1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh ngành công nghiệp việt nam áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng

228 105 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 4,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI NGUYỄN NGỌC THÍA XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM: ÁP DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC THÍA

XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM:

ÁP DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP

SẢN XUẤT XI MĂNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC THÍA

XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM:

ÁP DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP

SẢN XUẤT XI MĂNG

Ngành: Kinh tế học

Mã số: 9310101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS ĐẶNG VŨ TÙNG

2 PGS.TS LÊ ANH TUẤN

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tác giả Tất

cả các dữ liệu được sử dụng trong luận án đều có trích dẫn nguồn gốc đầy đủ Các kết quả nghiên cứu của luận án được phân tích dựa trên nguồn dữ liệu do tác giả thu thập và

xử lý một cách trung thực, đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy Toàn bộ nội dung của luận án chưa từng được tác giả nào khác công bố

Hà Nội, ngày 19 tháng 08 năm 2019 Tập thể giáo viên hướng dẫn Nghiên cứu sinh

TS Đặng Vũ Tùng PGS.TS Lê Anh Tuấn Nguyễn Ngọc Thía

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Đặng Vũ Tùng, người đã dìu dắt tác giả từ khi còn là học viên cao học, người đã hướng dẫn nghiên cứu tận tình, động viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tác giả xin được cảm ơn chân thành tới PGS.TS Lê Anh Tuấn người đã dìu dắt tác giả từ khi còn là sinh viên đại học, luôn đồng hành và hướng dẫn tận tình cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tác giả xin được cảm ơn tới TS Nguyễn Danh Nguyên, PGS.TS Phạm Thị Thanh Hồng, các thầy cô trong bộ môn Quản lý công nghiệp cùng các thầy cô tại Viện Kinh tế

và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã hỗ trợ, góp ý và định hướng nghiên cứu cho luận án

Tác giả xin được cảm ơn tới các cá nhân, doanh nghiệp tham gia trong quá trình nghiên cứu đã hợp tác, hỗ trợ cung cấp các thông tin, dữ liệu chính xác, đầy đủ để tác giả

có thể hoàn thành được luận án này

Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn tới những người thân yêu trong gia đình đã luôn ở bên động viên tác giả trong những lúc khó khăn nhất để có thể hoàn thành luận án này

Nghiên cứu sinh

Trang 5

MỤC LỤC

1 PHẦN MỞ ĐẦU i

i Sự cần thiết của đề tài i

ii Khoảng trống nghiên cứu vi

iii Mục đích và câu hỏi nghiên cứu ix

iv Đối tượng và phạm vi nghiên cứu x

v Phương pháp nghiên cứu xi

vi Những đóng góp mới của đề tài xii

vii Kết cấu của đề tài xiii

1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH 1 1.1 Tổng quan về tăng trưởng xanh 1

1.1.1 Các khái niệm chung 1

1.1.2 Nguồn gốc của tăng trưởng xanh 5

1.1.3 Sự cần thiết và lợi ích của tăng trưởng xanh 7

1.1.4 Mối quan hệ với phát triển bền vững 8

1.2 Chính sách và chiến lược tăng trưởng xanh 10

1.2.1 Nội dung chính sách tăng trưởng xanh 10

1.2.2 Các chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam 11

1.3 Tăng trưởng xanh trong ngành công nghiệp Việt Nam 25

1.3.1 Thực trạng tăng trưởng xanh các ngành công nghiệp Việt Nam 25

1.3.2 Thực trạng tăng trưởng xanh ngành xi măng Việt Nam 27

1.4 Bàn luận về cơ sở lý luận và thực trạng tăng trưởng xanh 28

1.4.1 Về cơ sở lý luận tăng trưởng xanh 28

1.4.2 Về thực trạng tăng trưởng xanh 33

1.5 Tóm tắt chương 1 34

Trang 6

2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ LIÊN QUAN ĐẾN TĂNG

TRƯỞNG XANH 35

2.1 Tổng quan về chỉ số 35

2.1.1 Khái niệm chỉ số 35

2.1.2 Vai trò và quy trình sử dụng chỉ số 36

2.1.3 Đặc tính chất lượng chỉ số 37

2.1.4 Tiêu chuẩn lựa chọn chỉ số 38

2.1.5 Phân loại chỉ số 39

2.2 Quy trình, phương pháp, và công cụ bổ trợ xây dựng chỉ số 40

2.2.1 Tổng quan chung 40

2.2.2 Quy trình xây dựng bộ chỉ số 42

2.2.3 Phương pháp chuyên gia (Delphi) xây dựng chỉ số 45

2.2.4 Các công cụ, kỹ thuật bổ trợ xây dựng chỉ số 45

2.3 Các chỉ số đánh giá liên quan đến tăng trưởng xanh hiện có 47

2.3.1 Tổng quan nghiên cứu các chỉ số đánh giá liên quan đến TTX 47

2.3.2 Chỉ số đánh giá TTX cấp quốc gia 49

2.3.3 Chỉ số đánh giá TTX cấp địa phương 49

2.3.4 Chỉ số đánh giá hiệu quả nguồn lực 49

2.3.5 Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả bền vững doanh nghiệp 50

2.3.6 Bộ chỉ số đánh giá sản xuất bền vững 51

2.4 Bàn luận các vấn đề về chỉ số và xây dựng bộ chỉ số 52

2.4.1 Về các nghiên cứu xây dựng chỉ số 52

2.4.2 Về tiêu chuẩn lựa chọn chỉ số 54

2.4.3 Hướng xây dựng quy trình của luận án 55

2.5 Tóm tắt chương 2 56

3 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 57

Trang 7

3.1 Phương pháp tiếp cận 57

3.1.1 Lựa chọn phương pháp tiếp cận 57

3.1.2 Các phương pháp thu thập dữ liệu 57

3.1.3 Các phương pháp phân tích dữ liệu 59

3.1.4 Kế hoạch khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn sâu 60

3.2 Quy trình thực hiện xây dựng bộ tiêu chí TTX 65

3.2.1 Xác định căn cứ lựa chọn tiêu chí 66

3.2.2 Xây dựng cấu trúc của bộ tiêu chí 67

3.2.3 Sàng lọc và chuẩn hóa các chỉ số tiềm năng 68

3.2.4 Lấy ý kiến phản hồi từ doanh nghiệp sản xuất xi măng 69

3.2.5 Hoàn thiện bộ tiêu chí 70

3.2.6 Áp dụng đo lường và đánh giá 71

3.3 Bàn luận về phương pháp và quy trình xây dựng bộ tiêu chí 71

3.4 Tóm tắt chương 3 72

4 CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH CHO DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT XI MĂNG VIỆT NAM 73

4.1 Xây dựng căn cứ lựa chọn tiêu chí đánh giá tăng trưởng xanh 73

4.1.1 Căn cứ lý luận về chỉ số đánh giá tăng trưởng xanh 73

4.1.2 Căn cứ thực tiễn về hoạt động sản xuất xi măng 75

4.1.3 Tổng hợp các nguồn dữ liệu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX 81

4.2 Xây dựng cấu trúc của bộ tiêu chí 82

4.3 Sàng lọc và chuẩn hóa các chỉ số tiềm năng 83

4.3.1 Sàng lọc 83

4.3.2 Tổng hợp và chuẩn hóa 85

4.4 Lấy ý kiến phản hồi từ doanh nghiệp sản xuất xi măng 90

4.4.1 Thiết kế khảo sát bộ tiêu chí, phiếu phỏng vấn sâu 90

Trang 8

4.4.2 Thực hiện khảo sát, phỏng vấn sâu doanh nghiệp sản xuất xi măng 92

4.4.3 Xử lý dữ liệu thống kê và tổng hợp ý kiến từ doanh nghiệp 92

4.4.4 Quyết định loại bỏ, điều chỉnh và bổ sung chỉ số tăng trưởng xanh 98

4.5 Bộ tiêu chí tăng trưởng xanh đề xuất 100

4.6 Bàn luận về thuận lợi và khó khăn khi xây dựng bộ tiêu chí 106

4.7 Tóm tắt chương 4 107

5 CHƯƠNG 5: ÁP DỤNG BỘ TIÊU CHÍ THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI MỘT SỐ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT XI MĂNG VIỆT NAM 108

5.1 Tổ chức đo lường bộ tiêu chí tăng trưởng xanh 108

5.2 Kết quả đo lường bộ tiêu chí thực hiện tăng trưởng xanh 109

5.2.1 Kết quả đo lường tại xi măng Hoàng Thạch 110

5.2.2 Tổng hợp kết quả đo lường của 3 nhà máy xi măng 121

5.3 Đánh giá kết quả đo lường tại các doanh nghiệp 126

5.4 Phân nhóm bộ tiêu chí hỗ trợ đánh giá tăng trưởng xanh 127

5.5 Bàn luận về đo lường và áp dụng bộ tiêu chí tăng trưởng xanh 128

5.6 Tóm tắt chương 5 129

6 PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 130

i Những kết quả đạt được 130

ii Những đóng góp của luận án 131

iii Những hạn chế của luận án 132

iv Kiến nghị và đề xuất 132

v Hướng nghiên cứu tiếp theo 137

7 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 141

8 TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

9 PHỤ LỤC 1

9.1 Phụ lục 1: Tổng hợp các nguồn dữ liệu chỉ số 1

Trang 9

9.2 Phụ lục 2: Các chỉ số đánh giá TTX sau khi sàng lọc sơ bộ 24

9.3 Phụ lục 3: Các chỉ số đưa vào bước tổng hợp và chuẩn hóa 33

9.4 Phụ lục 4: Phiếu khảo sát bộ tiêu chí đánh giá TTX doanh nghiệp SXXM 36

9.5 Phụ lục 5: Phiếu phỏng vấn sâu và danh sách khảo sát 44

9.6 Phụ lục 6: Phiếu khảo sát chuyên gia về các khía cạnh đánh giá TTX 47

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á

ADBI : Viện Ngân hàng Phát triển châu Á

AHP : Phương pháp phân tích thứ bậc

DAC : Ủy ban Hỗ trợ Phát triển

DBFO : Thiết kế, xây dựng, tài trợ, vận hành

DfE : Thiết kế vì môi trường

EHS : Hệ thống sức khỏe kinh tế

EMS : Hệ thống quản lý môi trường

ESG : Cấu trúc kinh tế-xã hội-quản lý

GGGI : Viện tăng trưởng xanh toàn cầu

GWP : Tiềm năng nóng lên toàn cầu

IAEA : Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế

ISED : Chỉ số phát triển bền vững năng lượng

ISO : Hệ thống quản lý chất lượng

IUCN : Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

KOICA : Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc

KPI : Chỉ số kết quả thực hiện

LCA : Phân tích vòng đời

LCSP : Trung tâm sản xuất bền vững Lowell Đại học Massachusetts MCDA : Phân tích ra quyết định đa tiêu chuẩn

MCED : Hội nghị Bộ trưởng về Môi trường và Phát triển

MFA : Phương pháp phân tích dòng nguyên vật liệu

MRP : Lập kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu

NVL : Nguyên vật liệu

Trang 11

OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

OHSAS : Hệ thống an toàn sức khỏe nghề nghiệp

PAM : Phương pháp phân tích quá trình

PCA : Phép phân tích thành phần chính

PSR : Áp lực-Trạng thái-Ứng phó

PSS : Hệ thống sản phẩm dịch vụ

PTBV : Phát triển bền vững

QCVN : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

QĐ-TTg : Quyết định của Thủ tướng chính phủ

SMEs : Các doanh nghiệp nhỏ và vừa

SP&DV : Sản phẩm và dịch vụ

SXBV : Sản xuất bền vững

SXKD : Sản xuất kinh doanh

SXXM : Sản xuất xi măng

TCCP : Tiêu chuẩn cho phép

TCVN : Tiêu chuẩn quốc gia

TNMT : Tài nguyên môi trường

TOPSIS : Kỹ thuật tích hợp ra quyết định

TPS : Tổng số hạt bụi lơ lửng có đường kính dưới 10 µm

TTX : Tăng trưởng xanh

UNCED : Hội nghị thượng đỉnh Trái đất

UNDESA : Vụ Liên Hiệp Quốc về vấn đề kinh tế và xã hội

UNEP : Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc

UNESCAP : Ủy ban Kinh tế Xã Hội Châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc USAID : Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ

VICEM : Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam

WB : Ngân hàng Thế giới

WBCSD : Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển bền vững

WCED : Hội nghị Thế giới về Môi trường và Phát triển

WWF : Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Chương trình khung PTBV 9

Hình 1.2 Chương trình khung TTX của OECD 9

Hình 1.3 Tích hợp mối quan hệ PTBV và TTX 9

Hình 1.4 Chiến lược xanh với các chiến lược và hoạt động doanh nghiệp 18

Hình 1.5 Các bước phát triển chiến lược xanh doanh nghiệp 18

Hình 1.6 Quy trình thực hiện chiến lược xanh 19

Hình 1.7 Khung tích hợp bền vững môi trường cấp doanh nghiệp 23

Hình 2.1 Quy trình thiết kế bộ chỉ số SXBV doanh nghiệp 43

Hình 3.1 Lưu đồ phương pháp tiếp cận nghiên cứu của luận án 57

Hình 3.2 Cơ cấu sản lượng xi măng theo khối doanh nghiệp (2017) 61

Hình 3.3 Số lượng lò quay phân bố theo vùng miền (2017) 61

Hình 3.4 Quy trình xây dựng bộ tiêu chí TTX của luận án 65

Hình 3.5 Khung TTX ngành xi măng 67

Hình 3.6 Cấu trúc bộ tiêu chí 68

Hình 4.1 Sơ đồ nguyên lý quy trình SXXM 75

Hình 4.2 Dòng NVL quá trình SXXM 78

Hình 4.3 Dòng NVL trong công đoạn nghiền bột liệu thô 79

Hình 4.4 Dòng vật liệu trong trộn bột thô và xi lô chứa bột liệu 79

Hình 4.5 Dòng NVL trong công đoạn sản xuất clanh ke 79

Hình 4.6 Dòng NVL trong công đoạn nghiền xi măng 80

Hình 4.7 Cấu trúc bộ tiêu chí TTX 83

Hình 4.8 Cấu trúc bộ tiêu chí sơ bộ 87

Hình 4.9 Quá trình lấy ý kiến đánh giá bộ tiêu chí TTX từ doanh nghiệp 90

Hình 4.10 Điểm trung bình sự cần thiết của các khía cạnh TTX 93

Hình 4.11 Tần số lựa chọn điểm tối đa (điểm 5) của các khía cạnh TTX 93

Trang 13

Hình 5.1 Chỉ số năng lượng và tài nguyên XM Hoàng Thạch và định mức VICEM

111

Hình 5.2 Nồng độ bụi trong không khí bên trong XM Hoàng Thạch 114

Hình 5.3 Mức ồn khu vực xung quanh Nhà máy XM Hoàng Thạch 117

Hình 5.4 Mức ồn khu vực bên trong Nhà máy XM Hoàng Thạch 118

Hình 6.1 Cơ cấu tổ chức tổ TTX đề xuất 135

Hình 6.2 Xác định điểm số đánh giá theo phương pháp AHP 139

Hình 6.3 Kết quả trọng số các tiêu chí 140

Trang 14

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp các định nghĩa về TTX 2

Bảng 1.2 Tổng hợp định nghĩa sản xuất xanh 4

Bảng 1.3 Ví dụ về tầm nhìn và sứ mệnh xanh 20

Bảng 1.4 Ví dụ về xác định hành động xanh theo sứ mệnh xanh 20

Bảng 1.5 Sản lượng xi măng Việt Nam giai đoạn 2011-2016 27

Bảng 1.6 Tổng hợp dự báo nhu cầu xi măng ở Việt Nam đến năm 2035 28

Bảng 2.1 Cấu trúc chỉ số TTX quốc gia của OECD 49

Bảng 2.2 Khung bộ chỉ số hiệu quả nguồn lực 50

Bảng 2.3 Nhóm chỉ số định tính hiệu quả bền vững doanh nghiệp 50

Bảng 2.4 Nhóm chỉ số định lượng hiệu quả bền vững doanh nghiệp 51

Bảng 2.5 Bình luận quy trình xây dựng chỉ số SXBV 53

Bảng 3.1 Thống kê dây chuyền, công suất 3 doanh nghiệp khảo sát 61

Bảng 3.2 Kế hoạch khảo sát 3 doanh nghiệp xi măng 63

Bảng 3.3 Danh sách phân xưởng, phòng ban thực hiện khảo sát 64

Bảng 4.1 Tổng hợp các nguồn dữ liệu chỉ số dựa trên căn cứ lý luận 74

Bảng 4.2 Chính sách chất lượng, môi trường doanh nghiệp SXXM 81

Bảng 4.3 Tổng hợp các nguồn dữ liệu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX 82

Bảng 4.4 Các chỉ số đánh giá TTX sau khi sàng lọc sơ bộ 84

Bảng 4.5 Các chỉ số còn lại sau bước sàng lọc và chuẩn hóa 86

Bảng 4.6 Bộ tiêu chí sơ bộ TTX doanh nghiệp SXXM 88

Bảng 4.7 Các câu hỏi phỏng vấn sâu doanh nghiệp SXXM 91

Bảng 4.8 Thống kê mô tả điểm số về sự cần thiết của 7 tiêu chí TTX 93

Bảng 4.9 Điểm trung bình sự phù hợp chỉ số với mục tiêu doanh nghiệp 94

Bảng 4.10 Tổng hợp kết quả phỏng vấn sâu từ 3 đơn vị SXXM 95

Bảng 4.11 Quyết định điều chỉnh, bổ sung các chỉ số từ kết quả khảo sát 99

Trang 15

Bảng 4.12 Bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX doanh nghiệp SXXM 101

Bảng 5.1 Kết quả chỉ số năng lượng và tài nguyên XM Hoàng Thạch 110

Bảng 5.2 Kết quả các chỉ số môi trường tự nhiên xi măng Hoàng Thạch 112

Bảng 5.3 Quan trắc khí thải và bụi khu vực xung quanh XM Hoàng Thạch 113

Bảng 5.4 Kết quả quan trắc khí thải và bụi bên trong XM Hoàng Thạch 114

Bảng 5.5 Quan trắc khí thải và bụi khu vực khai thác mỏ XM Hoàng Thạch 115

Bảng 5.6 Kết quả quan trắc tiếng ồn khu vực xung quanh XM Hoàng Thạch 116

Bảng 5.7 Kết quả quan trắc tiếng ồn khu vực bên trong XM Hoàng Thạch 117

Bảng 5.8 Kết quả quan trắc tiếng ồn khu vực khai thác mỏ XM Hoàng Thạch 118 Bảng 5.9 Kết quả đo lường khía cạnh kinh tế 120

Bảng 5.10 Kết quả đo lường khía cạnh lao động 120

Bảng 5.11 Kết quả đo lường khía cạnh sản phẩm và tái chế 120

Bảng 5.12 Kết quả đo lường khía cạnh chính sách 121

Bảng 5.13 Kết quả các chỉ số TTX của 3 công ty xi măng 122

Bảng 5.14 Bộ tiêu chí TTX thuộc nhóm 1 127

Bảng 6.1 Ma trận so sánh cặp các khía cạnh TTX từ ý kiến chuyên gia 139

Bảng 6.2 Ma trận chuẩn hóa và độ tin cậy của kết quả phương pháp AHP 140

Trang 16

i

i Sự cần thiết của đề tài

Tăng trưởng kinh tế góp phần giải quyết các vấn đề như giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống con người Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế dẫn tới việc khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; ô nhiễm nguồn nước, không khí và môi trường sống ảnh hưởng tới sức khỏe con người và dẫn tới phát triển kinh tế không bền vững [1] Đứng trước tình trạng đó, yêu cầu đặt ra đối với các bên liên quan cần giải quyết đồng thời về mặt lý luận và thực tiễn các vấn đề sau: (i) Khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách có hiệu quả; (ii) Sử dụng năng lượng hiệu quả, tái tạo năng lượng; (iii) Nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua việc sử dụng có hiệu quả yếu tố đầu vào; (iv) Bảo

vệ môi trường tự nhiên và môi trường sống, khôi phục bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Do đó, sự ra đời của tăng trưởng xanh (TTX) giúp các bên liên quan giải quyết đồng thời các vấn đề trên TTX được hiểu là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của con người [2]

Khái niệm TTX lần đầu tiên xuất hiện trong Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm về môi trường và phát triển (MCED) được thực hiện bởi UNESCAP (Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương) tại Hàn Quốc vào năm 2005 TTX là chiến lược, phương thức tăng trưởng kinh tế có chú trọng đến vấn đề khai thác tài nguyên và tác động đến môi trường Hiện nay, TTX đang nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà nghiên cứu và những người làm chính sách coi TTX được coi là phương thức hiệu quả hướng tới phát triển bền vững [3] Về cam kết quốc tế, Hội nghị quốc tế về khí hậu (Cop21-Paris năm 2015) thông qua thỏa thuận của 196 bên tham gia bắt buộc tất cả các nước cắt giảm lượng khí thải các bon với mục tiêu quan trọng nhất là giữ mức nhiệt độ tăng toàn cầu trong thế kỷ này dưới

2oC

Để làm sáng tỏ sự cần thiết của đề tài, luận án xem xét 4 khía cạnh sau:

Thứ nhất, cơ sở pháp lý tăng trưởng xanh Tại Việt Nam năm 2012, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đề cập đến các nhiệm vụ cụ thể như: Giảm cường độ phát thải khí nhà kính

và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sử dụng tiết kiệm và hiệu quả

Trang 17

ii

tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh [4] Tiếp sau đó năm 2014, Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số 403/QĐ-TTg về việc Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh bao gồm các hoạt động: tổ chức thí điểm mô hình TTX; triển khai thực hiện một số mô hình TTX; cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng [5] Đến năm 2017, Bộ Xây dựng ra Quyết định số 802/QĐ-BXD về Ban hành Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong công nghiệp xi măng với quan điểm phát triển ngành công nghiệp xi măng theo hướng TTX, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng, bảo vệ môi trường [6] Mục tiêu cụ thể, giảm 20 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020 và

164 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030 TTX tại Việt Nam đang được thực hiện đồng bộ ở các cấp Ở cấp địa phương, các Thành Phố/Tỉnh đã có kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược TTX của Thành phố/Tỉnh như Hà Nội [7], Hải Phòng [8], Thanh Hóa [9] Ở cấp ngành và doanh nghiệp đặc biệt là trong các ngành công nghiệp, các Bộ ngành chủ quản ban hành chương trình hành động của Bộ theo hướng TTX đồng thời chỉ đạo tới các doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo hướng TTX như QĐ965/QĐ-BTNMT [10], QĐ13443/QĐ-BCT [11], QĐ419/QĐ-BXD [12] Tính đến năm 2019 đã có 7 Bộ và 34 Tỉnh/Thành Phố ban hành chương trình hành động [13]

Thứ hai, đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh Thực tế cho thấy để đo lường, đánh giá giám sát TTX thì cần thiết phải có công cụ đánh giá Công cụ đánh giá TTX ở đây là

bộ tiêu chí đánh giá TTX Do đó, cần phải xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX Việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX phù hợp với nội dung Quyết định số 1393/QĐ-TTg/2012, trong đó Thủ tướng chính phủ nêu rõ các Bộ, sở ngành và các địa phương cần “Nghiên cứu, ban hành hệ thống các chỉ số, tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về tăng trưởng xanh

để quản trị trên phạm vi cả nước, ngành và địa phương”

Thứ ba, phát thải của ngành công nghiệp xi măng Các ngành công nghiệp là những ngành sử dụng nhiều tài nguyên, năng lượng và đóng góp lớn vào lượng phát thải khí nhà kính Theo báo cáo đánh giá các biện pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu năm 2014 tại Berlin (Đức), lượng phát thải khí nhà kính từ nguồn cung cấp năng lượng chiếm 40%, công nghiệp chiếm khoảng 30% [14] Tại Việt Nam năm 2014, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm

2035 thông qua Quyết định 879/QĐ-TTg ngày 09/06/2014 với quan điểm phát triển công nghiệp trên cơ sở TTX, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường và định hướng phát

Trang 18

iii

triển thân thiện môi trường, công nghiệp xanh [15] Trong những năm qua, ngành công nghiệp sản xuất Việt Nam đã có những bước phát triển ổn định góp phần phát triển đất nước Sự phát triển mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, giao thông, đô thị và các công trình lớn giai đoạn vừa qua đòi hỏi ngành công nghiệp xi măng phát triển để đáp ứng nhu cầu về xây dựng Tuy nhiên sự phát triển sự phát triển ngành xi măng cần tuân thủ Quyết định 1488/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030 Một trong các mục tiêu đó là phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam theo hướng tiết kiệm nguyên liệu, và tiêu hao năng lượng thấp; bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên [16] Việt Nam đứng thứ năm

về sản lượng SXXM, việc phát triển ngành công nghiệp xi măng cần được chú trọng Tuy nhiên, SXXM phát thải khí CO2, CO, NOx, SOx, bụi ảnh hưởng đến môi trường và dân

cư địa phương Lượng CO2 thải ra môi trường khi nung 1 tấn clinker khoảng gần 800 kg, bao gồm CO2 từ phân hủy đá vôi và từ đốt nhiên liệu than Khối lượng bụi thải ra cũng rất lớn nếu không có hệ thống lọc bụi chất lượng cao [17] Theo quy hoạch ngành xi măng thì năng lực sản xuất clinker và xi măng sẽ vẫn tiếp tục tăng, với mục tiêu khoảng 100 triệu tấn/năm vào 2020, tức là tăng tới gần 30% công suất so với năm 2015 [16] Mặt khác, việc phát triển ngành công nghiệp xi măng dẫn tới sự suy giảm tài nguyên khoáng sản đất nước, tiêu thụ nhiều năng lượng (theo nghiên cứu của dự án NAMA Cement do Quỹ Phát triển Bắc Âu tài trợ thì tiêu thụ năng lượng của ngành xi măng chiếm 8% tổng tiêu thụ của tất cả các ngành công nghiệp, trong đó tiêu dùng điện năng chiếm xấp xỉ 50% lượng tiêu dùng năng lượng này), ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, sức khỏe người lao động và dân cư địa phương Quá trình khai thác khoáng sản (đá vôi, quặng sắt, đất sét ) phục vụ cho SXXM ngày một nhiều dẫn tới ô nhiễm môi trường đặc biệt là khói bụi và lượng khí CO2 từ quá trình sản xuất gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sống Theo kết quả kiểm kê quốc gia khí nhà kính mới nhất, trong ngành xây dựng thì lượng phát thải tính theo CO2 tương đương thì ngành SXXM cũng đang đứng đầu với phát thải tổng cộng khoảng 36.6 triệu tấn CO2 tương đương từ việc đốt nhiên liệu để nung và lượng CO2

thoát ra từ phản ứng hóa học khi nung [18] Tóm lại, phát triển ngành xi măng là tốt cho việc phát triển chung của quốc gia nhưng vấn đề phát thải, suy giảm tài nguyên từ quá trình SXXM cũng cần phải được đặt lên hàng đầu

Trang 19

iv

Thứ tư, vấn đề về quản lý các doanh nghiệp sản xuất trong ngành xi măng Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp SXXM chưa thực sự chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường Nhiều nhà máy xi măng phát thải vượt ngưỡng cho phép các chất độc hại và khói bụi ra môi trường dẫn đến việc cơ quan chức năng có hình thức xử phạt, đình chỉ hoạt động điển hình như xi măng Phúc Sơn, Vạn Ninh, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng Tây Nguyên [17] Mặt khác, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 802/QĐ-BXD về định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng theo hướng TTX, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường với mục tiêu là giảm 20 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020 và

164 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030 [6] Đứng trên góc độ quản lý ngành xi măng là Bộ Xây dựng, cụ thể là Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường hay Vụ Vật liệu xây dựng trong việc quản lý các đơn vị xi măng thì việc đánh giá thực hiện TTX của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xi măng là rất cần thiết về mặt pháp lý trong bối cảnh phát triển ngành công nghiệp xi măng theo hướng TTX Việc đánh giá thực hiện TTX của các doanh nghiệp trong ngành xi măng theo hướng TTX chỉ có thể thực hiện thông qua bộ tiêu chí đánh giá TTX Do đó, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp là rất thiết trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, phát thải ô nhiễm từ quá trình sản xuất nhận được sự quan tâm lớn từ cơ quan quản lý và các bên hữu quan

Bốn khía cạnh bàn luận trên bao gồm: (1) Vấn đề về TTX nhận được sự quan tâm lớn của các quốc gia và những người làm chính sách, và giải quyết tốt bài toán về tăng trưởng kinh tế & môi trường đồng thời cũng là yêu cầu về mặt pháp lý là thực hiện chiến lược TTX quốc gia; (2) vấn đề về đánh giá TTX là cần phải có công cụ bộ tiêu chí để đánh giá, việc xây dựng bộ tiêu chí phù hợp với nhiệm vụ chiến lược quốc gia về TTX

và bộ tiêu chí cũng là cơ sở để giám sát việc thực hiện TTX của doanh nghiệp; (3) vấn

đề phát thải ngành công nghiệp cũng như ngành xi măng ngày càng lớn trong khi nhu cầu

xi măng ngày càng tăng; (4) vấn đề quản lý các doanh nghiệp SXXM khi mà các doanh nghiệp SXXM chưa chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường Do đó, việc “Xây dựng

bộ tiêu chí đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh ngành công nghiệp Việt Nam: Áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng” là thực sự cần thiết

Việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX mang lại những lợi ích nhất định đối với các doanh nghiệp, cơ quan quản lý ngành, các tổ chức môi trường, và các bên hữu quan

Trang 20

v

Đối với doanh nghiệp, bộ tiêu chí đánh giá TTX giúp đánh giá hiện trạng doanh nghiệp; tác động đến môi trường; so sánh với doanh nghiệp khác; cơ sở xác định mục tiêu TTX doanh nghiệp và giám sát hướng tới TTX; cơ sở để đánh giá và ra quyết định cải tiến TTX; theo dõi tiến độ thực hiện các hoạt động môi trường; truyền thông kết quả thực hiện hoạt động môi trường, thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội; công cụ để đưa

ra các chính sách liên quan đến môi trường Đối với cơ quan quản lý ngành, bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX giúp cơ quan quản lý kiểm soát việc thực hiện TTX các doanh nghiệp đồng thời đảm bảo các thông số phát thải của ngành đạt yêu cầu của các cơ quan quản lý Đối với các tổ chức môi trường, bộ tiêu chí TTX là cơ sở để giám sát kết quả việc thực hiện môi trường của doanh nghiệp; đánh giá mức độ thực hiện xanh ở doanh nghiệp Đối với tổ chức khác, bộ tiêu chí là công cụ nhận biết và phát triển các dịch vụ

hỗ trợ để đẩy mạnh hoạt động xanh; đánh giá xem dịch vụ của họ có giúp gì cho hoạt động TTX của doanh nghiệp

Hiện nay, số lượng các nhà máy/dây chuyền SXXM ở các nước phát triển trên thế giới ngày càng giảm; trong khi số lượng các doanh nghiệp sản xuất cũng như dây chuyền

xi măng ở Việt Nam ngày càng tăng do nhu cầu xây dựng của Việt Nam tăng cao để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Theo quy hoạch ngành xi măng, tổng công suất xi măng cả nước vẫn tiếp tục tăng trong tương lai Do đó, trong cả hiện tại và tương lai nhu cầu về bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX vẫn cần thiết do những lợi ích của bộ tiêu chí đánh giá TTX mang lại

Luận án đứng trên quan điểm của cơ quan quản lý ngành để đánh giá việc thực hiện TTX của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp Do đó, để xây dựng được bộ chỉ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX ngành công nghiệp, luận án lựa chọn cách tiếp cận từ phía doanh nghiệp trong ngành công nghiệp Việc lựa chọn cách tiếp cận từ doanh nghiệp

để xây dựng bộ tiêu chí TTX dựa trên một số quan điểm sau:

- Doanh nghiệp là phần tử cốt lõi cấu thành một ngành sản xuất công nghiệp, phát triển ngành theo hướng TTX không thể tách rời khỏi các doanh nghiệp TTX ngành

sẽ không đạt được khi các doanh nghiệp tăng trưởng mà không quan tâm đến môi trường Doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong, nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy TTX Thực hiện kế hoạch hành động TTX chỉ có Bộ/ngành thì sẽ không thực hiện được mà cần có sự nỗ lực, hỗ trợ từ phía doanh nghiệp Ngành công nghiệp xi

Trang 21

vi

măng như “điểm tựa”, doanh nghiệp xi măng như “đòn bẩy” để dịch chuyển ngành công nghiệp xi măng tới TTX và các doanh nghiệp trong ngành xi măng cần gắn kết tạo ra sự cộng hưởng bằng cách cùng nhau nỗ lực thực hiện mục tiêu của ngành công nghiệp xi măng

- Để các doanh nghiệp phát triển theo hướng TTX của ngành, cần có công cụ đo lường, đánh giá giám sát từ chính doanh nghiệp Kết quả thực hiện TTX của ngành phụ thuộc vào sự tham gia, hợp tác một cách tích cực của các doanh nghiệp Ngành công nghiệp xi măng cần có cơ chế, lộ trình thích hợp yêu cầu các doanh nghiệp tham gia đo lường, giám sát TTX bên trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp đóng vai trò chủ động và tích cực thực hiện TTX

- Vấn đề nhận thức sự cần thiết, lợi ích của TTX đối với doanh nghiệp đặc biệt quan trọng Doanh nghiệp sẽ không tham gia một cách tích cực, chủ động khi mục tiêu của ngành xi măng đạt được trong khi lợi ích của doanh nghiệp không đảm bảo Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX cần phản ánh những vấn đề trong quá trình sản xuất kinh doanh đồng thời đảm bảo mục tiêu về môi trường và của ngành đạt được Như vậy, việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX ngành công nghiệp và

áp dụng cho các doanh nghiệp SXXM xuất phát điểm từ doanh nghiệp theo cách tiếp cận

từ dưới lên là thiết thực và hoàn toàn hợp lý

ii Khoảng trống nghiên cứu

Cơ sở lý luận và các nghiên cứu về TTX đã có nhưng vẫn còn rất hạn chế, chủ yếu

về mặt chính sách Để xác định khoảng trống nghiên cứu, luận án xem xét tổng quan nghiên cứu về chỉ số TTX và quy trình xây dựng chỉ số:

- Về chỉ số tăng trưởng xanh:

Các nghiên cứu về chỉ số TTX không nhiều, chủ yếu là chỉ số bền vững Trên thế giới đã có nghiên cứu xây dựng chỉ số phát triển bền vững ở cấp vĩ mô [19] [20]; chỉ số bền vững chung cho các doanh nghiệp [21]; chỉ số bền vững cho các hệ thống năng lượng tái tạo [22]; chỉ số sản xuất bền vững [23] Tại Việt Nam, đã có các chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững cấp quốc gia và địa phương [24]; bộ chỉ số đánh giá thực hiện bền vững cấp tỉnh [25]; bộ chỉ số phát triển bền vững ngành Dầu khí [26] và ngành

Trang 22

vii

Than khoáng sản [27]; bộ chỉ số bền vững cấp doanh nghiệp [28] Về chỉ số TTX, trên thế giới chủ yếu có chỉ số TTX ở cấp quốc gia [29]; ở cấp doanh nghiệp đã có bộ chỉ số ngân hàng xanh [30]; bộ chỉ số đánh giá TTX đối với các doanh nghiệp tại JSC “Kryon” của Belarus [31] Tại Việt Nam, cũng đã có bộ chỉ số TTX cấp quốc gia cũng được xây dựng trên cơ sở bộ chỉ số TTX của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được rút gọn hơn để phù hợp với điều kiện Việt Nam [32] Ở cấp độ địa phương, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cũng đã có xây dựng bộ chỉ tiêu TTX [7]; bộ tiêu chí TTX quận nội thành TP Hồ Chí Minh [33] Hiện nay, nghiên cứu về bộ tiêu chí đánh giá TTX mới chỉ thực hiện ở cấp độ quốc gia, địa phương Ở cấp ngành, chỉ có bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của ngành Dầu khí và Than khoáng sản mà chưa có bộ tiêu chí TTX ở cấp ngành Ở cấp độ doanh nghiệp, đã có bộ chỉ số bền vững cấp doanh nghiệp, bộ chỉ số ngân hàng xanh và bộ chỉ số TTX của Vodop’yanova T P & Luk’yantseva T A (2016) [31] Tuy nhiên, bộ chỉ số bền vững cấp doanh nghiệp dùng chung cho các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau là ưu điểm nhưng cũng có nhược điểm là chỉ so sánh được những chỉ số chung chung mà không thể có những chỉ số cụ thể để so sánh các vấn đề cụ thể; bộ chỉ số TTX cấp doanh nghiệp của Vodop’yanova T P & Luk’yantseva T A (2016) đánh giá TTX các doanh nghiệp nhưng lại dựa trên bộ chỉ số TTX quốc gia của OECD, điều đó cho thấy việc đánh giá này chưa thực sự chính xác và phù hợp [29] Như vậy, đã

có bộ chỉ số ở cấp ngành nhưng là bộ chỉ số phát triển bền vững mà chưa có bộ tiêu chí đánh giá TTX ở cấp ngành đặc biệt là chưa có bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX ở cấp ngành công nghiệp cũng như doanh nghiệp trong ngành sản xuất công nghiệp cụ thể là trong các doanh nghiệp SXXM

- Về quy trình/phương pháp xây dựng chỉ số:

Trên thế giới, quy trình/phương pháp xây dựng chỉ số có thể kể đến như: quy trình xây dựng chỉ số bền vững cấp vĩ mô của Hartmut Bossel (1999) [19]; quy trình xây chỉ

số bền vững của Barry Dalal-Clayton & Stephen Bass (2002) [34]; quy trình xây dựng chỉ số bền vững cấp doanh nghiệp [21] Tại Việt Nam, hiện có quy trình xây dựng bộ tiêu chí bền vững cấp địa phương của Lê Trịnh Hải & Phạm Hoàng Hải (2014) dựa trên phương pháp Delphi với quá trình lấy ý kiến chuyên gia [23]; phương pháp Áp lực-Trạng Thái-Ứng phó (PSR) để xây dựng chỉ số phát triển bền vững ngành Than khoáng sản [27]; quy trình xây dựng bộ tiêu chí TTX áp dụng cho các quận ở TP Hồ Chí Minh [33]

Trang 23

viii

Như vậy, quy trình/phương pháp nghiên cứu không được thể hiện một cách rõ ràng ở các nghiên cứu xây dựng chỉ số trong từng trường hợp cụ thể Có rất ít các nghiên cứu cụ thể hóa phương pháp nghiên cứu xây dựng chỉ số hoặc chỉ đưa ra kết quả của bộ tiêu chí mà thiếu đi những cách thức thực hiện xây dựng chỉ số cũng như căn cứ xây dựng và nguyên tắc lựa chọn chỉ số Mặt khác, quy trình xây dựng cũng có nhiều điểm khác nhau, các bước xây dựng cũng không giống nhau ở mỗi trường hợp cụ thể như: quy trình xây dựng chỉ số TTX của Hồ Minh Dũng & cộng sự (2015) gồm 2 bước [31], quy trình xây dựng chỉ số bền vững của Hartmut Bossel (1999) bao gồm 4 bước [17]; quy trình xây dựng chỉ

số bền vững được thực hiện thông qua 8 bước [21] trong khi quy trình xây chỉ số bền vững của Barry Dalal-Clayton & Stephen Bass (2002) bao gồm 10 bước [32] Nghiên cứu của Lê Trịnh Hải & Phạm Hoàng Hải (2014) xây dựng chỉ số bền vững dựa trên phương pháp Delphi với quá trình lấy ý kiến chuyên gia theo các vòng đến khi đạt được

sự đồng thuận lớn nhất [23]

Tóm lại, xu thế hiện nay là TTX thay vì PTBV bởi vì PTBV là mục tiêu dài hạn trong tương lai xa và TTX là mục tiêu có thể đạt được trong tương lai gần đồng thời là phương thức để đạt được PTBV PTBV quan tâm đến cả vấn đề xã hội tuy nhiên để đạt được mục tiêu về xã hội sẽ ảnh hưởng lớn đến mục tiêu kinh tế của ngành/doanh nghiệp Như vậy, TTX phù hợp trong tương lai gần trước khi đạt được mục tiêu dài hạn –mục tiêu PTBV Mặt khác, nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí TTX mới chỉ thực hiện ở cấp vĩ

mô (quốc gia, địa phương), chưa được thực hiện bài bản và phù hợp ở cấp ngành hay doanh nghiệp cụ thể nào Bên cạnh đó, chưa có quy trình toàn diện mang tính hệ thống

để xây dựng bộ tiêu chí phản ánh các khía cạnh cụ thể TTX; tiêu chuẩn đánh giá chỉ số trong bộ tiêu chí chưa được tổng hợp cụ thể cho lĩnh vực TTX xem xét, phương pháp xây dựng chỉ số chưa được xây dựng một cách cụ thể và phù hợp Luận án dựa trên việc phát triển các tài liệu hiện có về chỉ số liên quan đến TTX để đề xuất quy trình xây dựng bộ tiêu chí TTX cho doanh nghiệp SXXM Quy trình đề xuất mang tính hệ thống cao, phù hợp với điều kiện doanh nghiệp SXXM Việt Nam và phương pháp nghiên cứu dựa trên những nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp Bộ tiêu chí TTX đề xuất cho phép đo lường đánh giá TTX các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xi măng Việt Nam Trên cơ sở đó

cơ quan quản lý giám sát việc thực hiện TTX của các doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của ngành, các doanh nghiệp biết được hiện trạng TTX và mức cải tiến TTX của

Trang 24

ix

mình và từ đó xác định ra các vấn đề và đưa ra các hoạt động thúc đẩy TTX Quá trình xây dựng bộ tiêu chí TTX của luận án mang tính kế thừa và phát triển, cụ thể trong quá trình thực hiện thực tế luôn cập nhật, điều chỉnh phương thức đo lường, đơn vị đo lường giúp hoàn thiện bộ tiêu chí Kết quả của luận án là tiền đề cho nghiên cứu khác trong tương lai khai phá tính hữu dụng của phương pháp xây dựng bộ tiêu chí TTX cấp doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp khác

iii Mục đích và câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục đích đó, đề tài cần đạt được một số mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về TTX

- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện TTX ngành xi măng Việt Nam

- Áp dụng cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng bộ tiêu chí

- Đánh giá kiểm chứng để hoàn thiện bộ tiêu chí

Câu hỏi nghiên cứu: “Bộ tiêu chí cần phải có những tiêu chí nào để có thể đánh giá toàn diện về tăng trưởng xanh cho doanh nghiệp sản xuất xi măng?”

Từ câu hỏi nghiên cứu chính của luận án dẫn tới một số câu hỏi cụ thể liên quan đến xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX

- Thế nào là TTX, mối quan hệ với phát triển bền vững?

- Các chỉ số liên quan đến TTX hiện có?

- Trên thế giới có những nghiên cứu xây dựng bộ chỉ như thế nào? Các quy trình phổ biến xây dựng chỉ số liên quan đến TTX? Hạn chế của các nghiên cứu xây dựng chỉ

số đó là gì, cần điều chỉnh như thế nào?

- Đánh giá TTX trong ngành công nghiệp bao gồm các tiêu chí/khía cạnh nào?

Trang 25

x

- Căn cứ để xây dựng bộ tiêu chí là gì?

- Các đặc trưng doanh nghiệp SXXM?

- Phương pháp xây dựng và sử dụng bộ tiêu chí?

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đó, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tổng hợp lý thuyết liên quan đến TTX, các chỉ số đánh giá phát triển bền vững, TTX, và các chỉ số liên quan đến TTX

- Tổng hợp quy trình xây dựng chỉ số đánh giá, các phương pháp, kỹ thuật sử dụng

hỗ trợ xây dựng chỉ số đánh giá TTX

- Đề xuất quy trình xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX cho doanh nghiệp SXXM

- Áp dụng xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX cho doanh nghiệp SXXM

- Xác định các căn cứ xây dựng bộ tiêu chí đánh TTX cho doanh nghiệp SXXM

- Soạn thảo, sàng lọc và rà soát các chỉ số

- Đo lường bộ tiêu chí TTX thực tế tại một số doanh nghiệp SXXM Việt Nam

- Đề xuất một số kiến nghị giúp thúc đẩy TTX của các doanh nghiệp trong doanh nghiệp SXXM

iv Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, thực tiễn về tăng trưởng xanh và đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh cho ngành công nghiệp của Việt Nam (áp dụng cho các doanh nghiệp SXXM) Luận án tiếp cận theo hướng từ dưới lên, tức là tiếp cận từ các doanh nghiệp SXXM trong ngành

xi măng để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX

- Khách thể nghiên cứu và đối tượng khảo sát của luận án là một số doanh nghiệp SXXM tại Việt Nam thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam Cụ thể, trong mỗi doanh nghiệp lựa chọn 10 ứng viên là cán bộ quản lý chủ chốt tại các Phân xưởng sản xuất chính và Phòng ban chính được tuyển chọn để khảo sát Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian, luận án đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh cho ngành công nghiệp xi măng của Việt Nam Phạm vi thu thập dữ liệu gồm

Trang 26

- Về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu các lý luận TTX, tiêu chí/chỉ số đánh giá liên quan đến TTX; các phương pháp, quy trình xây dựng chỉ số, quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành xi măng ở Việt Nam

v Phương pháp nghiên cứu

Để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm các phương pháp nghiên cứu sau: (1) Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp; (2) Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc; (3) Phương pháp khảo sát thông qua bản hỏi; và (4) Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: sử dụng để thu thập các nghiên cứu đã có trên thế giới và ở Việt Nam về TTX, về chỉ số đánh giá và phương pháp/quy trình xây dựng chỉ số đánh giá

- Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc: sử dụng bản câu hỏi phỏng vấn sâu (liên quan chủ yếu đến các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất và các chất phát thải

ra ngoài môi trường) được thiết kế sẵn để thu thập dữ liệu sơ cấp Dữ liệu thu thập phục vụ cho xây dựng bộ tiêu chí được khảo sát từ những cán bộ giữ vị trí chủ chốt trong các Phân xưởng, Phòng ban trong một số doanh nghiệp SXXM điển hình

- Phương pháp khảo sát: thông qua phiếu khảo sát được thiết kế để thực hiện khảo sát tại các doanh nghiệp Phiếu khảo sát liên quan đến việc đánh giá cho điểm về sự cần thiết của các tiêu chí đánh giá TTX và các tiêu chuẩn đánh giá từng chỉ số trong mỗi tiêu chí thông qua các tiêu chuẩn đánh giá chỉ số được xác định sẵn Người trả lời là các cán bộ giữ vị trí chủ chốt trong các phân xưởng sản xuất chính và một số phòng ban tại các doanh nghiệp SXXM Ngoài ra, người trả lời cũng có thể bổ sung các chỉ số nếu thấy cần và cho điểm số đánh giá chỉ số đó theo các tiêu chuẩn Phương pháp khảo sát được thực hiện kết hợp với phỏng vấn sâu để bổ trợ cho việc xác định các chỉ số bổ sung của người trả lời

Trang 27

xii

- Phương pháp phân tích tổng hợp: dựa trên dữ liệu thu thập từ khảo sát và phỏng vấn sâu, tác giả phân tích tổng hợp số liệu phục vụ cho việc quyết định xem giữ lại chỉ

số nào và bổ sung thêm chỉ số nào từ kết quả phỏng vấn

vi Những đóng góp mới của đề tài

Luận án có những đóng góp mới về mặt học thuật bổ sung vào hệ thống lý luận về TTX, quy trình xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TTX không chỉ riêng cho doanh nghiệp SXXM mà còn có thể áp dụng cho các ngành công nghiệp/doanh nghiệp sản xuất công nghiệp khác Luận án tạo ra giá trị nhất định trong việc đưa ra quy trình toàn diện, mang tính hệ thống để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá đánh giá TTX cho các doanh nghiệp trong ngành xi măng Một số đóng góp mới của luận án về khoa học và thực tiễn bao gồm: Thứ nhất, luận án đề xuất quy trình toàn diện để xây dựng bộ tiêu chí TTX dựa trên việc hoàn thiện bổ sung, điều chỉnh từ những quy trình đã có trên thế giới Trong quy trình mới này có một số điểm mới như: nguồn dữ liệu được xác định một cách đầy đủ, cụ thể và chi tiết đảm bảo hạn chế việc bỏ sót nguồn dữ liệu quan trọng; cấu trúc bộ tiêu chí được xác định từ đầu và trước khi lấy ý kiến đánh giá từ doanh nghiệp (bao gồm 7 tiêu chí đánh giá tương đương 7 khía cạnh); các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ số được phân tích và lựa chọn kỹ càng đảm bảo cho việc xác định những chỉ số phù hợp nhất Phương pháp thu thập dữ liệu rõ ràng, lựa chọn đối tượng khảo sát phù hợp, cách tiếp cận hợp lý Thứ hai, luận án xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện TTX cho doanh nghiệp SXXM lần đầu tiên ở Việt Nam và trên thế giới Bộ tiêu chí có tính phù hợp và khả thi thông qua ý kiến đóng góp, đánh giá thực tế từ các doanh nghiệp xi măng Bộ tiêu chí cũng được doanh nghiệp phản hồi tích cực về tính phù hợp và khả năng ứng dụng trong tương lai Bộ tiêu chí thực hiện TTX doanh nghiệp SXXM là công cụ để cơ quan quản lý đánh giá việc thực hiện TTX của các doanh nghiệp SXXM đồng thời doanh nghiệp cũng biết được hiện trạng TTX của doanh nghiệp để có phương hướng tìm ra các giải pháp cải tiến thúc đẩy TTX trong doanh nghiệp

Thứ ba, luận án đã áp dụng đo lường bộ tiêu chí TTX tại 3 doanh nghiệp SXXM để kiểm chứng khả năng áp dụng cũng như có cái nhìn về hiện trạng TTX của doanh nghiệp Kết quả đo lường là cơ sở cho doanh nghiệp cải tiến hiện trạng cũng như phục vụ công

Trang 28

xiii

tác cho quản lý ngành xi măng, đáp ứng mục tiêu kế hoạch ngành xi măng đồng thời góp phần đạt mục tiêu của chiến lược TTX quốc gia do Thủ tướng chính phủ ban hành Thứ tư, luận án đưa ra một số kiến nghị đối với cơ quan nhà nước cũng như doanh nghiệp và đề xuất lộ trình áp dụng thực tế các chỉ số đánh giá TTX tại các doanh nghiệp, giúp quá trình triển khai đo lường, đánh giá một cách khách quan và chính xác để các bên liên quan biết được hiện trạng thực hiện và mức độ cải tiến TTX của doanh nghiệp Thứ năm, luận án mở ra hướng cho những nghiên cứu khác trong tương lai trong các ngành công nghiệp khác Luận án cũng đề xuất phương thức xác định tầm quan trọng của các tiêu chí/chỉ số trong bộ tiêu chí TTX thông qua việc xác định trọng số của 7 tiêu chí bằng phương pháp khảo sát khảo sát chuyên gia kết hợp phép phân tích thứ bậc AHP Trọng số được xác định là tiền đề để đánh giá cho điểm xếp hạng TTX của các doanh nghiệp

vii Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 5 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tăng trưởng xanh Chương này sẽ trình bày tổng quan về TTX; chính sách và chiến lược TTX, TTX trong ngành công nghiệp Việt Nam Trên cơ sở đó đưa ra bình luận cơ sở lý luận về TTX và thực trạng về TTX trong ngành công nghiệp xi măng

Chương 2: Tổng quan về tiêu chí đánh giá liên quan đến tăng trưởng xanh Chương này sẽ trình bày tổng quan về chỉ số, tổng quan về phương pháp và quy trình xây dựng chỉ số, các chỉ số đánh giá liên quan đến TTX hiện có, Trên cơ sở đó, tác giả bình luận các vấn đề về chỉ số

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu của luận án Chương này đề cập về phương pháp nghiên cứu và quy trình xây dựng bộ tiêu chí thực hiện TTX cho doanh nghiệp SXXM Việt Nam Luận án cũng bàn luận điểm mới về phương pháp, quy trình xây dựng chỉ số của luận so với các công trình nghiên cứu khác

Chương 4: Xây dựng bộ tiêu chí thực hiện tăng trưởng xanh cho doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam Chương này sẽ triển khai xây dựng các chỉ số đánh giá thực hiện TTX cụ thể doanh nghiệp SXXM Việt Nam Sau đó, tác giả bàn luận về khó khăn khi xây dựng bộ tiêu chí

Trang 29

xiv

Chương 5: Áp dụng bộ tiêu chí thực hiện tăng trưởng xanh tại một số doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam Chương này đo lường thực tế kết quả chỉ số TTX tại 3 doanh nghiệp SXXM là Bút Sơn, Hoàng Mai và Hoàng Thạch; qua đó thấy được khả năng ứng dụng bộ tiêu chí và xác định điều kiện triển khai bộ tiêu chí thành công

Trang 30

1.1 Tổng quan về tăng trưởng xanh

1.1.1 Các khái niệm chung

1.1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Thuật ngữ “phát triển bền vững” (Sustainable Development) lần đầu tiên được nhắc đến trong “chiến lược bảo tồn thế giới” năm 1980 [35] Chiến lược này thúc dục các nước soạn thảo chiến lược bảo tồn của mỗi quốc gia với ba mục tiêu chính: (1) duy trì những

hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ cho sự sống; (2) bảo tồn tính đa dạng di truyền;

và (3) bảo đảm sử dụng một cách bền vững các loài và các hệ sinh thái Khái niệm “phát triển bền vững” lần đầu được đưa ra trong Báo cáo Brundtland năm 1987 [36] và được xác định là phương thức hoạch định chiến lược phát triển lâu dài Những nguyên tắc cơ bản và chương trình hành động vì sự PTBV được chỉ ra trong Chương trình nghị sự 21 [37] tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Rio de Janeiro; kể từ đó PTBV đã trở thành chiến lược phát triển toàn cầu trong thế kỷ XXI Phát triển bền vững là sự phát triển đảm bảo rằng PTBV đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các thế hệ tương lai [36] PTBV được hiểu là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường [26]

Ở cấp độ doanh nghiệp, bền vững doanh nghiệp là việc công ty phân tích và quản

lý các tác động của các hoạt động môi trường và xã hội về khả năng cạnh tranh và thành công kinh tế của một công ty, hoặc là việc phân tích và quản lý những tác động xã hội và môi trường của các hoạt động kinh doanh [38]

1.1.1.2 Khái niệm tăng trưởng xanh

Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa TTX Khái niệm TTX được nhiều

tổ chức đưa ra Một số định nghĩa điển hình về TTX như Bảng 1.1:

Trang 31

2

Bảng 1.1 Tổng hợp các định nghĩa về TTX

1 TTX là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm

bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài

nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của con

người

OECD (2011) [2]

2 TTX là tăng trưởng kinh tế mà vẫn bền vững môi trường và hiệu

quả trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên, tối thiểu hóa ô

nhiễm và tác động tới môi trường, khôi phục những rủi ro thiên

tai và vai trò của quản lý môi trường và vốn tự nhiên trong việc

ngăn chặn những thiên tai

World Bank (2012) [3]

3 Nền kinh tế xanh/TTX là nền kinh tế đạt được các kết quả trong

việc cải thiện phúc lợi con người và công bằng xã hội, đồng thời

giảm đáng kể những rủi ro môi trường và sự khan hiếm sinh thái

UNEP (2011) [39]

4 TTX là chiến lược tìm kiếm sự tối đa hoá trong sản lượng kinh

tế và tối thiểu hoá gánh nặng sinh thái Cách tiếp cận mới tìm

kiếm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi

trường bằng việc thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong sản xuất

và tiêu dùng xã hội (UNESCAP)

Phạm Thị Xuân Mai (2012) [40]

5 TTX là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng

trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh,

nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua

việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ

thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên

thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi

khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế một cách bền vững (Việt Nam)

Nguyễn Văn Phước (2015) [41]

Nguồn: tác giả tổng hợp

Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng định nghĩa TTX của OECD, WB, UNESCAP nhấn mạnh theo bền vững ở khía cạnh kinh tế và môi trường nhưng không đề cập đến khía cạnh xã hội của PTBV Theo OECD và WB tăng trưởng xanh không thay thế PTBV, mà là một phần của PTBV UNEP có quan điểm khác về TTX là đề cập đến

Trang 32

3

phúc lợi con người và công bằng xã hội Mặc dù các tổ chức định nghĩa TTX khác nhau, tuy nhiên các tổ chức đều xem TTX là một chiến lược quan trọng để đạt được PTBV 1.1.1.3 Một số thuật ngữ liên quan

Mô hình kinh doanh xanh là mô hình kinh doanh khuyến khích sự phát triển của sản phẩm dịch vụ (các hệ thống) mang lại lợi ích về môi trường, giảm sử dụng nguồn lực và chất thải và khả thi về mặt kinh tế [42] Mô hình kinh doanh xanh có sự cải tiến đáng kể trong việc cải thiện môi trường liên quan đến toàn bộ hệ thống chuỗi giá trị so với mô hình kinh doanh truyền thống Sự cải tiến này liên quan trực tiếp đến mô hình kinh doanh thông qua thiết kế và định hình lại các yếu tố của mô hình kinh doanh [38] Điểm khác biệt của mô hình kinh doanh xanh so với mô hình kinh doanh truyền thống là việc tạo ra lợi ích về kinh tế và môi trường cho cả nhà cung cấp và khách hàng và mô hình kinh doanh xanh có tác động đến môi trường thấp hơn mô hình kinh doanh truyền thống Các

mô hình kinh doanh xanh có thể chia làm hai loại chính [43]: mô hình dịch vụ là mô hình kinh doanh mà thu nhập của công ty xuất phát từ việc thực hiện các dịch vụ về tiết kiệm

Mô hình vòng đời là mô hình kinh doanh mà thu nhập của công ty nhận được thông qua việc quản lý tốt vòng đời của sản phẩm dịch vụ Theo Jing H & Jiang B.S (2013) [44] mô hình kinh doanh xanh gồm 4 khía cạnh: logic cốt lõi; 2 sự chuyển đổi; 3 trụ cột (kinh tế, môi trường và lợi ích xã hội); và 4 giao diện

Công nghệ xanh là công nghệ phát triển, áp dụng sản phẩm, trang bị và những hệ thống được dùng để bảo tồn môi trường và tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động của con người [4]

Công trình xanh là công trình đạt được hiệu quả cao trong sử dụng năng lượng và vật liệu, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường; đồng thời được thiết kế để có thể hạn chế tối đa những tác động không tốt của môi trường xây dựng tới sức khỏe con người

và môi trường tự nhiên [4]

Sản phẩm xanh là không độc hại, sử dụng năng lượng và nước hiệu quả, và vô hại đối với môi trường [4]

Việc làm xanh là những công việc trong nông nghiệp, sản xuất, nghiên cứu và phát triển, hoạt động hành chính, và dịch vụ đóng góp đáng kể để bảo tồn, khôi phục lại chất lượng môi trường [4]

Trang 33

4

Sản xuất xanh được định nghĩa bởi nhiều tác giả, những định nghĩa tuy có những điểm chung nhưng có một số điểm khác nhau từ định nghĩa này qua định nghĩa khác Một

số định nghĩa về sản xuất xanh được chỉ ra trong Bảng 1.2:

Bảng 1.2 Tổng hợp định nghĩa sản xuất xanh

Hệ thống tích hợp thiết kế quá trình và sản phẩm về kiểm

soát và lập kế hoạch sản xuất để xác định, định lượng, đánh

giá và quản lý dòng chất thải ra môi trường với mục tiêu

giảm và tối thiểu tác động môi trường đồng thời tối đa hóa

hiệu quả nguồn lực

Melnyk S A & Smith R T (1996) [45]

Sản xuất với mục đích cộng sinh với môi trường toàn cầu Shiino J (1999) [46]

Mô hình sản xuất nâng cao để thực hiện sản xuất bền vững

của các ngành công nghiệp

Yang Yinsheng & cộng sự (2003) [47]

Sự giao thoa giữa phát triển sản phẩm và thực tiễn sản xuất

với các vấn đề về môi trường và các vấn đề quan tâm khác

Sangwan Kuldip Singh (2006) [48]

Phương thức sản xuất được thiết kế để tối thiểu hóa tác động

môi trường trong các quá trình sản xuất các sản phẩm

Chien M & Shih Li-Hsing (2007) [49]

Việc áp dụng khoa học bền vững vào công nghiệp sản xuất Zhang H & Wang X (2005) [50] Phương thức sản xuất hiện đại xem xét cả tác động môi

trường và tiêu dùng nguồn lực trong toàn bộ vòng đời sản

phẩm, từ thiết kế, sản xuất, đóng gói, vận tải, sử dụng, tái

chế, loại bỏ chất thải, và mục tiêu của nó là tối thiểu hóa các

tác động tiêu cực môi trường và tối đa hóa tỉ lệ sử dụng của

nguồn lực, và tối đa hóa một cách hài hòa giữa lợi ích kinh

tế và lợi ích xã hội với lợi ích tổng hợp tối đa

Liu H & cộng sự (2005) [51]

Sự hiện thân của chiến lược SXBV và phương thức sản xuất

chu kỳ trong sản xuất hiện đại

Fei Liu & cộng sự (2005) [52]

Thực hiện cam kết toàn diện để thực hiện lành mạnh về mặt

môi trường trong toàn bộ quy trình sản xuất

Polcari M R (2007) [53]

Giảm hoặc loại bỏ bất kỳ tác động tiêu cực về môi trường

bởi các cơ sở của một công ty

Sutor L (2007) [54]

Trang 34

5

Thiết kế và thương mại hóa các quá trình và sản phẩm khả

thi và kinh tế đồng thời tối thiểu hóa phát thải ô nhiễm và rủi

ro tới sức khỏe con người và môi trường

Industrial Engineer (2007) [55]

Phương thức sản xuất hiện đại xem xét tiêu dùng nguồn lực

và tác động môi trường

Sản xuất bền vững tạo ra các hàng hóa bằng cách sử dụng

các quá trình và các hệ thống không ô nhiễm, bảo tồn năng

lượng và nguồn lực tự nhiên theo phương thức khả thi, an

toàn và sức khỏe đối với người lao động, cộng đồng, và

người tiêu dùng và phần thưởng xã hội, sáng tạo cho tất cả

các chủ sở hữu trong ngắn hạn và tương lai dài hạn

Yan He & cộng sự (2007) [56]

Peter Glavič & Rebeka Lukman (2007) [57]

Sản xuất xanh là việc áp dụng các thực tiễn nhạy cảm về môi

trường và xã hội để giảm tác động tiêu cực các hoạt động

sản xuất, hài hoà việc theo đuổi các lợi ích kinh tế

Tim Baines & cộng sự (2012) [58]

Nguồn: tổng hợp từ Tim Baines & cộng sự (2012) [58]

Qua định nghĩa trên có thể thấy sản xuất xanh bao gồm việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực, bảo tồn năng lượng và tài nguyên, giảm nguồn chất thải (như tối thiểu hóa cũng như ngăn ngừa chất thải hoặc ô nhiễm), tái chế, an toàn và sức khỏe đối với người lao động và người tiêu dùng, và thiết kế sản phẩm xanh Hiệu quả nguồn lực là việc sử dụng các nguồn lực đầu vào một cách tiết kiệm và năng suất Giảm nguồn chất thải là bất

kỳ hoạt động nào giảm chất thải tạo ra Tái chế bao gồm sử dụng hoặc sử dụng lại các chất thải như là các thành phần trong một quá trình hoặc như một sự thay thế hiệu quả cho một sản phẩm thương mại, hoặc thu hồi chất thải này tới quá trình ban đầu tạo ra nó như là sự thay thế cho nguyên vật liệu thô An toàn và sức khỏe là việc sản xuất yêu cầu phải tránh gây chấn thương hoặc tổn hại sức khỏe, tính mạng cho người lao động đồng thời đảm bảo an toàn cho người sử dụng sản phẩm Thiết kế sản phẩm xanh liên quan đến việc tạo ra các sản phẩm được thiết kế, sử dụng tối thiểu hóa các tác động môi trường thông qua vòng đời của sản phẩm [59]

1.1.2 Nguồn gốc của tăng trưởng xanh

TTX không bắt nguồn từ lý thuyết kinh tế mà là một tầm nhìn được đưa ra bởi các nhà hoạch định chính sách trong nỗ lực để tìm ra phương thức vừa tăng trưởng kinh tế vừa đảm bảo môi trường vẫn bền vững [60] TTX là khái niệm chính sách có nguồn gốc

Trang 35

6

từ Khu vực Châu Á Thái Bình Dương Khái niệm TTX lần đầu tiên xuất hiện trong Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm về môi trường và phát triển (MCED) được thực hiện bởi UNESCAP (Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc) tại Hàn Quốc vào năm 2005 Hội nghị này tập trung vào sự bền vững môi trường và tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng kinh tế bền vững về môi trường được gọi là “tăng trưởng xanh” Năm 2008, Hàn Quốc thông qua tầm nhìn phát triển quốc gia “Tăng trưởng xanh các bon thấp”, Chiến lược quốc gia về TTX và kế hoạch 5 năm TTX Năm 2010, Hàn Quốc ban hành khung TTX các bon thấp Kể từ đó, Hàn Quốc thúc đẩy khái niệm TTX rộng rãi hơn Hàn Quốc đóng góp lớn trong việc thiết lập Viện TTX toàn cầu (GGGI) có trụ sở tại Seoul và có vai trò tiên phong, khuếch tán mô hình mới về tăng trưởng kinh tế trong phát triển đất nước (tăng trưởng xanh), đồng thời hướng vào khía cạnh quan trọng của các hoạt động kinh tế như xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và hòa nhập xã hội, và những khía cạnh bền vững môi trường như giảm biến đổi khí hậu và suy giảm dạng sinh học và bảo đảm tiếp cận năng lượng và nước sạch

Các tổ chức quốc tế khác cũng đóng góp đáng kể vào việc phổ biến của các khái niệm TTX Tại Hội nghị hội đồng Bộ trưởng Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) tháng 6 năm 2009, 30 nước OECD và 5 nước thành viên tương lai thông qua tuyên bố về TTX, cho rằng xanh và tăng trưởng có thể cùng đạt được, và giao cho OECD phát triển chiến lược TTX Từ đó, OECD đã trở thành một tổ chức chuyên trách về TTX OECD đã ban hành một số nghiên cứu, điển hình như “Hướng tới Tăng trưởng xanh” [2] trong đó thảo luận về khung chính sách và các khía cạnh đo lường

Nhóm quốc gia có nền công nghiệp hàng đầu thế giới (G8) và nhóm các nền kinh

tế lớn (G20) cũng cam kết sự hỗ trợ cho TTX Trong công bố của G8 có nói rằng “những thách thức liên quan tới biến đổi khí hậu, bảo tồn năng lượng và sử dụng bền vững và hiệu quả các nguồn năng lượng tự nhiên nằm trong những vấn đề quan trọng nhất cần được giải quyết trong bối cảnh chiến lược về đảm bảo tính bền vững toàn cầu Sự thay đổi theo hướng TTX sẽ cho đóng góp quan trọng vào sự phục hồi khủng hoảng kinh tế và tài chính” Trong tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh các lãnh đạo G20 cho rằng “TTX bền vững, vốn là một phần của PTBV, là một chiến lược phát triển chất lượng, cho phép các nước bỏ qua những công nghệ cũ trong nhiều lĩnh vực bao gồm cả việc thông qua sử dụng hiệu quả năng lượng và công nghệ sạch”

Trang 36

7

Năm 2011, UNEP đã đưa ra báo cáo, “Hướng tới nền kinh tế xanh: Con đường tới Phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” Nền kinh tế xanh trong bối cảnh PTBV và xóa đói giảm nghèo là một trong hai chủ đề của Hội nghị Liên Hợp Quốc về PTBV (Rio+20) Năm 2012, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra báo cáo về TTX, Tăng trưởng xanh: Con đường tới Phát triển bền vững Cùng năm đó, UNESCAP và KOICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc) xây dựng quan điểm về TTX trong báo cáo “Lộ trình Tăng trưởng xanh các bon thấp Khu vực Châu Á Thái Bình Dương: Biến những ràng buộc về nguồn lực và rủi ro khí hậu thành các cơ hội trăng trưởng kinh tế” UNESCAP, ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á) và UNEP (Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc) cũng phối hợp thực hiện báo cáo về TTX khu vực châu Á Thái Bình Dương, Tăng trưởng xanh, nguồn lực, và sự phục hồi: Bền vững môi trường Châu Á Thái Bình Dương” Năm 2012, GGGI, UNEP, OECD và WB phối hợp thực hiện Diễn đàn kiến thức về TTX (GGKP), một mạng lưới toàn cầu của các tổ chức và các chuyên gia quốc tế để xác định

và giải quyết những khoảng trống kiến thức về lý thuyết và ứng dụng TTX… cung cấp cho học viên và các nhà xây dựng chính sách những hướng dẫn chính sách, thực tiễn tốt, các công cụ và dữ liệu cần thiết để hỗ trợ quá trình chuyển đổi tới nền kinh tế xanh Năm

2013, ADB và ADBI (Viện Ngân hàng Phát triển châu Á) phối hợp xuất bản báo cáo TTX, Tăng trưởng xanh các bon thấp ở Châu Á: Các chính sách và thực tiễn

1.1.3 Sự cần thiết và lợi ích của tăng trưởng xanh

TTX là rất cần thiết, thể hiện qua việc các quốc gia thuộc OECD đều ban hành chiến lược TTX quốc gia của họ Chiến lược TTX đặc biệt cần thiết trong bối cảnh thế giới đối mặt với hai thách thức song hành đó là mở rộng các cơ hội kinh tế dẫn tới ô nhiễm toàn cầu tăng, và những áp lực môi trường nếu không có định hướng có thể làm giảm khả năng nắm bắt các cơ hội kinh tế đó Chiến lược TTX là cần thiết bởi vì [2]:

- Những tác động của hoạt động kinh tế lên hệ thống môi trường đang tạo ra sự mất cân bằng, đặt tăng trưởng và phát triển kinh tế vào rủi ro Những nỗ lực hướng đến thay đổi khí hậu và mất mát sinh học cần hướng theo những rủi ro đó Chiến lược TTX duy trì sự cân bằng kinh tế và môi trường; làm chậm biến đổi khí hậu và giảm mất mát sinh học

Trang 37

8

- Vốn tự nhiên gồm dự trữ nguồn lực tự nhiên, đất và hệ sinh thái thường không được trú trọng và không được quản lý Chiến lược TTX quản lý nguồn lực tự nhiên và duy trì hệ sinh thái

- Việc thiếu chiến lược toàn diện giải quyết các vấn đề về kinh tế và môi trường dẫn đến sự thiếu chắc chắn, ngăn cản đầu tư và đổi mới, và như vậy có thể làm tăng trưởng và phát triển kinh tế chậm lại Chiến lược TTX thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế và giảm thiểu tác động tới môi trường và hệ sinh thái

Chiến lược TTX sẽ đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giảm thiểu tác động đến môi trường và hệ sinh thái; tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư đổi mới Chính sách TTX

ở các quốc gia khác nhau tùy thuộc vào môi trường, điều kiện kinh tế, thiết lập thể chế,

và giai đoạn phát triển Tuy nhiên khung chính sách TTX của mỗi quốc gia cần: (i) tích hợp tài nguyên thiên nhiên dựa vào các động thái và quyết định hướng tới tăng trưởng; (ii) phát triển phương thức thưởng phạt về kinh tế nhằm phản ánh đầy đủ hơn giá trị của tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế; (iii) tập trung vào các khía cạnh củng cố nền kinh

tế và chính sách môi trường [2] Chiến lược TTX có những lợi ích ở khía cạnh: (1) lợi ích kinh tế thu được từ việc loại bỏ sự thiếu hiệu quả trong việc sử dụng và quản lý vốn

tự nhiên (2) Những hoạt động kích thích tăng trưởng, nguồn tăng trưởng và việc làm mới

từ sự đổi mới và sự xuất hiện của thị trường và các hoạt động TTX

1.1.4 Mối quan hệ với phát triển bền vững

Hiện nay vẫn có sự thiếu rành mạch giữa TTX và PTBV Xét về trình tự thời gian PTBV xuất hiện trước, TTX xuất hiện sau Điều đó được thể hiện trong khái niệm PTBV được đưa ra bởi Ủy ban Brundland trong báo cáo Hội nghị thế giới về Môi trường và Phát triển [36]; trong khi đó khái niệm TTX được đưa ra lần đầu bởi OECD vào năm

2011 Xét về mục tiêu, TTX và PTBV có mục tiêu giống nhau như PTBV và xóa đói giảm nghèo [61] TTX và PTBV có cùng mục tiêu là bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nên đôi khi TTX và PTBV được xem là như nhau Mục tiêu của TTX và PTBV có thể tương

tự nhau, nhưng cũng có một vài điểm khác biệt Để thấy rõ mối quan hệ giữa TTX và PTBV, thực hiện so sánh chương trình khung PTBV (Hình 1.1) và chương trình khung TTX (Hình 1.2); sau đó tích hợp khung khái niệm TTX và PTBV (Hình 1.3)

Trang 38

9

Hình 1.1 Chương trình khung PTBV

Nguồn: Smits J P & Hoekstra R (2011) [62]

Hình 1.2 Chương trình khung TTX của OECD

Nguồn: OECD (2011) [2]

Hình 1.3 Tích hợp mối quan hệ PTBV và TTX

Nguồn: Statistics Netherlands (2013) [63]

Trang 39

10

Hình 1.3 cho thấy về đo lường khái niệm cũng như quan điểm định hướng chính sách thì PTBV rộng lớn hơn Theo Hình 1.3, vùng (1) PTBV như theo đuổi phúc lợi ở hiện tại và trong tương lai (bao gồm vốn con người, xã hội, kinh tế); vùng (2) một phần TTX trùng với PTBV, nhưng cũng tập trung cụ thể vào các vấn đề nhất định mà không hướng sang những vấn đề khác Vùng (3), cho thấy rằng TTX có thể được xem như là một phần của PTBV

PTBV hướng đến việc xác định “trạng thái quốc gia”, PTBV có cái nhìn tổng quan các chính sách thông qua phân loại chủ đề PTBV có sự tập trung vào phát triển dài hạn thông qua khía cạnh dự trữ vốn TTX có phạm vi hẹp hơn, tập trung chủ yếu vào mối quan hệ giữa môi trường và kinh tế TTX chủ yếu xem xét các đòn bẩy chính sách ngắn hạn và các cơ hội kinh tế từ nền kinh tế TTX TTX tập trung vào thời kỳ ngắn hạn hơn (5-20 năm) khi áp lực về môi trường thấp hơn tăng trưởng, còn PTBV tập trung vào thời

kỳ dài hạn hơn khi áp lực môi trường cao hơn Tóm lại, TTX có thể được xem như một phần của PTBV Có 3 khía cạnh trọng tâm mà TTX hướng tới bao gồm:

 Hiệu quả môi trường và nguồn lực

 Các phản hồi chính sách “xanh”

 Các cơ hội kinh tế trong nền kinh tế TTX

Điểm khác biệt lớn nhất là TTX không bao gồm các lĩnh vực sau của PTBV:

 Chất lượng sống (khác với chất lượng môi trường sống)

 Vốn con người, xã hội và tài chính

 Các tác động tới các nước khác

1.2 Chính sách và chiến lược tăng trưởng xanh

1.2.1 Nội dung chính sách tăng trưởng xanh

Chính sách TTX ở từng quốc gia sẽ khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và môi trường; thể chế và giai đoạn phát triển của quốc gia đó Tuy vậy, chính sách TTX của các quốc gia cần phải đảm bảo: thứ nhất, tích hợp nguồn lực tự nhiên dựa trên các động thái và quyết định tương tự hướng vào tăng trưởng; thứ hai, các phương thức phát triển của việc tạo ra các hình thức thưởng phạt kinh tế phản ánh đầy đủ giá trị của nguồn lực tự nhiên dựa trên nền kinh tế; và thứ ba, tập trung vào các khía cạnh củng cố lẫn nhau của các chính sách kinh tế và môi trường [2] Năm chính sách chủ yếu để chuyển sang

Trang 40

11

TTX đã được xác định tại Hội nghị các bộ trưởng môi trường (MCED) của các nước Châu Á – Thái Bình Dương (2010) bao gồm: (1) Chuyển từ tăng trưởng theo số lượng sang chất lượng; (2) Quốc tế hoá giá sinh thái; (3) Phát triển cơ sở hạ tầng bền vững; (4) Chuyển việc bảo vệ môi trường thành cơ hội kinh doanh; (5) Thúc đẩy các hoạt động kinh tế ít các bon Nội dung của TTX chủ yếu bao gồm [40]:

- Sản xuất và tiêu dùng bền vững;

- Giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu;

- Xanh hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua phát triển công nghệ xanh

và các ngành công nghiệp sử dụng ít tài nguyên;

- Áp dụng các biện pháp sản xuất sạch;

- Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững;

- Bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên;

- Cải tổ và áp dụng các công cụ kinh tế;

- Xây dựng và thực hiện các chỉ số sinh thái

Các chính sách TTX cần hướng vào sự trì trệ, rủi ro công nghệ, và vai trò của đổi mới, cơ sở hạ tầng trong sự thay đổi cho phép Một số chính sách TTX bao gồm:

- Đánh giá ô nhiễm và việc sử dụng nguồn lực thông qua cơ chế như thuế hoặc giấy phép thương mại Đây là công cụ chính sách hiệu quả nhất, khuyến khích nâng cao hiệu quả và đổi mới Những công cụ đó cũng tạo ra doanh thu giúp phát triển giáo dục tài chính, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng hoặc xóa đói giảm nghèo

- Loại bỏ những trợ cấp khuyến khích ô nhiễm hoặc những nguồn lực khai thác quá mức và làm kiệt quệ lợi ích cộng đồng

- Đảm bảo các tiêu chuẩn luật lệ tập trung vào các kết quả Các luật lệ hướng vào ô nhiễm hoặc nhiệu quả năng lượng có thể là những kết quả quan trọng và thay thế hiệu quả cho chính sách dựa trên những đánh giá (về chi phí) Các biện pháp dựa trên thông tin có thể cần để gây ảnh hưởng (tác động) hành vi người tiêu dùng và

hộ gia đình và làm tăng hiệu quả của chính sách khác

1.2.2 Các chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam

Để thực thi được chính sách TTX cần xây dựng được chiến lược TTX Chiến lược TTX cần thực hiện đồng bộ từ cấp quốc gia đến cấp doanh nghiệp Chiến lược TTX chia

Ngày đăng: 27/08/2019, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. World Bank, Inclusive green growth: The pathway to sustainable development. 2012: Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inclusive green growth: The pathway to sustainable development
Tác giả: World Bank
Nhà XB: Washington, D.C
Năm: 2012
5. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 403/QĐ-TTG: Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 403/QĐ-TTG: Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2014
6. Bộ Xây dựng, Quyết định số 802/QĐ-BXD về Ban hành Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong công nghiệp xi măng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 802/QĐ-BXD về Ban hành Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong công nghiệp xi măng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: Bộ Xây dựng
Năm: 2017
8. Ủy ban Nhân dân Thành phố Hải Phòng, Quyết định số 1463/QĐ-UBND 2014 về Ban hành kế hoạch hành động thực hiện chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1463/QĐ-UBND 2014 về Ban hành kế hoạch hành động thực hiện chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020
Tác giả: Ủy ban Nhân dân Thành phố Hải Phòng
Năm: 2014
9. Ủy ban Nhân dân Tỉnh Thanh Hóa, Quyết định 359/QĐ-UBND về Phê duyệt kế hoạch hành động thực hiện chiến lược Tăng trưởng xanh Tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, Định hướng đến năm 2030. 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 359/QĐ-UBND về Phê duyệt kế hoạch hành động thực hiện chiến lược Tăng trưởng xanh Tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, Định hướng đến năm 2030
Tác giả: Ủy ban Nhân dân Tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2016
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quyết định 965/QĐ-BTNMT về việc ban hành chương trình hành động của Ngành Tài nguyên và Môi trường thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2015-2020 và định hướng đến năm 2030. 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 965/QĐ-BTNMT về việc ban hành chương trình hành động của Ngành Tài nguyên và Môi trường thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2015-2020 và định hướng đến năm 2030
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
11. Bộ Công thương, Quyết định 13443/QĐ-BCT về việc phê duyệt kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của ngành công thương giao đoạn 2015-2020. 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 13443/QĐ-BCT về việc phê duyệt kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của ngành công thương giao đoạn 2015-2020
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2015
12. Bộ Xây dựng, Quyết định 419/QĐ-BXD Ban hành kế hoạch hành động của ngành xây dựng về tăng trưởng xanh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 419/QĐ-BXD Ban hành kế hoạch hành động của ngành xây dựng về tăng trưởng xanh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: Bộ Xây dựng
Năm: 2017
15. Thủ tướng chính phủ, Quyết định 879/QĐ-TTg ngày 09/06/2014 về Phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 879/QĐ-TTg ngày 09/06/2014 về Phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2014
16. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1488/QĐ-TTg về Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1488/QĐ-TTg về Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2011
17. Báo Tài nguyên môi trường. Doanh nghiệp sản xuất xi măng phải xem BVMT là yêu cầu đầu tiên. 2018; Available from:https://baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong/doanh-nghiep-san-xuat-xi-mang-phai-xem-bvmt-la-yeu-cau-dau-tien-1263489.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp sản xuất xi măng phải xem BVMT là yêu cầu đầu tiên
Nhà XB: Báo Tài nguyên môi trường
Năm: 2018
19. Hartmut Bossel, Indicators for sustainable development: Theory, method, applications,. 1999: United Nations publication Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indicators for sustainable development: Theory, method, applications
Tác giả: Hartmut Bossel
Nhà XB: United Nations publication
Năm: 1999
20. Rowley Hazel V, Peters Gregory M, Lundie Sven, & Moore Stephen J, Aggregating sustainability indicators: Beyond the weighted sum. Journal of Environmental Management, 2012. 111: p. 24-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aggregating sustainability indicators: Beyond the weighted sum
Tác giả: Rowley Hazel V, Peters Gregory M, Lundie Sven, Moore Stephen J
Nhà XB: Journal of Environmental Management
Năm: 2012
21. Rahdari A. H & Anvary Rostamy A. A, Designing a general set of sustainability indicators at the corporate level. Journal of Cleaner Production, 2015. 108, Part A: p. 757-771 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Designing a general set of sustainability indicators at the corporate level
Tác giả: Rahdari A. H, Anvary Rostamy A. A
Nhà XB: Journal of Cleaner Production
Năm: 2015
22. Liu G, Development of a general sustainability indicator for renewable energy systems: A review. Renewable and Sustainable Energy Reviews. 2014. 31: p.611–621 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of a general sustainability indicator for renewable energy systems: A review
Tác giả: Liu G
Nhà XB: Renewable and Sustainable Energy Reviews
Năm: 2014
23. Tseng M.L, Modeling sustainable production indicators with linguistic preferences. Journal of Cleaner Production, 2013(40): p. 46-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modeling sustainable production indicators with linguistic preferences
Tác giả: Tseng M.L
Nhà XB: Journal of Cleaner Production
Năm: 2013
24. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 432/QĐ-TTg về Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 432/QĐ-TTg về Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2012
14. Sở tài nguyên môi trường Bình Định. Đánh giá các biện pháp giảm nhẹ Biến đổi khí hậu. 2014; Available from:http://stnmt.binhdinh.gov.vn/newsdetail.php?newsid=635&id=57 Link
18. Diễn đàn các nhà sản xuất xi măng. Ngành xi măng đứng đầu về sản lượng tiêu thụ điện năng trong các ngành công nghiệp. 2018; Available from:http://ximang.vn/nang-suat-xanh/bao-ve-moi-truong/nganh-xi-mang-dung-dau-ve-san-luong-tieu-thu-dien-nang-trong-cac-nganh-cong-nghiep-11439.htm Link
114. Hoàng Kim Anh. Quy trình sản xuất xi măng. 2016; Available from: https://kinhnghiemlamnha.vn/quy-trinh-san-xuat-xi-mang/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w