3.2 Mục tiêu của môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới 16
1.3.3 Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS 17
1.4 Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS 33
Trang 61.4.1 Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ
văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS 33
1.4.2 Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 34
1.4.3 Nội dung quản lý của Hiệu trưởng trường THCS đối với hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 35
1.4.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS 40
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
43 2.1 Khái quát về các trường THCS ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 43
2.1.1 Vị trí địa lý, dân cư và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 43
2.1.2 Khái quát về giáo dục THCS ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 43
2.2 Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát 45
2.2.1 Mục đích khảo sát 45
2.2.2 Nội dung khảo sát 46
2.2.3 Đối tượng khảo sát 46
2.2.4 Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu 46
2.3 Thực trạng về hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện, tỉnh Điện Biên 47
2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV, HS về hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS 47
2.3.2 Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 49
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 57
2.4.1 Thực trạng nội dung lập kế hoạch quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 57
2.4.2 Thực trạng quản lý việc đổi mới phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 60
2.4.3 Thực trạng quản lý GV và hoạt động dạy học trên lớp của GV môn Ngữ văn 63
Trang 72.4.4 Thực trạng quản lý việc thực hiện các hình thức kiểm tra, đánh giá hoạt
động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 66
Trang 82.4.5 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Ngữ
văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 67
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 69
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện, tỉnh Điện Biên 73
2.6.1 Mặt mạnh 74
2.6.2 Mặt tồn tại 74
Kết luận chương 2 75
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
76 3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 76
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 76
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 76
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 76
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và toàn diện 77
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 77
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 77
3.1.7 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tự giác, tích cực của giáo viên và học sinh
77 3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
77 3.2.1 Tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng của dạy học môn Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới 77
3.2.2 Xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình dạy học môn Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới phù hợp với tình hình thực tiễn 80
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới 81
Trang 93.2.4 Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn
theo chương trình GD phổ thông mới 84
Trang 103.2.5 Chỉ đạo đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn
Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới 88
3.2.6 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học môn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới 89
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp được đề xuất 91
3.4 Khảo nghiệm tính cấn thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 92
3.4.1 Quy trình tiến hành khảo nghiệm 92
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 93
Kết luận chương 3 95
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả xếp loại học lực của HS THCS huyện Điện Biên các năm 43Bảng 2.2 Kết quả xếp loại môn Ngữ Văn của HS THCS huyện Điện Biên
các năm 44Bảng 2.3 Tổng hợp đội ngũ giáo viên dạy môn Ngữ văn ở các trường THCS
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 44Bảng 2.4 Sự cần thiết của việc dạy học môn Ngữ văn theo chương trình
giáo dục phổ thông mới hiện nay 47Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL, GV về vị trí, ý nghĩa của môn Ngữ văn
theo chương trình giáo dục phổ thông mới 49Bảng 2.6 Thực trạng việc thực hiện nội dung dạy học môn Ngữ văn theo
chương trình giáo dục phổ thông mới 50Bảng 2.7 Thực trạng việc sử dụng các các phương pháp dạy học môn Ngữ văn
theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 52Bảng 2.8 Thực trạng việc sử dụng các các hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ
văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 54Bảng 2.9 Thực trạng mức độ thực hiện các hình thức kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thôngmới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 55Bảng 2.10 Nội dung lập kế hoạch quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn
theo chương trình giáo dục phổ thông mới 57Bảng 2.11 Thực trạng về mức độ thực hiện quản lý đổi mới phương pháp,
hình thức tổ chức dạy học bộ môn Ngữ văn theo chương trìnhgiáo dục phổ thông mới 61Bảng 2.12 Thực trạng quản lý việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp của GV Ngữ
văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 64Bảng 2.13 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn
Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 67Bảng 2.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ
văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới 70Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp được đề xuất 93Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp được đề xuất 94
Trang 131 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 14Giáo dục và Đào tạo có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội củamỗi quốc gia trên thế giới Những bài học về sự phát triển “thần kỳ” của các nền kinh
tế Nhật bản, Hàn Quốc, … và một số quốc gia khác đã cho thấy giáo dục phát triển làyếu tố cơ bản để đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế - xã hội Giáo dục phải đi trướcmột bước, giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho pháttriển, tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững cho mỗi quốc gia Do vậy bất cứ nướcnào dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển, bao giờ cũng phải quan tâm đếngiáo dục, mà trong đó trước hết là phải quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là khâuthen chốt đảm bảo sự thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục
Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ươngkhóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế xác định: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triểntrí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡngnăng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học,năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn…” Đây cũng đượcxem như là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.Trước những yêu cầu đổi mới của sự nghiệpxây dựng và bảo vệ đất nước, trước
sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, của khoa học - công nghệ nóichung và khoa học giáo dục nói riêng, chương trình và sách giáo khoa hiện hành đãbộc lộ những hạn chế Chính vì vậy Quốc hội đã có Nghị quyết số 88/2014/QH13 vềđổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam có nhiều đổi mới, bên cạnh các môn học
tự nhiên, Ngữ văn là môn học về khoa học Xã hội - Nhân văn, là công cụ để học sinhhọc tập và sinh hoạt, nhận thức về xã hội và con người, bồi dưỡng tư tưởng và nhâncách Mặc dù môn Ngữ văn có đặc điểm riêng nhưng cũng giống như các môn họckhác cần được đổi mới nội dung chương trình để phù hợp hơn, đáp ứng được đòi hỏicủa xã hội Từ việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, việc dạy và học mônNgữ văn cũng có những thay đổi, nó ảnh hưởng đến các hoạt động dạy, kiểm tra,đánh giá của giáo viên và việc học tập của học sinh Do vậy, việc quản lý hoạt độngdạy và học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở THCS cầnnhững thay đổi thích ứng
Trang 15Trong những năm qua việc quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS tỉnhĐiện Biên nói chung và huyện Điện Biên nói riêng vẫn theo cách làm truyền thống đãđược hình thành từ nhiều thập kỷ trước… Cách quản lý hoạt động dạy học của nhàtrường nói chung và môn học Ngữ văn nói riêng phần lớn theo kinh nghiệm tự họchỏi nên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” làm luận văn để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số biện phápquản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ởcác trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, góp phần nâng cao chất lượngdạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THCS, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dụcphổ thông hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dụcphổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ởcác trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên còn có những hạn chế nhất địnhnhư: nội dung, phương pháp dạy học chưa phát huy được tính tích cực của học sinhtrong quá trình nhận thức; hình thức tổ chức dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu đổimới;…Điều này có liên quan trực tiếp đến công tác quản lý Do vậy, nếu đề xuất vàthực hiện các biện pháp quản lý phù hợp với tình hình thực tiễn thì hiệu quả của hoạtđộng dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trườngTHCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo
chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS
5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo
chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnhĐiện Biên
Trang 165.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương
trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạyhọc môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCShuyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
6.2 Giới hạn về khách thể điều tra và địa bàn nghiên cứu
- Khảo sát tại 07 trường THCS thuộc địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên:Trường THCS Thanh Xương, trường THCS Thanh Luông, trường THCS Thanh Nưa,trường PTDTBT THCS Mường Nhà, trường THCS Thanh Yên, trường THCS Thanh
An, trường THCS Thanh Hưng
- Khách thể điều tra gồm 35 cán bộ quản lý, 42 giáo viên giảng dạy môn Ngữvăn và 120 học sinh thuộc các trường Trung học cơ sở được khảo sát
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sử dụng phối hợp cácphương pháp sau:
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa các tài liệu lý luận như nghiên cứu lýluận về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn; nghiên cứu chủ trương, Chỉ thị,Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chiến lược phát triểngiáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng để xây dựng khung lý thuyết cho đềtài
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát các hình thức tổ chức hoạt động của nhà quản lý, cách thựchiện hoạt động dạy và học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mớicủa giáo viên và học sinh các trường THCS để thu thập thông tin thực tiễn cho đề tài
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được sử dụng với mục đích khảo sát nhu cầu, nhận thức, sựđánh giá của các khách thể điều tra về các hoạt động quản lý, hoạt động dạy học mônNgữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện ĐiệnBiên, tỉnh Điện Biên
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giáo viên dạy môn Ngữ văn tại các
Trang 17trình dạy học môn Ngữ văn và quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới nhằm góp phần làm rõ thực trạng.
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các sản phẩm của hoạt động dạy và học như: giáo án, hồ sơ lênlớp…của giáo viên; các bài kiểm tra, bài thi của học sinh…nhằm bổ sung thông tinthực tiễn cho đề tài
7.2.5 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng với mục đích xin ý kiến của các chuyên gia, cácnhà quản lý, các giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy về việc xâydựng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chươngtrình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS, đồng thời kiểm tra tính cần thiết vàtính khả thi của các biện pháp đề xuất
7.3 Các phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán thống kê như tính trung bình cộng, tính phầntrăm…để xử lý các kết quả nghiên cứu thực tiễn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận, Khuyến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo, Phụlục, nội dung chính của luận văn gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hoạt động dạy học môn Ngữ văn
theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo
dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo
chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh ĐiệnBiên
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể thấy, việc quản lí HĐDH nói chung và nâng cao chất lượng quản líHĐDH nói riêng là một vấn đề được nhiều tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Namquan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Thực tế cho thấy có khá nhiềucông trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như sau:
1.1.1 Trên thế giới
J.A.Comenxki (1592-1670) - Nhà giáo dục vĩ đại người Tiệp Khắc đã đưa ranhững yêu cầu cải tổ nền GD theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạocủa người học Ông cho rằng, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có
những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức Tác giả phát biểu: “Tôi thường bồi
dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn” Ông còn viết: “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… Hãy tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS học được nhiều hơn” [6].
Đến thế kỷ XX, Nhà triết học Mỹ đồng thời là nhà tâm lý học, nhà giáo dục vĩđại - John Dewey (1859 - 1952) đã có đóng góp lớn lao vào công cuộc cải cách giáodục của nhân loại Các Tư tưởng triết học và sự nghiệp giáo dục đồ sộ của ông đã cóảnh hưởng to lớn làm thay đổi nền giáo dục Mỹ suốt thế kỷ XX và sang cả thế kỷ
XXI J.Dewey cho rằng: “Trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ
con các bài học kiến thức và bài học luân lý Trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội Do đó, giáo dục là một hoạt động của đời sống, là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đấy Nhà trường có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để
cá nhân người học phát huy tối đa năng lực tiềm tàng của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng toàn bộ công cụ của chính mình như: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân và đặc biệt là tư duy” [6].
Với tư tưởng nêu trên, người học có thể phát triển toàn vẹn mọi khả năng củamình để tham gia vào đời sống xã hội Nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi
Trang 19trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn,
để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua “kinh nghiệm” và “tư
duy”, thông qua “trải nghiệm” của chính bản thân Học sinh là mục đích tồn tại của
hoạt động giáo dục Học sinh phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạtđộng của nhà trường Giáo viên đóng vai trò là tác nhân quan trọng bậc nhất cho sựkhai phóng của người học Muốn vậy, giáo viên phải là một chuyên gia được đào tạotốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện Nội dung của giáo dục phải phản ánh sựphát triển của loài người Nội dung phải mang tính tăng tiến Chương trình học phảihiện đại lên cùng với sự phát triển của loài người Phương pháp dạy học phải gắn chặtvới đối tượng và nội dung Phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thúcủa trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của ngườilớn - những kẻ đã trưởng thành Phương pháp là sự trình bày rõ ràng biện pháp triểnkhai nội dung của một kinh nghiệm đang diễn ra để nó đem lại hiệu quả Bởi vậy,
không thể tách rời phương pháp khỏi nội dung.
Nhà Tâm lý học lỗi lạc người Thụy sỹ Jean Piaget (1896 - 1980), dành cả cuộcđời nghiên cứu về sự phát triển nhận thức của trẻ em, thì cho rằng: Sự học tập chính
là sự phát triển các “cấu trúc sơ khai”, là kết quả của một quá trình năng động tìmkiếm thế quân bình giữa chủ thể và môi trường thông qua quá trình “đồng hóa” “điềutiết” và “thích nghi” Đồng hoá (assimilation) là sáp nhập một vật hay một tình huốngvào cấu trúc nhận thức của chủ thể (cấu trúc đồng hoá) Trong quá trình ấy, chủ thểbiến đổi các yếu tố của môi trường để có thể sáp nhập chúng vào cấu trúc nhận thứccủa mình Điều tiết (accommodation): khi vật thể hay tình huống cưỡng lại những
“cấu trúc sơ khai” có sẵn của chủ thể (nó mới lạ so với khuôn khổ nhận thức đã có)thì cơ chế điều tiết ở trẻ làm việc, kéo theo sự biến đổi cấu trúc nhận thức của chủ thểtheo cách cho phép nó sáp nhập các yếu tố là đối tượng của việc học tập Và như thế,chủ thể bị môi trường làm biến đổi và tiến hoá, hoàn thiện các “cấu trúc sơ khai” củamình.Tất cả quá trình thu nhận được/ học được những cái mới đều là kết quả sự điềuphối giữa đồng hoá các yếu tố của môi trường vào các “cấu trúc sơ khai” đã có củachủ thể, đồng thời điều tiết các “cấu trúc sơ khai” ấy với các yếu tố mới của môitrường Có thể nói: tư tưởng giáo dục của J Piaget là đào tạo những người sáng tạotương lai thay vì những kẻ tuân phục mô hình hiện hành có sẵn của người lớn tỏ rađúng đắn trong bối cảnh xã hội ngày nay
Ở phương Đông cổ đại, nhất là ở Trung Hoa và Ấn Độ, đã sớm xuất hiện những
tư tưởng về quản lý nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng Khổng Tử
(551- 479 TCN) cho rằng dạy học là phải "Dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ
Trang 20đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đòi hỏi học trò phải luyện tập, phải hình thành về nề nếp, thói quen trong học tập" và phải
"Học không biết chán, dạy không biết mỏi".
Ở phương Tây, nhà triết học nổi tiếng Xôcrat cho rằng: "Những người nào biết
cách sử dụng con người thì sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc".
Tư tưởng về QL con người và những yêu cầu về người đứng đầu cai trị dân còntìm thấy trong quan điểm của các nhà triết học như Platon, RoBer Owen (1771-1858),
F.Tay Lo (1856-1915) - "cha đẻ của thuyết quản lý theo khoa học" Đặc biệt, đến
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có hàng loạt công trình với nhiều cách tiếp cậnkhác nhau về QL: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, những động cơ để thúc đẩymột tổ chức phát triển, làm thế nào để việc ra quyết định QL đạt hiệu quả cao Chínhnhững điều này đã cho chúng ta thấy rõ xu hướng chuyển từ QL hướng vào "giớichủ" tới QL hướng vào "chủ và thợ", chuyển sang QL hướng vào "khách hàng", theonhu cầu của khách hàng; xu hướng chuyển từ QL theo mục tiêu hướng tới QL theoquá trình; từ việc QL bằng sự áp đặt, mệnh lệnh, chuyên quyền theo ngẫu hứng củangười QL hướng tới QL bằng khoa học (với những phương pháp, nguyên tắc, quitrình khoa học) và dân chủ
Trong lĩnh vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lượng vàchất Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã định hướng cho hoạt động
giáo dục như các qui luật "Sự hình thành cá nhân con người"; "Tính qui định về kinh tế
-xã hội đối với giáo dục" Các qui luật này đặt ra yêu cầu đối với QLGD và tính ưu
việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho GD.Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học giáo dục đã cónhững thành tựu khoa học đáng trân trọng về QLGD và quản lý dạy học
Như vậy, các tác giả nước ngoài trong nghiên cứu và quan điểm của mình đã chỉ
ra nhưng thay đổi tích cực cần phải thực hiện, đặc biệt với vai trò của nhà giáo.những kết quả của sự thay đổi chỉ có được trên cơ sở sự thay đổi mang tính đồng bộ,tổng thể và đặc biệt thể hiện ở vai trò của giáo viên về phương pháp dạy học, kỹ thuậtdạy học hiện nay
1.1.2 Ở Việt Nam
Các vấn đề có liên quan đến PPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm
1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy) Nhiều tác giả có các công trình nghiêncứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Trần Kiều,
Trang 21đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam: VănNhư Cương, Tôn Thân…
Về vấn đề quản lý đổi mới PPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải
kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc, Trần Kiểm, Trần Kiều,Trần Bá Hoành, luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người họcphải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập Quan điểm này hoàn toànphù hợp với tinh thần nghị quyết TW 4 khoá VIII về GD-ĐT Nghị quyết yêu cầu:
“Đổi mới mạnh mẽ PPGD, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
tư duy sáng tạo của người học” Nội dung này đã được thể hiện thành quy định pháp
luật tại Luật giáo dục, trong đó có yêu cầu cơ bản là:
Nội dung GD phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; PPGD phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp
với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹnăng vân dụng kiến thức vào thực tiễn Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho học sinh
Đối với quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực có thể
kể đến một số công trình nghiên cứu như: Tài liệu “Cơ sở của khoa học quản lý giáo
dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo; tác giả Nguyễn Ngọc Quang với tài liệu “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục”; tài liệu “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận
từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo là những tài liệu mà trong đó trình
bày về khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý giáo dục được tiếp cận từnhững mô hình, trong đó có đề cập đến dạy học theo định hướng phát triển năng lực.Các tác giả như: Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt…cũng có các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nói chung và dạyhọc theo hướng phát huy năng lực người học Nhìn chung vấn đề quản lý hoạt độngdạy học theo định hướng phát triển năng lực chủ yếu được nghiên cứu dưới dạng cácchuyên đề, các hội thảo và hướng dẫn
Nghiên cứu về vấn đề này, một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu dạy học theohướng tiếp cận năng lực áp dụng cho các môn học cụ thể như: Toán, Ngữ văn, hoặcmột số nghiên cứu trong các luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục, Thạc sĩ giáo dục họccũng đã đề cập đến công tác quản lý chuyên môn, quản lý hoạt động dạy học trongcác nhà trường phổ thông, các địa phương cụ thể Những đề tài này đã nêu ra được cơ
sở lý luận của việc quản lý chuyên môn và đề xuất được một số biện pháp quản lýhoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở một số cơ sở giáo dục áp
Trang 22cụ thể, trong một bối cảnh cụ thể, ngoài những điểm chung còn mang tính đặc thù nêncần phải có những biện pháp cụ thể, riêng và áp dụng các biện pháp một cách linhhoạt, hài hoà thì việc quản lý hoạt động dạy học mới có thể thu được hiệu quả cao.Bên cạnh các công trình nghiên cứu, các đường lối chính sách của Đảng và Nhànước đều thề hiện rõ vai trò quan trọng của quản lý và QLGD: Nghị quyết đại hội
Đảng IX đã khẳng định: “Tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội
dung, phương pháp dạy học, hệ thống trường lớp và hệ thống QL, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”[4] Nghị quyết đại hội Đảng X đã nêu rõ “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo bước chuyển biến cơ bản và toàn diện về GD nước nhà, tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới”[5].
Các nghiên cứu về vấn đề QLHĐ DH môn Ngữ văn hiện nay thể hiện thông quamột số công trình:
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thị Sáu tập trung nghiên cứu vấn đề Các biện
pháp chỉ đạo đổi mới PP giảng dạy bộ môn Tiếng Việt bậc tiểu học, năm 2006 Luận
văn cũng đã chỉ ra các biện pháp để chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môntiếng Việt bậc tiểu học ở Thành phố Hồ Chí Minh như: Xây dựng kế hoạch thực hiệnchương trình tiểu học mới; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ QL tiểu học; Chỉ đạothực hiện một số phương pháp mới trong giảng dạy tiếng Việt: Dạy tiếng Việt theođịnh hướng giao tiếp; Phương pháp tổ chức trò chơi học tập tiếng Việt; Phương pháphọc tập hợp tác; Ứng dụng công nghệ thông tin để giảng dạy môn tiếng Việt; Tăngcường kiểm tra đánh giá
Có thể thấy, các giải pháp đưa ra đã bám sát chu trình quản lý và tập trung vàođổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên các giải pháp đưa ra chưa mới, chưa chỉ rađược sự phối hợp giữa các biện pháp để tăng cường hiệu quả quản lý
Tác giả Đỗ Văn Tuấn với công trình: Những biện pháp quản lý dạy học môn
văn ở trường trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn - TP Hải Phòng, năm 2008 đã
đưa ra những biện pháp quản lý dạy học môn văn ở trường phổ thông trung học TrầnNguyên Hãn
Có thể thấy, các biện pháp mà tác giả đưa ra khá toàn diện, phong phú Vấn đềQLHĐ DH đã thực sự trở thành mối quan tâm của nhiều nhà giáo dục Bởi qua việcnghiên cứu lý luận và thực tiễn, các nhà giáo dục mới có thể quản lý tốt nhà trường,nâng cao chất lượng dạy và học
Gần đây, tác giả Phạm Thị Thanh Thủy với công trình Biện pháp quản lý hoạt
động dạy học môn Ngữ văn tại trường THCS Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội, 2010 [6]
Trang 23đã tập trung nghiên cứu và đề xuất xây dựng các nhóm biện pháp: Nhóm biện phápquản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn; Nhóm biện pháp quản lý hoạt động xâydựng và thực hiện kế hoạch; Nhóm biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh;Nhóm biện pháp quản lý việc sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học.
Thông qua nghiên cứu của mình, tác giả cũng đã đưa ra cách nhìn tổng thể về líluận và thực tiễn trong vấn đề quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại trườngTHCS hiện nay
Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến vấn đề quản lý giáodục và quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn, đã chỉ ra được các biện pháp vànhóm biện pháp trong việc quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn nói chung
Tuy nhiên, đối với vấn đề nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động dạy họcmôn Ngữ văn ở trường THCS theo chương trình giáo dục phổ thông mới còn rất ítcông trình đề cập tới Chúng tôi nhận thấy vấn đề này cần tiếp tục được quan tâm,nghiên cứu
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
F.W Taylor được coi là cha đẻ của thuyết Quản lý khoa học đã cho rằng cốt lõitrong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải 7 chuyên môn hóa và phảiquản lý chặt chẽ”, “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái
đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [26]
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “Quản lý là một quá trình hoạt động có định hướng,
có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng củađối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [28]
Trang 24Còn tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra khái niệm: “Quản lý là tác động có mụcđích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động (khách thể quản lý)nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [29].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Hoạt động quản lýlà: “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đếnkhách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vậnhành và đạt được mục đích của tổ chức”[25]
Có thể thấy bản chất chung của khái niệm quản lý là một quá trình tác động có ýthức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạtđược mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môitrường
Quản lý có các chức năng cụ thể như: Chức năng lập kế hoạch; Chức năng tổchức; Chức năng chỉ đạo và kiểm tra Các chức năng này có mối quan hệ mật thiết vớinhau tạo thành một chu trình quản lý khép kín, tạo hiệu quả trong quá trình quản lý
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể
quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của con người, có sự tham gia của nhiềuthành tố khác nhau nhằm hướng tới một mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ cho đất nước.Dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì QLGD là quản lý tất cảcác hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học, các đơn vị phục vụ đào tạo, là
sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đạt được mục tiêu đào tạo Dưới góc
độ xã hội, QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội
Các khái niệm về QLGD cũng hết sức phong phú Có thể nêu lên một số kháiniệm cụ thể: Theo P.V Khudominxly: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả cáckhâu của hệ thống nhằm mục đích bảo vệ việc giáo dục, đảm bảo sự phát triển toàndiện, hài hoà của họ” [24]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là những hệ thống tác động có mụcđích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệvận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tínhchất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình Dạy -Học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới vềchất”[32]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
Trang 25trồi (emergence) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của
hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo
sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động”[22] Cũng theo tác giảTrần Kiểm: “Cũng có thể định nghĩa QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lýnhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả cácnguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáodục, đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội.”[22]
Như vậy, xét theo phương diện quản lý nhà trường có thể hiểu: Quản lý giáo
dục là những tác động có hệ thống, có tính mục đích và hợp quy luật của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến toàn bộ các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
1.2.2 Hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học
1.2.2.1 Hoạt động dạy học
Trước đây, người ta hiểu hoạt động sư phạm chỉ là hoạt động của người thầy.Người thầy đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy và học Trong hoạt động sưphạm, người thầy chủ động từ việc chuẩn bị nội dung giảng dạy, phương pháp truyềnthụ, đến những lời chỉ dẫn, những câu hỏi, v.v Còn học sinh (HS) tiếp nhận thụ động,học thuộc để “trả bài” Người thầy giữ “chìa khoá tri thức”, cánh cửa tri thức chỉ cóthể mở ra từ phía hoạt động của người thầy Quan niệm này hiện nay đã lỗi thời, bịvượt qua Vì rằng, từ góc độ khoa học sư phạm, quan niệm trên chỉ chú trọng hoạtđộng một mặt, hoạt động của người thầy mà không thấy được mặt kia của hoạt động
sư phạm là hoạt động của trò
Theo quan điểm lý thuyết về dạy học hiện đại, hoạt động dạy học bao gồm hoạt
động của thầy và trò Nhà tâm lý học A.Menxinkaia viết: “Hai hoạt động của thầy và trò là hai mặt của một hoạt động”.
Hoạt động dạy học là hoạt động tương tác có tính đặc thù Hoạt động dạy học là
hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác độngđến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lựccủa người học Giáo viên (GV) xây dựng, thiết kế hoạt động dạy học một cách đầy đủ
và cụ thể bao nhiêu thì công việc dạy học càng hiệu quả bấy nhiêu Ý kiến của
Davydov: “Các hoạt động dạy- học là các hoạt động cùng nhau của thầy và trò” đã
chỉ ra sự tương tác trong hoạt động dạy học mang tính đặc thù Nói là đặc thù vì:
Thứ nhất, hoạt động dạy học nằm trong chuỗi hoạt động của con người nhưng là
hoạt động nghề nghiệp, không phải là hoạt động của mọi người Người hoạt động dạyhọc phải có tiêu chuẩn và năng lực nghề nghiệp mới tham gia được hoạt động này
Trang 26Thứ hai, hoạt động dạy học là hoạt động tương tác GV tác động vào HS, HS
phát triển, GV căn cứ vào sự thay đổi ở HS để điều chỉnh hoạt động dạy
Như vậy, hoạt động dạy học là “hoạt động cùng nhau của thầy và trò” Thầy và
trò cùng hướng về một mục tiêu Năng lực của hoạt động dạy của người thầy và nănglực học của học sinh được thể hiện ở các mức độ đạt được của mục tiêu chương trìnhgiáo dục đề ra Do vậy, hoạt động dạy có kết quả khi nó tác động cùng hướng vớihoạt động học Hoạt động dạy học có tính tương tác ở chỗ, nó phải bắt nhịp cùngngười học, là người tham gia hoạt động học cả về trí tuệ và tình cảm Thứ ba, hoạtđộng dạy học nhìn từ phía hoạt động của người thầy trong tương tác với họat độnghọc của trò là hướng dẫn, tổ chức và điều khiển hoạt động học của HS Trong cuốnTâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, các tác giả đã định nghĩa hoạt động dạy
học như sau: “Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt
động của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm
lý, hình thành nhân cách của chúng” [32].
Như vậy, trong hoạt động dạy học, hoạt động của giáo viên là một khâu quantrọng Nói rõ hơn về hoạt động của giáo viên trong hoạt động dạy học, 2 tác giả
Hoàng Hòa Bình và Nguyễn Minh Thuyết trong công trình Phương pháp dạy học
tiếng Việt nhìn từ tiểu học, khi đề cập phương pháp tổ chức hoạt động trong dạy học
đã xác định rõ hoạt động của GV là “hệ thống các hành động” nhằm tổ chức hoạtđộng cho HS
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Hoạt động dạy học là quá trình gồm hai
hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ học tập Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên có vai
trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ động, tích cực Nếuthiếu một trong hai hoạt động trên, quá trình dạy học không diễn ra
1.2.2.2 Quản lý hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học ở nhà trường phổ thông giữ vị trí trung tâm bởi nó chiếmhầu hết thời gian, khối lượng công việc của thầy và trò trong một năm học; nó làmnền tảng quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục toàn diện của nhàtrường phổ thông; đồng thời, nó quyết định kết quả đào tạo của nhà trường
Hoạt động dạy học còn là hoạt động đặc thù của nhà trường phổ thông, nó đượcqui định bởi đặc thù lao động sư phạm của người giáo viên Vì vậy, nó cũng qui địnhtính đặc thù của công tác quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học
Trang 27nói riêng Người hiệu trưởng phải nhận thức đúng vị trí quan trọng và tính đặc thùcủa hoạt động dạy học để có những biện pháp quản lý khoa học, sáng tạo nhằm nângcao chất lượng đào tạo của nhà trường.
Công tác quản lý hoạt động dạy - học giữ vị trí quan trọng trong công tác quản
lý nhà trường Mục tiêu quản lý chất lượng đào tạo là nền tảng, là cơ sở để nhà quản lýxác định các mục tiêu quản lý khác trong hệ thống mục tiêu quản lý của nhà trường.Quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình sư phạm của thầy, hoạt độnghọc tập - tự giáo dục của trò, những hoạt động này diễn ra chủ yếu trong quá trình dạyhọc Như vậy, quản lý hoạt động dạy - học thực chất là những tác động của chủ thểquản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự
hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàndiện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
- Nội dung tổng thể của quản lý HĐ DH bao gồm: Quản lý thực thi chế địnhGD&ĐT trong dạy học, Quản lý hoạt động của bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học,Quản lý việc huy động và sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, Quản lý mốiquan hệ trong môi trường dạy học, Quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vàtruyền thông trong dạy học
- Nội dung cụ thể trong quản lý HĐ DH bao gồm: Quản lý thực hiện mục tiêudạy học, Quản lý thực hiện nội dung, chương trình DH, Quản lý đổi mới cách sửdụng phương pháp DH, Quản lý việc đề xuất và lựa chọn hình thức tổ chức DH,Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, Quản lý môi trường DH, Quản lý về đánhgiá kết quả DH, Quản lý công tác giáo vụ hành chính
Từ những phân tích trên, có thể thấy: Quản lý HĐ DH là sự tác động có chủ
đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến khách thể quản lý (GV,HS) bằng các biện pháp phát huy tác dụng của các phương tiện quản lý dạy học như các chế định, quy định giáo dục và đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, nguồn tài lực và vật lực dạy học, môi trường dạy học và thông tin dạy học nhằm đạt được mục đích của quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường.
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới
1.2.3.1 Khái niệm về chương trình giáo dục phổ thông mới
Chương trình giáo dục phổ thông mới là chương trình được xây dựng theo môhình phát triển năng lực, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất vànăng lực mà nhà trường và xã hội kỳ vọng Chương trình có sự kế thừa và cũng thểhiện một số điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, về mục tiêu giáo dục, Ch ư ơng trình giáo dục phổ t h ông mới tiếp tụcđược xây dựng trên quan điểm coi mục tiêu giáo dục phổ thông là giáo dục con ngườitoàn diện, giúp học sinh phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mĩ
Trang 28Thứ hai, về phương châm giáo dục, Chương trình giáo dục phổ thông mới kế
thừa các nguyên lí giáo dục nền tảng như “Học đi đôi với hành”, “Lí luận gắn liền vớithực tiễn”, “Giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục ở gia đình và xã hội”
Thứ ba, về nội dung giáo dục, bên cạnh một số kiến thức được cập nhật để phù
hợp với những thành tựu mới của khoa học - công nghệ và định hướng mới củachương trình, kiến thức nền tảng của các môn học trong Chương trình giáo dục phổthông mới chủ yếu là những kiến thức cốt lõi, tương đối ổn định trong các lĩnh vực trithức của nhân loại, được kế thừa từ Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành,nhưng được tổ chức lại để giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực một cáchhiệu quả hơn
Thứ tư, về hệ thống môn học, trong chương trình mới, chỉ có một số môn học và
hoạt động giáo dục mới hoặc mang tên mới là: Tin học và Công nghệ, Ngoại ngữ,Hoạt động trải nghiệm ở cấp tiểu học; Lịch sử và Địa lí, Khoa học tự nhiên ở cấpTrung học cơ sở; Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp Trung họcphổ thông; H oạt động t rải nghi ệ m , hướng nghiệp ở các cấp trung học cơ sở, trung họcphổ thông [9]
Như vậy, chương trình giáo dục phổ thông mới có thể hiểu là toàn bộ phươnghướng và kế hoạch GDPT theo hướng phát triển năng lực, giúp học sinh hình thành vàphát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kỳ vọng, trong đónêu rõ mục tiêu GDPT, quy định yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực đối vớihọc sinh, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chứchoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, chuyên
đề học tập và hoạt động trải nghiệm (gọi chung là môn học) ở mỗi lớp và mỗi cấphọc của GDPT mới
1.2.3.2 Quản lý hoạt động dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông mới
Từ các khái niệm: Quản lý hoạt động dạy học; Chương trình giáo dục phổ thôngmới đã nêu ở trên, có thể hiểu:
Quản lý hoạt động dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông mới là sự tácđộng có mục đích, có ý thức của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến hoạt động dạy -học trong nhà trường nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể của Chương trình giáo dụcphổ thông mới để đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra
1.3 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS
1.3.1 Vị trí, vai trò của môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS
Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học, được học từlớp 1 đến lớp 12 Ở cấp tiểu học, môn học này có tên là Tiếng Việt; ở cấp trung học
cơ sở và cấp trung học phổ thông có tên là Ngữ văn
Trang 29Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp họcsinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt độnggiáo dục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dụchọc sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ởhọc sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha, Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trongcác tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò
to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũngnhư các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời
Nội dung môn Ngữ văn mang tính tổng hợp, bao gồm cả tri thức văn hoá, đạođức, triết học, liên quan tới nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác như Lịch sử,Địa lí, Nghệ thuật, Giáo dục công dân, Ngoại ngữ, Tự nhiên và Xã hội, Hoạt độngtrải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp,… Môn Ngữ văn cũng liên quanmật thiết với cuộc sống; giúp học sinh biết quan tâm, gắn bó hơn với đời sống thườngnhật, biết liên hệ và có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn
Nội dung cốt lõi của môn học bao gồm các mạch kiến thức và kĩ năng cơ bản,thiết yếu về tiếng Việt và văn học, đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và nănglực của học sinh ở từng cấp học; được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáodục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
1.3.2 Mục tiêu của môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới
Trong chương trình giáo dục phổ thông môn ngữ văn (Ban hành kèm theoThông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng BộGiáo dục và Đào tạo) đã xác định rõ mục tiêu chung của môn Ngữ văn là:
Hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân
ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách vàphát triển cá tính Môn Ngữ văn giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xungquanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống vàứng xử nhân văn; có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn vàbản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinhthần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế
Góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tựhọc, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Đặc biệt,môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rènluyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng vềtiếng Việt và văn học, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, góp phần hình
Trang 30thành học vấn căn bản của một người có văn hoá; biết tạo lập các văn bản thôngdụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp
và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống
1.3.3 Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới
- Dạy học tích hợp và phân hoá
Dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên Ngữ văn trước hết phải thấy được mối liên
hệ nội môn (đọc, viết, nói và nghe), theo đó nội dung dạy đọc có liên quan và lặp lại
ở các nội dung dạy viết, nói và nghe; kiến thức và kĩ năng đọc hiểu mà học sinh tíchluỹ được trong quá trình tiếp nhận văn bản thuộc các kiểu loại khác nhau sẽ giúp cho
kĩ năng viết, nghe và nói tốt hơn Những kiến thức và cách thức diễn đạt học sinh họcđược trong quá trình đọc sẽ được dùng để thực hành viết Tương tự, những điều họcđược khi đọc và viết sẽ được học sinh dùng khi nói Cùng với yêu cầu tích hợp nộimôn, trong khi dạy đọc, viết, nói và nghe, giáo viên còn phải biết tận dụng các cơ hội
để lồng ghép một cách nhuần nhuyễn, hợp lí vào giờ học các yêu cầu giáo dục liênmôn (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Nghệ thuật) và những nội dung giáo dục ưutiên xuyên suốt toàn chương trình giáo dục phổ thông (chủ quyền quốc gia, hội nhậpquốc tế, giữ gìn bản sắc văn hoá, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, quyền conngười, quyền trẻ em, bình đẳng giới, giáo dục tài chính, )
Dạy học phân hoá có thể thực hiện bằng nhiều cách: nêu các câu hỏi, bài tậptheo nhiều mức độ khác nhau; yêu cầu tất cả mọi học sinh đều làm việc và lựa chọnvấn đề phù hợp với mình; khuyến khích sự mạnh dạn, tự tin trong trao đổi, tranh luận
và thể hiện; động viên và khen ngợi kịp thời các học sinh có ý tưởng sáng tạo, mới
mẻ, độc đáo trong đọc, viết, nói và nghe Ở trung học phổ thông, dạy các chuyên đềhọc tập cũng nhằm đạt được mục tiêu phân hoá và góp phần định hướng nghề nghiệp
- Đa dạng hoá các phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện dạy học
Theo định hướng này, giáo viên cần tránh máy móc rập khuôn, không tuyệt đốihoá một phương pháp trong dạy đọc, viết hay nói và nghe mà biết vận dụng cácphương pháp phù hợp với đối tượng, bối cảnh, nội dung và mục đích của giờ học
Trang 31Cần mở rộng không gian dạy và học, không chỉ giới hạn trong phạm vi lớp học màcòn có thể ở thư viện, sân trường, nhà bảo tàng, khu triển lãm, Có thể cho học sinh
đi tham quan, dã ngoại, yêu cầu các em ghi chép, chụp hình, quay phim, những gìquan sát, trải nghiệm và viết báo cáo, thuyết minh, Cần chú ý sử dụng các trò chơingôn ngữ, nhất là đối với học sinh tiểu học; hướng dẫn học sinh cách dùng sơ đồ đểthể hiện các ý tưởng, nhất là khi tóm tắt nội dung văn bản, miêu tả hệ 96 thống nhânvật, trình bày các thao tác thực hiện một công việc, ; khuyến khích học sinh tự tìmđọc, biết cách thu thập, chọn lọc tài liệu trong thư viện và trên Internet để thực hiệncác nghiên cứu cá nhân hay theo nhóm, sau đó trình bày, thảo luận kết quả nghiêncứu trước lớp; rèn luyện kĩ năng sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để hỗtrợ cho việc trình bày Tổ chức các hoạt động dạy học sao cho khi kết thúc mỗi cấplớp, học sinh đạt được các yêu cầu cần đạt mà chương trình đã đề ra
- Phát huy tính tích cực của người học
Để đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực, giáo viên cần chú ý hìnhthành cho học sinh cách học, tự học, từ phương pháp tiếp cận, phương pháp đọc hiểuđến cách thức tạo lập văn bản và nghe-nói; thực hành, luyện tập và vận dụng nhiềukiểu loại văn bản khác nhau để sau khi rời nhà trường các em có thể tiếp tục học suốtđời và có khả năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Nhiệm vụ của giáo viên là
tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh; hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ học sinh
để các em từng bước hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực mà chươngtrình giáo dục mong đợi
Giáo viên cần khơi gợi, vận dụng kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của họcsinh về vấn đề đang học, từ đó tổ chức cho các em tìm hiểu, khám phá để tự mình bổsung, điều chỉnh, hoàn thiện những hiểu biết ấy Cần khuyến khích học sinh trao đổi
và tranh luận, đặt câu hỏi cho mình và cho người khác khi đọc, viết, nói và nghe Bêncạnh việc phát huy tính tích cực của người học, trong dạy học giáo viên cần chú ýtính chuẩn mực của người thầy cả tri thức và kĩ năng sư phạm
1.3.3.2 Nội dung dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS
Chương trình giáo dục phổ thông môn ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư số32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo) quy định nội dung khái quát và nội dung cụ thể môn Ngữ văn cấp THCS như sau:
* Nội dung chung:
Chương trình Ngữ văn được xây dựng theo hướng mở; thể hiện ở việc khôngquy định chi tiết về nội dung dạy học và các văn bản cụ thể cần dạy mà chỉ quy định
Trang 32những yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói và nghe cho mỗi lớp; quy định một số kiếnthức cơ bản, cốt lõi về văn học, tiếng Việt và một số văn bản có vị trí, ý nghĩa đặcbiệt của văn học dân tộc là nội dung thống nhất bắt buộc đối với học sinh toàn quốc.Những văn bản khác được chương trình nêu lên trong phần phụ lục chỉ như mộtgợi ý về ngữ liệu, minh hoạ về thể loại, kiểu văn bản, đề tài và sự phù hợp với nhậnthức, tâm lí lứa tuổi; nhằm đáp ứng các yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói, nghe ở mỗilớp và nhóm lớp Căn cứ vào các yêu cầu bắt buộc này, các tác giả sách giáo khoa, cơ
sở giáo dục và giáo viên môn Ngữ văn hoàn toàn chủ động, sáng tạo trong việc triểnkhai các nội dung dạy học cụ thể theo yêu cầu phát triển chương trình Giáo viênđược lựa chọn sách giáo khoa, sử dụng một hay kết hợp nhiều sách, nhiều nguồn tưliệu khác nhau để dạy học, miễn là bám sát mục tiêu và đáp ứng yêu cầu cần đạt củachương trình Việc đánh giá kết quả học tập cuối năm, cuối cấp không dựa vào cácngữ liệu đã học trong một cuốn sách giáo khoa Ngữ văn cụ thể mà lấy yêu cầu cầnđạt nêu trong văn bản chương trình môn học làm căn cứ để biên soạn đề kiểm tra,đánh giá Chương trình Ngữ văn vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, vừa chú trọng kế thừa
và phát huy những ưu điểm của các chương trình Ngữ văn đã có, đặc biệt là chươngtrình hiện hành Trước hết, chương trình kế thừa những văn bản hay, tiêu biểu chocác kiểu loại văn bản; kế thừa việc dạy học các kiểu loại văn bản đa dạng, chú trọngyêu cầu đọc hiểu và tạo lập văn bản; kế thừa và phát triển định hướng tích hợp vàphân hoá Sự phát triển tư tưởng dạy học tích hợp trong chương trình Ngữ văn mớithể hiện ở sự thống nhất của trục tích hợp; ở yêu cầu tích hợp triệt để và nhất quánđến mức cao nhất có thể giữa ngôn ngữ và văn học, giữa các kiểu loại văn bản vàgiữa các hoạt động giao tiếp đọc, viết, nói và nghe trong từng bài học hoặc từngchương, phần, cụm bài Ngoài ra, chương trình Ngữ văn còn chú ý thực hiện quanđiểm tích hợp các nội dung liên môn và xuyên môn một cách hợp lí Yêu cầu phânhoá theo năng lực, sở trường của mỗi cá nhân người học tiếp tục được coi trọng trongtừng bài học
* Nội dung cụ thể:
Nội dung môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới ở trườngTHCS được tập hợp thành ba bộ phận chủ yếu là: Tiếng Việt, Văn học, Ngữ liệu Cácnội dung này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một chỉnh thể thống nhất trongcấu trúc nội dung chương trình, đảm bảo tính khoa học, thực tiễn, sự phù hợp vớitrình độ nhận thức của HS THCS và được quy định bằng các văn bản, sách giáo khoa,chuẩn kiến thức và kỹ năng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- Phân môn Tiếng Việt bao gồm các nội dung về: Ngữ âm và chữ viết; Từ vựng;Ngữ pháp; Hoạt động giao tiếp; Sự phát triển của ngôn ngữ và các biến thể ngôn ngữ
Trang 33- Phân môn Văn bao gồm các nội dung: Những vấn đề chung về văn học; Cácthể loại văn học; Các yếu tố của tác phẩm văn học; Một số hiểu biết sơ giản về lịch sửvăn học Việt Nam.
- Nội dung Ngữ liệu bao gồm: Truyện và văn xuôi; Thơ và văn vần; Kịch; Ký;Văn bản nghị luận; Văn bản thông tin
Nội dung dạy học được xác định dựa trên các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp, gồm:hoạt động đọc, viết, nói và nghe; kiến thức (tiếng Việt, văn học); ngữ liệu
Yêu cầu cần đạt về kĩ năng đọc:
- Kĩ thuật đọc: gồm các yêu cầu về tư thế đọc, kĩ năng đọc thành tiếng, kĩ năngđọc thầm, đọc lướt, kĩ năng ghi chép trong khi đọc,
- Đọc hiểu: đối tượng đọc gồm văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thôngtin Đọc hiểu mỗi kiểu văn bản và thể loại nói chung có các yêu cầu cần đạt sau:
+ Đọc hiểu nội dung văn bản thể hiện qua chi tiết, đề tài, chủ đề, tư tưởng,thông điệp, ;
+ Đọc hiểu hình thức thể hiện qua đặc điểm các kiểu văn bản và thể loại, cácthành tố của mỗi kiểu văn bản và thể loại (câu chuyện, cốt truyện, truyện kể, nhânvật, không gian, thời gian, người kể chuyện, điểm nhìn, vần thơ, nhịp thơ, lí lẽ, bằngchứng, ), ngôn ngữ biểu đạt,…;
+ Liên hệ, so sánh giữa các văn bản, kết nối văn bản với bối cảnh lịch sử, vănhoá, xã hội, kết nối văn bản với trải nghiệm cá nhân người đọc; đọc hiểu văn bản đaphương thức,…;
+ Đọc mở rộng, học thuộc lòng một số đoạn, văn bản văn học chọn lọc
Yêu cầu cần đạt về kĩ năng viết:
- Kĩ thuật viết: gồm các yêu cầu về tư thế viết, kĩ năng viết chữ và viết chính tả,
kĩ năng trình bày bài viết,
- Viết câu, đoạn, văn bản: gồm các yêu cầu về quy trình tạo lập văn bản và yêucầu thực hành viết theo đặc điểm của các kiểu văn bản
Yêu cầu cần đạt về các kĩ năng nói và nghe:
- Kĩ năng nói: gồm các yêu cầu về âm lượng, tốc độ, sự liên tục, cách diễn đạt,trình bày, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ, phương tiện hỗ trợ khi nói,
- Kĩ năng nghe: gồm các yêu cầu về cách nghe, cách ghi chép, hỏi đáp, thái độ,
sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ khi nghe, nghe qua các phương tiện kĩ thuật,…
- Kĩ năng nói và nghe có tính tương tác: gồm các yêu cầu về thái độ, sự tôntrọng nguyên tắc hội thoại và các quy định trong thảo luận, phỏng vấn,…
Trang 341.3.3.3 Phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS
a Phương pháp dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS
* Phương pháp thuyết trình: Thuyết trình là phương pháp dạy học Ngữ văn bằng
lời nói sinh động của giáo viên để trình bày một tài liệu mới hoặc tổng kết những trithức của bộ môn Ngữ văn mà học sinh đã thu lượm được một cách có hệ thống
Phương pháp thuyết trình trong dạy học môn Ngữ văn có thể thực hiện dướihình thức giảng giải, giảng thuật và diễn giảng phổ thông Khi dùng phương phápthuyết trình để trình bày một tác phẩm văn học hoặc một vấn đề nào đó cũng phải trảiqua bốn bước: Đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết luận rút ra từvấn đề đó
Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp thuyết trình để dạy học mônNgữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS:
- Trình bày chính xác các hiện tượng, sự kiện, khái niệm, vạch ra bản chất củavấn đề, ý nghĩa tư tưởng, chính trị của tài liệu học tập môn Ngữ văn, giá trị nhân văntrong các tác phẩm
- Trình bày phải đảm bảo tính tuần tự logic, rõ ràng, dễ hiểu với lời nói gọn, rõ,sáng sủa, giàu hình tượng, chuẩn xác, xúc tích khi phân tích các tác phẩm, các nhânvật trong tác phẩm văn học
- Trình bày bài giảng môn Ngữ văn phải thu hút và duy trì sự chú ý, gây đượchứng thú, hướng dẫn tư duy của học sinh thông qua giọng nói, tốc độ nói, âm lượngthay đổi thích hợp, qua các mẩu chuyện vui đúng lúc, qua cách đặt vấn đề và giảiquyết vấn đề, kết hợp lời nói với điệu bộ, nét mặt, biết đưa những lời trích dẫn vàođúng lúc, đúng chỗ
- Trình bày bài giảng môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mớiphải đảm bảo cho học sinh ghi chép được những vấn đề cơ bản và qua đó mà dạy chohọc sinh biết cách vừa ghi vừa tập trung nghe giảng
* Phương pháp nêu vấn đề: Dạy học nêu vấn đề hay dạy học giải quyết vấn đề
trong dạy học Ngữ văn là phương pháp GV tạo ra những tình huống có vấn đề liênquan đến các tác phẩm văn học, các nhân vật trong các tác phẩm, các kiến thức của
bộ môn từ đó điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động,sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng
và đạt được những mục đích học tập khác
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) trong dạy học môn Ngữ văn theo
Trang 35HS THCS những khó khăn về lí luận hay thực hành mà các em thấy cần có khả năngvượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quátrình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnhkiến thức sẵn có.
Quy trình dạy học nêu vấn đề áp dụng đối với môn Ngữ văn thông thường cũngđược thực hiện thông qua 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: xác định và tìm hiểu vấn đề; giaiđoạn 2: tìm hiểu các kiến thức có liên quan; giai đoạn 3: giải quyết vấn đề; giai đoạn4: trình bày kết quả
Khi sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học môn Ngữ văn theochương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS cần đảm bảo các yêu cầu:
- Đối với những bài dạy của môn Ngữ văn có nội dung đơn giản, không có vấn
đề thì không thể áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
- Giáo viên cần đầu tư thời gian và trí tuệ nghiên cứu kỹ bài dạy, tham khảonhiều tài liệu để xây dựng tình huống có vấn đề cho phù hợp với yêu cầu kiến thứcmôn Ngữ văn và phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý của học sinhTHCS
- Giáo viên phải có hiểu biết sâu rộng để không bất ngờ trước các tình huốnghọc sinh đưa ra Có kỹ năng linh hoạt nhuần nhuyễn để dẫn dắt học sinh giải quyếtvấn đề
- Giáo viên và học sinh phải chủ động để đảm bảo tiến độ bài học của bộ mônNgữ văn
* Phương pháp vấn đáp: Vấn đáp trong dạy học Ngữ văn là phương pháp giáo
viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho các em sáng
tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức văn học mới bằng sự tái hiện nhữngtài liệu văn học đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống,nhằm giúp học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá những tri thứcvăn học đã tiếp thu được và nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tựkiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức của bộ môn
Để phát huy mặt mạnh và hạn chế mặt yếu của phương pháp vấn đáp khi giảngdạy môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS thì cầnphải đảm bảo những yêu cầu khi đề ra câu hỏi và việc vận dụng phương pháp Sở dĩnhư vậy là vì trong phương pháp vấn đáp, câu hỏi có ý nghĩa hết sức quan trọng.Không biện pháp nào linh hoạt, uyển chuyển, dễ điều khiển hoạt động nhận thức củahọc sinh bằng cách đề ra câu hỏi
- Khi dạy học môn Ngữ văn, cần phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định
Trang 36xét, bổ sung, sửa chữa câu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạnvới tinh thần phản biện mang tính xây dựng, qua đó mà kích thích hoạt động chungcủa cả lớp.
- Khi học sinh trả lời, giáo viên cần lắng nghe Nếu cần thiết đặt thêm câu hỏiphụ, câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi chính
- Cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái
độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý của các em khi không thật cần thiết Chú ý uốnnắn, bổ sung câu trả lời của học sinh, giúp họ hệ thống hoá lại những tri thức đã thuđược trong quá trình vấn đáp
- Không chỉ chú ý kết quả câu trả lời của học sinh mà cả cách diễn đạt câu trảlời của học sinh một cách chính xác, rõ ràng, hợp logic Đó là điều kiện quan trọng đểphát triển tư duy logic văn học của các em
- Cần chú ý sử dụng mọi biện pháp nhằm thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu thắcmắc và khéo léo sử dụng thắc mắc đó để tạo nên tình huống có vấn đề và thu hút toànlớp tham gia thảo luận, tranh luận để giải quyết vấn đề đó Qua đó có thể góp phầnlấp lỗ hổng, chữa những sai lầm hoặc hiểu chưa chính xác những nội dung học tậpmôn Ngữ văn của học sinh
* Phương pháp thảo luận: Là phương pháp dạy học khi giáo viên tổ chức cuộc
đối thoại giữa học sinh với học sinh hoặc giữa học sinh với giáo viên nhằm huy độngtrí tuệ của học sinh để giải quyết một vấn đề nào đó để đưa ra những giải pháp, kiếnnghị hoặc những quan niệm mới
Yêu cầu đối với phương pháp thảo luận khi dạy học môn Ngữ văn theo chươngtrình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS:
- Giáo viên phải tôn trọng ý kiến của học sinh và bình tĩnh ứng xử với những ýkiến trái chiều Học sinh tôn trọng ý kiến của nhau
- Cần tạo cho học sinh có cơ hội để nói ra những suy nghĩ của mình nhất là khi
có những ý kiến trái ngược nhau chứ không vội vã đi đến kết luận
- Thông thường giáo viên là người tổng kết và trình bày ý kiến thống nhất của
cả lớp, song cũng có thể tổng kết ở dạng kết thúc mở, không nêu ra kết luận đúng haysai để tôn trọng ý kiến của học sinh, kích thích học sinh tự do phát biểu ra suy nghĩcủa mình
* Phương pháp sử dụng trò chơi: Dạy học Ngữ văn dựa trên trò chơi là một
phương pháp gây nhiều hứng thú cho học sinh nhưng đòi hỏi tính sáng tạo cao củagiáo viên Để có thể vận dụng tối ưu phương pháp này trong dạy học môn Ngữ văntheo chương trình giáo dục phổ thông mới, cần phân biệt các mức độ sử dụng trò chơi
Trang 37trong dạy học và đáp ứng các yêu cầu của việc tổ chức thực hiện phương pháp, baogồm: sử dụng trò chơi trước khi học; sử dụng trò chơi như một hình thức học tập; sửdụng trò chơi như một nội dung học tập.
Để tổ chức trò chơi trong dạy học Ngữ văn nhằm khám phá tri thức có hiệu quảtối ưu, các giáo viên cần lưu ý những vấn đề sau:
- Trò chơi phải thích hợp với đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm nhận thức của họcsinh, phù hợp với nội dung dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổthông mới: những trò chơi được sử dụng không chỉ đáp ứng về yêu cầu học tập màcòn phải thuận tiện, hấp dẫn với người học
- Trò chơi phải tạo không khí vui nhộn, thoải mái
- Giáo viên cần thận trọng kiểm soát các tình huống chơi để tránh xảy ra tai nạnngoài ý muốn
- Giải thích rõ luật chơi
- Xoa dịu tính hiếu thắng của người chơi: Giáo viên nên nhấn mạnh ý nghĩa này
để học sinh không hiếu thắng, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng với nhau
- Chú trọng phân tích ý nghĩa sau khi thực hiện trò chơi, gợi mở ý nghĩa nộidung học tập gắn với bài dạy môn Ngữ văn Chơi là cần thiết, nhưng không phải làđiều chủ yếu của phương pháp Việc rút ra bài học từ trò chơi mới là mục đích cuốicùng của phương pháp
- Bảo đảm tính giáo dục
- Không lạm dụng phương pháp: Mỗi phương pháp dạy học đều có ưu nhượcđiểm, không có tính vạn năng Việc sử dụng phương phải phù hợp với nội dung họctập môn Ngữ văn, đặc điểm đối tượng, mục đích dạy học
* Phương pháp đóng vai: Đây là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ
chức cho HS thực hành (làm thử) một số cách ứng xử trong tình huống giả định hoặcvào vai những nhân vật trong các tác phẩm văn học
Phương pháp này giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trungvào một sự kiện cụ thể mà HS quan sát được Từ sự trải nghiệm, quan sát và đánh giátình huống, HS được rèn luyện về những kỹ năng giải quyết các vấn đề đã đặt ra.Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề nội dung học tập bộ môn Ngữ văncủa học sinh, phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vốn kinh nghiệm sống của HS; đồng thời tìnhhuống cần để mở và phải có nhiều cách tiếp cận, giải quyết để HS tự tìm ra phương án
và cách ứng xử phù hợp với các nhân vật trong các tác phẩm văn học
Sau khi đóng vai và kết thúc tình huống, HS thảo luận về các hành động củamỗi nhân vật trong các tác phẩm văn học, đồng thời suy nghĩ về những câu hỏi đặt ra
Trang 38như: Vấn đề cần phải giải quyết trong tình huống đó là gì? Nguyên nhân nào dẫn đếnkhó khăn, vướng mắc của nhân vật trong tình huống? Có thể có những cách giảiquyết nào đối với vấn đề của nhân vật? Từ đó, giáo viên gợi dẫn HS đưa ra các biệnpháp giải quyết vấn đề có hiệu quả, đồng thời thảo luận về những khía cạnh phù hợptrong những tình huống khác, nhân vật khác, tác phẩm văn học khác.
* Phương pháp dạy học tình huống: Dạy học tình huống là một phương pháp
dạy học được tổ chức theo những tình huống có thực của cuộc sống hoặc các tìnhhuống theo các tác phẩm văn học, trong đó học sinh được kiến tạo tri thức qua việcgiải quyết các vấn đề có tính xã hội của việc học tập
Phương pháp dạy học bằng tình huống rất gần với phương pháp dạy học giảiquyết tình huống có vấn đề nhưng vẫn có nhiều điểm khác nhau phương pháp dạyhọc bằng tình huống có cơ sở lí luận và phạm vi ứng dụng rộng hơn
Dạy học tình huống đối với bộ môn Ngữ văn là một hình thức dạy học gây hứngthú và có tính thực tiễn cao Thông qua các tình huống, học sinh có thể học được cáchđưa ra những câu hỏi chuyên biệt, cách tìm ra giải pháp và chứng minh được câu trảlời của các em bằng học thuyết hay nghiên cứu Song cũng không nên quá lạm dụng
vì có thể gây ra tác dụng ngược, làm cho học sinh cảm thấy nhàm chán
* Phương pháp trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn: Giáo dục trải nghiệm là
một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó giáo viên khi dạy học Ngữ vănkhuyến khích học sinh tham gia trải nghiệm thực tế sau mỗi bài học, mỗi tác phẩmhọc sinh phản ánh, tổng kết lại các kiến thức để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹnăng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góptích cực cho cộng đồng và xã hội”
Người dạy ở đây có thể là: giáo viên bọ môn Ngữ văn, giáo viên chủ nhiệm, tìnhnguyện viên, hướng dẫn viên, huấn luyện viên Nó nói lên tính đơn giản, đa dạng,phổ biến và ứng dụng của “Giáo dục trải nghiệm”
“Học tập qua trải nghiệm” xảy ra khi học sinh tham gia trải nghiệm nhìn lại vàđánh giá, xác định cái gì là hữu ích từ các tác phẩm văn học đã được học, đượcnghiên cứu và các sử dụng những điều này để thực hiện các hoạt động khác trongtương lai
Phương pháp trải nghiệm thông thường có 5 bước: Bước 1: Trải nghiệm; Bước2: Chia sẻ; Bước 3: Phân tích; Bước 4: Tổng quát; Bước 5: Áp dụng
* Phương pháp luyện tập: Luyện tập là phương pháp được sử dụng thường
xuyên trong dạy học Ngữ văn, trong đó dưới sự chỉ dẫn của GV, HS nghiên cứu tìmhiểu các tác phẩm văn học khác nhau, thực hành viết các bài văn theo yêu cầu nhằm
Trang 39hình thành và phát triển kỹ năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa sau khi lĩnh hội kiến thức từ các bài đã học.
Khi sử dụng phương pháp luyện tập trong các giờ dạy môn Ngữ văn theochương trình giáo dục phổ thông mới cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Luyện tập phải hướng tới mục đích, yêu cầu nhất định
- Phải được tiến hành theo trình tự chặt chẽ
- Cần phải nắm vững lý thuyết rồi mới luyện tập
- Đảm bảo vừa sức với HS
* Phương pháp ôn tập: Ôn tập là phương pháp dạy học Ngữ văn giúp học sinh
mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức văn học đã học, nắm vữngnhững kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ, tư duy trừu tượng logiccủa học sinh Đồng thời qua đó có thể điều chỉnh, sửa chữa những sai lầm trong hệthống tri thức của các em
Những yêu cầu sử dụng phương pháp ôn tập trong dạy học môn Ngữ văn theochương trình giáo dục phổ thông mới:
- Ôn tập phải có kế hoạch, có hệ thống và kịp thời
- Ôn tập phải bằng nhiều hình thức khác nhau
- Ôn tập trước khi quên, ôn rải ra, ôn xen kẽ nhiều môn
- Ôn tập phải có tính tích cực : bằng cách tái hiện,cấu trúc lại tri thức
- Cần lập sơ đồ, bảng, nhằm hệ thống hóa những khái niệm, định luật và mốiliên hệ giữa chúng, sự phát triển các khái niệm và hệ thống những câu hỏi nhất định
* Phương pháp công não: Công não (Brainstorming) là một phương pháp đặc
sắc dùng để phát triển nhiều giải pháp sáng tạo khi dạy Ngữ văn Phương pháp nàyhoạt động bằng cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề tìm hiểu các tác phẩm vănhọc, các nhân vật trong các tác phẩm Các ý niệm/hình ảnh về vấn đề văn học trướchết được nêu ra một cách rất phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càngnhiều, càng đủ càng tốt Các ý kiến phát biểu của học sinh có thể rất rộng và sâu cũngnhư không giới hạn bởi các khía cạnh nhỏ nhặt nhất của vấn đề mà học sinh nghĩ tới.Trong công não thì vấn đề được đào bới từ nhiều khía cạnh và nhiều cách nhìnkhác nhau Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm và đánh giá
Khi thực hiện phương pháp công nãm trong dạy học bộ môn Ngữ văn, giáo viêncần chia học sinh thành các nhóm, các nhóm tự chọn nhóm trưởng và thư ký Giaovấn đề cho nhóm, nhóm trưởng điều hành hoạt động thảo luận chung của cả nhómtrong một thời gian quy định, các ý kiến đều được thư ký ghi nhận, khuyến khíchthành viên đưa càng nhiều ý kiến càng tốt Cả nhóm cùng lựa chọn giải pháp tối ưu,
Trang 40thu gọn các ý tưởng trùng lặp, xóa những ý không phù hợp, sau cùng thư ký báo cáo kết quả.
Trong quá trình thu thập ý kiến, không được phê bình hay nhận xét - cần xácđịnh rõ: Không có câu trả lời nào là sai
* Phương pháp dạy học cá biệt hóa: Dạy học cá biệt hóa là phương pháp giảng
dạy yêu cầu người giáo viên phải quan tâm tới từng đối tượng HS, dạy cho từng cánhân mà không dạy theo số đông GV phải nắm được năng lực tiếp nhận và cả đặcđiểm tâm sinh lý của từng em
Dạy học cá biệt hóa trong dạy học Ngữ văn là một quan điểm sư phạm tiến bộđòi hỏi GV bộ môn phải có những kỹ năng tiếp cận, nắm bắt được đối tượng để từ đó
có phương pháp dạy phù hợp Dạy học Ngữ văn theo hướng cá biệt hóa không cónghĩa là chia nhóm hay không chia nhóm, mà quan trọng là giúp học sinh phát triểnđược các đặc điểm cá nhân của mình, việc chia nhóm chỉ là một trong nhiều biệnpháp để thực hiện cách dạy cá biệt hóa
Dạy học cá biệt hóa trong dạy học Ngữ văn yêu cầu học sinh phải chủ động tíchcực trong học tập, không ngồi nghe thụ động theo cách từ chương, sáo rỗng Nói cáchkhác là phải thật sự năng động, sáng tạo hơn trong tiếp cận các tác phẩm văn học Bàihọc trên lớp luôn gắn với thực tiễn, thực hành, ôn tập, tăng tính thực hành giảm bớtphần lý thuyết không cần thiết cũng là một yêu cầu khi dạy và học
b Hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS
Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của nội dung dạy học cụ thểtrong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ vàmục tiêu dạy học
Để khai thác tối ưu các nội dung học tập thì giáo viên cũng cần phải đa dạng cáchình thức dạy học
* Dạy học cả lớp (lớp - bài): Hình thức lớp - bài là một kiểu tổ chức dạy học mà
trong suốt thời gian học tập được quy định một cách chính xác ở một địa điểm riêngbiệt, giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính chất tập thể ổn định, với thànhphần học sinh không đổi, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh, sửdụng các phương pháp và phương tiện dạy học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họcsinh nắm vững tài liệu học tập một cách trực tiếp từ giáo viên cũng như làm phát triểnnăng lực nhận thức và giáo dục học sinh
Dạy học Ngữ văn theo hình thức lớp - bài cũng giống với các bộ môn khoa học
cơ bản khác ở chương trình giáo dục phổ thông, đảm bảo các yêu cầu: