Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy rằng việc phân tích hạchnách trong ung thư vú có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc quyết địnhđiều trị và có ý nghĩa lớn về tiên lượng thôn
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầugây tử vong ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới Căn bệnh này chiếm khoảng30% trong tổng số các loại ung thư Số người mắc ung thư vú vẫn đang tiếptục tăng lên trong những năm gần đây
Tại Mỹ, năm 2008 ước tính có khoảng 182.460 trường hợp mới mắc và
có khoảng 40.480 trường hợp tử vong
Ở Việt Nam theo thống kê giai đoạn 2001-2004 tỷ lệ mắc ung thư vú ởcác tỉnh phía Bắc là 19,6/100.000 đứng đầu trong các ung thư ở nữ giới và ởphía nam tỷ lệ này là 16,3/100.000 dân, đứng thứ hai sau ung thư cổ tử cung.Trải qua nhiều năm nghiên cứu căn bệnh này ở nhiều lĩnh vực và nhiều quốcgia khác nhau, sự hiểu biết về căn bệnh này ngày càng sâu sắc hơn
Phẫu thuật đóng vai trò then chốt cho quá trình điều trị ung thư vú giaiđoạn sớm Kể từ năm 1948 phẫu thuật vú cải biên được Patey đề xuất thay thếcho phẫu thuật Halsted do tính ưu việt về thẩm mỹ và hiệu quả điều trị nhưnhau Từ đó đến nay có nhiều thủ thuật cải biên chủ yếu là liên quan đến vấn
đề vét hạch nách Auclincloss(1963), Madden(1965) chủ chương vét hạchnách giới hạn mức I, II Scanlon(1976) vét hạch nách mức I, II, III mà vẫnbảo tồn cơ ngực bé Tại bệnh viện K phương pháp phẫu thuật vú triệt căn cảibiên được thực hiện một cách thường quy đối với bệnh nhân có chỉ định phẫuthuật cắt toàn bộ tuyến vú
Kế hoạch điều trị ung thư vú tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh, thường kếthợp thay đổi giữa các phương pháp phẫu thuật, hoá chất, tia xạ, thỉnh thoảngmới điều trị đơn độc Những năm gần đây với sự hiểu biết đầy đủ về sinhbệnh học của ung thư vú và việc sàng lọc phát hiện sớm ngày càng phát triển,
Trang 2bệnh nhân vào viện với giai đoạn sớm ngày càng tăng lên Các phương phápđiều trị chủ yếu để giải quyết hai vấn đề
Tại chỗ: Bằng phẫu thuật hoặc phối hợp với xạ trịToàn thân: Bằng hoá trị, nội tiết hoặc miễn dịchNhư vậy dựa vào cơ sở nào để quyết định việc điều trị toàn thân hay tạichỗ? Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy rằng việc phân tích hạchnách trong ung thư vú có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc quyết địnhđiều trị và có ý nghĩa lớn về tiên lượng thông qua sự xác định về mức độ dicăn hạch, tỷ lệ di căn, thể loại giải phẫu bệnh, độ mô học Vì vậy chúng tôinghiên cứu vấn đề này nhằm mục đích
1 Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tổn thương đại thể ung thư vú
2 Đánh giá mối liên quan giữa di căn hạch nách theo tầng giải phẫu với mô bệnh học
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CẤU TRÚC TUYẾN VÚ VÀ HỆ THỐNG MẠCH, BẠCH HUYẾT VÙNG.
và mô đệm
Toàn bộ tuyến vú được bao bởi cân ngực nông, cân này liên tục với cânnông Camper ở bụng Mặt dưới của vú nằm trên cân ngực sâu Hai lớp cânnày nối với nhau bởi tổ chức xơ (dây chằng Cooper) Vú cấu tạo từ 15-20thuỳ không đều Giữa các thuỳ được ngăn cách bởi các vách liên kết, mỗithuỳ lại chia ra nhiều tiểu thuỳ, mỗi tiểu thuỳ được tạo nên từ các nang tuyếntròn hoặc dài, đứng riêng rẽ hoặc tập trung thành từng đám Các túi 2-3 nang
đổ chung vào các nhánh cuối cùng của ống bài xuất trong tiểu thuỳ Các ốngnày sẽ đổ vào các nhánh gian tiểu thuỳ và hợp lại thành ống lớn hơn, cuốicùng tất cả các ống của mọi tiểu thuỳ đều đổ vào một ống ( ống dẫn sữa) duynhất đưa tới núm vú và mở ra bề mặt núm vú Có khoảng 5-10 ống dẫn sữa.Nằm xen kẽ giữa các nang tuyến, tiểu thuỳ là tổ chức liên kết có mao mạch.Phân chia mô vú thành góc từ núm vú thì 1/2 mô tuyến vú nằm ở 1/4 góc trênngoài của vú
Trang 41.1.2 Mạch máu nuôi dưỡng và thần kinh.
- Động mạch: nuôi dưỡng vú gồm 3 nguồn chính
+ Động mạch vú ngoài hay động mạch ngực dưới: tách ra từ độngmạch nách, đi từ trên xuống dưới sát bờ trong của hõm nách đến cơ răng tocho các nhánh:
Nhánh nuôi dưỡng mặt ngoài vú Nhánh nuôi dưỡng phần ngoài cơ ngực Nhánh tiếp nối với động mạch vú trong+ Động mạch vú trong: tách ra từ động mạch dưới đòn, nuôi dưỡngphần còn lại của vú Động mạch vú trong đi từ trên xuống dưới đến liên sườn
- Thần kinh: Nhánh thần kinh bì cánh tay trong của đám rối cổ nông chiphối phần nửa ngoài của vú Các nhánh nhỏ từ thần kinh liên sườn II,III, IV, V, VI chi phối nửa trong của vú
Trang 5- Mô đệm của vú gồm mỡ, các mô liên kết, mạch máu, thần kinh vàbạch huyết.
- Da vùng vú mỏng, bao gồm các nang lông, tuyến bã và các tuyến mồhôi
1.1.4 Hệ thống bạch huyết của vú
- Hệ thống bạch mạch của vú rất phong phú, mạng lưới dày đặc rải ráckhắp tuyến vú Từ vú chạy ra ngoài và nối với hệ bạch huyết lân cận Có thểchia thành hệ thống bạch huyết trong và ngoài vú Ngoài ra mạng lưới maomạch quần vú, núm vú nối với bạch mạch dưới da, hệ thống mạch dưới da của
vú và liên kết với bất cứ nơi nào khác trong cơ thể
* Hệ thống bạch mạch trong vú
Bạch mạch trong vú gọi là bạch mạch sâu Nguyên uỷ là các ống mạchtiểu thuỳ tập trung lại rồi đổ vào các bạch mạch chạy theo các ống dẫn sữa,chạy tới quầng vú Bạch mạch nông dày đặc nằm ngay sát dưới da và quầng
vú, hệ thống bạch mạch vú liên kết với bạch mạch nách, dưới da vùng thànhbụng trên, cơ hoành, trong cơ ngực và vú đối bên
*Hệ thống hạch ngoài vú
Ra khỏi vú các bạch mạch tập trung lại đổ vào các đường chính gồm có:
- Đường nách: Các ống nách đi từ bờ ngoài của vú vòng qua bờ trước cơngực lớn để đổ vào mạch trong nách và hạch nách, đặc biệt từ chuỗingoài, bạch huyết theo đường này đổ vào các hạch trong hố nách và đổvào các hạch hố thượng đòn
- Đường vú trong: Các bạch mạch xuyên từ mặt sau tuyến vú chui qua cơngực lớn và các khoang liên sườn ở phía trong đổ vào hệ thống hạch vútrong ở trong lồng ngực
- Đường thượng đòn trực tiếp: Dẫn lưu bạch huyết từ phần trên của vúđến thẳng hạch thượng đòn
Trang 6- Đường nách đối bên: Đi từ vú theo trước xương ức vào hệ bạch mạchcủa vú đối bên.
- Đường phía dưới: Dẫn lưu bạch huyết xuống đổ tổ chức dưới da trên cơthẳng bụng
- Đường bạch huyết trong cơ: Bắt đầu từ quầng vú theo đường chạytrong cơ ngực và đổ vào hạch hạ đòn
* Hạch vùng của vú
Dẫn lưu bạch huyết của vú đổ vào các nhóm hạch vùng, vì vậy có nhiềutác giả nghiên cứu về giải phẫu của hệ thống này Thông thường phân chiahạch của vú gồm có:
- Nhóm hạch vú trong (cùng bên) nhận bạch huyết từ nửa trong và quầng
vú theo đường bạch huyết vú trong, nhóm này gồm 6-8 hạch nằm dọctheo động mạch vú trong, tương ứng với các khoang liên sườn I, II, III
- Hạch trong cơ nằm giữa 2 cơ ngực lớn và cơ ngực bé (Hạch Rotter)nhận bạch huyết từ quầng vú, từ đó bạch huyết được dẫn đến các hạchtrung tâm hoặc hạ đòn
- Hạch vùng nách: Có nhiều cách phân chia nhóm hạch theo các tác giảgiải phẫu chia thành 5 nhóm sau
+ Nhóm hạch vú ngoài còn gọi là nhóm trước hay nhóm ngực gồm 4-5hạch nằm dọc theo bờ dưới cơ ngực lớn liên quan mật thiết với bómạch vú ngoài Các hạch này nhận phần lớn bạch huyết của vú và dẫnlưu bạch huyết tới nhóm hạch trung tâm, tuy nhiên bạch huyết có thể điqua trực tiếp tới nhóm hạch hạ đòn
+ Nhóm hạch vai còn gọi là nhóm sau gồm 6-7 hạch nằm dọc theothành sau của nách, liên quan với bó mạch dưới vai Ngoài ra nhóm nàycòn nhận bạch huyết của cả vùng cổ phía sau và thân mình
Trang 7+ Nhóm trung tâm chạy dọc theo bó mạch thần kinh của nách gồm 3-4hạch, nằm sau cơ ngực bế nhận bạch huyết từ hai nhóm trên hoặc nhântrực tiếp từ vú sau đó bạch huyết từ nhóm này trực tiếp trực tiếp tới hạđòn.
+ Nhóm hạch tĩnh mạch nách: Gồm các hạch chạy dọc theo tĩnh mạchnách từ giới hạn dưới của nách tới bờ dưới cơ ngực bé
+ Nhóm hạ đòn: Thường gọi là nhóm đỉnh nách Nhận bạch huyết trựctiếp hoặc gián tiếp từ tất cả các nhóm hạch khác nhau của nách
* Sự phân chia tầng hạch nách
Đường bạch mạch nách đổ vào 3 loại hạch gồm hạch nách, hạch vútrong và hạch trên đòn
Phân chia của Berg và xếp hạng TNM của AJCC/UICC( 2002)
- Hạch cửa là một hoặc một số hạch đầu tiên tiếp nhận dẫn lưu bạchhuyết từ khối u
- Hạch nách (cùng bên) gồm hạch trong cơ ngực và các hạch chạy theotĩnh mạch nách, chia làm các tầng hạch như sau
+ Tầng I: Gồm các hạch nằm bên ngoài hoặc dưới bờ cơ ngực bé Theophân nhóm trên thì tầng này gồm có hạch vú ngoài, nhóm vai và nhómtĩnh mạch nách
+ Tầng II: Gồm những hạch nằm sau cơ ngực bé bào gồm hạch trungtâm và hạch Rotter
+ Tầng III: Gồm các hạch nằm trên cơ ngực bé bao gồm cả hạch hạ đòn
và hạch đỉnh hố nách Nhận bạch huyết trực tiếp hoặc gián tiếp từ tất cảcác nhóm hạch khác nhau của nách
Trang 8
Hình 1.1 Tuyến vú Nguyễn Quang Quyền dịch (1997), Atlas Giải phẫu người,
Frank H Netter MD, NXB Y học.
Trang 9Hình 1.2 Các động mạch tuyến vú Nguyễn Quang Quyền Dịch(1997), Atlas Giải phẫu người,
Frank H, Netter MD, NXB Y học
Trang 10Hình 1.3 Các mạch và hạch bạch huyết của tuyến vú Nguyễn Quang Quyền Dịch( 1997), Atlas giải phẫu người,
Frank H, Netter MD, NXB Y học.
Trang 111.2 Sơ lược lịch sử trong nghiên cứu bệnh học ung thư vú
* Bệnh ung thư vú được biết từ khá lâu, những hiểu biết về mặt lý luận,quan niệm đi liền với những thành quả điều trị cũng như đóng góp củanhiều ngành khoa học Có thể chia lịch sử nghiên cứu trên thế giới chia racác thời kỳ
- Người Ai cập cổ đại đã nghi nhận 45 trường hợp nhưng Hypocrate( 460-370 TCN) lần đầu mô tả vê dấu hiệu của bệnh này, gọi làCarcinoma Ông cho rằng không nên điều trị khối u nằm sâu vì dù cóđiều trị thì cũng chỉ đẩy nhanh tới cái chết
- Thế kỷ I sau công nguyên, Leonides ( Hy Lạp) lần đầu mô tả cắt bỏ vú.Trải qua một thời gian dài đến thế kỷ XI, Albucassis(Tây Ban Nha) viếtquyển chuyên luận “ Tập hợp các công trình – Collection” và cho rằngchỉ nên cắt bỏ khối u còn nhỏ, nằm trong vú, nhưng cũng không thểchữa khỏi được
- Ambrose ( 1510 – 1590) ghi nhận rằng u vú giai đoạn muộn gây “Sưng vùng nách” Michael Servetis ( 1509 – 1553), Người Pháp chorằng nên cắt bỏ cả phần dưới vú vì nhiều khả năng đã bị ảnh hưởng củabệnh
- Thế kỷ XVIII, Pieter Comper ( 1722 – 1789) mô tả hệ thống bạch huyếtvùng, nhưng lúc này con người chưa hiểu tại sao u vú gây chết người
- Henri Francois Le Don, người Pháp ( 1685 – 1770) kết luận rằng ungthư vú là bệnh tại chỗ ở giai đoạn sớm nhưng nó lan tràn theo đườngbạch huyết và biểu hiện tiên lượng sấu
- Thế kỷ XIX, Jean Louis Pettit ( 1674 – 1750) cho rằng nên cắt bỏ vú,
cơ ngực và hạch nách
- Richard Sweting ( 1869) đề cập tới cắt một phần cơ ngực lớn và cắtrộng ra trong phẫu thuật
Trang 12- William Stewart halsted ( 1852 – 1922), một nhà ngoại khoa người Mỹđưa ra phương pháp phẫu thuật điều trị ung thư vú bao gồm cắt tuyến
vú với vạt da rộng cùng với cơ ngực lớn và vét hạch nách
- Năm 1913, Salmon so sánh X- quang với giải phẫu bệnh
- Năm 1937, Gerhon Cohen thông báo chụp vú chẩn đoán sớm ung thư
vú Từ hiểu biết về bệnh sử tự nhiên của bệnh và biện pháp sàng lọc,các nhà ung thư học thấy rang đây là bệnh có thể sàng lọc phát hiệnsớm, có thể nói đây là bước tiến lớn trong quản lý ung thư vú
* Nghiên cứu trong lĩnh vực chẩn đoán: Năm 1962 Martin và Ellis ( Mỹ)công bố vai trò chẩn đoán tế bào học với ung thư vú Mô hình chẩn đoán ungthư vú dần dần hoàn thiện nhờ ứng dụng các biện pháp mới như siêu âm, chụpcắt lớp, cộng hưởng từ….Năm 1968, WHO thống nhất phân loại mô bệnh học
áp dụng trong thực hành rộng rãi trên thế giới
* Trong điều trị,, Halsted ( 1891), Fisher (1928), Keynes ( 1938), cắt bỏtuyến vú đơn thuần phối hợp với xạ trị cũng mang lại kết quả cao D.H Patey(1889- 1977) và Dyson nhận thấy trong trường hợp u chưa xâm lấn tới cơ ngựclớn, việc cắt bỏ cơ này là không cần thiết và gây nên sự tàn phá nặng nề chongười bệnh Ông đề xuất phương pháp cắt tuyến vú triệt căn kết hợp với nạovét hạch nách nhưng bảo tồn cơ ngực lớn
+ Từ năm 1963 – 1969 Viện Gustave Roussy áp dụng phương pháp phẫuthuật Patey ( Modified Radical mastectomy) bao gồm cắt bỏ tuyến vú và véthạch nách cùng bên thành một khối và bảo tồn cơ ngực lớn
+ Zafrani (1989), Boyage( 1990), Baillet( 1994) tiến hành phẫu thuật bảotồn tuyến vú Cắt bỏ rộng rãi khối u hoặc cắt 1/4 tuyến vú với u nhỏ hơn hoặcbằng 3cm phối hợp với xạ trị, nội tiết mang lại hiệu quả cao
+ Xạ trị: F Kenney và Fisher đề xuất xạ trị trong ung thư vú Ngày nay,
xạ trị là một phương pháp điều trị tai chỗ, tại vùng đối với ung thư vú
Trang 13+ Hoá chất: Áp dụng lần đầu ở thập kỷ 50 đem lại hiệu quả cao B.Saradour và M Thomas( 1971) áp dụng điều trị bổ trợ.Ngày nay, có nhiềuphác đồ điều trị hoá chất được sử dụng CMF, CAF, hay phối hợp 4 đợt AC và
4 đợt Taxans…
+ Nội tiết : Từ năm 1920, cắt buồng trứng điều trị ung thư vú ở phụ nữcòn trẻ, P Ulrich ( 1939) cho thấy việc điều trị testosterone có lợi ích McGuire (1973) tìm ra thụ thể nội tiết Etrogen Horowitz (1975) tìm ra thụ thểProgesteron Ngày nay, điều trị nội tiết được lựa chọn là liệu pháp điều trịtoàn thân cho bệnh nhân nữ có thụ thể nội tiết ER(+), PR(+)
+ Trong lĩnh vực sinh học, gần đây đã xác định được một số gen ung thưnhư BRCA1, BRCA2, P53… Hy vọng trong tương lai liệu pháp gen trở thànhmột biện pháp điều trị rộng rãi
Trong nước có rất nhiều công trình nghiên cứu về ung thư vú, các côngtrình này đề cập ở khía cạnh dịch tễ, chẩn đoán, điều trị, phát hiện sớm trongcộng đồng, phân loại giải phẫu bệnh Tuy nhiên các công trình đi sâu phântích đặc điểm bệnh lý trên người Việt Nam còn thiếu Do vậy, cung cấp thongtin cơ bản của bệnh lý này vẫn còn là điều cần thiết trong thực hành cũng nhưnghiên cứu
Quan niệm về ung thư vú thay đổi theo thời gian( Kuhn,1977)
1891: Quan niệm ung thư vú là một bệnh tại chỗ - vùng
1891: Phẫu thuật Halsted – căt tuyến vú triệt căn
1948: Phẫu thuật Patey – cắt tuyến vú cải biên
1960: Cắt thuỳ vú + tia xạ + vét hạch nách
1970: Phẫu thuật tại chỗ - vùng + điều trị toàn thân
1975: Coi ung thư vú là một bệnh hệ thống
Trang 141.3 Sinh lý tuyến vú
* Sự phát triển của tuyến vú: Tuyến vú bắt đầu phát triển từ tuổi dậy thìdưới tác dụng của hormone Etrogen và Progesteron, hai hormon này kíchthích sự phát triển của tuyến vú và lớp mỡ để chuẩn bị cho khả năng sinh con.Hormon Etrogen làm phát triển tuyến sữa của vú và mô đệm vú khiến cho vú
nở nang Kết hợp thụ thể Progesteron sự phát triển của tuyến vú ngày càngđầy đủ Hormon Progesteron làm phát triển các ống dẫn sữa, kết hợp vớiEtrogen làm phát triển toàn bộ tuyến vú Ngoài Etrogen và Progesteron, cáchormone khác cũng có tác dụng làm phát triển tuyến vú như Prolactin, yếu tốtăng trưởng giống – insulin, yếu tố tăng trưởng biểu bì, yếu tố tăng trưởngnguyên bào sợi và yếu tố tạo mạch máu
* Điều hoà hoạt động: Tuyến vú là mô đích của tuyến yên – buồngtrứng, phụ thuộc vào tình trạng chức năng của nó Hoạt động của tuyến vúđược điều hoà bởi hormone vung dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng Cáchormone ER, FSH, LH quyết định hình thái chức năng của tuyến vú
* Thụ thể nội tiết: Thụ thể nội tiết đối với ER, PR và một số yếu tố tăngtrưởng đã được nhận dạng và xác định tính chất bằng hoá mô miễn dịch.Khoảng 66% bệnh nhân ung thư vú có ER dương tính trong tổ chức u, khoảng50% trong số các bệnh nhân đó khi điều trị bằng nội tiết tố có đáp ứng rõ qua
sự thu nhỏ kích thước u Chỉ có một số ít bệnh nhân ER âm tính đáp ứng vớiliệu pháp nội tiết Sự hiện diện của PR là yếu tố dự đoán về sự đáp ứng vàsống còn còn mạnh mẽ hơn cả Etrogen Những bệnh nhân có cả ER và PR cókhoảng thời gian ổn định dài hơn, thời gian sống thêm sau khi chẩn đoán táiphát cũng dài hơn
Trang 151.4 Dịch tễ học.
Ung thư vú không những là một bệnh hay gặp nhất ở phụ nữ mà còn
là nguyên nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ ở nhiều nước trên thế giới.Bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở Mỹ và Bắc Âu, tỷ lệ mắc trung bình ở Nam Âu
và thấp nhất ở châu Á Ung thư vú có xu hướng tăng lên ở các nước Một sốnước châu Á có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt ở Nhật Bản và Singapore, nơi
có lối sống đang được phương Tây hoá và đặc biệt chế độ ăn đóng vai tròquan trong trong trong sự phát triển của ung thư vú Tỷ lệ mắc ung thư vútăng theo tuổi, hiếm gặp ở lứa tuổi dưới 30, sau độ tuổi này, tỷ lệ bệnh giatăng một cách nhanh chóng Ở Mỹ tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi tăng từ25/100.000 dân ở độ tuổi 30 – 34 lên đến 200/100.000 dân ở độ tuổi 45 – 49.Ước tính trung bình cứ 8 phụ nữ Mỹ thì có 1 người măc bệnh ung thư vú TạiPháp tỷ lệ này là 1/10 Tỷ lệ chết do ung thư vú tăng lên theo tỷ lệ mắc Tuynhiên, ở một số nước phát triển mặc dù tỷ lệ mắc gia tăng nhanh chóng nhưng
tỷ lệ chết vẫn giữ được ở mức ổn định nhờ nhận thức của người bệnh, nhờvào các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện sớm và những thành tựu đạt đượctrong điều trị, đặc biệt là điều trị hệ thống
1.5 Các yếu tố nguy cơ.
Mặc dù nguyên nhân của căn bệnh ung thư vú chưa được biết rõ nhưng
có một số yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú Theo Fisher và cộng
sự Robbin và cộng sự cho rằng các nguyên nhân thuộc di truyền, nội tiết, môitrường và Virus, trong đó các yếu tố nguy cơ có liên quan được kể đến nhiềunhất gồm có
- Yếu tố gia đình: Được xếp vào nhóm nguy cơ cao bao gồm nhữngngười có tiền sử gia đình bị ung thư vú như: mẹ, chị em gái, con gái Phụ nữ
có mẹ bị ung thư vú trước 40 tuổi có nguy cơ mắc ung thư vú cao gấp 2 lần sovới phụ nữ không có mẹ bị ung thư vú Những phụ nữ ung thư vú có liên quan
Trang 16đến tiền sử gia đình thường có xu hướng trẻ hơn và có tỷ lệ ung thư vú haibên cao hơn
- Yếu tố nội tiết: Estrogen thúc đẩy sự phát triển và hoạt động tăng sinhcủa hệ thống ống, làm tăng nguy cơ ung thư vú do việc kích thích sinh các tếbào chưa biệt hoá Nông độ Estrogen nội sinh ở phụ nữ bị ung thư vú cao hơn
so với những người không bị ung thư Nguy cơ cao với những người có kinhsớm, mãn kinh muộn, không có thai hoặc có thai lần đầu sau tuổi 35
- Tiền sử kinh nguyệt: Tuổi có kinh, tuổi mãn kinh và tiền sử mang thai
là yếu tố liên quan chặt chẽ với ung thư vú Phụ nữ có kinh lần đầu trước 13tuổi nguy cơ ung thư vú cao gấp 2 lần so với những phụ nữ có kinh lần đầu ởtuổi 13 hoặc lớn hơn Phụ nữ mãn kinh sau tuổi 55 có nguy cơ mắc ung thư
vú cao gấp 2 lần so với phụ nữ mãn kinh trước tuổi 45 Phụ nữ chưa sinh đẻlần nào có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn so với phụ nữ đã sinh đẻ mộthoặc nhiều lần Phụ nữ có thai lần đầu trên 30 tuổi có nguy cơ mắc ung thư vúcao gấp 4 -5 lần so với phụ nữ đẻ con trước 20 tuổi
- Tuổi: Nguy cơ mắc ung thư vú tăng lên theo tuổi Hiếm gặp bệnh nhânung thư vú dưới 30 tuổi tỷ lệ mắc ung thư vú cao ở độ tuổi 45 – 49
- Chế độ dinh dưỡng: Liên quan giữa chế độ dinh dưỡng với ung thư vú,đặc biệt là chất béo trong khẩu phần ăn với ung thư vú còn nhiều tranh cãi.Rượu cũng được coi làm tăng nguy cơ ung thư vú Uống rượu quá nhiều vàkéo dài sẽ làm cản trở việc chyển hoá Estrogen tại gan gây hậu quả làm tăngnồng độ Erstrogen trong máu Ngược lại chế độ ăn nhiều dầu Oliu, ngũ cốc,hoa quả có thể ngăn chặn nguy cơ này
- Các yếu tố môi trường: Khi tiếp xúc với bức xạ ion hoá làm tăng nguy
cơ phát triển ung thư vú
Trang 171.6 Lịch sử tự nhiên và lan tràn
Bằng phương pháp đo trực tiếp và gián tiếp qua thay đổi kích thước củatổn thương ung thư vú cho thấy thời gian nhân đôi của tế bào ung thư khácnhau Thời gian nhân đôi của tế bào ung thư là 100 ngày do đó từ 1 tế bào áctính để đạt kích thước 1cm mất 10 năm Green Wood, Bloom và CS theo dõinhững trường hợp ung thư vú không điều trị thấy thời gian sống thêm kể từkhi chẩn đoán là 38 tháng, tỷ lệ sống 3 năm là 40% và 5 năm là 18-20%
- Sự lan tràn của ung thư: Hiện nay song song tồn tại hai quan điểm, lýthuyết của halsted cho rằng ung thư vú khởi đầu từ vú lan trực tiếp tới da vàhạch vùng, quá trình lan rộng vùng hạch theo thứ tự từ tầng I->II-> III sau đóđến hạch thượng đòn và vào hệ tuần hoàn Một lý thuyết khác cho rằng di cănung thư vú ngay từ giai đoạn sớm theo đường máu hay lan truyền theo hạchnhưng không phải theo một trình tự Từ quan điểm này ra đời lý thuyết điềutrị hệ thống
1.7 Sinh bệnh học của ung thư vú.
1.7.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ung thư vú.
Những tiến bộ về sinh học phân tử trong những năm gần đây cho phépthấy rõ được một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển của ung thư vú
- Thụ thể nội tiết ER và PR: Estrogen có tác dụng điều hoà quá trìnhnhân lên và biệt hoá của các tế bào đích bằng các Receptor đặc hiệu Việcphát hiện ra thụ thể nội tiết Etrogen đánh dấu một bước ngoặt trong nghiêncứu sinh bênh học ung thư vú, bằng việc chỉ ra sự khác biệt trên lân sàng giữahai nhóm ung thư vú có thụ thể nội tiết Estrogen dương tính và âm tính Bệnhnhân ung thư vú có thụ thể nội tiết Estrogen dương tính đáp ứng tốt hơn vớiđiều trị bằng nội tiết, tỷ lệ tái phát thấp hơn, thời gian sống them lâu hơn sovới nhóm có Estrogen âm tính Thụ thể nội tiết Progesteron cũng là một yếu
tố tiên lượng đáp ứng với điều trị nội tiết trong ung thư vú
Trang 18- Yếu tố phát triển biểu mô( EGF): Là chất đóng vai trò gián tiếp trongquá trình tăng sinh tế bào, cần thiết cho sự hoạt động bình thường của biểu
mô tuyến vú Khi hàm lượng EGF cao làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú
- Gen ung thư: Những loại gen có khả năng liên quan đến ung thư vú làBRCA1, BRCA2, P53
1.7.2 Bệnh sử tự nhiên
- Biểu hiện lâm sàng của ung thư vú có đặc trưng là kéo dài và rất khácnhau giữa các bệnh nhân Một trong những yếu tố tiên lượng là kích thướckhối u và sự lan rộng di căn hạch vùng Người ta ước tính, từ khi tế bàochuyển biến ác tính đầu tiên đến khi phát hiện được khối u kích thước 1cm thìphải mất một khoảng thời gian vài năm Chỉ một số ít bệnh nhân (< 3%) ngaysau khi xuất hiện các triệu chứng, ung thư vú tiến triển nhanh và tử vong vàitháng Ung thư vú có khả năng chữa khỏi ở nhiều bệnh nhân nếu được chẩnđoán trong giai đoạn tiền lâm sàng( chưa có triệu chứng hay dấu hiệu lâmsàng) Green Wood, Bloom và cộng sự theo dõi những trường hợp ung thư vúkhông điều trị, thấy thời gian sống thêm trung bình kể từ khi chẩn đoán là 31tháng, tỷ lệ sống thêm 3 năm là 40% và 5 năm là 18 – 20%, chỉ có 4% sốngthêm 10 năm
1.8 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư vú.
1.8.1 Đặc điểm lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của ung thư vú rất đa dạng
- Khối u ở vú: Khoảng 90% triệu chứng đầu tiên của bệnh ung thư vú là
có khối u Ung thư mới phát hiện triệu chứng rất nghèo nàn Thường chỉ thấy
có khối u nhỏ ở vú, bề mặt gồ ghề không đều, mật độ cứng chắc, ranh giớikhông rõ rang Ở giai đoạn sớm khi u chưa xâm lấn lan rộng thì di động rễrang Ở giai đoạn cuối khi u đã xâm lấn rộng ra xung quanh, vào thành ngựcthì di động hạn chế thậm chí không di động
Trang 19- Thay đổi da trên vị trí khối u: Thay đổi da do ung thư vú có một số biểuhiện Thường gặp nhất là dính da, co rút da có dạng dính như “ lúm đồngtiền” Dính da ở thời kỳ đầu rất khó phát hiện, thường chỉ bác sỹ có kinhnghiệm mới phát hiện Dính da là một dấu hiệu đặc trưng trong lâm sàng quantrọng để chẩn đoán ung thư vú Khi khối u phát triển lớn có thể xuất hiện nổitĩnh mạch dưới da, Khối u xâm lấn ra ngoài da gây sần da cam, gây vỡ loétchảy máu Ung thư vú có thể xuất hiện trên da vú ở vị trí trên khối u đỏ lên vànóng tại chỗ, có thể có phù da, sần da như vỏ cam
- Thay đổi hình dạng núm vú: Khối xâm lấn gây co kéo tổ chức xungquanh Khi khối u ở gần núm vú có thể gây tụt núm vú, lệch núm vú Một sốtrường hợp ung thư vú gây loét núm vú, lúc đầu thương chẩn đoán nhầm làchàm Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm, tổ chức ung thư phát triểngây lở loét mảng lớn ở đầu vú,, bầu vú cũng có thể gây mất núm vú
- Chảy dịch đầu vú: Ung thư vú đôi khi gây chảy dịch đầu vú Một sốtrường hợp bệnh nhân đến viện vì lý do chảy dịch đầu vú Chảy dịch có thể làdịch không màu, dịch nhày, nhưng thường là dịch máu Làm xét nghiệm tếbào dịch đầu núm vú, chụp ống tuyến vú có bơm thuốc cản quang, nội soi ốngtuyến sữa, lấy tổ chức dịch làm giải phẫu bệnh là phương pháp chủ yếu đểchẩn đoán xác định
- Hạch sưng to: Giai đoạn đầu hạch nách thường nhỏ, mềm khó phát hiệntrên lâm sàng Giai đoạn muộn hạch nách to, cứng chắc, đôi khi dính nhau,dính tổ chức xung quanh nên di động hạn chế Tổ chức ung thư di căn tớihạch nách phá vỡ vỏ hạch, xâm lấn ra ngoài, gây vỡ loét da vùng nách Đôikhi hạch nách sưng to là triệu chứng đầu tiên phát hiện ung thư vú
- Đau vùng vú: Thường ung thư vú giai đoạn đầu không gây đau, đôi khi
có thể bị đau vùng vú, nhấm nhứt không thường xuyên
Trang 20- Biểu hiện ung thư giai đoạn cuối: Ung thư vú giai đoạn cuối tạ chỗ cóthể xâm lấn gây lở loét, hoại tử ra ngoài gây chảy dịch, mùi hôi thối, xâm lấnthành ngực gây đau nhiều Có thể di căn hạch nách, hạch thượng đòn, xương,não, phổi, gan, gây gày sút, mệt mỏi, đau nhiều, khó thở, liệt …
1.8.2 Cận lâm sàng
- Chụp X- quang tuyến vú( Mamography): Vai trò đầu tiên của chụptuyến vú là phát hiện các tổn thương còn tiềm ẩn Là phương tiện cho phépkhám phá tổn thương mà lâm sang không sờ thấy được Giúp cho khẳng địnhchẩn đoán, giảm bớt bỏ sót những tổn thương ác tính Trên phim chụp XQ vúdấu hiệu sớm có thể phát hiện ung thư vú là những vi lắng đọng canxi hình
mờ tròn đều hoặc một nhóm vôi hoá rất nhỏ
- Chụp X – quang tuyến sữa( Galactography): Được sủ dụng trongtrường hợp chảy dịch đầu vú mà lâm sàng không phát hiện thấy khối u
- Sinh thiết kim( Core Biospy): Để chẩn đoán mô bệnh học, giúp xácđịnh hình ảnh mô bệnh học của tổn thương, tránh được việc lấy mẫu khôngđảm bảo
- Sinh thiết định vị: Sử dụng nguyên tắc song song để xác định vị trí tổnthương của tuyến vú trong không gian 3 chiều thông qua các phim chụp từnhiều phía khác nhau
- Sinh thiết bằng kim hút chân không( Mammotone Biospy System): Làmột phương pháp mới, gây thương tổn tối thiểu so với phương pháp sinh thiếtmở
- Sinh thiết tức thì, sinh thiết 48 giờ: Là một phương pháp kinh điển vàcho tới nay vẫn là một phương pháp đơn giản, thuận tiện và lợi ích nhất Đảmbảo cho chất lượng chẩn đoán mô bệnh học cao nhất, có thể tiến hành ởnhững nơi có cơ sở ngoại khoa
Trang 21- Sinh thiết mở: Vẫn được coi là “tiêu chuẩn vàng” để khẳng định ungthư vú
- Sinh thiết mở kết hợp với chụp X – quang định vị bằng kim dây
- Siêu âm tuyến vú: có giá trị chủ yếu để phân biệt tổn thương là nangvới những tổn thương đặc của vú
- Các xét nghiệm khác: Chụp phổi, ciêu âm gan, chụp cắt lớp vi tính,chụp cộng hưởng từ, chất chỉ điểm khối u CA153, các xét nghiệm cơ bản
1.9 Chẩn đoán ung thư vú
1.9.1 Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán xác định nhất thiết phải có sự khẳng định của giải phẫu bệnhhọc Giải phẫu bệnh học được coi như “ một tiêu chuẩn vàng” trong chẩnđoán ung thư vú Hiện tại chẩn đoán ung thư vú ở bệnh viện K dựa vào 3phương pháp: Lâm sàng, tế bào học, chụp tuyến vú
Nếu một trong 3 yếu tố này còn nghi ngờ thì phải sinh thiết để chẩn đoánxác định Ngoài 3 phương pháp thông dụng trên còn một số phương phápkhác như: Sinh thiết kim, sinh thiết mở, sinh thiết 48 giờ, siêu âm, cộnghưởng từ… Được áp dụng cho từng trường hợp
1.9.2 Chẩn đoán phân biệt:
- U xơ tuyến vú: Thường gặp ở phụ nữ trẻ, u thường tròn nhẵn, ranh giới
rõ ràng, di động Để chẩn đoán phân biệt cho chụp X-quang tuyến vú, và xétnghiệm tế bào
- Viêm xơ tuyến vú nang hoá: Có thể gặp một nang đơn độc hoặc nhiềunang to nhỏ rải rác cả hai bên tuyến vú Kích thước có thể to từ vài mm đến10cm, khi khám có cảm giác căng phải chẩn đoán phân biệt dựa vào siêu âm
- Viêm giãn tuyến vú: Chảy dịch đầu vú dai dẳng lúc đầu dịch vàng trongsau đó có thể bội nhiễm thành dịch vàng mủ hoặc chất bã có mùi hôi, một sốkhác chảy dịch máu
Trang 22- Áp xe tuyến vú: Có triệu chứng sung nóng đỏ đau
- Nang sữa: Hình thành sau quá trình viêm tắc ống dẫn sữa, nang sữa cóthể lỏng nhưng có thể đặc
- U nhú nội ống: Là những tổn thương trong long ống dẫn sữa thườnggặp ở những ống dẫn sữa chính, tính chất u tròn, mềm có thể gây chảy dịch,máu qua núm vú
- U mỡ hoặc hoại tử mỡ: Hiếm gặp
- U Phylode lành tuyến vú
- Bệnh Mondor
1.9.3 Phân loại mô bệnh học.
Hình thái vi thể của ung thư vú rất đa dạng, hiện nay có nhiều hệ thốngphân loại trong bệnh lý này Có thể kể ra các bảng phân loại được công bốsau:
Hệ thống phân loại của WHO năm 1968
Phân loại của Azzopardi và cộng sự 1979
Phân loại của WHO có cải tiến năm 1981
Phân loại AJCC năm 1993
Hệ thống phân loại của Rosen và Oberman năm 1993
Hệ thống phân loại của WHO và của Azzopardi được dùng nhiều nhất
* Phân loại của tổ chức Y tế thế giới năm 1981 : Thế giải phẫu bệnh ungthư vú chia làm 2 loại chính :
- Loại không xâm nhập bao gồm:
+ Ung thư biểu mô nội ống
+ Ung thư tiểu thuỳ tại chỗ
- Loại xâm nhập bao gồm:
+ Ung thư biểu mô ống xâm nhập
+ Ung thư biểu mô ống xâm nhập với thành phần ống trội
Trang 23+ Ung thư biểu mô tiểu thuỳ xâm nhập
+ Ung thư biểu mô thể nhầy
+ Ung thư biểu mô thể tuỷ
+ Ung thư biểu mô thể nhú
+ Ung thư biểu mô thể ống nhỏ
+ Ung thư biểu mô tuyến nang
+ Ung thư biểu mô chế tiết
+ Ung thư biểu mô bán huỷ
+ Ung thư biểu mô dị sản
Dị sản vảy Dị sản tế bào hình thoi Dị sản dạng sụn và dạng sương Loại hỗn hợp
- Các loại khác : Bệnh Paget
1.9.4 Xác định giai đoạn bệnh: Xếp giai đoạn TNM theo hiệp hội phòng
chống ung thư quốc tế (UICC) 2010
U nguyên phát (T)
Tx : U nguyên phát không thể đánh giá được
T0 : Không có bằng chứng về u nguyên phát
Tis (DCIS): Carcinom ống tại chỗ
Tis (LCIS): Carcinom tiểu thuỳ tại chỗ
Tis (Paget): Bệnh paget của núm vú, không kết hợp với ung thư
biểu mô xâm lấn và/ hoặc ung thư tại chỗ ( DCIS vàLCIS) của nhu mô tuyến vú Ung thư của nhu môtuyến vú kết hợp vơi bệnh paget được phân
Trang 24loại dựa trên kích thước và đặc điểm bệnh lý tại nhu
T1b: U từ trên 0.5 – 1cm tính theo chiều lớn nhất
T1c: U từ 1 – 2cm tính theo chiều lớn nhất
T2: U từ 2 -5 cm tính theo chiều lớn nhất
T3: U trên 5cm tính theo chiều lớn nhất
T4: U vơi bất kỳ kích thước nào nhưng có xâm lấn trực
tiếp vào thành ngực và da (ung thư vú thể viêm hoặc
có nhân vệ tinh trên da)
T4a: U xâm lấn thành ngực, không bao gồm việc chỉ dính
hoặc xâm lấn cơ ngực đơn thuần
T4b: U gây phù da ( sần da cam), loét da hoặc có nhân vệ
tinh trên da vú cung bên T4c: Gồm cả T4a và T4b
T4d : Ung thư vú thể viêm
(Chú ý : xâm lấn da đơn thuần không được xếpthành T4)
Trang 25N2 : Di căn hach nách cùng bên dính hoặc cố định hoặc
di căn hạch vú trong rõ ràng trên laanm sàng màkhông có biểu hiện di căn hạch nách trên lâm sàng N2a : Di căn hạch nách cùng bên dính nhau hoặc cố định
và cấu trúc xung quanh N2b : Di căn hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng mà
không rõ bằng chứng di căn hạch nách trên lâm sàngN3 : Di căn hạch hạ đòn cùng bên hoặc di căn hạch vú
trong cùng bên rõ trên lâm sàng kèm theo di cănhạch nách trên lâm sàng hoặc di căn thượng đòncùng bên có hoặc không kèm theo di căn hạch vútrong
N3a : Di căn hạch hạ đòn và hạch nách cung bên
N3b : Di căn hach vú trong và hạch nách cùng bên
N3c : Di căn hạch thượng đòn cùng bên
Hạch vùng ( pN)
pNx : Hạch vùng không thể đánh giá được
pN0 : Không di căn hạch về mô học, không có xét nghiệm
thêm về các tế bào u biệt lập pN0( i-) : Không di căn hạch về mô học, nhuộm hoá mô âm
tính pN0(i+) : Không di căn về mô học, nhuộm hoá mô dương tính
nhưng không có đám tế bào nào trên 0.2mm pN0(mol-) : Không di căn hạch về mô học, xét nghiệm phân tử
âm tính pN0(mol+) : Không di căn về mô học, xét nghiệm phân tử dương
tính
Trang 26pN1 : Di căn vào 1 đến 3 hạch nách và/hoặc Hạch vú
trong không thấy rõ trên lâm sàng nhưng sinh thiếthach của vú trong thấy có vi di căn
PN1mi : Vi di căn trên 0.2mm nhưng không quá 2mm
pN1a : Di căn vào 1 đến 3 hạch nách
pN1b : Hạch vú trong không thấy rõ trên lâm sàng nhưng
sinh thiết hạch cửa vú trong cho thấy vi di căn pN1c : Di căn vào 1 đến 3 hạch nách kèm theo hạch vú
trong không thấy rõ trên lâm sàng nhưng sinh thiếthạch cửa vú trong thấy vi di căn
pN2 : Di căn 4 đến 9 hạch nách, hoặc có di căn hạch vú
trong rõ trên lâm sàng không kèm theo di căn hạchnách
pN2a : Di căn vào 4 đến 9 hạch nách
pN2b : Di căn hạch vú trong rõ trên lâm sàng mà không
kèm theo di căn hạch náchpN3 : Di căn hạch nách từ 10 hạch trơ lên, hoặc di căn
hạch hạ đòn, hoặc di căn hạch vú trong cung bên rõtrên lâm sàng kèm theo di căn hạch nách, hoặc dicăn trên 3 hạch nách kèm theo di căn hạch vú trongkhi sinh thiết hạch, hoặc di căn hạch thượng đòncùng bên
pN3a : Di căn hạch nách từ 10 hạch trở lên, hoặc di căn
hạch hạ đòn cùng bên pN3b: Di căn hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng kèm
theo di căn hạch nách, hoặc di căn trên 3 hạch náchkèm theo di căn hạch vú trong
Trang 27pN3c: Di căn hạch thượng đòn cùng bên
N1N1No
MoMoMo
T3
N1No
MoMo
T1T2T3T3
N2N2N2N1N2
MoMoMoMoMo
T4T4
NoN1N2
MoMoMo
1.9.5 Phẫu thuật cắt vú triệt căn cải biên
1.9.5.1 Khái niệm về phẫu thuật cắt vú triệt căn cải biên
Phẫu thuật ung thư vú là phương pháp quan trọng nhất khi ung thư cònkhu trú tại chỗ, tại vùng Đối với ung thư vú giai đoạn sớm phẫu thuật còn cókhả năng chữa khỏi bệnh
Trang 28Phẫu thuật cắt vú triệt để của Halsted( Radical Mastectomy) là phẫuthuật lấy da rộng nguyên cả quầng vùng núm vú bao gồm toàn bộ vú thànhmột khối cơ ngực lớn, cơ ngực bé và các hạch bạch huyết vùng nách ở cácmức I, II, III
Phẫu thuật cắt vú triệt để mở rộng là phẫu thuật cắt vú triệt để kết hợpvới cắt bỏ hạch nách thành một khối
Thuật ngữ cắt vú triệt để cải biên (Modified Radical Mastectomy) đềcập đến những phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và vét hạch nách thành mộtkhối nhưng bảo tồn cơ ngực lớn, các tổ chức phần mềm bao quanh thành ngực
và những thành phần nối khớp vai với thành ngực Như vậy, phẫu thuật cắt vútriệt căn cải biên tránh được một lỗ khuyết hổng lớn ở phía dưới xương đòn
do cắt bỏ cơ ngực lớn mà phẫu thuật cắt vú triệt để và phẫu thuật cắt vú triệt
để mở rộng mang lại Vào những năm 1970, phẫu thuật này trở thành mộtphẫu thuật phổ biến nhất để điều trị ung thư vú tại Mỹ
Phẫu thuật này được trình bày đầu tiên bởi Patey tại bệnh việnMiddlesex London vào năm 1930 và được phát triển vào năm 1936 bởi R.S.Handley Phẫu thuật cắt vú triệt theo Patey là phẫu thuật bảo vệ cơ ngực lớnnhưng lấy bỏ phần da gồm nguyên quầng vú và núm vú, tất cả mô vú, cơngực bé thành nguyên một khối và cắt bỏ các hạch bạch huyết ở mức I,II,III ởvùng nách
Auchincloss(1963) và Madden(1965) mô tả cắt tuyến vú toàn bộ và véthạch nách mức I,II nhưng không cắt cơ ngực bé Phẫu thuật Scanlon(1975) làmột cải tiến dựa trên phẫu thuật Patey nó có thể cho phép vét hạch nách đầy
đủ mức I,II,III và không cắt cơ ngực bé
1.9.5.2 Mục đích của vét hạch nách
- Giúp cho chẩn đoán: Thăm khám lâm sàng bằng cách sờ nắn vào hõmnách không đủ để xác định di căn hạch Có khoảng 30% ung thư vú không sờ
Trang 29thấy hạch nách(N0), nhưng thực tế đã di căn hạch(N+) về mô học Ngược lại,khi sờ thấy hạch nách được một hạch(N+) thì về mặt mô học có 20% khôngphải là ung thư.
- Giúp cho tiên lượng: Mặc dầu có sự phát triển của các yếu tố tiênlượng như về sinh học, nhân tế bào… được phân tích một cách đa dạng,nhưng nghiên cứu về mô học của hạch nách có một vai trò nổi trội và độc lậptrong tiên lượng ung thư vú
- Giúp việc lựa chọn chiến lược điều trị: Việc xác định các yếu tố tiênlượng sẽ làm thay đổi việc lựa chọn các phương pháp điều trị bổ sung sau mổ
- Giúp cho việc điều trị: Vét hạch nách, cắt bỏ khối u tận gốc sẽ làmgiảm nguy cơ tái phát ở hạch nách
1.9.6 Các yếu tố tiên lượng:
- Những nghiên cứu ngày càng xác định được nhiều yếu tố tiênlượng, tuy nhiên nhiều yếu tố có tính chất cổ điển, dễ dàng ứng dụng trongthực tế lâm sàng, và một số yếu tố hiện tìm ra nhưng vẫn còn đang tiếp tụcnghiên cứu
Các yếu tố có tính chất kinh điển bao gồm:
1.9.6.1 Tuổi bệnh nhân.
- Tuổi càng trẻ thì tiên lượng càng xấu, Nixon và cộng sự thấy độ môhọc cao, xâm lấn bạch huyết, hoại tử u gặp nhiều ở bệnh nhân ung thư vú tuổidưới 35 so với nhóm trên tuổi này Kết quả nghiên cứu Albain cho thấy tỷ lệhạch nách di căn sau phẫu thuật nhiều hơn, kích thước u lớn hơn, nhiều bệnhnhân có thụ thể nội tiết âm tính, và tỷ lệ cao bất thường gen p53 ở nhóm bệnhnhân 30-35 tuổi so với nhóm trên 35 tuổi
1.9.6.2 Kích thước, vị trí u
- Kích thước khối u có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng di căn hạchnách và thời gian sống thêm Mối liên hệ giữa kích thước u và di căn hạch đã
Trang 30được nhiều tác giả đề cập đến Nghiên cứu của Haagenson(1993) cho thấy29% di căn hạch nách ở những u có đường kính < 1cm so với 54% ở u cóđường kính > 5cm Roger và cộng sự (1989) nghiên cứu cho thấy di căn hạchnách là 3% với u kích thước từ 0 – 0,5cm , 10% ở u kích thước 0,6 – 1cm,21% ở u kích thước 1,1 – 1,5cm và 35% ở u kích thước 1,6 – 2cm Theo sốliệu thống kê Antonio thời gian sống không bệnh liên quan tới kích thướckhối u : Khi không di căn hạch nách, tỷ lệ sống 5 năm không tái phát với ukích thước 1 -2 cm là 79%, u > 6cm tỷ lệ là 57% Khi có di căn hach nách, tỷ
lệ sống 5 năm với u < 2cm là 50%, u > 6cm tỷ lệ là 21%
Theo Trần Văn Công (1997), sống 5 năm 78% với T1, 75% với T2 và62% với T3 Chứng tỏ khi kích thước khối u tăng lên thì thời gian sống thêmsau điều trị giảm dần
Theo Vũ Hồng Thăng, Kích thước khối u càng lớn thì di căn hạch càngnhiều, Với u có kích thước ≤ 2cm, di căn hạch nách 26,7%, với u ≥ 4cm tỷ lệ
di căn hạch nách 75%, với u ≥6cm luôn có di căn hạch nách
1.9.6.3 Hạch nách
Hạch nách được coi là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất liên quan đến
tỷ lệ tái phát và sống thêm Theo số liệu San Antonio cho thấy thời gian sau
10 năm không bệnh nếu không di căn là 80%, 1-3 hạch là 60%, 4-10 hạch40%, 11-20 hạch là 25% và >20 hạch chỉ 20% Kích thước hạch cũng liênquan đến thời gian sống thêm, di căn vi thể (hạch ≤ 2mm) thì tiên lượngtương tự như không di căn hạch Nghiên cứu của McGuire cho thấy, đối vớibệnh nhân có hạch nách âm tính, tỷ lệ tái phát sau 10 năm là 24% và 76%trong nhóm bệnh nhân có hạch nách dương tính
Tại Việt Nam, theo Trần Văn Công(1997) cho thấy, thời gian sống trên
5 năm nếu không di căn hạch là 80%, di căn 1-3 hạch là 45,9%, và > 4 hạch