Ngày nay, chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung và trâu bò nói riêng không chỉ cung cấp sức kéo và phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn cung cấp các thực phẩm quý như sữa, thịt, nâng cao nguồn thu nhập cho người chăn nuôi. Vấn đề quan trọng để phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại là phải đáp ứng đầy đủ lượng thức ăn thô xanh quanh năm và cân bằng dinh dưỡng. Ở nước ta, nguồn thức ăn thô xanh cung cấp cho đàn gia súc chủ yếu là đồng cỏ tự nhiên và cỏ trồng. Tuy nhiên, do tình trạng dân số tăng nhanh, đất đai hạn chế, tốc độ đô thị hoá nhanh mà diện tích đồng cỏ tự nhiên, đất trồng cỏ và các bãi chăn thả đang thu hẹp lại, dẫn tới tình trạng thiếu thức ăn cho đàn gia súc, đặc biệt là vào mùa đông. Nguồn thức ăn khan hiếm và người nông dân chưa chủ động đủ thức ăn cho gia súc đã dẫn tới tình trạng chết hàng loạt và mắc dịch bệnh như lở mồm long móng trong những đợt rét kéo dài vừa qua, gây ra những thiệt hại to lớn đối với người chăn nuôi nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung. Nước ta, ngoài thức ăn tự nhiên và các loại cỏ trồng thì phụ phẩm nông nghiệp là nguồn thức ăn dồi dào có thể dự trữ cho đàn gia súc hoặc thay thế khi thức ăn tự nhiên khan hiếm. Sử dụng có hiệu quả các nguồn phụ phẩm trong chăn nuôi gia súc nhai lại là một trong những giải pháp giúp cho người nông dân chủ động đảm bảo đủ nguồn thức ăn cho đàn gia súc.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
CHUYÊN ĐỀ: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG SỬ DỤNG
PHỤ PHẨM NUÔI GIA SÚC NHAI LẠI
MÔN : NHỮNG TIẾN BỘ MỚI TRONG CHĂN NUÔI GIA SÚC NHAI LẠI
Hà Nội, tháng ………
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung và trâu bò nói riêng không chỉ cung cấp sức kéo và phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn cung cấp các thực phẩm quý như sữa, thịt, nâng cao nguồn thu nhập cho người chăn nuôi Vấn đề quan trọng để phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại là phải đáp ứng đầy đủ lượng thức ăn thô xanh quanh năm và cân bằng dinh dưỡng Ở nước ta, nguồn thức ăn thô xanh cung cấp cho đàn gia súc chủ yếu là đồng cỏ tự nhiên và cỏ trồng Tuy nhiên, do tình trạng dân số tăng nhanh, đất đai hạn chế, tốc độ đô thị hoá nhanh mà diện tích đồng cỏ tự nhiên, đất trồng cỏ và các bãi chăn thả đang thu hẹp lại, dẫn tới tình trạng thiếu thức ăn cho đàn gia súc, đặc biệt là vào mùa đông Nguồn thức ăn khan hiếm và người nông dân chưa chủ động đủ thức ăn cho gia súc
đã dẫn tới tình trạng chết hàng loạt và mắc dịch bệnh như lở mồm long móng trong những đợt rét kéo dài vừa qua, gây ra những thiệt hại to lớn đối với người chăn nuôi nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung Nước ta, ngoài thức ăn tự nhiên và các loại cỏ trồng thì phụ phẩm nông nghiệp là nguồn thức ăn dồi dào có thể dự trữ cho đàn gia súc hoặc thay thế khi thức ăn tự nhiên khan hiếm Sử dụng có hiệu qủa các nguồn phụ phẩm trong chăn nuôi gia súc nhai lại là một trong những giải pháp giúp cho người nông dân chủ động đảm bảo đủ
nguồn thức ăn cho đàn gia súc Việc chế biến phụ phẩm nông nghiệp cho gia súc nhai lại
ăn sẽ có các tác dụng lớn như:
- Cải thiện được thành phần dinh dưỡng
- Tăng lượng thức ăn ăn vào
- Tăng khả năng tiêu hóa hấp thu
- Giảm ảnh hưởng của độc tố (đối với nguyên liệu có chứa độc tố)
- Khắc phục tình trạng thời vụ của cây trồng
- Tăng nguồn thức ăn cho gia súc lớn
- Góp phần tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi
Nâng cao khả năng sử dụng phụ phẩm để chăn nuôi là một xu hướng đang được cổ
vũ hiện nay nhằm khai thác các tiềm năng tại chỗ có hiệu quả hơn, đảm bảo cho việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)
Trang 3II NỘI DUNG
1 Nguồn phụ phẩm sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại ở Việt Nam
Việt Nam là nước nông nghiệp nên nguồn phụ phẩm rất dồi dào và đa dạng như: rơm, ngọn cây mía, thân lá cây lạc, đỗ, ngô, các loại lá bắp cải, xu hào, củ quả như khoai lang, sắn, bí đỏ
Ở nước ta nguồn phụ phẩm nông nghiệp được ước tính dựa trên khảo sát khối lượng thực tế của từng loại phụ phẩm tính trên 1 đơn vị diện tích sau đó ước tính tổng khối lượng cho toàn quốc, dựa vào số liệu thống kê về diện tích gieo trồng hàng năm (Bùi Văn Chính và CS, (2002)) Khối lượng này được quy đổi ra chất khô để tiện cho việc so sánh đánh giá (Bảng 1)
Bảng 1 Ước tính khối lượng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp chính
ở Việt Nam
Tên phụ phẩm Diện tích gieo trồng
(triệu ha/ năm)
Khối lượng phụ phẩm (Tr tấn chất khô/ năm)
Mặt hạn chế của phụ phẩm nông nghiệp là một số loại có hàm lượng chất
xơ rất cao, thí dụ rơm lúa chứa 34% chất xơ, còn lá mía chứa 43% tính trong chất khô, nên rất khó tiêu hóa Mặt khác một số loại phụ phẩm lại khó chế biến
và dự trữ khi thu hoạch đồng loạt như cây lạc, dây lang, ngọn lá sắn, lá mía Đó cũng là một lý do làm cho người nông dân chỉ sử dụng được một phần các loại phụ phẩm này ở dạng tươi làm thức ăn cho gia súc (bảng 2) Qua bảng 2 cho thấy hàm lượng xơ của rơm lúa, cây ngô già và lá mía khá cao nên rất cần được chế biến bằng các tác nhân hóa học hay sinh học để nâng cao tỷ lệ tiêu hóa chất
xơ và các chất hữu cơ khác
Trang 4Bảng 2 Giá trị dinh dưỡng của một số phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam
a Rơm
Rơm lúa vốn nghèo dinh dưỡng (2-3% protein) thành phần chủ yếu là xơ (31-33%) tỉ lệ tiêu hóa thấp Tuy nhiên rơm lúa chứa một lượng năng lượng tiềm tàng Khối lượng rơm lúa hàng năm ở nước ta vào khoảng 25 triệu tấn (xấp xỉ 1 lúa : 0,8 rơm) (Lê Viết Ly và CS, 1996)
Rơm là nguồn thức ăn dự trữ chủ yếu và phổ biến nhất của trâu, bò trong chăn nuôi gia đình hiện nay Rơm phơi được nắng có màu vàng tươi và có mùi thơm Rơm kém chất lượng thì trâu, bò ít ăn và có khi còn gây các bệnh về tiêu hoá Do vậy, cần tận thu và bảo quản tốt nguồn thức ăn thô dự trữ này cho trâu
bò Có thể thay thế thức ăn xanh bằng rơm khô nhưng khi cho ăn rơm khô cần chế biến để làm mềm rơm bằng phương pháp kiềm hoá hoặc urê hoá, nhằm tăng khả năng tiêu hoá và bổ sung thêm canxi, nitơ, phi protein cho trâu bò
b Thân cây ngô, lá sắn
- Thân cây ngô (bắp): là thức ăn trâu, bò rất ưa thích Gieo ngô dày, mỗi hecta gieo 60kg hạt giống, tỉa 2 lần để lấy cây non cho trâu, bò ăn, cách này có thể thu được 10 tấn cây ngô non/sào, là nguồn thức ăn xanh có giá trị dinh dưỡng cao Thân cây ngô sau thu hoạch cũng được sử dụng cho gia súc ăn, lúc này giá trị dinh dưỡng cảu thân bắp không cao, chứa nhiều xơ (30-40%) và ít đạm (7-10%), do đó việc chế biến để bảo quản và tăng giá trị dinh dưỡng của chúng là cần thiết
% tính trong chất khô
Tên phụ phẩm Chất khô
(%) Chất xơ Protein
Tổng các chất dinh dưỡng tiêu hóa - TDN
Năng lượng trao đổi - ME, (Kcal/
kg chất khô)
Trang 5- Lá và củ sắn: chứa hàm lượng protein khá cao (18-20%), trâu, bò thích
ăn lá sắn nhưng dễ bị say, hoặc tử vong nếu ăn quá nhiều do trong lá sắn có chứa chất độc HCN Củ sắn cũng được sử dụng cho gia súc ăn, hàm lượng HCN trong
củ sắn ngọt 20-30mg/kg củ, trong sắn đắng 60-150 mg/kg củ Vì vậy cần có biện pháp xử lý lá và củ sắn trước khi cho gia súc ăn để giảm nguy cơ bị ngộ độc
c Ngọn mía, lá mía non, bã mía
Ngọn mía, bã mía chiếm khoảng 10-12% sinh khối của cả cây mía, do đó theo ước tính cả nước có khoảng 1,5 triệu tấn lượng phụ phẩm này (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) Trước và sau khi thu hoạch mía, có thể bóc lá mía non và chặt ngọn mía làm thức ăn cho trâu, bò Đây là nguồn thức ăn dồi dào cho trâu,
bò vào vụ đông xuân ở vùng trồng mía, 1 ha mía có thể cho 20 tấn lá non và ngọn mía Do vậy người chăn nuôi cần tận dụng nguồn thức ăn dồi dào này cho trâu, bò Theo điều tra đánh giá nguồn phụ phẩm mía dùng cho chăn nuôi bò ở vùng nguyên liệu mía đường Bắc Trung Bộ của Đặng Vũ Bình và CS (2005) hàng năm tại Thọ Xuân – Thanh Hoá và Quỳ Hợp - Nghệ An trong thời gian thu họach mía, mỗi hộ trồng mía có trung bình từ 5-7 tấn ngọn, lá mía được sử dụng cho chăn nuôi trâu bò hoặc vào các mục đích khác như: cho, bán, bỏ khô ngoài ruộng để đốt làm phân hoặc làm chất đốt, lợp nhà Tại các hộ trồng mía, mới chỉ
có khoảng 30 – 40% lượng lá, ngọn mía tươi được dùng cho chăn nuôi trâu bò
và chủ yếu cho ăn trực tiếp, không qua chế biến dự trữ Như vậy, nguồn thức ăn chưa được sử dụng hợp lý và đang bị lãng phí rất nhiều
d Thân lá cây lạc
Lạc là cây họ đậu khi thu hoạch củ thân lá vẫn còn xanh và giàu các chất dinh dưỡng Thân lá lạc sau khi thu hoạch chứa 26,45% vật chất khô, 14-17% protein thô; 28,99% xơ thô Như vậy ước tính hàng năm sản lượng lá lạc có thể dùng để chế biến làm thức ăn gia súc ở nước ta là gần 1,2-1,4 triệu tấn Nhưng thân lá lạc còn chưa được sử dụng hợp lý, thường cần dùng làm phân xanh hoặc chất đốt (Bùi Văn Chính và CS, 2002)
e Các loại lá rau trồng
Các lá bắp cải, su hào cũng là thức ăn rất tốt cho trâu, bò có nhiều trong
vụ đông - xuân ở nông thôn; có thể thay cho thức ăn xanh lúc khan hiếm
ở các vùng trung du còn có thể sử dụng lá cây so đũa được trồng thành vạt, thành rừng để chống xói mòn đất cho trâu, bò ăn
Ngoài ra, tận dụng các cây lá trong vườn, cây trồng chống xói mòn đất, lá rau già các loại Các loại lá cây trong vườn có thể sử dụng cho trâu, bò ăn tốt và
Trang 6có hàm lượng đạm cao như lá cây táo nhơn, lá cây đậu anh đào, thân và lá cây đậu phộng sau khi thu hoạch, dây lang, Sau thu hoạch đem ủ xanh hoặc ủ chua để loại bớt chất độc
f Thức ăn củ quả.
Thức ăn củ, quả có đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết như đường, đạm, chất béo, khoáng, vitamin nhưng với hàm lượng ít, tỉ lệ nước cao do đó được sử dụng nhiều để nuôi bò sữa và trâu, bò đẻ
Thức ăn củ, quả cho trâu, bò phổ biến là khoai lang, sắn, bí đỏ Trung bình cứ 1 kg thức ăn củ, quả có giá trị dinh dưỡng gần bằng 1 đơn vị thức ăn Các chất hữu cơ có trong củ quả dễ tiêu hoá và hấp thụ nên giá trị dinh dưỡng không thua kém thức ăn tinh Trong khoai, sắn có hàm lượng tinh bột cao (76,2-77,2%) nhưng nghèo protein (2,2-2,7%) (Nguyễn Nghi và CS, 1984); bí đỏ có tỉ
lệ đạm, béo cao hơn khoai, sắn, đặc biệt có chứa nhiều carôten (tiền vitamin A, 90-110mg/ 1 kg bí đỏ), tỉ lệ tiêu hoá trung bình là 70% Trước khi cho trâu, bò
ăn phải loại bỏ các củ hỏng, thối, hà, mốc, rửa sạch đất cát và thái nhỏ Đối với
củ sắn khi cho ăn phải ngâm nước cẩn thận, xả rửa nhiều lần vì ở vỏ sắn có chất gây độc (axít xyanhyđric)
Một nguồn phụ phẩm dồi dào khác mà chưa được sử dụng phổ biến là phụ phẩm từ qủa dứa Hàng năm các nhà máy chế biến dứa hộp xuất khẩu thải ra một lượng lớn phế phụ phẩm Đó là vỏ cứng bên ngoài, lõi quả dứa, những mảnh vụn và bã dứa sau khi ép lấy dịch để chế biến nước dứa Một tấn dứa đưa vào chế biến theo quy trình chế biến dứa đông lạnh cho 0,75 tấn phụ phẩm; còn đưa vào quy trình đóng hôp được 0,65 tấn phụ phẩm Phụ phẩm dứa có hàm lượng chất xơ cao, nghèo protein nên có thể sử dụng làm thức ăn cho trâu bò với
tỷ lệ thích hợp Vì thế có thể tận dụng và chế biến bã dứa cho gia súc ăn hay dự trữ (Phùng Quốc Quảng, (2002))
2 Những phương pháp đã được sử dụng để chế biến phụ phẩm nông nghiệp
2.1 Phương pháp hóa học
- Chế biến bằng xút (NaOH): hiệu quả tăng tỷ lệ tiêu hóa rất rõ, nhưng phần xút còn dư lại trong rơm làm gia súc không thích ăn phụ phẩm đã được chế biến Mặt khác chế biến bằng xút lại gây ô nhiễm môi trường, do đó phương pháp này cũng chỉ được áp dụng ở một số nước nhất định
- Chế biến bằng axit hữu cơ và vô cơ: Phương pháp này cũng đắt, hiệu quả kinh tế không cao, nên cũng ít được áp dụng trong sản xuất
Trang 7- Sử dụng dung dịch ammoniac, ure: Là phương pháp được nhiều nước
áp dụng, đang tiếp tục được cải tiến để nâng cao hiệu quả trong sản xuất Nhưng phương pháp sử dụng ammoniac đòi hỏi phải có thiết bị để tránh cho người công nhân bị nhiễm ammoniac vào đường hô hấp hay vào da Thường ở các nước có nhiều nhà máy phân đạm áp dụng phương pháp này Ngược lại phương pháp dùng ure để chế biến rơm được nghiên cứu và áp dụng ở hầu hết các nước đang phát triển
2.2 Phương pháp lý học
- Sử dụng áp suất cao, nhiệt độ cao: Phương pháp này tiêu tốn nhiều năng lượng, giá thành cao, nên khó áp dụng vào sản xuất
- Phương pháp thái nhỏ: Rơm được thái nhỏ, nhận thấy gia súc ăn được nhiều hơn, nhưng tỷ lệ tiêu hóa không tăng lên Do đó cũng chỉ được áp dụng ở một số trang trại
2.3 Phương pháp sinh học
Các chủng vi sinh vật có hoạt tính cao về phần giải chất xơ đã được sử dụng để chế biến phụ phẩm nông nghiệp Phương pháp này thích hợp với sinh lý vật nuôi và không gây ô nhiễm môi trường; nhưng các kết quả thu được còn rất hạn chế Mặt khác các chế phẩm vi sinh vật này lại có giá thành đắt
Có thể nói mỗi phương pháp nêu trên đều có mặt ưu điểm và có mặt hạn chế, nhưng chúng đã đem lại hiệu quả trong sản xuất Tuy vậy người ta vẫn tiến hành nghiên cứu cải tiến các phương pháp để tìm ra phương pháp chế biến phụ phẩm nông nghiệp ưu việt hơn
2.4 Cơ chế tác động đến cấu trúc chất xơ và thành tế bào của phụ phẩm nông nghiệp do các tác nhân hóa học, vật lý học và sinh học
2.4.1 Cấu trúc chất xơ và thành tế bào
- Mục đích sử dụng các tác nhân vật lý học, hóa học, sinh vật học là nhằm tác động đến cấu trúc thành tế bào thực vật của các phụ phẩm nông nghiệp Nói
cụ thể hơn là chúng sẽ tác động đến các mối liên kết bền vững giữa cellulose, hemicellulose và lignin Ba hợp chất trên liên kết với nhau tạo thành chất xơ, mà
xơ lại là thành phần chính của thành tế bào thực vật Nếu cellulose và hemicellulo ở dạng không liên kết với lignin thì rất dễ dàng được tiêu hóa bởi vi sinh vật dạ cỏ và vi sinh vật đường ruột Như vậy, cản trở chính cho quá trình tiêu hóa là liên kết giữa lignin với hai hợp chất kể trên
Trang 8Chúng ta biết rằng cellulose là một đại phân tử gồm toàn đường glucose, hemicellulose được cấu trúc từ đường glucose và một số đường khác như maltose, frucfose, arabinose
- Như vậy cả cellulose và hemicellulose đều là các chất dinh dưỡng rất tốt cho gia súc Nhưng cấu trúc của thành tế bào trong phụ phẩm nông nghiệp rất bền vững vì bị lignin hóa, do đó rất khó tiêu hóa đối với gia súc
2.4.2 Tác động của các tác nhân lý học, hóa học, sinh vật học
- Áp suất cao, nhiệt độ cao hay tác động của các hóa chất như xút, ammoniac, ure, hoặc các engym của vi sinh vật đã làm "lung lay" hoặc phá vỡ mối liên kết ester giữa lignin với cellulose, hemicellulose Nhờ đó vi sinh vật dạ
cỏ dễ dàng phân cắt thành tế bào và giải phóng các chất dinh dưỡng trong tế bào
- Như vậy nguyên lý chung dùng các tác nhân lý học, hóa học, vi sinh vật học là tác động vào mối liên kết ester của lignin với cellulose và hemincelluilose Nếu mối liên kết này bị "lung lay" hoặc phá vỡ thì tiêu hóa xơ
và các chất hữu cơ sẽ tăng lên
3 Một số phương pháp nhằm nâng cao khả năng sử dụng phụ phẩm chăn nuôi gia súc nhai lại
Một số phụ phẩm nông nghiệp có thể sử dụng cho gia súc ăn trực tiếp sau khi đã sơ chế đơn giản bằng cách loại bỏ các phần hỏng thối, dị vật, cây lá độc; rửa sạch đất, cát, tạp chất bằng nước Tuy nhiên, để có thể dự trữ nguồn phụ phẩm cho đàn gia súc vào mùa khan hiếm thức ăn cần có các quy trình kỹ thuật nhằm đảm bảo dinh dưỡng và thời gian dự trữ kéo dài Ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu thành công trong lĩnh vực này, thí dụ như ủ rơm bằng urê hay chế biến dự trữ cây lạc, ngọn lá sắn, lá mía bằng phương pháp ủ chua có bổ sung thêm các chất phụ gia đã có thể bảo quản chúng đến mùa khô hoặc mùa đông
mà chất lượng vẫn tốt Sau đây là một số nghiên cứu và phương pháp chế biến, bảo quản phụ phẩm nông nghiệp nhằm nâng cao khả năng sử dụng khi chăn nuôi gia súc nhai lại
3.1 Quy trình chế biến rơm lúa bằng phương pháp xử lý ure - vôi
Ở các vùng nông thôn, rơm có thể được phơi khô rồi đánh thành đống (cây) dự trữ cho gia súc Tuy nhiên, do che chắn không đảm bảo và thời tiết không thuận lợi thì rơm dễ bị mốc, ủng, thối hỏng Hiện nay, để kéo dài thời gian dự trữ và nâng cao hiệu quả sử dụng rơm người ta sử dụng phương pháp xử
lý nhiệt độ, áp suất cao hay dùng hóa chất như xút, amoniac Nhưng phương pháp này đòi hỏi thiết bị nên khó áp dụng vào sản xuất Ở nước ngoài người ta
Trang 9thường sử dụng phương pháp chế biến rơm bằng ure theo tỉ lệ 5kg ure hòa trong
100 lít nước để chế biến 100kg rơm khô Do giá ure ở nước ta đắt, (vì phải nhập khẩu) nên Viện Chăn Nuôi đã nghiên cứu cải tiến phương pháp và chỉ dùng 2,5kg ure cho 100kg rơm và sử dụng thêm 0,5kg vôi tôi Kết quả thí nghiệm trên gia súc khá tốt Phương pháp này đơn giản dễ áp dụng và đã làm tăng tỉ lệ tiêu hóa thêm 10-15%, tăng gần gấp đôi hàm lượng nitơ trong rơm, gia súc thích ăn
và đã ăn được lượng chất khô tăng thêm 50% so với rơm không chế biến, cho tăng trọng hàng ngày cao hơn 30%, tiêu tốn thức ăn lại giảm 6% so với rơm chưa chế biến (Bùi Văn Chính, (2010))
Chế biến và sử dụng rơm ở quy mô nông hộ hoặc trang trại đã được nhiều tác giả nghiên cứu ứng dụng, nhưng biến rơm thành sản phẩm hàng hoá mang lại hiệu quả kinh tế cao còn hạn chế Phạm Hồ Hải và CS (2007) đã nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nâng cao giá trị dinh dưỡng của rơm tươi và rơm khô quy mô phòng thí nghiệm cho kết qủa khả quan, giá trị dinh dưỡng của sản phẩm rơm sau chế biến/rơm đóng bánh không thay đổi sau 60 ngày bảo quản Thay thế 50% cỏ xanh bằng rơm tươi ủ ure đóng bánh (tính trên VCK) trong khẩu phần nuôi bò sinh trưởng giúp cải thiện tăng trọng và tiết kiệm 30% chi phí khi sử dụng khẩu phần chỉ có cỏ và cám
Về mặt nguyên lý quá trình ủ rơm không nhất thiết đòi hỏi yếm khí như ủ chua Để giảm chi phí, dễ ứng dụng mà vẫn đạt yêu cầu chế biến thì nên lợi dụng những điều kiện có sẵn của gia đình: các góc tường, bể xây, ô chuồng trống không nuôi gia súc, hoặc ủ ngay trong bao phân đạm, bao tải xác rắn, hay túi nylon loại lớn Có thể dùng các mảnh nylon, vải mưa rách, lá chuối ghép kín lại để đảm bảo thức ăn không nhiễm đất, cát bẩn và hạn chế thất thoát ure Nơi ủ phải chọn nơi khô ráo, tránh nước mưa và nước từ nơi khác thấm vào Rơm ủ kín trong thời gian 10-20 ngày bắt đầu lấy ra cho gia súc ăn tự do tùy khả năng của chúng Rơm ủ đạt chất lượng chế biến tốt sẽ có màu vàng đậm, mùi ure, không có mùi nấm mốc, rơm ẩm và mềm
3.2 Ủ chua thân lá cây lạc
Nước ta có nhiều địa phương có diện tích trồng lạc lớn như Bắc Giang, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình , nhưng người dân chưa có thói quen chế biến bảo quản thân lá lạc làm thức ăn cho gia súc do chưa biết cách và phương pháp bảo quản hợp lý Vào vụ lạc chính (vụ đông xuân), lượng thân lá cây lạc nhiều mà gia súc không thể sử dụng hết, người nông dân không biết dự trữ đúng cách sẽ dẫn tới lãng phí nguồn phụ phẩm này Những năm gần đây, Viện Chăn
Trang 10Nuôi đã nghiên cứu thành công phương pháp ủ chua thân lá lạc dự trữ làm thức
ăn cho trâu bò Chất lượng thức ăn ủ tốt, đồng thời có thể dự trữ được 9-10 tháng góp phần tăng nguồn thức ăn cho gia súc trong mùa đông và mùa khô
Thân lá lạc sau khi thu hoạch củ được cắt bỏ phần gốc già (10-15cm) dùng dao băm nhỏ, kích thước từ 5-6cm Băm xong rải ra trong bóng mát, nên thực hiện việc chế biến hoàn chỉnh trong 1-2 ngày Ngoài ra còn chuẩn bị thêm muối ăn và cám gạo hoặc bột sắn, bột khoai lang (cứ 100kg thân lá lạc cần thêm 6-7kg cám gạo hoặc bột sắn, bột khoai và 0,5kg muối ăn) Kích cỡ hố ủ tính toán sao cho vừa đủ lượng thân lá lạc cần ủ (trung bình dung tích hố ủ là một mét khối sẽ ủ được 400-500kg thân lá lạc) Hố ủ nên làm ở nơi khô ráo sạch
sẽ, không có nước thấm vào Hố ủ xây bằng gạch, xi măng, cát, hoặc hố ủ đào đắp bằng đất nửa nổi nửa chìm, thành hố ủ càng kín chất lượng càng tốt Sau
50-60 ngày mới bắt đầu lấy dần cho gia súc ăn, thân lá lạc ủ đúng kỹ thuật hướng dẫn sẽ có chất lượng tốt, độ pH = 4,2-4,5; thơm mùi dưa muối, có màu vàng nhạt, gia súc rất thích ăn Loại thức ăn này có thể dùng cho gia súc ăn dần trong 4-5 tháng mà chất lượng vẫn tốt, cho ăn sống, không nấu chín Cho gia súc ăn tự
do (theo khả năng mà chúng có thể ăn được) Có thể trộn lẫn cám và thức ăn khác vào lá lạc ủ chua, nhưng nên cho ăn khô, gia súc sẽ ăn được nhiều hơn Thân lá lạc ủ chua giàu protein và vitamin, nên gia súc ăn vào sẽ lớn nhanh, khỏe mạnh (Bùi Văn Chính, 2010)
Mai Thị Thơm và CS (2010) đã làm thí nghiệm chế biến thân lá lạc trồng tại Hiệp Hoà, Bắc Giang làm thức ăn cho trâu bò theo 3 công thức sau:
- Công thức 1: thân lá lạc + 0,5% muối
- Công thức 2: thân lá lạc + 0,5% muối + 3% bột ngô
- Công thức 3: thân lá lạc + 0,5% muối + 6% bột ngô
Thân lá lạc ủ chua ở cả 3 công thức đều cho chất lượng tốt và đạt tốt nhất ở công thức ủ chua có bổ sung 0,5% muối + 6% bột ngô Việc ủ chua có hay không bổ sung bột ngô đều có thể hạ pH đủ thấp (3,9-4,1) để cho phép bảo quản thân lá lạc Thức ăn sau khi ủ có màu sắc và mùi đặc trưng của thức ăn ủ chua chất lượng tốt Thân lá lạc ủ chua có thể quảo quản được trong thời gian dài (3tháng) không bị thối hỏng
3.3 Ủ chua ngọn lá mía
Ngọn mía có thể cho trâu, bò ăn tươi hoặc ủ xanh cho ăn dần Ngọn lá mía khi thu hoạch cây hãy còn xanh được thái nhỏ từ 2-3cm (phần cứng như búp ngọn cần đập giập trước khi thái nhỏ) Ủ 100kg ngọn mía cần bổ sung thêm