Ngày nay do sự hiểu biết về sức khoẻ răng miệng được nâng cao, đời sốngkinh tế của nhân dân cũng khá hơn trước nên nhu cầu điều trị phục hình lại cácrăng mất ngày càng nhiều, theo tác gi
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ rất xa xưa con người đã ý thức được vai trò quan trọng của răng Răngkhông những quyết định chức năng ăn nhai, nó còn đóng vai trò quan trọng đốivới thẩm mỹ và phát âm của con người Mất răng cũng được coi là một tìnhtrạng bệnh lý có ảnh hưởng tại chỗ và toàn thân Mặc dù công tác chăm sóc răngmiệng của nước ta đã được quan tâm nhưng tỷ lệ mất răng còn tương đối cao vìthế mà chỉ định phục hình cho từng răng mất là rất cần thiết
Theo điều tra sức khoẻ răng miệng trong cộng đồng ở miền Bắc do NguyễnVăn Cát chủ trì khám 1597 người ta có 665 người mất răng chiếm tỷ lệ 41,6%.Theo thống kê sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 1999-2000 thì tỷ lệ ngườimang một hàm giả từng phần đối với hàm trên là 4,1% Hàm dưới là 0,7% Phụchình răng cố định đối với hàm trên là 1,3% Hàm dưới là 0,7%[12]
Ngày nay do sự hiểu biết về sức khoẻ răng miệng được nâng cao, đời sốngkinh tế của nhân dân cũng khá hơn trước nên nhu cầu điều trị phục hình lại cácrăng mất ngày càng nhiều, theo tác giả Võ Thế Quang (1990) [21]: Người cónhu cầu làm răng giả ở lứa tuổi trên 45 tuổi chiếm tỷ lệ 45% Xử trí làm phụchình mất răng có hai loại: Phục hình tháo lắp và Phục hình cố định Đứng trướcmột bệnh nhân mất răng, việc lựa chọn loại phục hình nào còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố như: Tuổi, giới, tình trạng các răng còn lại, tình trạng vùng quanhrăng, tình trạng vệ sinh răng miệng, điều kiện kinh tế của bệnh nhân Phục hình
cố định tạo cho bệnh nhân sự thoải mái, dễ chịu, dễ thích nghi với việc manghàm giả trong miệng, phục hồi chức năng ăn nhai và thẩm mỹ tốt
Phục hình cố định bao gồm các loại: inlay-onlay, chụp răng, răng chốt, cầu răng,cấy ghép Implant Phục hình cố định đã được thực hành từ lâu nhưng còn nhiềuvấn đề chưa được đi sâu nghiên cứu như vấn đề chịu lực, chỉ định cụ thể chotừng trường hợp, viêm nhiễm sau khi lắp cầu chụp, viêm tủy răng trụ, sâurăng… Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về độ khít sát củaphục hình với cùi răng và tình trạng nha chu của các răng trụ Vì vậy, chúng tôi
Trang 2chọn đề tài: “Nhận xét tình trạng nha chu và độ sát khít của phục hình cố địnhtại Viện đào tạo Răng Hàm Mặt trường Đại học Y Hà Nội ” với 2 mục tiêu:
1 Nhận xét độ khít của bờ phục hình với đường hoàn tất ở chụp, cầu răng trên nhóm bệnh nhân được điều trị tại Viện đào tạo RHM - Trường Đại học Y Hà Nội.
2 Nhận xét tình trạng răng trụ của các răng được phục hình chụp, cầu răng ở nhóm bệnh nhân trên.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CƠ BẢN VÀ CƠ SỞ
- Khi hai hàm ở khớp cắn trung tâm, các răng có quan hệ theo 3 hướng:
* Chiều trước sau (gần xa):
Núm ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở rãnh mặt ngoài giữahai núm ngoài gần và giữa của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
+ Sườn của răng nanh hàm trên tiếp xúc với sườn của răng nanh hàm dưới.+ Rìa cắn của răng cửa trên tiếp xúc với rìa cắn của răng cửa dưới(tùythuộc vào loại khớp cắn)
* Chiều ngang: cung răng hàm trên trùm ra ngoài cung răng hàm dướisao cho núm ngoài của răng trên trùm ra ngoài núm ngoài răng hàm dưới
+ Đỉnh núm của răng hàm dưới tiếp xúc vào giữa 2 núm của răng hàmnhỏ và răng hàm lớn hàm trên
+ Đường giữa của răng cửa giữa trên và hai răng cửa giữa dưới tạo nênmột đường thẳng và ở giữa mặt trước của khớp cắn
* Chiều đứng: răng trên tiếp xúc với răng dưới khít ở vùng răng hàmnhỏ và lớn
Rìa cắn của răng cửa trên có thể chạm rìa cắn của răng cửa dưới hoặctrùm ra ngoài 1-2mm (tùy loại khớp cắn)
1.1.2.1 Khớp cắn thăng bằng
Còn gọi là khớp cắn nhai hay trạng thái thăng bằng nhai Là trạng thái
có chạm khớp của bên nửa hàm làm việc với nửa bên hàm giữ thăng bằng, ởtrong tất cả các vận động trượt của hàm dưới
Trang 4- Khớp cắn không chức năng: là khớp cắn khi nó tạo nên một sức épgây đau, rối loạn chức năng của hệ thống nhai.
1.1.3 Sự liên quan về hình thái giữa răng – cung hàm – mặt.
Dựa trên nhận xét của Dalley và Wavrin, tác giả Nelson đã tập hợp những
dấu hiệu nêu rõ mối liên quan hình thái của răng, khuôn mặt và thân răng cửa vàgọi đó là bộ 3 Nelson (14)
Khi chụp răng cửa phóng to ta sẽ thấy hình dáng của răng cửa tương ứngvới hình dáng của khuôn mặt và cũng tương đồng với hình dáng cung răng.Các răng vĩnh viễn vùng cửa có hình dạng liên quan với khuôn mặt, mũi,giới tính… VD: răng phụ nữ góc tròn, răng nhỏ, răng của nam giới thường to vàdầy thô
Trên cung răng các răng có vị trí đối xứng qua mặt phẳng dọc giữa Dựa vàohình dáng cung răng người ta chia ra làm những loại sau và tương ứng với mặt:
- Mặt hình trứng – cung răng hình elip
- Mặt hình tam giác – cung răng hình Hypecbon
- Mặt hình vuông – cung răng hình chữ U
Trang 51.2 MẤT RĂNG
1.2.1 Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân gây mất răng, người ta chia làm những loại sau:
- Bệnh lý về răng và quanh răng: sâu răng, bệnh lý tủy răng, cuống răng,viêm quanh răng, sang chấn khớp cắn
- Tai nạn sinh hoạt, giao thông
Theo Tống Minh Sơn, có 72% tổn thương răng cửa do chấn thương (22)
- Do bẩm sinh
- Nhổ răng do nhu cầu điều trị bệnh (tia xạ, nắn hàm)
1.2.2 Tác hại của mất răng
1.2.2.1 Tại chỗ:
Mới mất răng: gây khó nhai, đau khi ăn nhai đè xuống lợi vùng mất răng.Lâu dài: gây xô lệch các răng kế cận, răng đối diện có hiện tượng Popov làmbiến đổi khớp cắn, biến dạng đường cong sinh lý của cung răng, tạo điều kiệnthuận lợi để hình thành mảng bám răng, cao răng, gây viêm quanh răng- lung layrăng (26)
- Tiêu xương hàm, rối loạn chức năng cơ và khớp TDH
1.2.3 Phân loại mất răng (12), (17)
Trong một nghiên cứu toán học 1942 Cunmer đã thống kê được hơn113.000 kiểu mất răng khác nhau ở cả hàm trên và dưới
Trang 6Có nhiều tác giả đưa ra phân loại dựa trên đặc điểm về giải phẫu và tuântheo một quy tắc điều trị nhất định như Kourliansky phân loại dựa vào điểmchạm răng của hai hàm Theo Kennedy, dựa vào khoảng mất răng và các rănggiới hạn, theo Eichner dựa trên quan điểm răng vững chắc là do có 4 răng chạmkhớp, Applegate dựa vào các răng kế cận vùng mất răng ( 38, 39).
Ngày nay người ta cho rằng phân loại theo Kennedy có bổ sung củaApplegate là đơn giản và được sử dụng rộng rãi Phân loại gồm 6 loại sau (17, 51)
- Loại 1: mất răng sau hai bên, không có giới hạn phía sau
- Loại 2: mất răng sau một bên, không có giới hạn phía sau
- Loại 3: mất răng một bên có giới hạn, nhưng những răng còn lạikhông thể gánh được lực nhai tác động lên hàm giả
- Loại 4: mất nhóm răng trước, đường giữa cắt ngang khoảng mất răng
- Loại 5: mất răng một bên có giới hạn nhưng răng trước kề khoảng mấtrăng không thể dung làm răng trụ được
- Loại 6: mất răng một bên có giới hạn, những răng còn lại có thể gánhđược lực nhai tác dụng lên hàm giả
Mỗi loại có 4 tiểu loại, tùy theo nó kèm theo với 1,2,3 hay 4 khoảng mấtrăng không kể khoảng mất răng chính Trừ loại 4 là không có tiểu loại
Trang 7Để phục hình lại các răng đã mất từ lâu người ta đã có hai phương pháp
đó là phục hình tháo lắp và phục hình cố định Tất cả các loại phục hình đềunhằm mục đích đáp ứng được chức năng ăn nhai, thẩm mỹ và bảo vệ các răngcòn lại trên cung hàm và không gây hại cho tổ chức quanh răng
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển người ta đã tiến hành cấy ghép Implant
1.3 PHỤC HÌNH CỐ ĐỊNH
1.3.1.Vài nét lịch sử về phục hình răng cố định [13]
Phục hình mất răng được thực hành từ rất lâu Trên một sọ ngườiEturic (nước Ý 400 năm trước công nguyên) thấy cầu răng thay thếcho răng hàm và những răng bê thay thế cho răng đã mất (16,37,38,)
Chụp đúc kim loại đã thấy ở Ý vào thế ký 17
Pierre Fauchard (thế kỉ 18) được coi là ông tổ của răng giả
Thế ký 19 người ta đã biết lấy khuôn và làm hàm giả băng cao su,dùng răng bằng sứ cũng trong thời kỳ này càng nhai được sử dụng
Thế kỷ 20 răng giả được phát triển theo sự phát triển của ngànhRHM
Năm 1906 Carmichacl làm chụp hở mặt ngoài răng
Năm 1907 dùng phương pháp đúc bỏ sáp như ngày nay
Năm 1920 làm cầu răng có sự chú ý về cơ học và sinh học
Chụp kim loại cẩn sứ được giới thiệu vào cuối những năm 40
Đường hoàn tất bờ vai cho phục hình sứ được phát triển vào năm 1960
1.3.2 Các loại phục hình cố định
Phục hình răng là một ngành trong nha khoa chuyên nghiên cứu đểphục hồi các răng hay cấu trúc răng đã mất, nhằm tái tạo và duy trì thẩm mỹvùng hàm mặt
Phục hình cố định là môn khoa học nghiên cứu, tái tạo lại phần thânrăng của một hay nhiều răng mất và những cấu trúc liên hệ nhằm phục hồi chứcnăng răng miệng của bệnh nhân Phục hình này được gắn chặt vào răng thật màbệnh nhân không thể tự tháo ra được
Trang 8Có nhiều loại phục hình cố định nó phụ thuộc vào thành phần mắc giữvới răng trụ (33,37,51,52)
1.3.2.1 Inlay, Onlay
Hình 1.3.2.1 Inlay, onlay
Là một phục hình răng đặt bên trong thân răng, bao bọc bởi tổ chức môrăng, còn được gọi là phục hình bên trong thân răng Inlay thường được đúcbằng kim loại, sứ hoặc composite
Trong phục hình răng cố định người ta sử dụng Inlay kim loại để làmphần giữ cho cầu răng cố định loại ngắt lực
Các inlay kim loại có thêm các chốt lưu còn được gọi là pinlay
Onaly là một biến thể của inlay, có phần mặt nhai bao phủ cả mặt nhaicủa thân răng
Ở mặt trong các răng cửa và răng nanh các onlay có các bậc và chốt lưucòn được gọi là pinledge, hay là biến thể của mão ¾
Chỉ định:
Răng bệnh nhân có buồng tuỷ tương đối nhỏ
Bệnh nhân có loại mô răng tốt, ít sâu răng
Thân răng phát triển bình thường về chiều cao và chiều ngoàitrong
Nên thực hiện Inlay trên răng sống, nếu răng đã lấy tuỷ nên thựchiện Onlay phủ mặt nhai
Dùng trám các răng sâu thay cho Amalgam, composite, sứ
Trang 9 Dùng làm phần giữ có các kiểu cầu răng ngắt lực, cầu răng bán
cố định, hàm giả tháp lắp có mắc cài
Vệ sinh răng miệng tốt
Chống chỉ định:
Bệnh nhân quá trẻ, buồng tuỷ răng lớn
Mô răng xấu, dễ sâu răng
Thân răng thấp
Răng xoay
Không làm Inlay nhiều mặt trên răng chết tuỷ (nên làm Onlay)
Vệ sinh răng miệng kém
1.3.2.2 Chụp răng
Là một chụp có hình dạng thân răng phục hồi toàn phần hoặc một phầnrăng trên một răng riêng rẽ sau khi răng này được mài toàn phần hoặc một phầntuỳ theo loại chụp được chỉ định làm
1.3.2.2.1 Chụp toàn diện kim loại
Hình 1.3.2.2.1 Chụp toàn diện kim loại
Loại chụp này bao phủ toàn thể 5 mặt của thân răng Chụp được làm bằngkim loại dùng để bao bọc một răng riêng rẽ hay làm phần giữ cho một cầu răng
Chỉ định
Dùng để che chở và tái tạo một thân răng bị sâu lớn hoặc vỡ lớn
do chấn thương đến mức độ không còn có thể hàn răng chắc
Múi răng bị bể mất không thể trám bền vững được
Trang 10 Dùng bao bọc các răng bị thiểu sản men ngà, bị nứt men răng.
Dùng để điều chỉnh lại vị trí thân răng và khớp cắn cho nhữngrăng mọc lệch lạc mà không thể chỉnh hình được
Dùng bao bọc các răng sẽ mang móc cho một hàm giả tháo lắp có
mô răng yếu hoặc có hình thể không thuận tiện cho sự bám giữ củamóc
Dùng nâng cao khớp cắn
Chống chỉ định
Răng có buồng tuỷ quá to nếu muốn bảo tồn tuỷ
Răng bị bệnh nha chu
Chiều cao thân răng quá thấp
Răng nghiêng lệch quá nhiều
Răng phía trước (thẩm mỹ)
Sự truyền nhiệt, điện của kim loại ảnh hưởng phần nào đến tuỷ
Khó phát hiện được sâu răng tái phát bên trong chụp
Không thẩm mỹ
1.3.2.2.2 Chụp toàn diện kim loại có mặt nhựa (sứ)
Trang 11Hình 1.3.2 2.2 Chụp kim loại cẩn sứ
Là chụp toàn diện bằng kim loại nhưng có mặt ngoài được phủ thêm mộtlớp nhựa hoặc sứ trắng Đây là một kiểu biến đổi của chụp đúc kim loại toàndiện vì yêu cầu thẩm mỹ
Chỉ định
Có thể thực hiện trên răng sống, răng đã lấy tuỷ, cho cùi răng giả
Dùng bao bọc một răng riêng rẽ hay là phần giữ cho cầu răng
Có thể dùng cho các răng phía trước và răng phía sau
Thân răng bị bể góc, múi, không thể trám bền vững được
Thân răng bị mòn, gãy cạnh cắn
Thân răng bị thiểu sản men, dị thường mà không trám thẩm mỹđược
Răng bị màu mà không trám thẩm mỹ được
Răng có hình dạng bất thường mà không trám thẩm mỹ được
Răng bị xoay lệch không chỉnh hình được, không trám thẩm mỹđược
Thân răng bị nứt
Răng trước có sức nhai mạnh, sẽ không bền nếu làm chụp Jacket
Dùng để nâng cao khớp cắn
Chống chỉ định
Răng sống có buồng tuỷ lớn
Răng trước có kích thước ngoài – trong nhỏ
Thân răng có chiều cao quá thấp
Ưu điểm
Là loại phục hình chắc chắn có chức năng và thẩm mỹ nên có thểdùng cả cho răng trước và răng sau
Tương đối tiết kiệm mô răng hơn chụp Jacket
Lúc thử răng nếu sai màu dễ sửa chữa lại
Trường hợp thực hiện trên cùi giả sẽ dễ sửa chữa, tháo gỡ làm lại
Trang 12 Thực hiện bên ngoài những cùi giả cho cầu răng trước thuận tiệncho sự song song hơn dùng răng chốt Richmond.
Nhược điểm
Tương đối không đẹp bằng chụp Jacket
Ít tiết kiệm mô răng ở mặt ngoài cùi răng
Mặt nhựa, sứ bên ngoài có thể bị bể sút khỏi kim loại nếu kỹthuật làm không tốt
Bệnh nhân có mô răng tốt
Vệ sinh răng miệng tốt
Thân răng phát triển đầy đủ về chiều cao, ngoài trong, gần xa để
có thể giữ cho chụp răng và thực hiện tốt các rãnh lưu, hố lưu
Thân răng có vị trí và chiều hướng bình thường trên cung răng(không xoay hoặc nghiêng lệch)
Nên làm trên răng sống có mặt không bọc nguyên vẹn, tốt
Trang 13 Thường được làm trên răng cửa, răng nanh, răng cối nhỏ, Trườnghợp đặc biệt có thể làm nên răng cối lớn.
Thường dùng để làm phần giữ trên răng trụ cho cầu răng
Có thể dùng làm nẹp cho nhiều răng hoặc làm chụp riêng rẽ đểphục hình các răng bị bể vỡ múi răng
Chống chỉ định
Răng đã lấy tuỷ
Răng có mô răng xấu
Vệ sinh răng miệng kém
Chiều cao thân răng thấp, chiều ngoài trong nhỏ
Thân răng bị xoay lệch nhiều
Không dùng làm phần giữ cho cầu răng quá dài
Ưu điểm
Tiết kiệm mô răng
Giữ được màu răng tự nhiên ở mặt ngoài
Dễ kiểm soát sự khít sát nơi đường hoàn tất
Dễ thử nghiệm độ sống của tuỷ răng
Ít kích thích mô nha chu
Trang 14Hình 1.3.2.2.4 Chụp jacket
Là loại chụp toàn diện nhưng được làm bằng sứ hay bằng nhựa hoặccomposite, dùng để phục hình riêng rẽ cho từng răng
Chỉ định
Bệnh nhân trên 20 tuổi
Răng tuỷ còn sống, răng đã lấy tuỷ, cùi răng giả
Răng phía trước hoặc răng phía sau tuỳ vật liệu phục hồi
Thân răng bị đổi màu không trám thẩm mỹ được
Thân răng bị bể góc mà không trám được
Thân răng có hình dạng bất thường không trám thẩm mỹ được
Thân răng bị thiểu sản men, dị trưởng không trám thẩm mỹ được
Thân răng bị mòn, gãy cạnh cắn
Răng bị xoay lệch không thẩm mỹ mà không chỉnh hình đượchay trám thẩm mỹ được
Chống chỉ định
Răng có buồng tuỷ lớn
Thân răng quá thấp
Thân răng trước có kích thước ngoài trong nhỏ
Răng có cingulum quá thấp
Răng mang móc cho hàm giả tháo lắp
Ưu điểm
Thẩm mỹ cao
Trang 15 Ít dẫn nhiệt, điện nên bảo vệ tuỷ răng tốt.
Không gây dòng điện hoá học trong miệng
Răng có buồng tuỷ nhỏ và không quá nhạy cảm
Răng có chiều cao thân răng trung bình hoặc cao
Khớp cắn bình thường thì dùng kiểu chụp kim loại phủ sứ
Khớp cắn sâu thì dùng chụp kim loại cẩn mặt sứ
Khớp cắn đối đầu thì dùng kiểu chụp cẩn mặt sứ hoặc chụp kimloại phủ sứ
Răng có buồng tuỷ nhỏ và không quá nhạy cảm
Răng có chiều cao thấp dùng chụp kim loại cẩn mặt sứ
Trang 16Răng đã lấy tuỷ
Răng bị mất chất lớn do sâu răng hay chấn thương
Phần răng còn lại trên 2mm thì nên tái tạo lại phần cùi răng bằngkim loại đúc, bằng chốt, composite và làm chụp sứ kim loại bên ngoài
Trường hợp mất hết thân răng và chiều ngoài trong quá nhỏ thìnên làm răng chốt Richmond sứ-kim loại
Trường hợp mất hết thân răng và chiều ngoài trong mặt chân răngbình thường thì tái tạo cùi giả và làm chụp sứ-kim loại bên ngoài
Tái tạo cùi răng từng phần hoặc toàn phần (cùi giả), có chốt cốđịnh hay chốt gài
Nếu răng có chiều cao thấp thì dùng chụp kim loại cẩn sứ
Nếu răng có chiều cao tốt thì dùng chụp kim loại phủ sứ
Không có tính đàn hồi nên không biến dạng do lực nhai
Không đổi màu trong môi trường miệng và ánh sáng thường
Có thể làm màu sắc giống răng thật
Phản chiếu ánh sáng gần giống răng tự nhiên
Trang 17 Kỹ thuật thực hiện khó, cần sự chính xác cao, có kinh nghiệm vàphương pháp tốt.
Chỉ định hạn chế do mài nhiều mô răng làm hại tuỷ và giảmchiều cao cùi răng làm giảm sự lưu giữ của mão
Thân răng bị huỷ hoại lớn bởi sâu răng
Thân răng bị gãy vỡ lớn do chấn thương
Thân răng bị dị trưởng, thiểu sản men ngà nhiều, tuỷ chết, khôngtrám thẩm mỹ hay dùng chụp jacket được
Thân răng bị mòn cạnh cắn nhiều
Thân răng hơi lệch vị trí bình thường mà không chỉnh hình rănghoặc trám thẩm mỹ được
Trang 18 Chân răng phát triển bình thường được chữa nội nha tốt.
Mô nha chu lành mạnh
Có răng sau và khớp cắn thăng bằng
Chống chỉ định
Chân răng bị tổn thương nhỏ và răng còn tuỷ sống lành mạnh
Thân răng bị thiểu sản men ngà, mòn ngót cổ răng ít và tuỷ răngcòn sống
Chân răng và mô nha chu bị nhiễm trùng
Hình thể chân răng quá cong, gãy khúc, quá ngắn, dẹp mỏng
Mô cứng chân răng mềm yếu hoặc hoá vôi nhiều
Ống tuỷ quá rộng do sâu răng hay do nội tiêu
Mặt chân răng nằm quá sâu dưới rãnh lợi
Mất răng sau chưa phục hình
1.3.2.2.7 Cầu răng
Hình 1.3.2.2.7.Cầu răng [13]
Là loại phục hình răng cố định được dùng phục hình răng mất bằng cáchdùng các răng bên cạnh làm trụ để mang gánh răng giả thay thế răng mất này
Một cầu răng đơn giản thông thường gồm có 4 thành phần:
Răng trụ cầu: Là một thân răng hay một chân răng thật dùng để
chống đỡ cho cầu răng
Phần giữ: Là phần của cầu răng bám giữ trên răng trụ và nối với
răng nhịp cầu Phần giữ này có thể là onlay, inlay, chụp từng phần,chụp toàn diện, răng chốt
Trang 19 Nhịp cầu: Là phần của cầu răng thay thế cho răng mất, nhịp cầu
có công dụng là phục hồi chức năng và hình thể của răng mất
Phần nối: Là phần của cầu răng nối liền nhịp cầu với phần giữ, nó
có thể là loại cứng chắc hay loại không cứng chắc:
được hàn hoặc đúc dính liền nhau
một móc khoá cơ học hay ngàm tựa Cầu răng có nối không cứng chắcgọi là cầu răng bán cố định hay cầu răng ngắt lực
Chỉ định
Khớp cắn thuận lợi, thăng bằng
Vị trí và số lượng các răng trụ phải tương xứng với các răng mất
Răng trụ có tuỷ và mô nha chu lành mạnh
Vị trí và chiều hướng của răng trụ có thể trở nên song song saukhi mài cùi răng, răng trụ không nghiêng quá 15 độ theo chiều gần xa
Chân răng có hình dạng thuận lợi cho sự cứng chắc trong xươnghàm
Hình dạng chân răng cong, dị thường hay các chân răng phân kỳ
Tiết diện chân răng rộng, hình bầu dục thuận lợi hơn hình tròn
Tỷ lệ thân/chân nhỏ hơn hoặc bằng 1
Chống chỉ định
Bệnh nhân bị đa sâu răng, chất lượng men răng kém
Khớp cắn không thuận lợi, không có răng bên đối xứng hoặc mấtrăng phía trong cầu răng sẽ làm
Khoảng mất răng quá dài mà không có đủ số răng trụ
Cầu răng ở vùng cung răng cong mà không đủ răng trụ phía bênđối kháng cân bằng
Răng trụ có thân răng ngắn, nhỏ
Răng nghiêng nhiều
Trang 20 Răng chết tuỷ chưa được chữa nội nha.
Răng có bệnh nha chu hay mô nha chu suy yếu, lợi tụt nhiều,xương ổ răng tiêu nhiều, tỷ lệ thân/chân răng lớn hơn, lộ vùng chẽ răng
1.4.2 Các kiểu đường hoàn tất:
1.4.2.1 Bờ xuôi: (limite simple, feather edge)
Đường hoàn tất loại này không phân biệt rõ đối với phần bên dưới của nótrên cùi răng vì mặt đứng của cùi răng gần như liên tục với phần răng bên dướikhông có giới hạn rõ rệt
Loại này dễ thực hiện, dùng ở những mặt răng chỉ cần mài ít, mặt trong vàmặt bên các răng trong, chụp bằng kim loại
Nhược điểm của loại này là bờ cạnh mão sẽ mỏng, khó đúc và dễ bị biếndạng khi thử chụp răng Ngoài ra trên mẫu hàm thạch cao cũng khó thấy giớihạn của đường hoàn tất này
1.4.2.2 Bờ vai (shoulder):
Đường hoàn tất được mài như một bậc thang thẳng góc với mặt đứng củacùi răng, loại này đòi hỏi phải mài nhiều ngà răng
Chỉ định cho chụp jacket nhựa, chụp sứ kim loại
Cạnh chụp với đường hoàn tất này dày và cứng
Khi mặt nướu của bờ vai hợp với mặt đứng một góc lớn hơn 900 thì đượcgọi là bờ vai nghiêng
1.4.2.3 Bờ cong (chamfer):
Có dạng cong, phân biệt được rõ ràng, dày mỏng tùy trường hợp Có thểdùng thay thế cho shoulder và được dùng cho nhiều kiểu chụp răng
Trang 21Bờ cong dày được gọi là bờ cong sâu (heavy chamfer), bờ cong mỏngđược gọi là bờ cong nhẹ (light chamfer).
1.4.3 Vị trí đường hoàn tất:
Đường hoàn tất trên cùi răng có thể được mài dưới lợi, ngang lợi hay trênlợi tùy theo trường hợp lâm sàng, vị trí đường hoàn tất được làm đúng chỉ định,đúng kĩ thuật đều tốt như nhau nghĩa là vẫn bảo vệ được răng và mô nha chuđược lành mạnh, phục hình được bền vững
Chỉ định đường hoàn tất dưới lợi:
- Mô răng yếu, dễ bị sâu răng
- Thân răng có chiều cao quá thấp
- Phục hình răng trước (mặt ngoài)
- Răng có hình dạng, chiều hướng và vị trí bình thường để việc mài cácmặt đứng không quá nhiều làm hại đến tủy răng
- Răng có hình dạng, chiều hướng bất thường nhưng đã được lấy tủy vàtái tạo cùi răng tốt
Chỉ định đường hoàn tất trên lợi:
- Thể trạng nhạy cảm với bệnh nha chu
- Loại răng đề kháng với sâu răng tốt
- Thân răng có chiều cao bình thường hay cao
- Phục hình cho răng trong hay mặt trong các răng trước
- Thân răng có vùng cổ răng eo thắt nhiều
- Răng nghiêng mà việc mài đường hoàn tất dưới nướu làm mất nhiều ngàrăng và hại tủy
- Răng bị tụt nướu đến đường cổ răng và dưới cổ răng
Chỉ định đường hoàn tất ngang lợi:
- Thực hiện ở mặt bên hay mặt trong của những bệnh nhân trẻ, rãnh lợicạn Loại này cũng được làm cho những mão răng chuyển tiếp
Trên cùng một cùi răng có thể chỉ một vị trí đường hoàn tất, có thể haihoặc cả ba vị trí đường hoàn tất tùy theo trường hợp
Đường hoàn tất là phần quan trọng nhất của cùi răng vì: