Để có thêm những thông tin về thực trạngnày, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng mắc tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành của bà mẹ về bệnh tiêu chảy tại 2
Trang 1NGUYỄN XUÂN HẢI
Trang 2NGUYỄN XUÂN HẢI
Trang 4tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng cùng các thầy giáo, cô giáo trường Đạihọc Y Dược Thái Bình đã trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho tôitrong quá trình học tập, nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoànthành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Phí Đức Long
và PGS.TS Ngô Thị Nhu, các thầy cô đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, truyềnđạt cho tôi kiến thức, kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thựchiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế thành phố TháiBình và cán bộ Trạm Y tế phường Trần Lãm, xã Vũ Chính thành phố TháiBình đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình triển khai thuthập số liệu của luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình đến những người thân trong giađình, những bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôitrong đời sống, học tập và công tác để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Thái Bình, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Xuân Hải
Trang 5Tôi là: Nguyễn Xuân Hải, học viên khóa đào tạo trình độ cao học, chuyênngành Y tế công cộng, của trường Đại học Y Dược Thái Bình xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa: TS Phí Đức Long
Thái Bình, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Xuân Hải
Trang 6CDD Chương trình phòng chống tiêu chảy
ĐTBKT Điểm trung bình kiến thức
ĐTĐKT Điểm tối đa kiến thức
KAP Knowledge Attitude Practice
(Kiến thức, thái độ, thực hành)ORS Oresol: Oral rehydration solution
(dung dịch bù nước bằng đường uống)SDD Suy dinh dưỡng
TCMR Tiêm chủng mở rộng
UNICEF United Nations Children's Fund
(Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp quốc)WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm và phân loại bệnh tiêu chảy 3
1.2 Nguyên nhân tiêu chảy 5
1.3 Tình hình mắc, chết do bệnh tiêu chảy 8
1.4 Một số biện pháp xử trí và phòng bệnh tiêu chảy 11
1.4.1 Xử trí bệnh tiêu chảy tại nhà 11
1.4.2 Phòng bệnh tiêu chảy 14
1.5 Kiến thức, thực hành của người dân về bệnh tiêu chảy và phòng bệnh tiêu chảy 17
Chương 2 21
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 21
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 21
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu 23
2.2.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 25
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin, các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 26
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 28
2.2.6 Các bước tổ chức triển khai nghiên cứu 28
2.2.7 Hạn chế sai số 28
2.2.8 Đạo đức nghiên cứu 29
2.2.9 Hạn chế nghiên cứu 29
Chương 3 30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
Trang 83.3 Kiến thức của bà mẹ về bệnh và cách phòng bệnh tiêuchảy ở trẻ 39Chương 4 47BÀN LUẬN 474.1 Thực trạng mắc tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi và xử lý củacác bà mẹ có con bị tiêu chảy tại 2 xã/phường thànhphố Thái Bình 474.2 Kiến thức của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh và cáchphòng bệnh tiêu chảy tại địa bàn nghiên cứu 55KẾT LUẬN 66KIẾN NGHỊ 68TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 3.2 Tuổi của bà mẹ được điều tra 30
Bảng 3.3 Trình độ học vấn của bà mẹ được điều tra 31
Bảng 3.4 Số con dưới 5 tuổi của bà mẹ được điều tra 31
Bảng 3.5 Nguồn nước hộ gia đình sử dụng trong ăn uống 32
Bảng 3.6 Nhà tiêu hộ gia đình sử dụng 32
Bảng 3.7 Số trẻ dưới 5 tuổi bị mắc tiêu chảy 33
Bảng 3.8 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi bị mắc tiêu chảy theo nhóm tuổi 33
Bảng 3.9 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi bị mắc tiêu chảy theo giới tính 34
Bảng 3.10 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy theo nghề nghiệp bà mẹ 34
Bảng 3.11 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy theo trình độ học vấn bà mẹ .35
Bảng 3.12 Cách bà mẹ cho trẻ ăn uống khi bị tiêu chảy (n= 93) 35
Bảng 3.13 Các loại nước và dung dịch được bà mẹ cho trẻ uống 36
khi bị tiêu chảy (n= 93) 36
Bảng 3.14 Thực hành của bà mẹ cho trẻ uống thuốc khi bị tiêu chảy (n= 93) .36
Bảng 3.15 Người hướng dẫn bà mẹ cho trẻ uống thuốc khi bị tiêu chảy 37
Bảng 3.16 Thực hành của bà mẹ xử lý phân trẻ bị tiêu chảy (n= 93) 37
Bảng 3.17 Thực hiện về rửa tay vệ sinh hàng ngày của bà mẹ 38
Bảng 3.18 Các hành vi vệ sinh ăn uống hàng ngày của bà mẹ 38
Bảng 3.19 Kiến thức của bà mẹ về cách bảo quản thức ăn 39
Bảng 3.20 Kiến thức của bà mẹ về cách xử lý thức ăn thừa 39
Bảng 3.21 Tỷ lệ bà mẹ biết các dấu hiệu tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi 40
Bảng 3.22 Kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân mắc tiêu chảy ở trẻ 41
Bảng 3.23 Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ 42
Trang 10Bảng 3.26 Kiến thức đúng bà mẹ về cách pha và dùng gói Oresol 45Bảng 3.27 Kiến thức của bà mẹ về nước có thể thay gói Oresol 45Bảng 3.28 Kiến thức của bà mẹ về các dấu hiệu tiêu chảy ở trẻ cần phải đến
cơ sở y tế 46
DANH MỤC BIỂU ĐÔ
Biểu đồ 3.1 Kiến thức của bà mẹ về sự nguy hiểm của tiêu chảy ở trẻ (n=657) 40Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bà mẹ có biết về Oresol (n=657) 44
Trang 11và khoảng 122 triệu trường hợp nhiễm khuẩn cấp lan truyền từ người sangngười Tiêu chảy cũng là một trong những nguyên nhân chính gây suy dinhdưỡng, khiến trẻ dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn sẽ làm tỉ lệ tửvong cao Những bệnh viện các nước đang phát triển phải dành khoảng 30%
số giường bệnh cho trẻ bị tiêu chảy, cho thấy rằng tiêu chảy là một gánh nặngbệnh tật rất lớn về mặt sức khỏe cộng đồng Hiện nay khoảng 75% các trườnghợp tiêu chảy có thể xác định rõ được nguyên nhân Đa số các trường hợpmắc tiêu chảy gắn liền với việc sử dụng thực phẩm không an toàn, nước sinhhoạt không đảm bảo vệ sinh, tình trạng vệ sinh môi trường thấp kém và sựthiếu hiểu biết của người dân cũng như hành vi không an toàn cho sức khỏecủa họ [1] Việt Nam trong những năm gần đây, tình hình bệnh tiêu chảy cóchiều hướng gia tăng và tiêu chảy cũng là một trong mười bệnh có tỉ suất mắc
và chết cao trong nhiều thập niên qua Thống kê của bệnh viện Nhi Trungương cho biết, trung bình mỗi trẻ bị tiêu chảy 3 lần/năm, nhóm trẻ tại vùngnông thôn có tỷ lệ mắc cao hơn do ý thức vệ sinh kém, trẻ không được chămsóc cẩn thận Cũng theo thống kê, trung bình trẻ em ở nông thôn bị tiêu chảy
5 - 6 lần/năm Tại Thái Bình, trong những năm qua tình hình mắc tiêu chảycòn diễn ra phức tạp, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi, nguy cơ tiêu chảy tái phát
là rất cao do mầm bệnh vẫn tồn tại khá lâu trong môi trường và người lành
Trang 12mang bệnh [16] Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng, chống tiêu chảycủa người dân chưa thực sự đầy đủ do ít được bổ sung, cập nhật kiến thức [8][10] Tình trạng ô nhiễm thực phẩm, thiếu nước sạch, ô nhiễm môi trường có
xu hướng gia tăng, thói quen sử dụng các thực phẩm không an toàn, là yếu tốnguy cơ gây bệnh tiêu chảy và cũng là nguyên nhân gây phát tán dịch mộtcách nhanh chóng và nghiêm trọng Để có thêm những thông tin về thực trạngnày, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng mắc tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành của bà mẹ về bệnh tiêu chảy tại 2 xã/phường thành phố Thái Bình” với mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy trẻ dưới 5 tuổi và cách xử trí của bà mẹ tại 2 xã/phường thành phố Thái Bình năm 2017.
2 Mô tả kiến thức của bà mẹ về bệnh và phòng bệnh tiêu chảy tại địa bàn nghiên cứu năm 2017.
Trang 13Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm và phân loại bệnh tiêu chảy
Tiêu chảy là tình trạng cơ thể rối loạn hấp thu nước và điện giải dẫn đếnbài tiết quá mức các thành phần chứa trong ruột Theo định nghĩa của Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) bệnh tiêu chảy là khi bệnh nhân có số lần đi phân lỏngnhiều hơn 3 lần mỗi ngày hoặc đi ngoài nhiều lần Trên lâm sàng bệnh đượcchia thành 3 loại: tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài và lỵ [2], [21]
Tiêu chảy cấp: là đi ngoài phân lỏng ≥3 lần/ngày, kéo dài không quá 14ngày, thường dưới 7 ngày, đây là thể hay gặp nhất, chiếm 80% có đặc điểmtiêu chảy phân lỏng, nhiều nước, có thể gây tử vong chủ yếu do mất nước vàđiện giải Thể này là mục tiêu chính của chương trình Quốc gia phòng, chốngbệnh tiêu chảy Các tác nhân quan trọng gây tiêu chảy cấp thường là
Rotavirus, E.coli, Shigella, Vibrio cholerae, Salmonella.
Tiêu chảy kéo dài: là đi ngoài phân lỏng ≥3 lần/ngày, kéo dài trên 14ngày Trung bình có 3 - 5% tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài Bệnhnhân thường bị sút cân rõ rệt Lượng phân đào thải lớn gây mất nước nhiều
Không có tác nhân vi sinh vật riêng biệt nào gây tiêu chảy kéo dài E.coli,
Shigella có thể có vai trò quan trọng hơn các tác nhân gây bệnh khác
Hội chứng lỵ: đi ngoài phân lỏng ≥3 lần/ngày với đặc điểm phân nhầymáu, thường là có sốt Tốt nhất đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế để có sự chỉđịnh thuốc đặc hiệu tác nhân gây bệnh Tác hại chính của lỵ là bệnh nhânchán ăn, sụt cân nhanh, niêm mạc ruột bị tổn thương do sự xâm nhập của vikhuẩn Bệnh còn gây các biến chứng khác Nguyên nhân quan trọng nhất của
lỵ cấp là Shigella, ít gặp hơn là E.coli, Salmonella [21].
Trang 14Bộ Y tế đưa ra định nghĩa: Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng bất thường từ
3 lần trở lên trong 24 giờ (Chú ý: quan trọng là tính chất lỏng của phân, vì nếuchỉ đi ngoài nhiều lần mà phân bình thường thì không phải là tiêu chảy) Vídụ: trẻ được bú mẹ hoàn toàn đi ngoài phân sệt là bình thường) [2]
Bộ Y tế cũng đưa ra phân loại tiêu chảy như sau [2]:
* Phân loại tiêu chảy theo cơ chế bệnh sinh
- Tiêu chảy xâm nhập: yếu tố gây bệnh xâm nhập vào liên bào ruột non,ruột già, nhân lên, gây phản ứng viêm và phá huỷ tế bào Các sản phẩm này
bài tiết vào lòng ruột và gây tiêu chảy phân máu (Shigella, Coli xâm nhập,
Coli xuất huyết, Campylobacter Jejuni, Salmonella, E.Histolytica).
- Tiêu chảy thẩm thấu: Rotavirus, Giardia lamblia, Cryptospordium bám
dính vào niêm mạc ruột, gây tổn thương diềm bàn chải của các tế bào hấp thu
ở ruột non, các chất thức ăn không tiêu hóa hết trong lòng ruột không đượchấp thu hết sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu, hút nước và điện giải vào lòng ruột,gây tiêu chảy và bất dung nạp các chất trong đó có Lactose
- Tiêu chảy do xuất tiết: phẩy khuẩn tả tiết độc tố ruột, không gây tổnthương đến hình thái tế bào mà tác động lên hẻm liên bào nhung mao làmtăng xuất tiết Có thể cả tăng xuất tiết và giảm hấp thu
* Phân loại tiêu chảy theo lâm sàng
+ Tiêu chảy cấp phân nước (bao gồm cả bệnh tả)
Là đợt tiêu chảy cấp, thời gian không quá 14 ngày, thường khoảng 5 - 7ngày, chiếm khoảng 80% tổng số các trường hợp tiêu chảy Nguy hiểm chính
là mất nước và điện giải Gây giảm cân, thiếu hụt dinh dưỡng nếu không đượctiếp tục nuôi dưỡng tốt
+ Tiêu chảy cấp phân máu (hội chứng lỵ)
Nguy hiểm chính là phá huỷ niêm mạc ruột và gây tình trạng nhiễmtrùng, nhiễm độc Nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết, suy dinh dưỡng và gây
Trang 15mất nước Chiếm khoảng 10% - 15%, có nơi 20% tổng số các trường hợp tiêuchảy Do vị trí tổn thương của niêm mạc ruột nên tính chất phân có thể khácnhau, nếu tổn thương ở đoạn trên ống tiêu hóa (ruột non) thì phân có nhiềunước lẫn máu nhầy (như nước rửa thịt) Nếu tổn thương ở thấp (đại tràng)phân ít nước, nhiều nhầy máu, có kèm theo mót rặn, đau quặn.
+ Tiêu chảy kéo dài
Là đợt tiêu chảy cấp kéo dài liên tục trên 14 ngày, chiếm khoảng 5 - 10%tổng số các trường hợp tiêu chảy Nguy hiểm chính là gây suy dinh dưỡng,nhiễm khuẩn nặng ngoài đường ruột và mất nước Thường phân không nhiềunước, mức độ nặng nhẹ thất thường, kèm theo rối loạn hấp thụ nặng hơn tiêuchảy cấp Tiêu chảy kèm theo suy dinh dưỡng nặng (Marasmus hoặcKwashiokor) Nguy hiểm chính là nhiễm trùng toàn thân nặng, mất nước, suytim, thiếu hụt vitamin và vi lượng
* Phân loại dựa vào nồng độ Natri máu
- Mất nước đẳng trương (Mất nước cùng với mất muối, Na+ máu bình thường)
- Mất nước ưu trương (Mất nước nhiều hơn mất muối, tăng Na+ máu)
- Mất nước nhược trương (Mất muối nhiều hơn mất nước, giảm Na+ máu)
* Phân loại theo mức độ mất nước
- Mất dưới 5% trọng lượng cơ thể: chưa có dấu hiệu lâm sàng
- Mất từ 5% - 10% trọng lượng cơ thể: gây mất nước từ trung bình đến nặng
- Mất trên 10% trọng lượng cơ thể: suy tuần hoàn nặng
1.2 Nguyên nhân tiêu chảy
Bệnh tiêu chảy là một hội chứng lâm sàng của nhiều căn nguyên khácnhau liên quan tới tiêu chảy nhiều lần phân nước, thường kèm theo nôn và sốttùy theo nguyên nhân gây bệnh Các nghiên cứu hiện nay về nguyên nhân gâybệnh tiêu chảy cho rằng trên 75% các trường hợp tiêu chảy được xác định rõtác nhân gây bệnh, được xếp thành các nhóm chủ yếu sau:
Trang 16* Tác nhân do vi khuẩn
Có rất nhiều chủng loại khác nhau là tác nhân gây ra bệnh tiêu chảy,nhưng chủ yếu là một số vi khuẩn sau:
- E.coli: quan trọng là E.coli sinh độc tố ruột gây tiêu chảy ở trẻ trong 3
tuổi đầu của cuộc đời, nhất là ở các nước đang phát triển, ở trẻ em và ngườilớn ít gặp Một nghiên cứu tại Sudan, tác giả cho thấy trong số các tác nhân
gây tiêu chảy trẻ em thì E.coli chiếm 18% [43]
Nghiên cứu của Nguyễn Kim Thoa và Nguyễn Thị Xuân Thu (năm2012) cho thấy trong 111 trường hợp nhập viện do tiêu chảy thì chủ yếu là trẻ
em dưới 5 tuổi và các trường hợp tiêu chảy này chủ yếu do nhiễm trùng
E.coli, tỷ lệ mắc ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ tập trung ở 6 - 12 tháng chiếm đến
50,5% [35] Nghiên cứu của tác giả Aria Kusuma và cộng sự cũng cho biết
E.coli ô nhiễm vào thức ăn của trẻ và có thể gây tiêu chảy cho trẻ [46].
- Shigella: là tác nhân quan trọng nhất gây bệnh lỵ, được tìm thấy 60% các đợt lỵ, có 4 nhóm huyết thanh đó là S.dysenteria, S.feefnery, S.boydi,
S.sonnei
Theo ước tính trong nghiên cứu tổng quan gần đây của Tổ chức Y tế
Thế giới hàng năm có khoảng 165 triệu lượng người mắc lỵ do Shigella, trong
đó 99% xuất hiện ở các nước đang phát triển và cũng tại các nước này 69%lượt mắc bệnh là trẻ em dưới 5 tuổi và trong 1,1 triệu người bị tử vong do
nhiễm vi khuẩn Shigella ở các nước đang phát triển thì 61% số ca tử vong là
trẻ em dưới 5 tuổi [65]
Nghiên cứu của một số tác giả khác cũng cho thấy kết quả tương tự tại
Hồng Kông từ năm 2003 đến năm 2012 tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi do Shigella chiếm 69% và 86% là ở độ tuổi trên 70 Trong số các trường hợp mắc lỵ do Shigella thì 69% thuộc nhóm S.sonnei, 28% thuộc nhóm S.feefnery, 2% thuộc nhóm
S.boydi và 1% thuộc nhóm S.dysenteria [48]
Trang 17- Campylobacter Jejuni: Gây bệnh chủ yếu ở trẻ em, lây qua tiếp xúc
trực tiếp với phân người, uống nước bị vấy bẩn, uống sữa, ăn phải thực phẩm
ô nhiễm C.Jejuni gây tóe nước ở hai phần ba trường hợp và một phần ba
trường hợp gây hội chứng lỵ kèm theo sốt
- Shalmonella không gây thương hàn, do lây từ súc vật nhiễm trùng, thực phẩm từ động vật bị ô nhiễm mầm bệnh Tiêu chảy do Shalmonella
thường gây tóe nước đôi khi cũng có biểu hiện như hội chứng lỵ và sốt
-Vi khuẩn tả (Vibrio cholera 01) có 2 typ sinh vật (typ cổ điển và typ
Eltor), 2 typ huyết thanh (Ogawa và Inaba) có thể gây thành dịch lớn
* Vi rút Rota (Rotavirus)
Trong số các tác nhân gây bệnh tiêu chảy do các vi sinh vật, thì nguyên
nhân do Rotavirus được cho là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tiêu chảy hiện nay Ngoài ra cũng có nhiều vi rút khác như Adenovirus và Norwlkvirus cũng
gây bệnh tiêu chảy Nghiên cứu của Lê Anh Phong, Phạm Thị Minh Hồng(2008) nghiên cứu trên 176 bệnh nhân nhi tiêu chảy cấp cho thấy 35,2% bệnh
nhân có Rotavirus trong phân [27].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thảo thấy ở miền Bắc tỷ lệ
nhiễm Rotavirus có xu hướng tăng cao vào các tháng 7, tháng 8 và từ tháng
11 đến tháng 3; cao nhất là tháng 1 chiếm 69,2%; tháng 7 và tháng 8 chiếm
64,5% Tỷ lệ nhiễm Rotavirus giảm dần vào các tháng mùa hè trong đó thấp
nhất vào tháng 5 (41,7%) Khu vực miền Trung và miền Nam tỷ lệ nhiễm
Rotavirus phân bố đồng đều theo các tháng và tỷ lệ nhiễm tương đối cao từ
42,3% đến 84,1% Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm Rotavirus chiếm tỷ
lệ cao ở trẻ em chiếm 64,6% Trong đó, nhóm trẻ từ 13 đến 23 tháng tuổi
nhiễm Rotavirus cao nhất chiếm 44,2% trên tổng số trẻ [34] Nghiên cứu của một số tác giả khác cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ nhiễm Rotavirus chiếm tỷ
lệ cao nhất ở nhóm tuổi từ 12 đến 36 tháng (chiếm 79,2% trên tổng số trẻ
nhiễm Rotavirus trong tiêu chảy cấp) [5], [17], [37].
Trang 18* Ký sinh trùng
Là tác nhân đóng góp một phần quan trọng gây tiêu chảy trẻ em, một số
nguyên nhân chính được xác định như Entamoeba histolytica, Giardia lamblia,
gây tiêu chảy ở trẻ em và ở bệnh nhân gây suy giảm miễn dịch
* Nấm
Hay gặp hơn cả là Candida albicans loại nấm thường sống ký sinh
trong ống tiêu hóa không gây bệnh tự nhiên mà khi gặp điều kiện thuận lợi sẽgây tiêu chảy (ví dụ như sử dụng kháng sinh kéo dài…)
Các nguyên nhân khác như chế độ ăn không phù hợp, thiếu men tiêuhóa, biến chứng của một số bệnh khác như sởi, viêm tai giữa… Và không tìmthấy nguyên nhân chiếm khoảng 25%
1.3 Tình hình mắc, chết do bệnh tiêu chảy
Tiêu chảy trẻ em dưới 5 tuổi thường chiếm tỷ lệ cao ở các nước thunhập thấp và các nước đang phát triển [49] Những năm gần đây do sự tiến bộtrong quản lý bệnh tiêu chảy nên đã làm giảm rất mạnh tỷ lệ chết do bệnh tiêuchảy Các phương pháp mới trong điều trị và dự phòng mất nước, cho trẻ em
bú, tiếp tục cho ăn, sử dụng kháng sinh hợp lý đã giảm dần thời gian và tìnhtrạng bệnh, đồng thời hạ thấp số bệnh nhân Nghiên cứu của tác giả NguyễnThị Gái và cộng sự cho biết tại khoa Nhi bệnh viện Bình Thuận, kiến thức củacác bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị tiêu chảy 83,8% bà mẹ có kiến thức đúng vềphòng bệnh; 75,4% bà mẹ biết cách pha gói ORS [7]
Nghiên cứu của Christa và cộng sự (2010) cho thấy tỷ mắc tiêu chảy tạicác nước có thu nhập thấp có xu hướng giảm dần, ước tính giảm từ 3,4 vàonăm 1999 xuống còn 2,9 vào năm 2010, tỷ lệ tử vong do tiêu chảy không cònđứng hàng đầu như những năm 1980 nhưng tử vong do tiêu chảy vẫn chiếm
vị trí cao trong các nguyên nhân tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi hiện nay tạicác nước đang phát triển [49]
Trang 19Theo WHO và UNICEF có khoảng 2 tỷ trường hợp mắc bệnh tiêu chảytrên toàn thế giới mỗi năm và 1,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì tiêu chảymỗi năm, chủ yếu là ở các nước phát triển Trong đó 78% trường hợp chết dotiêu chảy là ở khu vực Châu Phi và Đông Nam khu vực Châu Á [65] Bệnhtiêu chảy vẫn là căn bệnh chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu bệnh tật ở trẻ em [15].
Một số nghiên cứu cho thấy có tới 70% tử vong do tiêu chảy ở trẻ emlứa tuổi dưới 24 tháng và ở các nước đang phát triển [49], [51] Nguyên nhânchính của tử vong do tiêu chảy là tình trạng kiệt nước và hậu quả thiếu dinhdưỡng nặng Trong 3 thể tiêu chảy: tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài và bệnh
lỵ, phần lớn tử vong do tiêu chảy là ở thể tiêu chảy cấp, hầu hết các tác giảđều thống nhất rằng tỷ lệ mắc và chết do tiêu chảy gặp chủ yếu ở trẻ nhỏ dưới
5 tuổi, trong đó phần lớn xảy ra trong 2 năm đầu của cuộc đời Chỉ số mắc vàchết cao nhất ở nhóm 6 - 11 tháng tuổi [64]
Ở Việt Nam do thời tiết nhiệt đới nóng ẩm, là một quốc gia đang pháttriển, các điều kiện vệ sinh môi trường vẫn chưa thực sự đảm bảo Vì vậy, tỷ
lệ mắc tiêu chảy ở Việt Nam vẫn còn tương đối cao, đặc biệt là ở những vùngnông thôn, những hiểu biết về vệ sinh phòng bệnh cũng như điều kiện sinhhoạt của người dân sống ở vùng nông thôn còn thấp so với thành thị Tại ViệtNam tiêu chảy luôn là một trong mười bệnh có tỉ suất mắc và chết cao trongnhiều thập niên qua Các nghiên cứu về tiêu chảy tại Việt Nam tương đối khácnhau về kết quả, thời gian, địa bàn nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, tuynhiên theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì tỷ lệ mắc tiêu chảy ở ViệtNam chủ yếu là ở trẻ em ở độ tuổi dưới 5 tuổi [5], [8]
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà và cộng sự: Nghiên cứu mô tả cắtngang được thực hiện tại 4.698 hộ gia đình với 19.476 thành viên tại 6 tỉnh,thuộc 6 vùng sinh thái Việt Nam, năm 2014 Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc tiêuchảy trong 4 tuần của cộng đồng là 3,5%, khá cao ở Hòa Bình, Thái Bình,
Trang 20Thanh Hóa, Đắk Lắk (3,8% - 4,9%) và khá thấp ở Bình Định, An Giang(1,4% - 1,6%); kết quả phân tích hồi quy logistic cho thấy bệnh tiêu chảy cóliên quan chặt chẽ với độ bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh, độ bao phủ nước sạch,chất lượng nước sinh hoạt, hành vi rửa tay xà phòng, hành vi vệ sinh đảm bảo
an toàn thực phẩm của người dân [11] Nghiên cứu của Tạ Quang Trầm chothấy tỷ lệ mắc tiêu chảy trẻ dưới 5 tuổi bị ảnh hưởng rất lớn bởi thói quen ănuống, vệ sinh cá nhân [38]
Nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Tuyết và cộng sự tại bệnh viện NhiĐồng II năm 2005 cho thấy tiêu chảy cấp xảy ra ở nam nhiều hơn nữ (ở nam
là 62,3% và ở nữ là 37,7%), đa số dưới 4 tuổi và bệnh thường xảy ra vào mùa
lễ hội, từ 2 tháng cuối năm trước qua tháng đầu năm sau Tỷ lệ nhiễm khuẩnthấp và có sự tương thích giữa chuẩn đoán trên lâm sàng với sự hiện diện củabạch cầu trong phân [39]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kê và cộng sự tại bệnh việnNhiệt Đới thành phố Hồ Chí Minh (2007) cho thấy trong 200 mẫu bệnh phẩmcủa bệnh nhân mắc tiêu chảy nhập viện thì lứa tuổi mắc bệnh tiêu chảy chủyếu nằm trong độ tuổi từ 19 đến 81 tuổi, tỷ lệ giới nam là 46,0% và giới nữ là54,0%; sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >0,05 Các vi khuẩnđường ruột định danh được mà các bệnh nhân tiêu chảy nhiễm chủ yếu là
Shigella.sp chiếm 24,5%; E.coli và Vibrio mỗi loại chiếm 22,6%; Salmonella.sp chiếm 20,4%; S.aureus chiếm 10,2% [20].
Một nghiên cứu khác của tác giả Phan Thị Bích Ngọc tại xã An Nghĩa,huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi cho thấy nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi mắctiêu chảy cao nhất chiếm 70,9%; tiếp theo là nhóm tuổi từ 12 tháng đến 24tháng chiếm 41,7% Tỷ lệ mắc tiêu chảy ở nam là 35,8% và ở nữ là 31,6%[26]
Trang 21Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm mô tả thực trạng bệnhtiêu chảy cấp ở trẻ em từ 6 đến 23 tháng tuổi tại khoa Nhi bệnh viện XanhPôn năm 2013 - 2014 Kết quả cho thấy 121 trẻ nhập viện vì tiêu chảy cấpthì nam mắc bệnh nhiều hơn trẻ nữ với tỉ lệ tương ứng là 69,4% và 30,6%.
Độ tuổi nhập viện do tiêu chảy cấp thường gặp là 6 - 12 tháng tuổi với63,6% Trong số những trẻ nhập viện vì tiêu chảy cấp, có tới 67 trẻ chiếm
55,4% trường hợp tiêu chảy cấp do Rotavirus và chỉ có 23,1% được uống
vắc xin phòng vi rút này Có 116 trẻ nhập viện với triệu chứng lâm sàng
nặng chiếm 95,9% Nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ tiêu chảy cấp do Rotavirus cao, cần cho trẻ uống vắc xin phòng Rotavirus đầy đủ [31].
1.4 Một số biện pháp xử trí và phòng bệnh tiêu chảy
1.4.1 Xử trí bệnh tiêu chảy tại nhà
* Nguyên tắc chung
Khi bệnh tiêu chảy gây ức chế sự hấp thu nước và muối (chất điện giải
Na+, Cl- và K+) tăng tiết nước và muối trong lòng ruột, từ đó hiện diện mộtkhối lượng dịch bất thường, kích thích gây tiêu chảy Vì vậy vấn đề cơ bảncủa xử trí tiêu chảy là chạy đua với lượng nước đã mất nên cần phải bù ngaymột lượng nước, điện giải tương ứng và lượng dự phòng có thể mất tiếp theo
- Đề phòng mất nước và điện giải nếu có thể bù nước bằng đường uống
Bù nước cho trẻ bị tiêu chảy bằng đường uống sẽ giảm tỷ lệ tử vong [62]
- Bù lượng nước, điện giải bằng đường truyền tĩnh mạch khi có mấtnước nặng [21]
Bộ Y tế cũng đã đưa ra tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy trẻ em banhành kèm theo Quyết định số 4121/QĐ-BYT ngày 28 tháng 10 năm 2009 của
Bộ trưởng Bộ Y tế, các nội dung được trình bày rất cụ thể đó là muốn xử trítốt được tiêu chảy trẻ em phải phân loại được bệnh, đánh giá được mức độmất nước, đưa ra phác đồ điều trị, quyết định điều trị, phòng tiêu chảy [2]
Trang 22* Xử trí bệnh tiêu chảy tại nhà
Thực hành xử trí bệnh nhân tiêu chảy theo các nguyên tắc sau
- Nguyên tắc thứ nhất: Cho bệnh nhân mắc tiêu chảy uống các loại dịchnhiều hơn bình thường khi bị tiêu chảy, nếu là trẻ em còn bú hãy cho trẻ búnhiều hơn bình thường, nếu mẹ thiếu sữa hãy cho trẻ uống thêm sữa bò phaloãng gấp đôi Cho người bệnh uống các loại dịch sẵn có tại gia đình hoặcdùng ORS pha theo đúng hướng dẫn trên bao bì Đồng thời lưu ý dung dịchORS không phải là thuốc điều trị tác nhân gây bệnh
Nếu không có sẵn ORS có thể dùng nước cháo muối thay thế, tuy nhiênnước cháo muối cũng không phải là thức ăn, nên không thể thay thế cho cácbữa ăn bình thường được Nếu cháo muối không dùng hết trong 4 - 6 giờ (tuỳtheo mùa) thì đổ đi, ngoài ra còn một số dung dịch có thể thay thế như nướctrái cây, nước muối đường pha đúng hướng dẫn của bác sỹ
WHO đã khuyến nghị tiêu chuẩn của một dung dịch lý tưởng như sau:Thành phần dung dịch phải đảm bảo an toàn và có hiệu quả trong việc phòngmất nước, khi chế biến các thành phần quy định sẽ không được thay đổi vànằm trong khoảng cách an toàn, thành phần và dụng cụ pha chế phải có sẵn và
dễ kiếm tại địa phương; các bà mẹ phải làm được dễ dàng (tốt nhất các dungdịch này thường vẫn được các bà mẹ tự làm) [57], [65]
Đối với trẻ em thì các tác giả khuyến cáo về lượng bù dịch như sau:
Tuổi Lượng ORS cho uống sau
mỗi lần đi ngoài
Lượng ORS cần cung cấp
để dùng tại nhà
10 tuổi trở lên uống cho đến khi hết khát 2.000ml/1ngày
Nghiên cứu của tác giả Harrell và cộng sự cho biết dung dịch ORS làmột loại dịch bù nước và điện giải tốt trong xử trí tiêu chảy cấp, giảm tỷ lệ tửvong, tuy nhiên không làm giảm triệu chứng tiêu chảy [51] Nghiên cứu của
Trang 23tác giả Hoston KA và cộng sự còn cho biết ORS còn có tác dụng tốt cho trẻ bịsuy dinh dưỡng cấp tính [52] Tuy nhiên, việc để cho các bà mẹ tiếp cận vàhiểu biết được ORS các cán bộ y tế cần phải có những hành động tích cực,nghiên cứu của tác giả Kadam DM và cộng sự cho thấy tại vùng Vasind ở Ấn
Độ các bà mẹ lại không hiểu rõ được cách dùng ORS và vai trò của ORS vớicon mình khi bị tiêu chảy [55] Một nghiên cứu khác của tác giả Rohit Anand
và cộng sự cũng cho biết là các bà mẹ vẫn chưa có đầy đủ các kiến thức vềORS, tại Ấn Độ chỉ có 18,7% các bà mẹ có con dưới 5 tuổi được điều tra cóthể nói đúng về ORS [64]
- Nguyên tắc thứ hai: Tiếp tục cho ăn Tùy theo đối tượng mà bổ sungcác lượng thức ăn phù hợp Đối với trẻ 4 - 6 tháng tuổi nên tiếp tục ăn các loạithức ăn có tỷ lệ sinh dưỡng và năng lượng cao nhất Tùy theo tuổi của trẻ phảicho thêm bột và loại đậu có sẵn ở địa phương hoặc cho thêm thịt, trứng, cá.Nên cho thêm dầu vào thức ăn để thức ăn có nhiều năng lượng hơn Nước éphoa quả và chuối tươi cũng rất cần vì chúng có chứa nhiều kali Tránh cácthực phẩm có nhiều xơ hoặc ít chất dinh dưỡng Không nên ăn súp pha loãng
vì chúng chỉ làm đầy dạ dày mà không cung cấp đủ chất dinh dưỡng Khôngnên ăn thức ăn có nhiều đường vì có thể làm tiêu chảy nặng thêm Đối với trẻ
em cần khuyến khích cho trẻ ăn càng nhiều càng tốt, cho ăn ít nhất 6 lần mộtngày và cho ăn thêm mỗi ngày một bữa trong 2 tuần sau khi khỏi bệnh
- Nguyên tắc thứ ba: Thường xuyên theo dõi các dấu hiệu mất nước,đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu sau 2 ngày chữa tại nhà không đỡ hoặc có cácdấu hiệu sau: đi ngoài quá nhiều lần, rất khát nước, mắt trũng, có sốt, không
ăn hoặc không uống bình thường, trẻ có vẻ không tốt lên
Ba nguyên tắc trên rất có giá trị đối với các vùng xa, hẻo lánh, xa cơ
sở y tế hoặc trong các dịch vụ có số lượng người mắc quá nhiều Điều trịtiêu chảy tại nhà được đánh giá là nguyên nhân chủ yếu hạ thấp tỷ lệ tử vong
Trang 24do tiêu chảy trong những năm qua và Tổ chức Y tế Thế giới vẫn coi đây lànền tảng khuyến cáo các quốc gia nỗ lực phòng chống tiêu chảy trong nhữngnăm tới [64], [65]
1.4.2 Phòng bệnh tiêu chảy
Để giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy ở trẻ em, WHO đãthành lập Chương trình Phòng chống bệnh tiêu chảy toàn cầu Ngoài ra còn cócác Trung tâm Nghiên cứu bệnh tiêu chảy quốc tế và quốc gia cũng đã đượcthành lập Tại thủ đô Dhaka, Bangladesh có Trung tâm Quốc tế nghiên cứubệnh tiêu chảy Với sự hỗ trợ của chương trình này, Bộ Y tế Việt Nam đãthành lập Chương trình Phòng chống bệnh tiêu chảy quốc gia, gồm hệ điều trị
và hệ dự phòng
- Hệ điều trị gồm các bệnh viện từ tuyến Trung ương đến các tuyếntỉnh, huyện và Trạm Y tế cấp xã/phường, với sự thành lập của các đơn vị điềutrị bệnh tiêu chảy (DTU), đơn vị bù dịch bằng đường uống (đơn vị ORT), gócđiều trị bằng đường uống (góc ORT)
- Hệ dự phòng gồm Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trung tâm Y tế
Dự phòng tỉnh, Trung tâm Y tế huyện và các Trạm Y tế xã/phường
Nội dung huấn luyện xử trí bệnh tiêu chảy đã được đưa vào chươngtrình giảng dạy của các trường Đại học Y, các trường Cao đẳng và Trung cấp
Y tế Từ năm 1984 đến 1997, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích trongcông tác phòng chống bệnh tiêu chảy, cụ thể là đã giảm được tỷ lệ nhập viện,
tỷ lệ tử vong, tỷ lệ SDD và ngăn ngừa bệnh tiêu chảy kéo dài nặng nhờ ápdụng liệu pháp bù dịch sớm, sử dụng phác đồ điều trị hiệu quả cũng như chotrẻ ăn chế độ dinh dưỡng đúng trong và sau điều trị bệnh tiêu chảy
Phòng bệnh tiêu chảy là mục tiêu lâu dài nhằm làm giảm tỷ lệ mắc mộtcách bền vững Phòng bệnh tiêu chảy có rất nhiều biện pháp song những biệnpháp sau đây được xem là có hiệu quả cao gắn liền với sinh hoạt và cuộc sống
Trang 25của cộng đồng: cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, sử dụng nhà tiêu hợp vệsinh, vệ sinh cá nhân và vệ sinh thực phẩm thật tốt, nuôi con bằng sữa mẹ,cho trẻ ăn sam hợp vệ sinh, tăng cường giám sát và phòng chống bệnh tả vàcác bệnh dịch đường tiêu hóa ở vùng nguy cơ, nhất là các ổ dịch cũ [1], [59].
1.4.2.1 Cung cấp nước sạch cho sinh hoạt
Thống kê cho thấy rằng những gia đình, cộng đồng sử dụng nguồn nướcsạch ít có nguy cơ bị bệnh đường ruột, đặc biệt là bệnh tiêu chảy [24], [64].Hầu hết các tác nhân gây bệnh tiêu chảy lây lan theo đường phân - miệng,thông qua thức ăn nước uống bị ô nhiễm hoặc lây lan trực tiếp từ người nàysang người khác Vì vậy việc cung cấp nước sạch giúp vệ sinh tốt hơn như rửatay, rửa thực phẩm, dụng cụ chứa thức ăn được sạch sẽ, những việc này sẽ gópphần ngăn ngừa các tác nhân của bệnh tiêu chảy [59]
Tác giả Hoàng Văn Minh và cộng sự cho biết nhờ sử dụng nước sạch
và nhà tiêu hợp vệ sinh đã phòng ngừa được tỷ lệ mắc tiêu chảy, tổng lợi íchkinh tế trong một năm tại xã nghiên cứu là 43 triệu đồng Việt Nam [24]
1.4.2.2 Vệ sinh cá nhân và vệ sinh thực phẩm
Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, trước khi chế biến thức ăn và saumỗi lần đi đại tiện, tiểu tiện để tránh phát tán mầm bệnh Mọi người, mọi nhàđều thực hiện ăn chín, uống sôi Không ăn rau sống, không uống nước lã Không
ăn thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn đặc biệt là mắm tôm sống, hải sản sống, gỏi cá,tiết canh, nem chua Tất cả những thói quen sinh hoạt lành mạnh, hợp vệ sinh
sẽ giảm nguy cơ mắc tiêu chảy [33], [53]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Ba cho thấy xét nghiệm tại các bếp
ăn hộ gia đình của 10 tỉnh Việt Nam thì có tới 60,9% hộ gia đình không cóphương tiện bảo quản thực phẩm; 33,3% mẫu rau sống ở vùng thành thị
nhiễm E.coli [1].
1.4.2.3 Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
Trang 26Nguyên nhân lây truyền bệnh tiêu chảy theo phương thức đường ănuống Khi thức ăn và nước uống bị nhiễm phân có chứa mầm bệnh khôngđược xử lý nhiệt hoặc đã xử lý nhưng dễ bị tái nhiễm [40] Phân người cần cónhà tiêu để quản lý chặt chẽ, mỗi hộ gia đình cần có một nhà tiêu hợp vệ sinh,cấm đi tiêu bừa bãi Các nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước đều minhchứng được là sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và xử lý phân đúng quy định sẽngăn ngừa được các bệnh truyền qua phân trong đó có tiêu chảy trẻ em [11],[49], [56], [60].
1.4.2.4 Nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ từ khi sinh đến 6 tháng tuổi Sữa mẹđảm bảo vệ sinh, chứa kháng thể bảo vệ là dịch tự nhiên không tốn kém vàsữa mẹ dung nạp rất tốt
1.4.2.5 Cho trẻ ăn sam (ăn dặm)
Cho ăn sau 6 tháng nếu đủ sữa mẹ Thức ăn bổ sung thêm phải đủ chấtdinh dưỡng, đủ năng lượng Chế biến, bảo quản và dùng nguồn nước hợp vệsinh để chế biến Thức ăn khi chế biến phải đi từ loãng, sền sệt đến đặc (theo
độ tuổi của trẻ) Nếu thực hiện theo đúng các hướng dẫn của cán bộ y tế sẽgiảm nguy cơ mắc tiêu chảy cho trẻ Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằngtình trạng dinh dưỡng ít bị ảnh hưởng bởi thời gian tiêu chảy kéo dài mà bịảnh hưởng bởi chế độ nuôi dưỡng [32] Nghiên cứu của tác giả Ogbo FA vàcộng sự cho thấy nếu cải thiện hành vi ăn uống của người mẹ sẽ làm giảmgánh nặng tiêu chảy ở trẻ [61] Tuy nhiên, thực phẩm cho trẻ ăn rất quantrọng, một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Ngọc Diệp và cộng sự chothấy một số nhóm thực phẩm không đạt chỉ tiêu vi sinh phòng ngừa tiêu chảycao (32,2%) [4]
1.4.2.6 Tiêm phòng
Trang 27Hiện nay, một giải pháp khác để phòng bệnh tiêu chảy đó là tiêm vắcxin phòng bệnh Phải tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo lịch tiêm chủng
sản xuất và Chương trình Tiêm chủng Quốc gia Từ tháng 6 năm 2009, WHO
đã chính thức khuyến cáo đưa vắc xin Rota vào trong chương trình tiêm
chủng mở rộng cho trẻ em trên toàn cầu Việt Nam đang cân nhắc việc đưa
vắc xin phòng Rotavirus vào trong chương trình Tiêm chủng mở rộng trong tương lai Một nghiên cứu ở các nước châu Á cho thấy nếu dùng vắc xin Rota
có thể giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy trẻ em được 40% [47]
- Vắc xin tả uống và vắc xin thương hàn được chỉ định sử dụng chonhững vùng có nguy cơ dịch theo chỉ đạo của Cục Y tế Dự phòng và Chươngtrình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia
Ngoài ra còn một số vắc xin khác như vắc xin lỵ, vắc xin E.coli đang
được nghiên cứu sản xuất và sẽ được đưa vào sử dụng trong tương lai
1.5 Kiến thức, thực hành của người dân về bệnh tiêu chảy và phòng bệnh tiêu chảy
Bệnh tiêu chảy vẫn luôn là một vấn đề thời sự của Y tế Thế giới từnhiều năm nay Trên phạm vi toàn cầu, tiêu chảy là nguyên nhân đứng hàngthứ 2 gây tử vong sau bệnh tim mạch cho mọi lứa tuổi và là nguyên nhân gây
tử vong cho trẻ em [64] Ở những vùng đông dân cư, kém phát triển tiêu chảy
là nguyên nhân gây tử vong là cao nhất Ở nước ta, trình độ học vấn đã đượccải thiện, trình độ hiểu biết của đại đa số người dân tăng lên Tuy nhiên một
Trang 28số nơi dân trí vẫn còn thấp, đặc biệt ở vùng miền núi và nông thôn, nên việctuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao dân trí nói chung và các vấn đề sứckhỏe, bệnh tật nói riêng của các đối tượng này vẫn cần làm thường xuyên vàtích cực hơn Nếu người dân có kiến thức tốt việc phối hợp với các thầy thuốctrong điều trị và phòng bệnh tiêu chảy sẽ đạt hiệu quả cao hơn, rút ngắn thờigian điều trị và giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy và tử vong do tiêu chảy
Các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng cho thấy các bà mẹ có condưới 5 tuổi còn thiếu hụt kiến thức và thực hành về chăm sóc con nói chung
và con bị tiêu chảy nói riêng Nghiên cứu của tác giả Akhtaruzzaman và cộng
sự cho thấy tại một vùng của Sudan, khi tìm hiểu về kiến thức của bà mẹ cócon dưới 5 tuổi về ORS và thực hành cho ăn cũng như sử dụng các thuốc chotrẻ khi bị tiêu chảy có 77,5% bà mẹ sử dụng ORS theo kiến thức của họ và53,06% bà mẹ sử dụng nước ít hơn khi trẻ bị tiêu chảy [44] Nghiên cứu củatác giả Digre P và cộng sự cũng cho biết có 80% các bà mẹ biết ORS nhưngchỉ có dưới 50% biết vai trò của ORS và một tỷ lệ nhỏ cho rằng việc cho trẻuống ORS là khó khăn [50] Tại Nepal có khoảng 45.000 trẻ em dưới 5 tuổi bịtiêu chảy hàng năm Một nghiên cứu lại cho thấy có 97,6% các bà mẹ có biết
về ORS; 50% các bà mẹ sử dụng ORS theo đúng cách [54] Một nghiên cứukhác cũng chỉ ra không ai trong số các bà mẹ được phỏng vấn có kiến thứcđúng về sử dụng ORS [58]
Nghiên cứu của Lê Hoàng Ninh và cộng sự về hoạt động phòng chốngdịch tiêu chảy cấp tại một số tỉnh miền Nam cho thấy đa số người dân có nhậnthức về tiêu chảy cấp là nguy hiểm có thể gây tử vong nếu không cứu chữakịp thời (90,7%) và từ đó có những nhận thức về biện pháp phòng ngừa tiêuchảy cấp cho bản thân và gia đình như ăn chín, uống sôi, giữ vệ sinh cá nhân,không đi cầu ra kênh rạch (89,3%) cũng như ý thức rửa tay trước khi ăn vàsau khi đi vệ sinh bằng xà phòng của người dân cũng khá cao (chiếm
Trang 29>60,5%) Tuy nhiên đây chỉ là kiến thức và trong đó chỉ có 26,8% người dân
có kiến thức đúng về việc khử khuẩn môi trường trong khi đây là một kiếnthức rất quan trọng [25]
Lê Hồng Phúc và Lý Văn Xuân khi nghiên cứu về kiến thức, thực hànhcủa bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong xử lý tiêu chảy tại nhà tại huyện Ba Tri,tỉnh Bến Tre cho thấy trong 355 bà mẹ có 26,9% bà mẹ có kiến thức tốt;17,9% bà mẹ có thái độ đúng và 17,3% các bà mẹ có thực hành đúng về xử lýtiêu chảy cấp [28]
Nghiên cứu tại Khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai năm 2007 của Phan ThịCẩm Hằng và Nguyễn Văn Bàng về tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hànhcủa các bà mẹ liên quan đến tiêu chảy cho thấy 58,8% các bà mẹ biết mộtphần tác dụng của ORS; 41,2% biết được 2 loại gói ORS có bán ở các hiệuthuốc; 72,9% không biết thành phần gói ORS và 21,2% biết sai lượng dịchORS cho trẻ uống khi đang bị TCC; 57,6% các bà mẹ biết đúng loại dịchthay thế ORS, nhưng có tới 65,9% không biết cách cho trẻ ăn thêm khi trẻđang bị TCC; 69,4% các bà mẹ dự trữ sẵn ORS ở nhà, 88,2% cho rằng ORStốt cho con của họ và 94,1% chấp nhận sử dụng ORS nếu con của họ bị TCClần sau [13] Một nghiên cứu khác tại chỉ ra các bà mẹ chưa thực sự có thôngtin chính xác liên quan đến sử dụng ORS Ở Ấn Độ chỉ có 18,7% bà mẹ cócon dưới 5 tuổi có thể nói đúng về ORS [63]
Nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Hà và cộng sự cũng cho thấy kiến thức vàthực hành của người dân về bệnh tiêu chảy cấp tại 2 xã tỉnh Yên Bái với điều tracắt ngang trên 400 hộ gia đình: có trên 90,5% người dân được điều tra có biếtbệnh tiêu chảy cấp, tuy nhiên chỉ có 44,5% cho là bệnh cần cách ly [10]
Trang 30Kết quả nghiên cứu khác tại một số xã ở Thừa Thiên Huế, tác giả chothấy cho thấy kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc trẻ em còn khá kém Chỉ21% kể đủ 6 bệnh của chương trình tiêm chủng Tương tự như thế với cácbiểu hiện tiêu chảy nặng như khát nước nhiều, đi ngoài nhiều lần, phân cómáu từ 3,8% đến 24,2% [3]
Tại tỉnh Thái Bình, năm 2015 đã kiểm soát, giám sát, quản lý và xử lýtốt các ổ dịch, các bệnh truyền nhiễm gây dịch, không xuất hiện cúm A(H5N1, H7N9), không phát hiện các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thuộcchương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) Số mắc/chết một số bệnh truyềnnhiễm trong 12 tháng năm 2015, trong đó tiêu chảy (73.358/0) [41]
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã/phường thuộc thành phố Thái Bình,tỉnh Thái Bình Thái Bình là một tỉnh ven biển đồng bằng sông Hồng, miềnBắc Việt Nam Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110
km về phía Đông Nam, cách thành phố Hải Phòng 70km về phía Tây Nam.Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: phía Bắc giáp Hải Dương, phía TâyBắc giáp Hưng Yên, phía Đông Bắc giáp Hải Phòng, phía Tây giáp Hà Nam,phía Tây và Tây Nam giáp Nam Định, phía Đông là biển Đông Địa hình khábằng phẳng với khí hậu cận nhiệt đới ẩm Tỉnh Thái Bình có 1 thành phố TháiBình và 7 huyện là Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy, Tiền Hải,Kiến Xương, Vũ Thư
Thành phố Thái Bình là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội củatỉnh, là 1 trong 6 đô thị của vùng duyên hải Bắc Bộ Đồng thời là đầu mối giaothông quan trọng giao lưu với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng Sông Hồng
và các huyện trong tỉnh Thành phố Thái Bình có diện tích tự nhiên 67,71 km2,dân số 209.288 người, có 59.169 hộ y tế, 429 thôn tổ dân phố với với 301 y tếthôn tổ, số trẻ dưới 5 tuổi là 16.697 trẻ Chia hai vùng: vùng ngoại thành gồm
09 xã (Đông Hòa, Vũ Chính, Vũ Phúc, Phú Xuân, Tân Bình, Vũ Đông, Vũ Lạc,Đông Thọ, Đông Mỹ) và vùng nội thành có 10 phường (Bồ Xuyên, PhúcKhánh, Kỳ Bá, Tiền Phong, Quang Trung, Trần Lãm, Lê Hồng Phong, ĐềThám, Trần Hưng Đạo, Hoàng Diệu) trong đó dân số nông nghiệp chiếm tới32,56% Thành phố Thái Bình có mạng lưới y tế phát triển: có nhiều bệnh viện
và phòng khám đa khoa Mạng lưới y tế bao phủ toàn diện từ thành phố đến xã/
Trang 32phườn, thôn/tổ Triển khai có hiệu quả các chương trình Y tế mục tiêu Quốcgia, các biện pháp phòng chống dịch bệnh và nâng cao chất lượng khám chữabệnh tại các tuyến y tế cơ sở Về nhân lực của các Trạm Y tế các xã/phường đãđược bổ sung đầy đủ số lượng, sắp xếp tương đối đủ các chức danh thực hiệnnhiệm vụ chuyên môn theo chuẩn Quốc gia về Y tế xã.
Xã nghiên cứu là xã Vũ Chính, nằm ở cửa ngõ phía Nam của thành phốThái Bình, cách trung tâm thành phố 3,5 km; phía Đông giáp với Vũ Lạc,phía Tây giáp với xã Vũ Phúc, phía Nam giáp với xã Việt Thuận huyện VũThư, phía Bắc giáp phường Kỳ Bá Diện tích tự nhiên của xã là 5,58 km2 gồm
12 thôn và 2 tổ dân phố, dân số 12.930 người, 3.821 hộ y tế, phụ nữ trong độtuổi 15 - 49 là 3.298 người và 1.193 trẻ dưới 5 tuổi Đây là một xã thuầnnông, nhân dân trong xã sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp chiếm70%, ngoài ra còn có thêm vườn hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm, một số
hộ gia đình là làm nghề buôn bán nhỏ lẻ và dịch vụ tiểu thủ công nghiệp.Trong những năm qua do làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, vệ sinh môitrường, tiêm chủng phòng bệnh vì vậy không có dịch bệnh lớn xảy ra, nhữngbệnh có vắc xin giảm rõ rệt, không có chết mẹ, chết do uốn ván, tuổi thọngười dân trong xã ngày càng tăng
Phường nghiên cứu là phường Trần Lãm được thành lập từ tháng 6 năm
2002 với diện tích tự nhiên 4,031 km2 chia thành 37 tổ dân phố, dân số 18.760người với 5.760 hộ y tế, phụ nữ 15 - 49 tuổi là 9.350 và 1.553 trẻ dưới 5 tuổi.Dân cư chiếm khoảng 35% là cán bộ công nhân viên chức, cán bộ hưu trí,25% làm nông nghiệp còn lại là học sinh, nhân dân, buôn bán và làm nghềphụ Có hơn 25 cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp lớn và vừa đóngtrên địa bàn phường, kinh tế phát triển và trật tự an ninh ổn định Công tácchăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đượcĐảng, chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm, phường có nhiều phong
Trang 33trào chăm sóc sức khoẻ nhân dân vững mạnh như phong trào quan tâm chămsóc sức khoẻ người cao tuổi, chăm sóc sức khỏe trẻ em, câu lạc bộ vì sứckhoẻ và hạnh phúc của bạn, Nên công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trênđịa bàn phường ngày càng nâng cao.
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ em dưới 5 tuổi, tính đến thời điểm điều tra
- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi được điều tra
+ Tiêu chuẩn chọn: Trẻ dưới 5 tuổi tại thời điểm điều tra là con của các
bà mẹ đang sinh sống tại xã/phường nghiên cứu tính đến thời điểm điều tra (ítnhất là 12 tháng) Các bà mẹ có con được điều tra, tự nguyện tham gia
+ Tiêu chuẩn loại trừ: Những bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi không có mặttại thời điểm điều tra (nằm viện, đi chơi xa…), không có khả năng trả lờiphỏng vấn
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trêncuộc điều tra cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ dưới 5 tuổi,cách xử trí của các bà mẹ và gia đình khi trẻ bị tiêu chảy Cũng qua điều tra,phỏng vấn bộ câu hỏi để xác định kiến thức, thực hành về bệnh và cách phòngbệnh tiêu chảy của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi
2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu
a) Kỹ thuật chọn mẫu
- Chọn xã điều tra: Tại 19 xã/phường thành phố Thái Bình, chúng tôi xácđịnh chọn ngẫu nhiên lấy 1 xã và 1 phường để điều tra bằng cách lập danhsách các phường của thành phố và bốc thăm ngẫu nhiên 1 phường; sau đó
Trang 34cũng lập danh sách các xã của thành phố và bốc thăm ngẫu nhiên 1 xã Kếtquả chúng tôi đã chọn được xã Vũ Chính và phường Trần Lãm vào để tiếnhành nghiên cứu
- Chọn hộ gia đình: Xác định các hộ gia đình được điều tra là hộ gia đình
có trẻ dưới 5 tuổi và bà mẹ có con dưới 5 tuổi được điều tra Chúng tôi tiếnhành lên danh sách các hộ gia đình đó, sau đó bốc thăm thôn/tổ đầu tiên sau
đó tiến hành điều tra toàn bộ số trẻ dưới 5 tuổi và bà mẹ trong thôn đó, rồitiếp tục đi đến các thôn khác, cứ như vậy cho đủ cỡ mẫu nghiên cứu
- Chọn đối tượng điều tra: Tại các hộ được xác định điều tra chúng tôitiến hành phỏng vấn bà mẹ có con dưới 5 tuổi theo bộ câu hỏi đã được xâydựng trước và quan sát điều kiện vệ sinh hộ gia đình, theo dõi trẻ dưới 5 tuổitại thời điểm điều tra
b) Cỡ mẫu
+ Cỡ mẫu điều tra xác định tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy được tính
theo công thức ước tính một tỷ lệ, tuy nhiên vì tỷ lệ mắc tiêu chảy chung củatrẻ dưới 5 tuổi theo một số nghiên cứu gần đây với tỷ lệ khoảng 10% do vậy
chúng tôi sử dụng công thức sau:
- n: cỡ mẫu nghiên cứu (trẻ em dưới 5 tuổi và bà mẹ) tại mỗi xã
- α/2: độ tin cậy lấy ở ngưỡng α = 0,05; Z1- α /2 = 1,96
- p: tỷ lệ mắc tiêu chảy chung trẻ dưới 5 tuổi trong 2 tuần qua, theo điềutra trước là 0,098 [15]
- ε: hệ số tương đối theo p chọn là 0,22
2
2 2 / 1
) (
1
p
p p
Z n
ε
= −
Trang 35Với các dữ liệu trên n được tính là 731 Thực tế chúng tôi đã điều trađược 768 trẻ của 657 bà mẹ có trẻ dưới 5 tuổi: Trong đó xã Vũ Chính là 329
bà mẹ và phường Trần Lãm là 328 bà mẹ (một số bà mẹ có 2 con dưới 5 tuổi).+ Cỡ mẫu chọn các bà mẹ được thực hiện bằng cách điều tra tất cả các
bà mẹ có con được điều tra, trong trường hợp các bà mẹ có 2 con dưới 5 tuổi,chúng tôi chỉ phỏng vấn bà mẹ nhưng vẫn điều tra cả 2 con dưới 5 tuổi, dovậy số bà mẹ chúng tôi đã phỏng vấn là: 657
2.2.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu
+ Nhóm biến số và chỉ số về tình hình bệnh tiêu chảy:
- Số mắc tiêu chảy của trẻ em dưới 5 tuổi 2 tuần tính đến ngày điều tra
- Số mắc tiêu chảy trong tháng qua
- Số mắc tiêu chảy theo nhóm tuổi, giới, nghề nghiệp của mẹ, theo trình
độ học vấn mẹ, theo nguồn nước ăn uống hộ gia đình
+ Thực hành của các bà mẹ có con bị tiêu chảy:
- Cho trẻ ăn khi bị tiêu chảy
- Cho trẻ uống các loại nước khi bị tiêu chảy
- Cho trẻ uống thuốc khi bị tiêu chảy
- Xử trí phân trẻ khi bị tiêu chảy
- Người hướng dẫn bà mẹ khi có trẻ bị tiêu chảy
+ Nhóm biến số và chỉ số kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy vàphòng bệnh tiêu chảy
- Biến đặc điểm đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, nghề nghiệp, số condưới 5 tuổi hiện có, nguồn nước sử dụng dụng trong ăn uống, nhà tiêu hộ giađình sử dụng
- Các biến về kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy: nguyên nhân, dấuhiệu bệnh, sự nguy hiểm của bệnh, cách xử trí, …
Trang 36- Các biến về kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy: rửa tay vệsinh, vệ sinh ăn uống,…
- Các biến về hiểu biết ORS và các dung dịch bù nước khác
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin, các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
- Để xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy: dựa trên thông tin thu thập tại hộ giađình bằng phòng vấn trực tiếp các bà mẹ tại hộ gia đình theo mẫu phiếu điềutra và định nghĩa tiêu chảy của Bộ Y tế (phụ lục 1)
- Để xác định kiến thức của người dân về bệnh tiêu chảy và phòng chốngbệnh tiêu chảy dựa trên phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câuhỏi đã được chuẩn bị sẵn (phụ lục 1)
- Công cụ điều tra: Bộ câu hỏi được xây dựng từ trước dựa vào tiêuchuẩn của WHO, Bộ Y tế và Chương trình CDD Bộ công cụ gồm có 2 phần:Phần 1 là những thông tin chung về đối tượng được phỏng vấn và xác định trẻdưới 5 tuổi trong gia đình có bị tiêu chảy trong 2 tuần, trong tháng Phần 2 làphần nội dung phỏng vấn bà mẹ về kiến thức bệnh, phòng bệnh, vệ sinh hộgia đình Bộ công cụ điều tra được chúng tôi xây dựng và xin ý kiến cácchuyên gia và đã được kiểm định qua điều tra thử
- Kỹ thuật điều tra: Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ,quan sát điều kiện vệ sinh hộ gia đình
- Người điều tra: Là những cán bộ chuyên ngành YHDP và YTCC củakhoa YTCC, Trung tâm Y tế thành phố Thái Bình
* Tiêu chuẩn đánh giá:
- Xác định trẻ bị tiêu chảy theo qui định:
+ Tiêu chảy là tình trạng cơ thể rối loạn hấp thu nước và điện giải dẫnđến bài tiết quá mức các thành phần chứa trong ruột Theo định nghĩa của Tổ
Trang 37chức Y tế Thế giới bệnh tiêu chảy là khi bệnh nhân có số lần đi phân lỏngnhiều hơn 3 lần mỗi ngày hoặc đi ngoài nhiều lần [65]
Đợt tiêu chảy là thời gian được xác định từ ngày đầu tiên bị tiêu chảytới ngày mà sau đó 2 ngày phân bình thường Nếu sau 2 ngày mà trẻ bị tiêuchảy trở lại, thời gian này được tính là đợt tiêu chảy mới [21]
Tiêu chảy kéo dài là một đợt tiêu chảy cấp kéo dài trên 14 ngày [21]
- Đánh giá kiến thức và thực hành dựa vào số câu hỏi trả lời đúng
* Tiêu chuẩn tính tháng tuổi của trẻ:
Tuổi của trẻ được tính bằng tháng tuổi theo tiêu chuẩn làm tròn đến ngàyđiều tra theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [66]
Trẻ sơ sinh được tính từ khi trẻ sinh ra cho đến khi trẻ được 29 ngày tuổi Trẻ một tháng tuổi được tính từ khi trẻ tròn 1 tháng cho đến khi trẻđược 1 tháng 29 ngày tuổi
Trẻ dưới một tuổi được quy định từ sơ sinh đến 11 tháng 29 ngày tuổi Trẻ một tuổi được tính từ 12 tháng đến 23 tháng 29 ngày tuổi
Trẻ dưới 5 tuổi được tính từ sơ sinh đến 59 tháng 29 ngày tuổi
Từ quy ước trên ta có công thức tính tháng tuổi của trẻ như sau:
A
=
V - B30,4Trong đó:
A (Age): tháng tuổi của trẻ
B (Birthdate): Ngày tháng năm sinh của trẻ
V (Visitdate): Ngày tháng điều tra
* Đánh giá kiến thức của bà mẹ dựa vào số ý trả lời đúng trong mỗi câuhỏi hoặc ý đúng của câu hỏi, từ đó có thể tính điểm trung bình kiến thức chomột câu hỏi hoặc số câu trả lời đúng cho số câu hỏi trong nội dung phỏng vấn
Trang 38Chúng tôi đánh giá dựa vào điểm trung bình kiến thức/điểm tối đa kiến thứcđạt được của câu hỏi đó, hoặc tỷ lệ trả lời ý đúng của câu hỏi đó.
- Điểm trung bình kiến thức (ĐTBKT) được tính bằng:
Tổng các ý trả lời đúngTổng số người được hỏi
- Điểm tối đa kiến thức (ĐTĐKT) là số điểm mong muốn đạt được ở câuhỏi đó
- Dấu hiệu tiêu chảy: Câu trả lời đúng là phân lỏng ≥ 3 lần/ngày
- Kiến thức về nguyên nhân tiêu chảy: Dựa vào ý trả lời đúng tối đa là 5
- Kiến thức về phòng bệnh tiêu chảy: Dựa vào ý trả lời đúng tối đa là 7
- Kiến thức về tác dụng ORS: Câu trả lời đúng là phòng mất nước
- Kiến thức về cách pha gói ORS: Dựa vào ý trả lời đúng tối đa là 4
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu của đề tài nghiên cứu đã được nhập máy tính và phân tích
dựa trên phần mềm Epi-info 6.04 và Epi-Data, sử dụng các thuật toán thống
kê trong y học: tỷ lệ (%), test so sánh
- Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
2.2.6 Các bước tổ chức triển khai nghiên cứu
- Đề cương sau khi được thông qua, chỉnh sửa và hoàn thiện theo ý kiếnHội đồng Bộ câu hỏi được tiến hành điều tra thử và tham khảo ý kiến của cácnhà chuyên môn và các chuyên gia
- Trước khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã đi tiền trạm, lập danhsách trẻ em dưới 5 tuổi tại 2 xã/phường được điều tra Thống nhất với nhómnghiên cứu về thời gian và cách tổ chức thực hiện
- Tập huấn nhóm nghiên cứu
- Tiến hành nghiên cứu theo kế hoạch
2.2.7 Hạn chế sai số
Trang 39Để hạn chế sai số: Cán bộ điều tra là những cán bộ có chuyên môn về y
tế công cộng và y học dự phòng, đã được tập huấn thống nhất nội dung, kếhoạch, phương pháp điều tra Tiến hành điều tra thử trước khi điều tra chínhthức Các số liệu thu thập được sẽ tiến hành xử lý thô trước khi nhập
Đối tượng điều tra được giải thích rõ trước khi phỏng vấn điều tra, nếuđối tượng vắng mặt tại thời điểm điều tra, chúng tôi tiến hành điều tra lại 2 lầnnếu không gặp thì mới tìm trường hợp khác để thay thế
2.2.8 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu về tỷ lệ mắc tiêu chảy trẻ dưới 5 tuổi và cách xử trí của bà
mẹ và mô tả kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy và phòng tiêu chảy, từ đóđưa ra các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của các bà mẹ đang có connhỏ dưới 5 tuổi cũng như cộng đồng trong phòng bệnh tiêu chảy Do vậy, đềtài không ảnh hưởng đến vấn đề đạo đức nghiên cứu Trong nghiên cứu điềutra viên còn có thể tư vấn về một số kiến thức bệnh và phòng chống bệnh chocác bà mẹ
2.2.9 Hạn chế nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi là một nghiên cứu cộng đồng do vậy việc thuthập thông tin về bệnh tiêu chảy có thể bị các bà mẹ bỏ sót Mặt khác dokhông nghiên cứu tại bệnh viện nên chúng tôi không xét nghiệm để tìm đượctác nhân gây tiêu chảy trẻ em
Trang 40Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Nghề nghiệp của bà mẹ được điều tra
Bảng 3.2 Tuổi của bà mẹ được điều tra