1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét tình trạng nha chu và độ sát khít của phục hình cố định tại viện đào tạo răng hàm mặt trường đại học y hà nội

42 169 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 410 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay do sự hiểu biết về sức khoẻ răng miệng được nâng cao, đời sốngkinh tế của nhân dân cũng khá hơn trước nên nhu cầu điều trị phục hình lại cácrăng mất ngày càng nhiều, theo tác gi

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ rất xa xưa con người đã ý thức được vai trò quan trọng của răng Răngkhông những quyết định chức năng ăn nhai, nó còn đóng vai trò quan trọng đốivới thẩm mỹ và phát âm của con người Mất răng cũng được coi là một tìnhtrạng bệnh lý có ảnh hưởng tại chỗ và toàn thân Mặc dù công tác chăm sóc răngmiệng của nước ta đã được quan tâm nhưng tỷ lệ mất răng còn tương đối cao vìthế mà chỉ định phục hình cho từng răng mất là rất cần thiết

Theo điều tra sức khoẻ răng miệng trong cộng đồng ở miền Bắc do NguyễnVăn Cát chủ trì khám 1597 người ta có 665 người mất răng chiếm tỷ lệ 41,6%.Theo thống kê sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 1999-2000 thì tỷ lệ ngườimang một hàm giả từng phần đối với hàm trên là 4,1% Hàm dưới là 0,7% Phụchình răng cố định đối với hàm trên là 1,3% Hàm dưới là 0,7%[12]

Ngày nay do sự hiểu biết về sức khoẻ răng miệng được nâng cao, đời sốngkinh tế của nhân dân cũng khá hơn trước nên nhu cầu điều trị phục hình lại cácrăng mất ngày càng nhiều, theo tác giả Võ Thế Quang (1990) [21]: Người cónhu cầu làm răng giả ở lứa tuổi trên 45 tuổi chiếm tỷ lệ 45% Xử trí làm phụchình mất răng có hai loại: Phục hình tháo lắp và Phục hình cố định Đứng trướcmột bệnh nhân mất răng, việc lựa chọn loại phục hình nào còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố như: Tuổi, giới, tình trạng các răng còn lại, tình trạng vùng quanhrăng, tình trạng vệ sinh răng miệng, điều kiện kinh tế của bệnh nhân Phục hình

cố định tạo cho bệnh nhân sự thoải mái, dễ chịu, dễ thích nghi với việc manghàm giả trong miệng, phục hồi chức năng ăn nhai và thẩm mỹ tốt

Phục hình cố định bao gồm các loại: inlay-onlay, chụp răng, răng chốt, cầu răng,cấy ghép Implant Phục hình cố định đã được thực hành từ lâu nhưng còn nhiềuvấn đề chưa được đi sâu nghiên cứu như vấn đề chịu lực, chỉ định cụ thể chotừng trường hợp, viêm nhiễm sau khi lắp cầu chụp, viêm tủy răng trụ, sâurăng… Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về độ khít sát củaphục hình với cùi răng và tình trạng nha chu của các răng trụ Vì vậy, chúng tôi

Trang 2

chọn đề tài: “Nhận xét tình trạng nha chu và độ sát khít của phục hình cố địnhtại Viện đào tạo Răng Hàm Mặt trường Đại học Y Hà Nội ” với 2 mục tiêu:

1 Nhận xét độ khít của bờ phục hình với đường hoàn tất ở chụp, cầu răng trên nhóm bệnh nhân được điều trị tại Viện đào tạo RHM - Trường Đại học Y Hà Nội.

2 Nhận xét tình trạng răng trụ của các răng được phục hình chụp, cầu răng ở nhóm bệnh nhân trên.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CƠ BẢN VÀ CƠ SỞ

- Khi hai hàm ở khớp cắn trung tâm, các răng có quan hệ theo 3 hướng:

* Chiều trước sau (gần xa):

Núm ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở rãnh mặt ngoài giữahai núm ngoài gần và giữa của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới

+ Sườn của răng nanh hàm trên tiếp xúc với sườn của răng nanh hàm dưới.+ Rìa cắn của răng cửa trên tiếp xúc với rìa cắn của răng cửa dưới(tùythuộc vào loại khớp cắn)

* Chiều ngang: cung răng hàm trên trùm ra ngoài cung răng hàm dướisao cho núm ngoài của răng trên trùm ra ngoài núm ngoài răng hàm dưới

+ Đỉnh núm của răng hàm dưới tiếp xúc vào giữa 2 núm của răng hàmnhỏ và răng hàm lớn hàm trên

+ Đường giữa của răng cửa giữa trên và hai răng cửa giữa dưới tạo nênmột đường thẳng và ở giữa mặt trước của khớp cắn

* Chiều đứng: răng trên tiếp xúc với răng dưới khít ở vùng răng hàmnhỏ và lớn

Rìa cắn của răng cửa trên có thể chạm rìa cắn của răng cửa dưới hoặctrùm ra ngoài 1-2mm (tùy loại khớp cắn)

1.1.2.1 Khớp cắn thăng bằng

Còn gọi là khớp cắn nhai hay trạng thái thăng bằng nhai Là trạng thái

có chạm khớp của bên nửa hàm làm việc với nửa bên hàm giữ thăng bằng, ởtrong tất cả các vận động trượt của hàm dưới

Trang 4

- Khớp cắn không chức năng: là khớp cắn khi nó tạo nên một sức épgây đau, rối loạn chức năng của hệ thống nhai.

1.1.3 Sự liên quan về hình thái giữa răng – cung hàm – mặt.

Dựa trên nhận xét của Dalley và Wavrin, tác giả Nelson đã tập hợp những

dấu hiệu nêu rõ mối liên quan hình thái của răng, khuôn mặt và thân răng cửa vàgọi đó là bộ 3 Nelson (14)

Khi chụp răng cửa phóng to ta sẽ thấy hình dáng của răng cửa tương ứngvới hình dáng của khuôn mặt và cũng tương đồng với hình dáng cung răng.Các răng vĩnh viễn vùng cửa có hình dạng liên quan với khuôn mặt, mũi,giới tính… VD: răng phụ nữ góc tròn, răng nhỏ, răng của nam giới thường to vàdầy thô

Trên cung răng các răng có vị trí đối xứng qua mặt phẳng dọc giữa Dựa vàohình dáng cung răng người ta chia ra làm những loại sau và tương ứng với mặt:

- Mặt hình trứng – cung răng hình elip

- Mặt hình tam giác – cung răng hình Hypecbon

- Mặt hình vuông – cung răng hình chữ U

Trang 5

1.2 MẤT RĂNG

1.2.1 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân gây mất răng, người ta chia làm những loại sau:

- Bệnh lý về răng và quanh răng: sâu răng, bệnh lý tủy răng, cuống răng,viêm quanh răng, sang chấn khớp cắn

- Tai nạn sinh hoạt, giao thông

Theo Tống Minh Sơn, có 72% tổn thương răng cửa do chấn thương (22)

- Do bẩm sinh

- Nhổ răng do nhu cầu điều trị bệnh (tia xạ, nắn hàm)

1.2.2 Tác hại của mất răng

1.2.2.1 Tại chỗ:

Mới mất răng: gây khó nhai, đau khi ăn nhai đè xuống lợi vùng mất răng.Lâu dài: gây xô lệch các răng kế cận, răng đối diện có hiện tượng Popov làmbiến đổi khớp cắn, biến dạng đường cong sinh lý của cung răng, tạo điều kiệnthuận lợi để hình thành mảng bám răng, cao răng, gây viêm quanh răng- lung layrăng (26)

- Tiêu xương hàm, rối loạn chức năng cơ và khớp TDH

1.2.3 Phân loại mất răng (12), (17)

Trong một nghiên cứu toán học 1942 Cunmer đã thống kê được hơn113.000 kiểu mất răng khác nhau ở cả hàm trên và dưới

Trang 6

Có nhiều tác giả đưa ra phân loại dựa trên đặc điểm về giải phẫu và tuântheo một quy tắc điều trị nhất định như Kourliansky phân loại dựa vào điểmchạm răng của hai hàm Theo Kennedy, dựa vào khoảng mất răng và các rănggiới hạn, theo Eichner dựa trên quan điểm răng vững chắc là do có 4 răng chạmkhớp, Applegate dựa vào các răng kế cận vùng mất răng ( 38, 39).

Ngày nay người ta cho rằng phân loại theo Kennedy có bổ sung củaApplegate là đơn giản và được sử dụng rộng rãi Phân loại gồm 6 loại sau (17, 51)

- Loại 1: mất răng sau hai bên, không có giới hạn phía sau

- Loại 2: mất răng sau một bên, không có giới hạn phía sau

- Loại 3: mất răng một bên có giới hạn, nhưng những răng còn lạikhông thể gánh được lực nhai tác động lên hàm giả

- Loại 4: mất nhóm răng trước, đường giữa cắt ngang khoảng mất răng

- Loại 5: mất răng một bên có giới hạn nhưng răng trước kề khoảng mấtrăng không thể dung làm răng trụ được

- Loại 6: mất răng một bên có giới hạn, những răng còn lại có thể gánhđược lực nhai tác dụng lên hàm giả

Mỗi loại có 4 tiểu loại, tùy theo nó kèm theo với 1,2,3 hay 4 khoảng mấtrăng không kể khoảng mất răng chính Trừ loại 4 là không có tiểu loại

Trang 7

Để phục hình lại các răng đã mất từ lâu người ta đã có hai phương pháp

đó là phục hình tháo lắp và phục hình cố định Tất cả các loại phục hình đềunhằm mục đích đáp ứng được chức năng ăn nhai, thẩm mỹ và bảo vệ các răngcòn lại trên cung hàm và không gây hại cho tổ chức quanh răng

Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển người ta đã tiến hành cấy ghép Implant

1.3 PHỤC HÌNH CỐ ĐỊNH

1.3.1.Vài nét lịch sử về phục hình răng cố định [13]

 Phục hình mất răng được thực hành từ rất lâu Trên một sọ ngườiEturic (nước Ý 400 năm trước công nguyên) thấy cầu răng thay thếcho răng hàm và những răng bê thay thế cho răng đã mất (16,37,38,)

 Chụp đúc kim loại đã thấy ở Ý vào thế ký 17

 Pierre Fauchard (thế kỉ 18) được coi là ông tổ của răng giả

 Thế ký 19 người ta đã biết lấy khuôn và làm hàm giả băng cao su,dùng răng bằng sứ cũng trong thời kỳ này càng nhai được sử dụng

 Thế kỷ 20 răng giả được phát triển theo sự phát triển của ngànhRHM

 Năm 1906 Carmichacl làm chụp hở mặt ngoài răng

 Năm 1907 dùng phương pháp đúc bỏ sáp như ngày nay

 Năm 1920 làm cầu răng có sự chú ý về cơ học và sinh học

 Chụp kim loại cẩn sứ được giới thiệu vào cuối những năm 40

Đường hoàn tất bờ vai cho phục hình sứ được phát triển vào năm 1960

1.3.2 Các loại phục hình cố định

Phục hình răng là một ngành trong nha khoa chuyên nghiên cứu đểphục hồi các răng hay cấu trúc răng đã mất, nhằm tái tạo và duy trì thẩm mỹvùng hàm mặt

Phục hình cố định là môn khoa học nghiên cứu, tái tạo lại phần thânrăng của một hay nhiều răng mất và những cấu trúc liên hệ nhằm phục hồi chứcnăng răng miệng của bệnh nhân Phục hình này được gắn chặt vào răng thật màbệnh nhân không thể tự tháo ra được

Trang 8

Có nhiều loại phục hình cố định nó phụ thuộc vào thành phần mắc giữvới răng trụ (33,37,51,52)

1.3.2.1 Inlay, Onlay

Hình 1.3.2.1 Inlay, onlay

Là một phục hình răng đặt bên trong thân răng, bao bọc bởi tổ chức môrăng, còn được gọi là phục hình bên trong thân răng Inlay thường được đúcbằng kim loại, sứ hoặc composite

Trong phục hình răng cố định người ta sử dụng Inlay kim loại để làmphần giữ cho cầu răng cố định loại ngắt lực

Các inlay kim loại có thêm các chốt lưu còn được gọi là pinlay

Onaly là một biến thể của inlay, có phần mặt nhai bao phủ cả mặt nhaicủa thân răng

Ở mặt trong các răng cửa và răng nanh các onlay có các bậc và chốt lưucòn được gọi là pinledge, hay là biến thể của mão ¾

Chỉ định:

 Răng bệnh nhân có buồng tuỷ tương đối nhỏ

 Bệnh nhân có loại mô răng tốt, ít sâu răng

 Thân răng phát triển bình thường về chiều cao và chiều ngoàitrong

 Nên thực hiện Inlay trên răng sống, nếu răng đã lấy tuỷ nên thựchiện Onlay phủ mặt nhai

 Dùng trám các răng sâu thay cho Amalgam, composite, sứ

Trang 9

 Dùng làm phần giữ có các kiểu cầu răng ngắt lực, cầu răng bán

cố định, hàm giả tháp lắp có mắc cài

 Vệ sinh răng miệng tốt

Chống chỉ định:

 Bệnh nhân quá trẻ, buồng tuỷ răng lớn

 Mô răng xấu, dễ sâu răng

 Thân răng thấp

 Răng xoay

 Không làm Inlay nhiều mặt trên răng chết tuỷ (nên làm Onlay)

 Vệ sinh răng miệng kém

1.3.2.2 Chụp răng

Là một chụp có hình dạng thân răng phục hồi toàn phần hoặc một phầnrăng trên một răng riêng rẽ sau khi răng này được mài toàn phần hoặc một phầntuỳ theo loại chụp được chỉ định làm

1.3.2.2.1 Chụp toàn diện kim loại

Hình 1.3.2.2.1 Chụp toàn diện kim loại

Loại chụp này bao phủ toàn thể 5 mặt của thân răng Chụp được làm bằngkim loại dùng để bao bọc một răng riêng rẽ hay làm phần giữ cho một cầu răng

Chỉ định

 Dùng để che chở và tái tạo một thân răng bị sâu lớn hoặc vỡ lớn

do chấn thương đến mức độ không còn có thể hàn răng chắc

 Múi răng bị bể mất không thể trám bền vững được

Trang 10

 Dùng bao bọc các răng bị thiểu sản men ngà, bị nứt men răng.

 Dùng để điều chỉnh lại vị trí thân răng và khớp cắn cho nhữngrăng mọc lệch lạc mà không thể chỉnh hình được

 Dùng bao bọc các răng sẽ mang móc cho một hàm giả tháo lắp có

mô răng yếu hoặc có hình thể không thuận tiện cho sự bám giữ củamóc

 Dùng nâng cao khớp cắn

Chống chỉ định

 Răng có buồng tuỷ quá to nếu muốn bảo tồn tuỷ

 Răng bị bệnh nha chu

 Chiều cao thân răng quá thấp

 Răng nghiêng lệch quá nhiều

 Răng phía trước (thẩm mỹ)

 Sự truyền nhiệt, điện của kim loại ảnh hưởng phần nào đến tuỷ

 Khó phát hiện được sâu răng tái phát bên trong chụp

 Không thẩm mỹ

1.3.2.2.2 Chụp toàn diện kim loại có mặt nhựa (sứ)

Trang 11

Hình 1.3.2 2.2 Chụp kim loại cẩn sứ

Là chụp toàn diện bằng kim loại nhưng có mặt ngoài được phủ thêm mộtlớp nhựa hoặc sứ trắng Đây là một kiểu biến đổi của chụp đúc kim loại toàndiện vì yêu cầu thẩm mỹ

Chỉ định

 Có thể thực hiện trên răng sống, răng đã lấy tuỷ, cho cùi răng giả

 Dùng bao bọc một răng riêng rẽ hay là phần giữ cho cầu răng

 Có thể dùng cho các răng phía trước và răng phía sau

 Thân răng bị bể góc, múi, không thể trám bền vững được

 Thân răng bị mòn, gãy cạnh cắn

 Thân răng bị thiểu sản men, dị thường mà không trám thẩm mỹđược

 Răng bị màu mà không trám thẩm mỹ được

 Răng có hình dạng bất thường mà không trám thẩm mỹ được

 Răng bị xoay lệch không chỉnh hình được, không trám thẩm mỹđược

 Thân răng bị nứt

 Răng trước có sức nhai mạnh, sẽ không bền nếu làm chụp Jacket

 Dùng để nâng cao khớp cắn

Chống chỉ định

 Răng sống có buồng tuỷ lớn

 Răng trước có kích thước ngoài – trong nhỏ

 Thân răng có chiều cao quá thấp

Ưu điểm

 Là loại phục hình chắc chắn có chức năng và thẩm mỹ nên có thểdùng cả cho răng trước và răng sau

 Tương đối tiết kiệm mô răng hơn chụp Jacket

 Lúc thử răng nếu sai màu dễ sửa chữa lại

 Trường hợp thực hiện trên cùi giả sẽ dễ sửa chữa, tháo gỡ làm lại

Trang 12

 Thực hiện bên ngoài những cùi giả cho cầu răng trước thuận tiệncho sự song song hơn dùng răng chốt Richmond.

Nhược điểm

 Tương đối không đẹp bằng chụp Jacket

 Ít tiết kiệm mô răng ở mặt ngoài cùi răng

 Mặt nhựa, sứ bên ngoài có thể bị bể sút khỏi kim loại nếu kỹthuật làm không tốt

 Bệnh nhân có mô răng tốt

 Vệ sinh răng miệng tốt

 Thân răng phát triển đầy đủ về chiều cao, ngoài trong, gần xa để

có thể giữ cho chụp răng và thực hiện tốt các rãnh lưu, hố lưu

 Thân răng có vị trí và chiều hướng bình thường trên cung răng(không xoay hoặc nghiêng lệch)

 Nên làm trên răng sống có mặt không bọc nguyên vẹn, tốt

Trang 13

 Thường được làm trên răng cửa, răng nanh, răng cối nhỏ, Trườnghợp đặc biệt có thể làm nên răng cối lớn.

 Thường dùng để làm phần giữ trên răng trụ cho cầu răng

 Có thể dùng làm nẹp cho nhiều răng hoặc làm chụp riêng rẽ đểphục hình các răng bị bể vỡ múi răng

Chống chỉ định

 Răng đã lấy tuỷ

 Răng có mô răng xấu

 Vệ sinh răng miệng kém

 Chiều cao thân răng thấp, chiều ngoài trong nhỏ

 Thân răng bị xoay lệch nhiều

 Không dùng làm phần giữ cho cầu răng quá dài

Ưu điểm

 Tiết kiệm mô răng

 Giữ được màu răng tự nhiên ở mặt ngoài

 Dễ kiểm soát sự khít sát nơi đường hoàn tất

 Dễ thử nghiệm độ sống của tuỷ răng

 Ít kích thích mô nha chu

Trang 14

Hình 1.3.2.2.4 Chụp jacket

Là loại chụp toàn diện nhưng được làm bằng sứ hay bằng nhựa hoặccomposite, dùng để phục hình riêng rẽ cho từng răng

Chỉ định

 Bệnh nhân trên 20 tuổi

 Răng tuỷ còn sống, răng đã lấy tuỷ, cùi răng giả

 Răng phía trước hoặc răng phía sau tuỳ vật liệu phục hồi

 Thân răng bị đổi màu không trám thẩm mỹ được

 Thân răng bị bể góc mà không trám được

 Thân răng có hình dạng bất thường không trám thẩm mỹ được

 Thân răng bị thiểu sản men, dị trưởng không trám thẩm mỹ được

 Thân răng bị mòn, gãy cạnh cắn

 Răng bị xoay lệch không thẩm mỹ mà không chỉnh hình đượchay trám thẩm mỹ được

Chống chỉ định

 Răng có buồng tuỷ lớn

 Thân răng quá thấp

 Thân răng trước có kích thước ngoài trong nhỏ

 Răng có cingulum quá thấp

 Răng mang móc cho hàm giả tháo lắp

Ưu điểm

 Thẩm mỹ cao

Trang 15

 Ít dẫn nhiệt, điện nên bảo vệ tuỷ răng tốt.

 Không gây dòng điện hoá học trong miệng

 Răng có buồng tuỷ nhỏ và không quá nhạy cảm

 Răng có chiều cao thân răng trung bình hoặc cao

 Khớp cắn bình thường thì dùng kiểu chụp kim loại phủ sứ

 Khớp cắn sâu thì dùng chụp kim loại cẩn mặt sứ

 Khớp cắn đối đầu thì dùng kiểu chụp cẩn mặt sứ hoặc chụp kimloại phủ sứ

 Răng có buồng tuỷ nhỏ và không quá nhạy cảm

 Răng có chiều cao thấp dùng chụp kim loại cẩn mặt sứ

Trang 16

Răng đã lấy tuỷ

 Răng bị mất chất lớn do sâu răng hay chấn thương

 Phần răng còn lại trên 2mm thì nên tái tạo lại phần cùi răng bằngkim loại đúc, bằng chốt, composite và làm chụp sứ kim loại bên ngoài

 Trường hợp mất hết thân răng và chiều ngoài trong quá nhỏ thìnên làm răng chốt Richmond sứ-kim loại

 Trường hợp mất hết thân răng và chiều ngoài trong mặt chân răngbình thường thì tái tạo cùi giả và làm chụp sứ-kim loại bên ngoài

 Tái tạo cùi răng từng phần hoặc toàn phần (cùi giả), có chốt cốđịnh hay chốt gài

 Nếu răng có chiều cao thấp thì dùng chụp kim loại cẩn sứ

 Nếu răng có chiều cao tốt thì dùng chụp kim loại phủ sứ

 Không có tính đàn hồi nên không biến dạng do lực nhai

 Không đổi màu trong môi trường miệng và ánh sáng thường

 Có thể làm màu sắc giống răng thật

 Phản chiếu ánh sáng gần giống răng tự nhiên

Trang 17

 Kỹ thuật thực hiện khó, cần sự chính xác cao, có kinh nghiệm vàphương pháp tốt.

 Chỉ định hạn chế do mài nhiều mô răng làm hại tuỷ và giảmchiều cao cùi răng làm giảm sự lưu giữ của mão

 Thân răng bị huỷ hoại lớn bởi sâu răng

 Thân răng bị gãy vỡ lớn do chấn thương

 Thân răng bị dị trưởng, thiểu sản men ngà nhiều, tuỷ chết, khôngtrám thẩm mỹ hay dùng chụp jacket được

 Thân răng bị mòn cạnh cắn nhiều

 Thân răng hơi lệch vị trí bình thường mà không chỉnh hình rănghoặc trám thẩm mỹ được

Trang 18

 Chân răng phát triển bình thường được chữa nội nha tốt.

 Mô nha chu lành mạnh

 Có răng sau và khớp cắn thăng bằng

Chống chỉ định

 Chân răng bị tổn thương nhỏ và răng còn tuỷ sống lành mạnh

 Thân răng bị thiểu sản men ngà, mòn ngót cổ răng ít và tuỷ răngcòn sống

 Chân răng và mô nha chu bị nhiễm trùng

 Hình thể chân răng quá cong, gãy khúc, quá ngắn, dẹp mỏng

 Mô cứng chân răng mềm yếu hoặc hoá vôi nhiều

 Ống tuỷ quá rộng do sâu răng hay do nội tiêu

 Mặt chân răng nằm quá sâu dưới rãnh lợi

 Mất răng sau chưa phục hình

1.3.2.2.7 Cầu răng

Hình 1.3.2.2.7.Cầu răng [13]

Là loại phục hình răng cố định được dùng phục hình răng mất bằng cáchdùng các răng bên cạnh làm trụ để mang gánh răng giả thay thế răng mất này

Một cầu răng đơn giản thông thường gồm có 4 thành phần:

Răng trụ cầu: Là một thân răng hay một chân răng thật dùng để

chống đỡ cho cầu răng

Phần giữ: Là phần của cầu răng bám giữ trên răng trụ và nối với

răng nhịp cầu Phần giữ này có thể là onlay, inlay, chụp từng phần,chụp toàn diện, răng chốt

Trang 19

Nhịp cầu: Là phần của cầu răng thay thế cho răng mất, nhịp cầu

có công dụng là phục hồi chức năng và hình thể của răng mất

Phần nối: Là phần của cầu răng nối liền nhịp cầu với phần giữ, nó

có thể là loại cứng chắc hay loại không cứng chắc:

được hàn hoặc đúc dính liền nhau

một móc khoá cơ học hay ngàm tựa Cầu răng có nối không cứng chắcgọi là cầu răng bán cố định hay cầu răng ngắt lực

Chỉ định

 Khớp cắn thuận lợi, thăng bằng

 Vị trí và số lượng các răng trụ phải tương xứng với các răng mất

 Răng trụ có tuỷ và mô nha chu lành mạnh

 Vị trí và chiều hướng của răng trụ có thể trở nên song song saukhi mài cùi răng, răng trụ không nghiêng quá 15 độ theo chiều gần xa

 Chân răng có hình dạng thuận lợi cho sự cứng chắc trong xươnghàm

 Hình dạng chân răng cong, dị thường hay các chân răng phân kỳ

 Tiết diện chân răng rộng, hình bầu dục thuận lợi hơn hình tròn

 Tỷ lệ thân/chân nhỏ hơn hoặc bằng 1

Chống chỉ định

 Bệnh nhân bị đa sâu răng, chất lượng men răng kém

 Khớp cắn không thuận lợi, không có răng bên đối xứng hoặc mấtrăng phía trong cầu răng sẽ làm

 Khoảng mất răng quá dài mà không có đủ số răng trụ

 Cầu răng ở vùng cung răng cong mà không đủ răng trụ phía bênđối kháng cân bằng

 Răng trụ có thân răng ngắn, nhỏ

 Răng nghiêng nhiều

Trang 20

 Răng chết tuỷ chưa được chữa nội nha.

 Răng có bệnh nha chu hay mô nha chu suy yếu, lợi tụt nhiều,xương ổ răng tiêu nhiều, tỷ lệ thân/chân răng lớn hơn, lộ vùng chẽ răng

1.4.2 Các kiểu đường hoàn tất:

1.4.2.1 Bờ xuôi: (limite simple, feather edge)

Đường hoàn tất loại này không phân biệt rõ đối với phần bên dưới của nótrên cùi răng vì mặt đứng của cùi răng gần như liên tục với phần răng bên dướikhông có giới hạn rõ rệt

Loại này dễ thực hiện, dùng ở những mặt răng chỉ cần mài ít, mặt trong vàmặt bên các răng trong, chụp bằng kim loại

Nhược điểm của loại này là bờ cạnh mão sẽ mỏng, khó đúc và dễ bị biếndạng khi thử chụp răng Ngoài ra trên mẫu hàm thạch cao cũng khó thấy giớihạn của đường hoàn tất này

1.4.2.2 Bờ vai (shoulder):

Đường hoàn tất được mài như một bậc thang thẳng góc với mặt đứng củacùi răng, loại này đòi hỏi phải mài nhiều ngà răng

Chỉ định cho chụp jacket nhựa, chụp sứ kim loại

Cạnh chụp với đường hoàn tất này dày và cứng

Khi mặt nướu của bờ vai hợp với mặt đứng một góc lớn hơn 900 thì đượcgọi là bờ vai nghiêng

1.4.2.3 Bờ cong (chamfer):

Có dạng cong, phân biệt được rõ ràng, dày mỏng tùy trường hợp Có thểdùng thay thế cho shoulder và được dùng cho nhiều kiểu chụp răng

Trang 21

Bờ cong dày được gọi là bờ cong sâu (heavy chamfer), bờ cong mỏngđược gọi là bờ cong nhẹ (light chamfer).

1.4.3 Vị trí đường hoàn tất:

Đường hoàn tất trên cùi răng có thể được mài dưới lợi, ngang lợi hay trênlợi tùy theo trường hợp lâm sàng, vị trí đường hoàn tất được làm đúng chỉ định,đúng kĩ thuật đều tốt như nhau nghĩa là vẫn bảo vệ được răng và mô nha chuđược lành mạnh, phục hình được bền vững

Chỉ định đường hoàn tất dưới lợi:

- Mô răng yếu, dễ bị sâu răng

- Thân răng có chiều cao quá thấp

- Phục hình răng trước (mặt ngoài)

- Răng có hình dạng, chiều hướng và vị trí bình thường để việc mài cácmặt đứng không quá nhiều làm hại đến tủy răng

- Răng có hình dạng, chiều hướng bất thường nhưng đã được lấy tủy vàtái tạo cùi răng tốt

Chỉ định đường hoàn tất trên lợi:

- Thể trạng nhạy cảm với bệnh nha chu

- Loại răng đề kháng với sâu răng tốt

- Thân răng có chiều cao bình thường hay cao

- Phục hình cho răng trong hay mặt trong các răng trước

- Thân răng có vùng cổ răng eo thắt nhiều

- Răng nghiêng mà việc mài đường hoàn tất dưới nướu làm mất nhiều ngàrăng và hại tủy

- Răng bị tụt nướu đến đường cổ răng và dưới cổ răng

Chỉ định đường hoàn tất ngang lợi:

- Thực hiện ở mặt bên hay mặt trong của những bệnh nhân trẻ, rãnh lợicạn Loại này cũng được làm cho những mão răng chuyển tiếp

Trên cùng một cùi răng có thể chỉ một vị trí đường hoàn tất, có thể haihoặc cả ba vị trí đường hoàn tất tùy theo trường hợp

 Đường hoàn tất là phần quan trọng nhất của cùi răng vì:

Ngày đăng: 24/08/2019, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Minh Hiền (2003) “Nhận xét lâm sàng và theo dõi kết quả điều trị phục hình mất răng lẻ tẻ bừng cầu răng”. Luận văn thạc sĩ y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhận xét lâm sàng và theo dõi kết quả điềutrị phục hình mất răng lẻ tẻ bừng cầu răng”
2. Nguyễn Văn Bài (1994), “Góp phần đánh giá tình trạng mất răng và nhu cầu phục hình ở một số tỉnh phía Bắc”, Luận văn chuyên khoa II – ĐHYHN, tr. 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần đánh giá tình trạng mất răng vànhu cầu phục hình ở một số tỉnh phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Văn Bài
Năm: 1994
3. Tống Phước Bẩy (1962), “Tỷ lệ các bệnh về răng”, Đặc san đại hội RHM Việt Nam lần thứ II/ 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ các bệnh về răng
Tác giả: Tống Phước Bẩy
Năm: 1962
4. Nguyễn Văn Cát (1997), “Tổ chức học răng”, RHM tập I, NXB Y học Hà Nội, tr 175 – 180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức học răng
Tác giả: Nguyễn Văn Cát
Nhà XB: NXB Y họcHà Nội
Năm: 1997
5. Nguyễn Văn Cát (1997), “Khớp cắn học”, Bộ môn RHM, ĐHYHN, tr.9- 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khớp cắn học”
Tác giả: Nguyễn Văn Cát
Năm: 1997
6. Vũ Thị Kiều Diễm và cộng sự (1991), “Kết quả điều tra cơ bản tình trạng sức khỏe răng miệng ở miền Nam – Việt Nam 1991”, Kỷ yếu công trình khoa học 1978 – 1993 viện RHM – HCM, tr. 13- 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra cơ bản tìnhtrạng sức khỏe răng miệng ở miền Nam – Việt Nam 1991
Tác giả: Vũ Thị Kiều Diễm và cộng sự
Năm: 1991
7. Nguyễn Dương Hồng (1997), “Sang chấn răng”, RHM tập I, NXB Y học, tr. 164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sang chấn răng
Tác giả: Nguyễn Dương Hồng
Nhà XB: NXB Yhọc
Năm: 1997
8. Hoàng Tử Hùng “Cơ sở khớp cắn học”. Giáo trình giảng dạy Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh. Tr.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở khớp cắn học”
9. Mai Đình Hưng - Phạm Như Hải (1999) “Lâm sàng kiểm tra khớp cắn” - phần 1, Bộ môn Răng Hàm Mặt Trường Đại Học Y Hà Nội. Tr 1-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lâm sàng kiểm tra khớpcắn”
10. Mai Đình Hưng (9-1996) “Khớp cắn học” - sử dụng càng nhai và cung mặt, bộ môn Răng hàm mặt Trường Đại Học Y Hà Nội. Tr 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khớp cắn học”
11. Mai Đình Hưng (9-1996) “Khớp cắn học” - sử dụng càng nhai và cung mặt, Hà Nội. Tr 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khớp cắn học”
12. JC Borel (1993) “Phân loại mất răng” do Mai Đình Hưng và Phạm Như Hải dịch, NXB Mason Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân loại mất răng”
Nhà XB: NXB Mason
14. Vũ Khoái (1977) “Những tương quan về giải phẫu, hình thái giữa răng, cung hàm và mặt”, RHM, NXB Y Hà Nội, tr. 314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tương quan về giải phẫu, hình thái giữarăng, cung hàm và mặt
Nhà XB: NXB Y Hà Nội
15. Vũ Khoái (1977), “Vật liệu học” RHM tập I, NXB Y học, tr. 246- 280 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu học
Tác giả: Vũ Khoái
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1977
16. Vũ Thị Thanh Lan (2001), “Nhận xét kết quả điều trị phục hình mất răng từng phần bằng cầu răng cổ điển”, Luận văn Thạc sỹ Y học – ĐHY Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét kết quả điều trị phục hình mấtrăng từng phần bằng cầu răng cổ điển
Tác giả: Vũ Thị Thanh Lan
Năm: 2001
17. Trần Thiên Lộc - Nguyễn Thị Bích Thuỷ - Nguyễn Kim Dung (2009) “Phục hình Răng cố định” NXB Y học Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh. Tr11-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phục hình Răng cố định”
Nhà XB: NXB Y học Chi nhánh thành phố Hồ ChíMinh. Tr11-139
18. Trần Thiên Lộc - Nguyễn Thị Bích Thuỷ - Nguyễn Kim Dung (2009), “Các xi măng gắn trong phục hình cố định”, Phục hình răng cố định, NXB Y học TP. HCM, tr. 149- 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xi măng gắn trong phục hình cố định
Tác giả: Trần Thiên Lộc - Nguyễn Thị Bích Thuỷ - Nguyễn Kim Dung
Nhà XB: NXB Y học TP. HCM
Năm: 2009
19. Lê Thị Nhàn (1977) “Thuật ngữ và một số cơ sở dùng trong chuẩn đoán lệch lạc răng hàm” RHM tập 1, NXB y học. Tr433-445 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thuật ngữ và một số cơ sở dùng trong chuẩnđoán lệch lạc răng hàm”
Nhà XB: NXB y học. Tr433-445
20. Lê Thị Thuỳ Linh (2010) “Nhận xét hiệu quả phục hình Răng bằng vật liệu sứ cercon tại bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội” Luận văn thạc sỹ. Trường Đại Học Y Hà Nội. Tr 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhận xét hiệu quả phục hình Răng bằngvật liệu sứ cercon tại bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội”
21. Võ Thế Quang và cộng sự (1990). “Điều tra sức khoẻ răng miệng ở Việt Nam”, kỷ yếu công trình khoa học 1975-1993, viện RHM thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sức khoẻ răng miệng ởViệt Nam
Tác giả: Võ Thế Quang và cộng sự
Năm: 1990

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w