Nguyễn Duy Bích: “Nghiên cứu đặc điểm của tật loạn thị ở trẻem đến khám tại bệnh viện mắt trung ương” đã đưa ra một số đặc điểm của tậtloạn thị và các yếu tố liên quan đến kết quả điều c
Trang 1Loạn thị là một loại tật khúc xạ có thể xuất hiện từ rất sớm, loạn thị ởtrẻ em nếu không được phát hiện sớm dễ dẫn đến nhược thị, ảnh hưởng đếnchức năng thị giác của trẻ sau này Tuy nhiên việc khám để chẩn đoán loạn thị
ở trẻ nhỏ thường không dễ dàng vì khả năng phối hợp của trẻ rất hạn chế, khảnăng điều tiết của trẻ lại rất tốt bởi vậy cần phải phối hợp nhiều phương phápthăm khám khúc xạ cho trẻ để có thể chỉnh kính đúng cho trẻ Ngoài ra thịtrường kính thuốc hiện nay rất phong phú, có thể đáp ứng tốt nhu cầu kínhchỉnh loạn thị thậm chí ngay cả với loạn thị ở mức độ cao
Trên thế giới, loạn thị ở trẻ nhỏ là khá phổ biến Tỷ lệ mắc bệnh loạnthị ở trẻ từ 3 đến 6 tuổi thay đổi trong các nghiên cứu khác nhau và các dântộc khác nhau Ví dụ theo báo cáo của Kleinstein và cộng sự năm 2003 đãnghiên cứu 2523 trẻ em ở Mỹ cho kết quả 28,4% trẻ em độ tuổi 5 đến 17 cóloạn thị [1], 22% trẻ (tuổi trung bình 51,1 tháng) tại Canada bị loạn thị theokết quả nghiên cứu của Shankar [2] Gần đây nghiên cứu của Lai và cộng sựnăm 2010 cho kết quả 11,4% ở trẻ em tại Đài Loan bị loạn thị [3]
Trang 2Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các nghiên cứu về tật khúc xạ ởlứa tuổi học đường được nhiều người quan tâm Nghiên cứu của Vũ Thị BíchThủy: “Đánh giá các phương pháp xác định khúc xạ và điều chỉnh kính ở lứatuổi học sinh’’ đã đưa ra tỉ lệ 46,61% trẻ em, học sinh bị loạn thị trong nhómtật khúc xạ [4] Nguyễn Duy Bích: “Nghiên cứu đặc điểm của tật loạn thị ở trẻ
em đến khám tại bệnh viện mắt trung ương” đã đưa ra một số đặc điểm của tậtloạn thị và các yếu tố liên quan đến kết quả điều chỉnh bằng kính ở trẻ có độtuổi từ 6 đến 15 tuổi [5]
Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào đi sâu đánh giá về vấn đề loạn
thị trên trẻ nhỏ Bởi vậy chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng tật loạn thị ở trẻ em tuổi tiền học đường" nhằm hai
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Loạn thị và đặc điểm tật loạn thị ở trẻ em tuổi tiền học đường
1.1.1 Khái niệm loạn thị
Các bề mặt của giác mạc và thể thủy tinh là các mặt khúc xạ của mắt.Mắt chính thị, cận thị, viễn thị có các mặt khúc xạ hình cầu Mặt khúc xạ hìnhcầu giống như một quả bóng tròn, tức là giống nhau ở các kinh tuyến trên bềmặt của nó
Trong loạn thị, các mặt khúc xạ của mắt không có cùng một độ cong ởtất cả các kinh tuyến Các mặt khúc xạ của mắt loạn thị giống như bề mặt củamột quả bóng bầu dục (hoặc một quả trứng) Một bề mặt như vậy được gọi là
bề mặt loạn thị [6], [7]
Một hệ quang học loạn thị cho ảnh của một điểm không phải là mộtđiểm, mà là hai đường thẳng gọi là tiêu tuyến Khoảng cách của hai tiêu tuyếnxác định độ loạn thị Tiêu tuyến trước tạo bởi kinh tuyến có chiết quang caonhất, tiêu tuyến sau tạo bởi kinh tuyến có chiết quang thấp nhất Mỗi tiêutuyến đều thẳng góc với kinh tuyến gốc
1.1.2 Loạn thị do giác mạc
Đa số loạn thị là do giác mạc [6] Giác mạc ở đây không phải là chỏmcầu với tất cả các kinh tuyến có cùng một bán kính cong mà nó thay đổi tùytheo kinh tuyến Thực ra giác mạc bình thường cũng không phải hoàn toàn làmột chỏm cầu Kinh tuyến ngang có bán kính cong là 7,8mm và kinh tuyếndọc là 7,7mm Như vậy là có một mức độ loạn thị giác mạc sinh lý
- Người ta phân biệt 2 loại: loạn thị đều và loạn thị không đều
Trang 41.1.2.1 Loạn thị đều
Trong loạn thị đều, các kinh tuyến thay đổi dần dần từ kinh tuyến cócông suất khúc xạ cao nhất đến kinh tuyến có công suất khúc xạ thấp nhất
Phân loại loạn thị đều:
- Dựa theo tương quan giữa 2 kinh tuyến chính người ta chia ra:
+ Loạn thị thuận: kinh tuyến dọc của giác mạc cong hơn kinh tuyếnngang Như vậy, tiêu tuyến trước nằm ngang và tiêu tuyến sau nằm dọc
Hình 1.1 Sơ đồ quang học của loạn thị thuận
+ Loạn thị ngược: kinh tuyến ngang của giác mạc cong hơn kinh tuyếndọc Như vậy, tiêu tuyến trước nằm dọc và tiêu tuyến sau nằm ngang
Trang 5Hình 1.2 Sơ đồ quang học của loạn thị ngược
+ Loạn thị chéo: khi 2 kinh tuyến chính của giác mạc không ở vị trí dọc
và ngang
1.1.2.2 Loạn thị không đều
Công suất khúc xạ của các kinh tuyến thay đổi không theo quy luật nào
cả Thường do dị dạng giác mạc như giác mạc hình chóp, sẹo giác mạc Loạnthị không đều rất khó chỉnh kính và không đạt thị lực bình thường
1.1.3 Loạn thị không do giác mạc
- Loạn thị do thể thủy tinh: thể thủy tinh cũng có thể gây ra loạn thị.Loạn thị của thể thủy tinh thường là loạn thị nghịch và loạn thị này sẽ phốihợp với loạn thị thuận của giác mạc, điều này khiến mắt thành không loạn thị
và đây là trường hợp đa số các mắt thông thường Việc thể thủy tinh bị lệchhoặc nghiêng cũng tạo ra loạn thị
- Loạn thị do võng mạc: trong cận thị nặng, cực sau dãn lồi và lệchsang một bên
1.1.4 Các kiểu loạn thị
- Dựa theo vị trí tiêu tuyến đối với võng mạc, người ta chia ra:
+ Loạn thị cận đơn: một tiêu tuyến trên võng mạc và một tiêu tuyếntrước võng mạc
+ Loạn thị viễn đơn: một tiêu tuyến ở trên võng mạc và một tiêu tuyến
ở sau võng mạc
+ Loạn thị cận kép: cả 2 tiêu tuyến đều ở trước võng mạc
+ Loạn thị viễn kép: cả 2 tiêu tuyến đều ở sau võng mạc
Trang 6+ Loạn thị hỗn hợp: một tiêu tuyến ở trước võng mạc, một tiêu tuyến ởsau võng mạc
1.1.5.2 Sự điều tiết của mắt loạn thị
Ở trạng thái tự nhiên mắt luôn điều tiết Khi mắt loạn thị điều tiết nó cóthể làm thay đổi hình thái loạn thị, bởi vậy để điều tiết không ảnh hưởng đến
Trang 7việc chuẩn đoán loạn thị khi thăm khám cần kiểm soát tốt điều tiết bằng việctra thuốc liệt điều tiết điều này đặc biệt ở trẻ em.
Mắt loạn thị điều tiết theo 3 cách:
- Điều tiết trên một đường tiêu: do các chi tiết trong không gian thườngnhận biết với những nét đứng hơn là những nét ngang và điều này cũng tương
tự với nét viết Vì lý do này mắt loạn thị thường điều tiết để cho tiêu tuyếnđứng về trên võng mạc hoặc nằm gần võng mạc hơn khi đó các chữ in sẽđược nhận biết dễ dàng hơn
- Điều tiết trên vòng tròn ít khuếch tán: đối với cách này mắt sẽ điềutiết sao cho vòng tròn ít khuếch tán nằm trên võng mạc Khi đó 2 tiêu tuyếngần như cách đều võng mạc nên không có hướng nào rõ hơn Trong trườnghợp này mắt biến thành mắt loạn thị hỗn hợp và đây cũng là trường hợp khikhám khúc xạ ta chưa chỉnh hết được loạn thị trên mắt bệnh nhân hoặc dobệnh nhân không thể đeo theo công thức loạn thị tối đa đã đo, mà chỉ đeođược một phần của loạn thị theo công thức tương đương cầu
- Điều tiết tạo ra loạn thị: là khả năng của mắt bù trừ một loạn thị nhẹbằng cách co kéo không đồng đều các kinh tuyến của thể thủy tinh
1.1.6 Nguyên nhân loạn thị
- Loạn thị có thể là do bẩm sinh (do sự phát triển bất thường của giácmạc), hay thứ phát sau chấn thương hoặc phẫu thuật , loạn thị giác mạcthường gặp hơn loạn thị do thể thủy tinh [6]
- Do mặt trước giác mạc, khi các kinh tuyến không có cùng một bánkính cong, nó thay đổi tùy theo kinh tuyến Loạn thị sinh lý thường gặp ở trẻ
Trang 8em và độ loạn thị dưới 0,5D Độ loạn thị này được bù trừ bằng độ loạn thịngược của thể thủy tinh
- Do mặt sau giác mạc: mặt sau giác mạc cũng có độ cong không đềunhau, thay đổi tùy theo người và độ tuổi Tuổi càng lớn thì loạn thị mặt saugiác mạc càng cao, càng ảnh hưởng đến thị lực và cần được điều chỉnh
- Loạn thị di truyền: loạn thị thường cao trên 2D, người ta thấy ở haingười sinh đôi loạn thị rất giống nhau và thường di truyền theo kiểu lặn
1.1.7 Triệu chứng lâm sàng của loạn thị
* Triệu chứng chủ quan
- Nhìn mờ: có thể nhìn mờ cả khi nhìn xa và nhìn gần
- Nháy mắt,nheo mắt,chảy nước mắt,mắt bị kích thích
- Nhức đầu, mỏi mắt, nhức mắt khi nhìn gần lâu
- Ở bệnh nhân loạn thị nặng có thể có biến dạng hình ảnh,méo hình
Trang 91.1.8 Một số phương pháp xác định loạn thị
* Phương pháp chủ quan
- Chẩn đoán loạn thị bằng mặt đồng hồ Parent
Dựa trên nguyên tắc: mắt loạn thị đều nhìn vào mặt đồng hồ Parent sẽthấy một đường nét hơn các đường khác đồng thời thấy một đường mờ nhấtvuông góc với đường nét nhất Hai đường vuông góc với nhau đó tương ứngvới 2 kinh tuyến chính của mắt Đường rõ nhất tương ứng với tiêu tuyến nằmsát võng mạc hơn Mặt đồng hồ loạn thị được dùng trong khi đo khúc xạ chủquan để xác định công suất và trục của mắt loạn thị
Hình 1.4 Mặt đồng hồ Parent
- Kính trụ chéo Jackson
Trang 10Hình 1.5 Kính trụ chéo jackson
Kính trụ chéo Jackson cấu tạo gồm 2 kính trụ cùng công suất nhưngtrái dấu và trục vuông góc với nhau được gắn trên một cán nghiêng 45° so vớihai trục chính Khi xoay nửa vòng cán kính trụ Jackson thì trụ (+) sẽ thaybằng trụ (-) và ngược lại Các trục dương và âm được đánh dấu khác nhau.Công suất kính thường có các loại: ± 0,25D, ± 0,50D, ± 1,00D
Kính trụ chéo Jackson cho phép chỉnh trục chính xác và công suất củakính trụ khi thử kính chủ quan
Trang 11sử dụng rộng rãi vì đơn giản và có giá trị chẩn đoán tốt Hiện nay, phổ biến làdùng loại máy soi bóng đồng tử có chùm sáng hình khe
Hình 1.6 Bóng đồng tử
Máy soi bóng đồng tử cho phép chiếu ánh sáng vào mắt bệnh nhân vàquan sát ánh sáng phản xạ từ võng mạc của mắt bệnh nhân Sự di chuyển củabóng đồng tử có thể là cùng chiều (viễn thị), ngược chiều (cận thị) hoặc cắtkéo (loạn thị) hay trung hòa (chính thị)
- Khúc xạ kế tự động
Trang 12Khúc xạ kế tự động sử dụng tia hồng ngoại nên bệnh nhân giảm đượcđiều tiết, không bị chói lóa mắt nhưng bản thân máy cũng gây ra độ viễn thịsai lệch + 0,75D đến + 1,00D Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Anh trên
640 mắt, tỷ lệ loạn thị do máy gây ra là 90,82%, chênh lệch trục loạn thị trong
10° là 83,84% [9] Ở người lớn, độ chênh lệch khúc xạ khi không liệt điềutiết là ± 1,00D so với khi đã liệt điều tiết Còn ở ở trẻ em sự chênh lệch nàycao hơn do mắt trẻ em có khả năng điều tiết nhiều Tuy nhiên khúc xạ kế tựđộng cho phép làm rất nhanh và tiện lợi, cho biết trục loạn thị tương đối chínhxác và số khúc xạ rõ ràng
- Chụp bản đồ giác mạc
Dựa vào bản đồ giác mạc có thể đánh giá được khúc xạ giác mạc ở haikinh tuyến chính K1 và K2, từ đó tính ra được sự chênh lệch giữa hai kinhtuyến (dK)
Ngoài ra bản đồ giác mạc giúp chẩn đoán phân biệt loạn thị với bệnh lýgiác mạc chóp
1.1.9 Tiến triển của loạn thị
Loạn thị tuy không tiến triển như cận thị, nhưng cũng không phải hoàntoàn không thay đổi Ngoài những nguyên nhân bất thường thì về sinh lý sẽtiến triển đến một loạn thị ngược nhẹ vào khoảng 50 tuổi, nhưng sự thay đổinày là nhỏ so với mức độ loạn thị đã có [6]
1.1.10 Đặc điểm loạn thị ở trẻ em tuổi tiền học đường
Nếu loạn thị từ trung bình đến nặng không được điều chỉnh trước 5 tuổithì thường dẫn đến nhược thị và nhược thị này được gọi là nhược thị cơ năng
Trang 13Nhược thị gây ra là do loạn thị không được chỉnh kính sớm hoặc bất đồngkhúc xạ giữa hai mắt.
Triệu chứng chủ quan: ngoài những triệu chứng chung của loạn thị thìđặc biệt hay gặp ở trẻ nhỏ là các biểu hiện nháy mắt, nghiêng đầu, nheo mắt
Khó đánh giá bằng các cách thử đồng hồ Parent và kính trụ chéoJackson do khả năng phối hợp khám của trẻ nhỏ không tốt
Soi bóng đồng tử sau khi tra thuốc liệt điều tiết là phương pháp đokhách quan và cho kết quả chính xác về tình trạng loạn thị ở trẻ nhỏ
Kiểu loạn thị thường gặp là loạn thị thuận
Có thể bị loạn thị ở một mắt hoặc cả 2 mắt
Thị lực sau chỉnh kính thường kém: nhược thị do loạn thị ở trẻ nhỏ làkhá phổ biến
Thường kèm bất đồng khúc xạ 2 mắt
1.2 Điều chỉnh tật loạn thị ở trẻ tuổi tiền học đường
1.2.1 Nguyên tắc chung trong điều chỉnh loạn thị ở trẻ em
Loạn thị trên 2,5DC có thể gây nhược thị trên cả hai mắt Các loạn thịngược hoặc chéo thường gây ảnh hưởng đến chất lượng thị giác hơn
Trang 14- Các loạn thị nhất là các loạn thị giác mạc ở trẻ em thường ổn định tuynhiên chúng ta cần cho trẻ khám 6 tháng một lần để điều chỉnh kịp thời nhữngthay đổi nhẹ về trục cũng như công suất của kính trụ.
- Cần cho trẻ đeo kính thường xuyên khi có loạn thị trên 1,5DC
1.2.2 Cách điều chỉnh loạn thị
Như ta đã biết, loạn thị gây khó khăn trong việc nhìn rõ chi tiết Nếuloạn thị nhẹ, ít ảnh hưởng đến thị lực có thể không cần điều chỉnh Nhưng đối
Trang 15với loạn thị đáng kể, việc điều chỉnh là cần thiết Loạn thị có thể chỉnh bằngkính mắt hoặc phẫu thuật khúc xạ Tuy nhiên, đối với trẻ em, điều chỉnh loạn thịchủ yếu vẫn là đeo kính
Để chỉnh kính cho mắt loạn thị cần phải dùng kính trụ Đây là một kính
có công suất chỉ ở một phần của kính (kinh tuyến công suất) Ở hướng kinhtuyến vuông góc với kinh tuyến công suất là phần không có công suất gọi làtrục của kính (kinh tuyến trụ)
Thực tế, bệnh nhân có thể bị tật khúc xạ với một phần cầu và một phầnloạn thị, do đó kính chỉnh loạn thị là kính cầu - trụ Kính cầu trụ có một mặtcầu (thường là mặt trước) và một mặt trụ (thường là mặt sau) Hiện nay, đểchỉnh loạn thị người ta thường dùng kính trụ phân kì
Khi chỉnh kính cho mắt loạn thị người ta dùng kính cầu trung hòađường tiêu sau để chuyển các hình thái loạn thị sang loạn thị cận đơn, rồidùng kính trụ phân kì để chỉnh loạn thị
+ Loạn thị cận đơn thuận: tiêu tuyến trước nằm ngang, trước võng mạc,tiêu tuyến sau nằm dọc trên võng mạc Thị lực khá tốt, điều chỉnh bằng kínhtrụ phân kỳ trục ngang
+ Loạn thị cận đơn ngược: tiêu tuyến dọc nằm trước võng mạc và nhìn
Trang 16+ Loạn thị viễn đơn, kép (thuận, ngược, chéo): dùng kính cầu hội tụ đểđưa đường tiêu sau về võng mạc, sau đó dùng trụ phân kì để chỉnh loạn thịđưa đường tiêu trước về võng mạc.
1.2.3 Vấn đề nhược thị trong loạn thị
1.2.3.1 Nhược thị là gì?
Nhược thị là tình trạng giảm thị lực ở một mắt hoặc hai mắt dưới 20/25hoặc có sự khác biệt trên 2 dòng giữa hai mắt mặc dù đã chỉnh kính tối ưu vàkhông tìm thấy một nguyên nhân thực thể nào Nhược thị là tình trạng khá phổbiến, theo Von Noorden G.K cho thấy tỷ lệ nhược thị chiếm 2,5% dân số [10],còn theo Stevens A và cộng sự tỷ lệ này là 2 – 5% dân số, theo Paarks M.M là
2 – 4% [11] Nhược thị là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gâygiảm thị lực ở trẻ em [10] Tỷ lệ nhược thị trong tật khúc xạ là 30% [12]
1.2.3.2 Nhược thị trong loạn thị
Nhược thị trong loạn thị thường là do bất đồng khúc xạ vì một mắt khôngđược sử dụng thường xuyên Ở bệnh nhân loạn thị, hai mắt chỉ cần lệch 1,00D là
có khả năng gây nhược thị Mắt nhược thị có thị lực kém hơn ít nhất hai hàngtrên bảng thị lực so với mắt không bị nhược thị và có thị lực dưới 20/25
Những trường hợp loạn thị nặng, dù không có sự bất đồng khúc xạ thìkhả năng nhựơc thị ở hai mắt vẫn rất cao do giảm quá nhiều độ rõ nét của ảnhtrên võng mạc Theo Rouse M.W nguy cơ gây nhược thị ở mắt loạn thị là mắt
có độ loạn thị trên 2,50D
1.3 Một số nghiên cứu về loạn thị
1.3.1 Nghiên cứu của nước ngoài
Trang 17Kleinstein RN và cộng sự năm 2003 đã nghiên cứu 2523 trẻ em ở Mỹ chokết quả gần 3 trong 10 (chiếm 28,4%) trẻ em độ tuổi từ 5 đến 17 có loạn thị [1].
Fan và cộng sự năm 2004 cho kết quả 21,1% trẻ em mẫu giáo ở HồngKông có loạn thị [13]
Nghiên cứu của Huynch và cộng sự năm 2006 cho kết quả 4,8% trẻ em
6 tuổi và 11,2% trẻ em tại Sydney có loạn thị [14]
Nghiên cứu của Lai và cộng sự 2010 cho kết quả 11,4% trẻ em tuổi tiềnhọc đường ở Đài Loan có loạn thị [3]
1.3.2 Nghiên cứu của Việt Nam
Nghiên cứu của Vũ Thị Bích Thủy (2003): “Đánh giá các phương phápxác định khúc xạ và điều chỉnh kính ở tuổi học sinh” cho kết quả 45,61% bịloạn thị trong số trẻ em, học sinh bị tật khúc xạ Trong đó loạn thị thuậnchiếm 97,09%, loạn thị ngược chiếm 1,05%, loạn thị chéo là 1,86%
Nghiên cứu của Nguyễn Duy Bích (2011): “ Nghiên cứu đặc điểm củatật loạn thị ở trẻ em khám tại bệnh viện mắt trung ương” cho kết quả không
có sự khác biệt giữa nam và nữ về tỷ lệ loạn thị và trong từng nhóm tuổi.Trong đó bệnh nhân loạn thị hai mắt chiếm đa số (92,5%), kiểu loạn thị phổbiến là loạn thị thuận (91,72%), loạn thị ngược chiếm tỷ lệ thấp nhất (1,61%),loạn thị chéo chiếm tỷ lệ (6,67%) [5]
Ngoài ra chưa có nghiên cứu tìm hiểu sâu về tật loạn thị ở trẻ emdưới 7 tuổi
Trang 19ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trẻ em đến khám khúc xạ tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng2/2014 đến tháng 9/2014
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Trẻ em từ 4 đến 6 tuổi
- Có khả năng phối hợp để khám khúc xạ
- Được chẩn đoán loạn thị đều ở các mức độ khác nhau
- Có thể kèm cận thị hoặc viễn thị
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân có loạn thị kèm theo các bệnh mắt ảnh hưởng đến thị lực:bệnh của giác mạc, thể thủy tinh, dịch kính, đáy mắt, thị thần kinh, các bệnhbẩm sinh di truyền, rung giật nhãn cầu…
- Bệnh nhân loạn thị kèm theo lác hoặc sau mổ lác, nhược thị do lác
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu
Được tính theo công thức
Trang 20- Trong đó:
n là cỡ mẫu tối thiểu, đơn vị là bệnh nhân
p là tỷ lệ bị loạn thị ở trẻ em tuổi tiền học đường, lấy p = 0,114 (tỷ lệloạn thị dựa trên nghiên cứu nước ngoài [3]
q = 1- p
Độ chính xác mong muốn là 95%
Sai số mong muốn là ∆ = 5%
α: mức ý nghĩa thống kê
Z là độ tin cậy của xác suất, vớiα =0.05 thì ∑2(1−α/2 )=1,96
Theo công thức tính được n = 80 bệnh nhân
Trang 21- Thuốc liệt điều tiết: Cyclogyl 1%, Atropin 0,5%
2.2.3.2 Cách thức nghiên cứu.
Nghiên cứu được tiến hành theo các bước như sau:
- Giải thích rõ cho bệnh nhân và người nhà để bệnh nhân hợp tác thamgia nghiên cứu
- Tất cả các bệnh nhân thuộc diện nghiên cứu đều được lập hồ sơ theomẫu nghiên cứu riêng Các thông tin từ việc hỏi, thăm khám và đo đạc đều đượcghi chép đầy đủ
- Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu đều được thăm khám theo quytrình sau:
* Hỏi bệnh:
Họ tên, tuổi, giới, địa chỉ
Triệu chứng khi đến khám: Bệnh nhân có hiện tượng nhìn mờ không?
Có thấy nhức mắt, đau đầu khi vẽ, tập viết hoặc khi nhìn gần lâu không ? Cóhiện tượng nheo mắt, nháy mắt hay nghiêng đầu không ? Có triệu chứng nàokhác không ?
Thời gian triệu chứng xuất hiện đến lúc khám: Dưới 3 tháng, từ 3 đến 6tháng hay trên 6 tháng ?
Bệnh nhân đã được xác định tật khúc xạ chưa ? Nếu đã được khám vàđiều trị thị có được đeo kính không? Loại nào ? (cận, viễn hay loạn ?)
Bệnh nhân có được chẩn đoán nhược thị không ? Nếu có thì đã điều trịnhược thị chưa ?
Trang 22Bệnh nhân đã đeo kính chưa ? Loại nào ? (cận, viễn hay loạn ?)
Bệnh nhân có bệnh toàn thân không ?
Tiền sử gia đình: Bệnh nhân có bố mẹ hoặc anh chị em có tật khúc xạkhông ? Nếu có thì thuộc loại nào (cận thị, viễn thị hay loạn thị)
* Khám khúc xạ cho bệnh nhân:
Đo thị lực nhìn xa không kính và thử kính lỗ: sử dụng bảng thị lựcSnellen khoảng cách thử 6m
Đo khúc xạ kế tự động: đo ít nhất 3 lần để lựa chọn giá trị thích hợp[1] Tra thuốc liệt điều tiết: Cyclogyl 1% hoặc Atropin 0,5% Khi dùngCyclogyl 1%, tra 3 lần, mỗi lần cách nhau 10 phút, tiến hành soi bóng đồng tửsau 30 phút kể từ khi tra thuốc lần thứ 3 (khi đồng tử đã giãn) Khi dùngAtropin 0,5% cho bệnh nhân thì hướng dẫn gia đình tra cho bệnh nhân ngày 1đến 2 lần và hẹn soi bóng đồng tử sau 3 đến 5 ngày Bệnh nhân được giảithích về tác dụng phụ của Atropin và Cyclogyl
Đo khúc xạ khách quan bằng máy soi bóng đồng tử:
+ Soi bóng đồng tử khoảng cách 0,5m Bù trừ khoảng cách với kínhcầu cộng 2,00D Luôn giữ khoảng cách này để kính bù khoảng cách đo đúng
+ Trung hòa trục đầu tiên với trục viễn nhiều hơn hoặc cận thị ít hơn + Trung hòa trục thứ hai với một kính trụ trừ Trục của kính sẽ trùnghướng với trục có công suất viễn thị hơn hay ít cận hơn
+ Đo mắt phải trước, sau đó đo mắt trái và cuối cùng cần kiểm tra lạikết quả của mắt phải
Trang 23+ Bỏ kính bù trừ khoảng cách ta có kết quả soi bóng đồng tử
+ Khám mắt bằng sinh hiển vi và soi đáy mắt để phát hiện các tổnthương thực thể khác
Tư vấn cho bệnh nhân cách đeo kính và bảo quản kính
Hẹn khám lại: khám lại sau 1 tháng
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu bằng hồ sơ nghiên cứu