Hà Nội là một cơ sở đã và đang thực hiện theo chính sách kết hợp YHCT vớiYHHĐ trong khám chữa bệnh và đã thu được những kết quả đáng kể trongcông tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.Hiện
Trang 1BHYT Bảo hiểm y tế
BKLN Bệnh không lây nhiễm
CSTL Cột sống thắt lưng
ICD International Classification of Diseases
(Phân loại quốc tế về bệnh tật)PHCN Phục hồi chức năng
THCS Thoái hóa cột sống
TPT Tổng phân tích
UNFPA United Nations Fund for Population Activities
(Quỹ dân số Liên hợp quốc)UNICEF United Nations International Children's Emergency Fund
(Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc)WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)XBBH Xoa bóp bấm huyệt
YHCT Y học cổ truyền
YHHĐ Y học hiện đại
Trang 2Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số khái niệm về mô hình bệnh tật 3
1.2 Vai trò của mô hình bệnh tật trong hoạch định các chính sách y tế vàquản lý bệnh viện 3
1.3 Tình hình nghiên cứu về mô hình bệnh tật 4
1.4 Tổng quan phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ X (ICD-10) 7
1.5 Tổng quan phân loại các chứng bệnh theo Y học cổ truyền 9
1.6 Một số liên hệ giữa bệnh danh YHCT và YHHĐ 161.7 Tổng quan về bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội và phòngChâm cứu ngoại trú 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 192.1 Phương tiện nghiên cứu 19
2.2 Đối tượng nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 19
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.6 Thu thập và xử lý số liệu 22
2.7 Đạo đức nghiên cứu 22
2.8 Phương pháp khống chế sai số 22
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 23
Trang 3KHUYẾN NGHỊ
59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4Bảng 3.1: Số lượt bệnh nhân điều trị tại phòng Châm cứu ngoại trú
23
Bảng 3.2: Phân bố số lượt bệnh nhân điều trị tại phòng Châm cứu ngoại
trú 23
Bảng 3.3: Phân bố bệnh nhân theo tuổi 24
Bảng 3.4: Phân bố bệnh nhân theo nơi cư trú và đối tượng hưởng
BHYT26 Bảng 3.5: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 27
Bảng 3.6 Các xét nghiệm tại phòng khám Châm cứu ngoại trú 27 Bảng 3.7: Bảng phân loại bệnh tật theo ICD 1028
Bảng 3.8: Tỷ lệ các bệnh điều trị tại phòng Châm cứu ngoại trú 29 Bảng 3.9: Phân bố các bệnh thường gặp nhất theo giới 30
Bảng 3.10: Phân bố 10 bệnh thường gặp theo nhóm tuổi 31
Bảng 3.11 Các bệnh kèm theo thường gặp nhất 32
Bảng 3.12: Tỷ lệ các chứng bệnh theo YHCT 33
Bảng 3.13 Phân bố các bệnh thường gặp nhất theo giới 34
Bảng 3.14 Phân bố các bệnh thường gặp nhất theo tuổi 35
Bảng 3.15 Phân bố các bệnh thường gặp nhất theo mùa 36
Bảng 3.16: Các phương pháp điều trị kết hợp YHHĐ và YHCT 38
Bảng 3.17: Phân bố phương pháp điều trị không dùng thuốc theo chứng
bệnh YHCT 39 Bảng 3.18: Phân bố kết quả theo phương pháp điều trị 40
Bảng 3.19: Phân bố bệnh nhân theo số ngày điều trị 41
Bảng 3.20: Phân bố 10 chứng hậu YHCT thường gặp theo ngày điều trị
42
Trang 6Biểu đồ 3.1: Phân bố số lượt bệnh nhân đến khám theo tháng 24
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới 25
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhân đến khám theo bảo hiểm y tế 25
Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân theo nơi cư trú 26
Biểu đồ 3.5: Các phương pháp điều trị tại phòng khám 37
Biểu đồ 3.6: Tình hình điều trị bằng YHCT đơn thuần 37
Biểu đồ 3.7: Kết quả điều trị chung
40
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Mô hình bệnh tật là một trong những yếu tố quan trọng phản ánh điềukiện và môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của bất cứ một quốc gianào trên thế giới [1] Xã hội ngày càng phát triển thì mô hình bệnh tật cũngngày càng thay đổi đòi hỏi ngành y tế cần có những chương trình và chính sách
y tế phù hợp giúp cải thiện được tình hình bệnh tật chung cũng như đáp ứngđược nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc sức khỏe của người dân Đối vớingành y tế việc nắm bắt được tình trạng sức khoẻ và mô hình bệnh tật củanhân dân là hết sức cần thiết Vì nhiều vấn đề sức khoẻ, bệnh tật có thể phòngngừa và cải thiện được nếu được phát hiện đúng lúc, kịp thời Ngoài ra đểgiảm thiểu gánh nặng, sự quá tải cho các bệnh viện cũng cần có những dịch
vụ bổ sung để cung cấp cho các bệnh nhân Từ mô hình bệnh tật cán bộ y tế
có thể xác định được các bệnh tật phổ biến nhất giúp cho định hướng lâu dài
về kế hoạch phòng chống bệnh tật trong từng khu vực hay quốc gia cụ thể.Việc xác định mô hình bệnh tật giúp cho ngành y tế xây dựng kế hoạch chămsóc sức khỏe cho nhân dân một cách toàn diện, đầu tư cho công tác phòngchống bệnh có chiều sâu và trọng điểm, từng bước hạ thấp tối đa tần suất mắcbệnh, tỉ lệ tử vong cho cộng đồng và nâng cao sức khỏe nhân dân Trongnhững năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì mô hìnhbệnh tật cũng không ngừng thay đổi và ngày càng đa dạng, phức tạp Sự đadạng và phức tạp này cũng thay đổi theo vùng miền, theo cộng đồng dân cưkhác nhau do ảnh hưởng của thói quen, tập tục văn hóa cũng như điều kiệnkinh tế xã hội của từng địa phương
Bệnh viện Đa khoa Y Học Cổ Truyền Hà Nội là một trong những bệnhviện đầu ngành về YHCT ở Hà Nội với phương châm kết hợp YHHĐ vớiYHCT trong khám chữa bệnh Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa YHCT
Trang 8Hà Nội là một cơ sở đã và đang thực hiện theo chính sách kết hợp YHCT vớiYHHĐ trong khám chữa bệnh và đã thu được những kết quả đáng kể trongcông tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Hiện nay, khoa Khám bệnh bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội vừa thựchiện công tác khám chữa bệnh, vừa thực hiện công tác điều trị ngoại trú chobệnh nhân Việc nghiên cứu mô hình bệnh tật trên những bệnh nhân châmcứu ngoại trú không những hỗ trợ cho công tác tổ chức, quản lý chuyên môncủa Khoa cũng như của Bệnh viện mà còn góp phần vào việc đề ra phươnghướng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh điều trị ngoại trú Cho đến nay,chưa có nghiên cứu nào về mô hình bệnh tật trên các bệnh nhân điều trị tạiphòng Châm cứu ngoại trú Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Khảo sát mô hình bệnh tật và tình hình điều trị tại phòng Châm cứu ngoại trú bệnh viện đa khoa y học cổ truyền Hà Nội năm 2016-2017” với
Trang 9Chương 1TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm về mô hình bệnh tật
Mô hình: là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ, mô phỏng cấu tạo
và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu; là hình thức diễn đạthết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đốitượng, để nghiên cứu đối tượng ấy [2]
Bệnh tật: là tình trạng mất cân bằng về thể xác và tinh thần dưới tácđộng của một loạt các yếu tố ngoại môi và nội môi lên con người [3]
Cộng đồng: là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giốngnhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội, có những đặc trưng về têngọi, ngôn ngữ, văn hóa giống nhau [2]
Từ đó người ta đã đưa ra khái niệm về mô hình bệnh tật như sau:
Mô hình bệnh tật: là phản ánh các đặc trưng chủ yếu về tỷ lệ các loạihình bệnh, tật của con người trong một cộng đồng [4] Mô hình bệnh tật củamột xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó là tập hợp tất cả những tìnhtrạng bệnh tật mắc phải, dưới tác động của nhiều yếu tố, được phân bố theonhững tần suất khác nhau trong một xã hội, một cộng đồng, một quốc giatrong một khoảng thời gian nhất định [5]
1.2 Vai trò của mô hình bệnh tật trong hoạch định các chính sách y tế và quản lý bệnh viện
1.2.1 Vai trò của mô hình bệnh tật trong hoạch định chính sách y tế
Nguồn tài chính dành cho chăm sóc sức khỏe còn hạn chế chủ yếu từnguồn ngân sách, vì thế xây dựng kế hoạch đầu tư cho y tế cần phải xem xétđến hiệu quả của mỗi đơn vị đầu tư Trong hoạch định chính sách y tế thườngquan tâm tập trung đến vấn đề sức khỏe chính của cộng đồng Để xác định
Trang 10các vấn đề sức khỏe cộng đồng thường dựa vào gánh nặng bệnh tật, tử vongcủa bệnh đó trong cộng đồng Do vậy mô hình bệnh tật của bệnh viện phục vụcho cộng đồng có vai trò quan trọng trong quản lý y tế [4].
1.2.2 Vai trò của mô hình bệnh tật trong quản lý bệnh viện
Quản lý chuyên môn trong bệnh viện là sử dụng mọi nguồn lực củabệnh viện để thực hiện tốt công tác khám bệnh, chẩn đoán, kê đơn, điều trị vàchăm sóc người bệnh với chất lượng cao nhất, thực hiện tính công bằng trongkhám chữa bệnh
Xây dựng kế hoạch bệnh viện căn cứ vào mô hình bệnh tật, nhu cầu củangười bệnh, tình hình trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất và trình độ của cán bộ
y tế là quan trọng nhất
1.3 Tình hình nghiên cứu về mô hình bệnh tật
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về mô hình bệnh tật trên thế giới
Cơ cấu bệnh tật trên thế giới luôn luôn thay đổi tương ứng với sự thayđổi của điều kiện môi trường sống, nền kinh tế, sự phát triển của khoa học kỹthuật Theo thống kê của WHO năm 2006, dựa trên đánh giá gánh nặng bệnhtật tại cộng đồng thì các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng và bệnh lý thai sảnchiếm 39%, chấn thương chiếm 13% còn các bệnh không lây chiếm 48%
Đến năm 2008, trong số 57 triệu ca tử vong trên toàn cầu thì có 36 triệutrường hợp (63%) là do các BKLN gây ra Trong đó, những nguyên nhânhàng đầu là các bệnh tim mạch chiếm 48% (17 triệu người), ung thư chiếm21% (7,6 triệu người), bệnh hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tínhchiếm 7,4% (4,2 triệu) Bệnh đái tháo đường cũng là nguyên nhân gây ra 1,3triệu trường hợp tử vong [6]
Năm 2015, ước tính có khoảng 40 triệu người tử vong vì BKLN, chiếm70% tổng số 56 triệu ca tử vong Phần lớn những ca tử vong này là do bốnBKLN chính: bệnh tim mạch, 17,7 triệu người tử vong (chiếm 45% tổng số ca
Trang 11tử vong do BKLN); ung thư, 8,8 triệu người chết (22%); bệnh hô hấp mãntính, 3,9 triệu người chết (10%); và bệnh tiểu đường, 1,6 triệu người chết(4%) Tại các quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ chết do tim mạch tăng nhanh đãgiảm nhanh chóng trong những năm gần đây, các BKLN chính khác đã giảmvới tốc độ chậm hơn Mặc dù tỷ lệ tử vong vì tim mạch và tỷ lệ tử vong do hôhấp mạn tính đã được cải thiện đáng kể ở các nước có thu nhập thấp và trungbình nhưng vẫn cao hơn nhiều so với tỷ lệ ở các nước có thu nhập cao [7].
Báo cáo của WHO cho biết 5 căn bệnh gây tử vong cao nhất ở các nướcnghèo là viêm phổi, bệnh tim, tiêu chảy, HIV/AIDS và đột quỵ; còn đối vớicác nước giàu thì 5 căn bệnh gây tử vong hàng đầu là bệnh tim, đột quỵ, ungthư phổi, viêm phổi và hen suyễn - viêm cuống phổi [8]
Ở các nước phát triển, với điều kiện kinh tế phát triển, nguồn ngân sáchcho các chương trình chăm sóc sức khỏe rất cao, người dân có đời sống vậtchất đầy đủ, dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế nên mô hình bệnh tật củanhững nước này mang những nét đặc trưng cơ bản đó là: các bệnh không lâynhư bệnh tim mạch, ung thư, rối loạn chuyển hóa là những nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu, trong khi các bệnh lây, suy dinh dưỡng… có tỷ lệ mắc rấtthấp [9]
Ngược lại, ở các nước đang phát triển, nếu như trước đây các bệnhnhiễm trùng và suy dinh dưỡng thường chiếm tỷ lệ cao nhất thì trong nhữngnăm gần đây, cùng với sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế trong nước,đời sống của người dân đã được cải thiện đáng kể, chi phí dành cho ngành y
tế tăng lên do vậy tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh nhiễm trùng có xuhướng giảm rõ rệt nhưng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh thoái hóa,các BKLN lại tăng lên Những nghiên cứu gần đây cho thấy có sự gia tăngnhanh chóng của các BKLN đồng thời với sự duy trì tỷ lệ mắc khá cao củacác bệnh nhiễm trùng đã tạo nên gánh nặng bệnh tật kép tại nhiều nước đangphát triển [10]
Trang 121.3.2 Tình hình nghiên cứu về mô hình bệnh tật tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các số liệu thống kê, nghiên cứu cho thấy cơ cấu giữa 3nhóm bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm, và tai nạn, thương tích đã có sự thayđổi nhanh chóng trong vòng hơn 30 năm trở lại đây với sự gia tăng nhanh tỷtrọng của các BKLN Tình trạng này cùng với tỷ lệ mắc và tử vong do cácbệnh truyền nhiễm vẫn đang ở mức cao tạo nên gánh nặng bệnh tật kép.Trong những năm tiếp theo, gánh nặng do các BKLN vẫn tiếp tục gia tăng vàchiếm ưu thế trong tổng gánh nặng bệnh tật và tử vong chung Sự thay đổi về
cơ cấu gánh nặng bệnh tật và tử vong đòi hỏi hệ thống y tế cũng phải cónhững đáp ứng, thay đổi phù hợp cả về tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ
và khả năng cung ứng dịch vụ Theo số liệu thống kê từ các bệnh viện từ 1976đến 2012, trong số bệnh nhân nhập viện hằng năm, tỷ lệ nhóm các bệnh lâynhiễm giảm từ 55,5% xuống còn 22,9% trong khi tỷ lệ của các BKLN tăngtương ứng từ 42,6% lên 66,3% và nhóm các bệnh do tai nạn, ngộ độc, chấnthương, tai nạn vẫn tiếp tục duy trì ở tỷ lệ trên 10% [11] Tỷ trọng BKLN bắtđầu tăng nhanh trong giai đoạn từ 1986 – 2006 và giữ nguyên từ năm 2006 trởlại đây Tỷ trọng bệnh lây nhiễm có xu hướng tăng nhẹ những năm gần đây
Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận đối với cơ cấu nguyên nhân tử vongtại bệnh viện trong cùng kỳ [11] Số liệu thống kê của Bộ y tế từ các cơ sở y
tế cũng cho thấy gánh nặng bệnh tật và tử vong của các bệnh lây nhiễm đanggiảm dần đồng thời với sự gia tăng gánh nặng của tai nạn thương tích và cácbệnh không lây [12],[13],[14]
Xu hướng gia tăng và dần chiếm ưu thế của các BKLN trong cơ cấugánh nặng bệnh tật và tử vong cũng được khẳng định trong các số liệu đánhgiá gánh nặng bệnh tật và tử vong Từ năm 1990, BKLN đã vượt qua bệnh lâynhiễm để chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng gánh nặng bệnh tật tính theo sốnăm sống mất đi sau khi hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật (DALY) Nghiên cứucủa trường Đại học Y tế công cộng cho thấy, tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt
Trang 13Nam là 12,3 triệu Theo chỉ số DALYs (Diasability-Adjusted Life Years- Sốnăm sống điều chỉnh theo mức độ tàn tật), bao gồm: BKLN (68%), chấnthương (16%) Gánh nặng do các BKLN đã tăng từ 45,5% năm 1990 lên58,7% năm 2000, 60,1% năm 2010 và 66,2% năm 2012 [5]
Như vậy, mô hình bệnh tật ở Việt Nam đang thay đổi từng ngày với xuhướng gia tăng của BKLN và tai nạn thương tích, đồng thời bệnh lây nhiễm
có xu hướng giảm tuy nhiên cũng cần chú ý tới những dịch bệnh mới nổi vàtái nổi Thách thức về gánh nặng bệnh tật kép đòi hỏi ngành y tế cần có nhữngchương trình và chính sách y tế phù hợp giúp cải thiện được tình hình bệnh tậtchung cũng như đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc sức khỏecủa người dân
1.4 Tổng quan phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ X (ICD-10)
Mô hình bệnh tật được xây dựng từ những hồ sơ bệnh tật riêng rẽ.Trong mỗi cách phân loại bệnh tật, mô hình bệnh tật có những sắc thái khácnhau
Thời cổ đại Arestee đã đưa cách phân loại bệnh tật dựa vào thời giankéo dài bệnh (cấp tính và mạn tính), hiện tượng lan rộng (bệnh địa phương vàtoàn cầu), vị trí bệnh (bệnh nội khoa và bệnh ngoại khoa)
Cuối thế kỉ XVIII, phân loại bệnh được dùng nhiều nhất là phân loạicủa Welliam Cullen (1710 – 1790) ở Edinburgh được công bố năm 1789
Từ năm 1837, William Farr (1807 – 1883) đã nỗ lực để có được bảngphân loại về bệnh tật tốt hơn Cullen và sử dụng đồng nhất trên toàn thế giới
Năm 1855, Farr trình bày bảng phân loại nguyên nhân tử vong tại Hộinghị thống kê quốc tế lần thứ 2 tại Paris Bảng phân loại này gồm các nhómbệnh: bệnh dịch, bệnh nói chung, bệnh địa phương được bố trí theo vị trí cơthể, bệnh tiến triển và bệnh là nguyên nhân trực tiếp của bạo động
Song song với việc ngày càng hoàn thiện danh sách nguyên nhân tửvong, bệnh tật thì phân loại bệnh tật cũng được coi trọng
Trang 14Để tạo tính thống nhất trên toàn thế giới về việc xây dựng các thông tin
y tế, WHO đã xây dựng bảng phân loại quốc tế bệnh tật Bảng phân loại nàyđược WHO triển khai xây dựng từ tháng 09 năm 1983 Phân loại bệnh tật đầutiên được chấp nhận năm 1990 Trong quá trình phát triển, phân loại này đãđược cải biên, hiệu đính, đổi tên nhiều lần đến nay được gọi tên chính thức làPhân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan (InternationalClassification of Diseases gọi tắt là ICD) Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lầnthứ X đã chính thức xuất bản vào năm 1992
Toàn bộ danh mục của ICD – 10 được xếp thành hai mươi mốt chươngbệnh, ký hiệu từ I đến XXI theo các nhóm bệnh [15]:
Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Chương II: Khối u (Bướu tân sinh)
Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan cơ chế
miễn dịch
Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa
Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương VI: Bệnh của hệ thần kinh
Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ
Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm
Chương IX: Bệnh của hệ tuần hoàn
Chương X: Bệnh hệ hô hấp
Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa
Chương XII: Bệnh da và mô dưới da
Chương XIII: Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết
Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục
Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ
Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh
Trang 15Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể.
Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm
sàng bất thường không phân loại ở nơi khác
Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên
nhân bện ngoài
Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong
Chương XXI: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc
dịch vụ y tế
* Bộ mã ICD-10 gồm 04 ký tự:
Ký tự thứ nhất (25 chữ cái A -Z): Mã hóa chương bệnh
Ký tự thứ hai (Số thứ nhất): Mã hóa nhóm bệnh
Ký tự thứ ba (Số thứ hai): Mã hóa tên bệnh
Ký tự thứ tư (Số thứ ba): Mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhângây bệnh hay tính chất đặc thù của nó
Giữa ký tự thứ 3 và 4 có 1 dấu thập phân (.)
1.5 Tổng quan phân loại các chứng bệnh theo Y học cổ truyền
Y học cổ truyền không phân chia bệnh tật thành từng bệnh riêng rẽ màqua tứ chẩn, bát cương quy nạp các thành các chứng bệnh hay hội chứng bệnhvới các triệu chứng lâm sàng biểu hiện mang tính đặc trưng
Bệnh học nội khoa YHCT chia làm 2 loại: Bệnh ngoại cảm thời khí(gồm ôn bệnh và thương hàn) và tạp bệnh nội khoa Bệnh ngoại cảm thời khílấy “Thương hàn luận” và học thuyết Ôn bệnh làm căn cứ lý luận, chủ yếutheo bệnh chứng lục kinh, vệ khí dinh huyết, theo bệnh lây mà điều trị mộtcách biện chứng Tạp bệnh nội khoa lấy “ Kim quỹ yếu lược” và những sáchviết qua các thời đại làm căn cứ lý luận, chủ yếu dựa theo bệnh chứng củatạng phủ mà xác định bệnh lý điều trị Như vậy, một loạt nội dung như:nguyên nhân của bệnh, quá trình phát bệnh, bệnh lý biến hóa, đặc điểm lâm
Trang 16sàng, phân tích biện chứng của bệnh nội khoa trở thành căn cứ chủ yếu để chỉđạo thực tiễn lâm sàng [16], [17].
Hiện nay, để thống nhất các chứng bệnh trong việc liên hệ với các bệnh
lý của YHHĐ, bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Danh mục mã bệnh YHCT.Danh mục này bao gồm tên các “Chứng/bệnh YHCT” được tương ứng với
“Tên bệnh theo YHHĐ” và tương ứng với mã ICD10
Toàn bộ danh mục mã bệnh YHCT được xếp thành mười chín chươngbệnh, ký hiệu từ I đến XIX theo các nhóm bệnh [18]:
- Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng U50: bao gồm cácchứng bệnh như Ôn bệnh, Lỵ tật, Trùng tích, Tiết tả
- Chương II: Bướu tân sinh - U5: bao gồm các chứng bệnh như Niệunham, Nham chứng, Bì nham, Bào cung nham, Chứng lựu, Chứng tý, Vịnham, tỳ vị nham
- Chương III: Bệnh về máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quanđến cơ chế miễn dịch - U52: bao gồm các chứng như Huyết hư, Hư lao
- Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và rối loạn chuyển hóa - U53:bao gồm các chứng như Anh bệnh, Anh Lựu, Cam tích, Chứng cam, chứngđàm, đàm thấp, đàm trệ, phì nhân, tâm căn suy nhược, tiêu khát
- Chương V: Bệnh rối loạn tâm thần và hành vi - U54: bao gồm cácchứng như Dương nuy, giản chứng, kinh giản, kiện vong, kinh phong, ngũ trì,kinh giản, tâm căn suy nhược, đầu thống, thất miên
- Chương VI: Bệnh hệ thần kinh - U55: gồm các chứng như Bán thânbất toại, chứng kính, chứng nuy, chứng tý, đầu thống, huyễn vựng, hiếpthống, đầu thống, khẩu nhãn oa tà, kiện vong, ma mộc, yêu cốt thống
- Chương VII: Bệnh về mắt và phần phụ - U56: gồm chứng Châmnhãn, Nhãn đơn, hồng nhãn, thiên đầu thống
- Chương VIII: Bệnh của tai xương chũm - U57: các chứng như huyễnvựng, nhĩ cam
Trang 17- Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn - U58: gồm các chứng như Bán thânbất toại, thất ngôn, chứng nuy, chứng kính, đàm thấp, huyễn vựng, mạch tý,tâm quý, chính xung, thoát thư, trúng phong tạng phủ, trúng phong kinh lạc
- Chương X: Bệnh hệ hô hấp: gồm các chứng cảm mạo, thương phong,thời hành cảm mạo, háo suyễn, khái thấu
- Chương XI: Bệnh tiêu hóa - U60: bao gồm các chứng như Chứng bĩ,Chứng mãn, Hiếp thống, đởm nhiệt, cổ chướng, hoàng đản, hiếp thống, phúcthống, vị quản thống
- Chương XII: Bệnh của da và mô dưới da - U61: gồm các bệnh phongchẩn, ban chẩn, nga trưởng phong
- Chương XIII: Bệnh của hệ xương khớp và mô liên kết - U62: gồm cácchứng Chứng tý, Cốt chứng, lạc chẩm, tọa cốt phong, yêu cốt thống
- Chương XIV: Bệnh hệ sinh dục - Tiết niệu - U63: gồm các chứng như
âm sang, âm đới, hoạt thai, khí hư, bạch đới
- Chương XV: Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản - U64: gồm các chứngnhư Ác trở, băng huyết, thai động
Chương XVI: Dị tật bẩm, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể U65: gồm chứng Si ngốc
Chương XVII: Các triệu chứng dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàngbất thường, chưa được phân loại ở nơi khác - U66: gồm các chứng: ác nghịch,
ẩu thổ
- Chương XVIII: Các triệu chứng dấu hiệu và những biểu hiện lâmsàng bất thường, chưa được phân loại ở nơi khác - U66: gồm các chứng nhưÁch nghịch, ẩu thổ, ban chẩn
- Chương XIX: Vết thương ngộ độc và hậu quả của một số nguyênnhân bên ngoài - U67: gồm chứng tý như thương cân, cốt chiết
YHCT không phân chia bệnh tật thành từng bệnh riêng rẽ mà qua tứchẩn, bát cương quy nạp các triệu chứng thành các chứng hay hội chứng
Trang 18bệnh Một số chứng bệnh thường được điều trị ngoại trú bằng YHCT hiện naynhư lạc chẩm, yêu thống, khẩu nhãn oa tà, yêu cước thống, chứng tý, kiên tý,hạc tất phong, thất miên, diện thống.
1.5.1 Lạc chẩm
Tương ứng với các bệnh đau vai gáy của YHHĐ Lạc chẩm là chứngbệnh có các triệu chứng chính là: vùng vai và vùng cổ gáy cứng, đau; đau cóthể một bên hoặc hai bên, hạn chế các động tác của vùng vai gáy như vậnđộng cổ Lạc chẩm thường do các nguyên nhân như: do phong hàn xâm phạmvào các đường kinh lạc, cân cơ; do gánh vác nặng, sai tư thế (gối đầu quá caomột bên) gây khí trệ huyết ứ; do thấp nhiệt như: viêm nhiễm cột sống cổ vàcân cơ quanh vùng cột sống [16] Với mỗi nguyên nhân khác nhau, thể bệnhkhác nhau lại có phương pháp điều trị khác nhau
bị cảm tà khí thấp nhiệt vào mùa trường hạ hoặc do cảm phải hàn thấp lâungày không khỏi tà khí lưu lại ở kinh lạc uất lại hóa nhiệt làm cho vùng bịbệnh sưng, nóng, đỏ, đau, phát sốt Huyết ứ do bị chấn thương vùng lưng, sai
tư thế làm tổn hại đến kinh mạch, khí huyết làm khí huyết vận hành khôngthông lợi gây đau Ngoài ra, can chủ cân, thận chủ cốt tủy Do đó những
Trang 19người bẩm tố tiên thiên không đủ, lao lực quá độ, người già yếu, người mắcbệnh lâu ngày làm cho thận tinh hư tổn không nuôi dưỡng được cân mạch, từ
đó sinh ra đau lưng Đau do huyết ứ, ngoại tà xâm nhập thường là đau lưngcấp, đau do can thận âm hư thường là đau lưng mạn [16]
1.5.3 Khẩu nhãn oa tà
Tương ứng với bệnh liệt VII ngoại biên của YHHĐ Khẩu là miệng,nhãn là mắt, oa tà là méo lệch Khẩu nhãn oa tà tức là chứng miệng và mắt bịméo lệch: Mặt mất cân đối rõ rệt, bên liệt không nhăn trán được, lông mày hơi
bị sệ xuống, mắt không nhắm kín, không làm được động tác phồng má mímmôi, miệng bị kéo lệch sang bên lành, ăn uống rơi vãi Tùy theo nguyên nhân
mà có biểu hiện mạch, chất lưỡi, rêu lưỡi khác nhau Có nhiều nguyên nhângây chứng “khẩu nhãn oa tà” được đưa ra nhưng đa phần đều đề cập tới 3nguyên nhân chính: trúng phong hàn ở kinh lạc, trúng phong nhiệt ở kinh lạc
và huyết ứ ở kinh lạc [20] Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có phươngpháp điều trị khác nhau
1.5.4 Yêu cước thống
Theo Hoàng đế Nội kinh, yêu cước thống được mô tả trong chứng týcủa y học cổ truyền với nhiều bệnh danh khác nhau tùy thuộc vào vị trí hoặcnguyên nhân gây bệnh: yêu cước thống (đau lưng-chân), yêu thoái thống (đaulưng-đùi), yêu cước đông thống (đau lưng-chân vào mùa đông), tọa điếnphong (đau thần kinh hông to do phong tà) [21] Theo YHCT cho rằng “thôngtắc bất thống, thống tắc bất thông” nghĩa là khi khí huyết vận hành trong kinhlạc được thông suốt thì không đau, còn khi khí huyết vận hành trong kinh lạc
bị bế tắc thì gây đau, tắc chỗ nào sẽ đau chỗ đó [22] Nguyên nhân do nguyênkhí hư yếu làm cơ sở cho phong, hàn, thấp ba loại tà khí thừa cơ xâm phạmvào kinh lạc làm bế tắc kinh lạc hoặc phong hàn thấp tà uất lâu hóa nhiệt hoặckinh lạc có tích nhiệt nay lại có phong hàn thấp tà xâm nhập mà phát bệnh[16]
Trang 201.5.5 Chứng tý
Tý là bế tắc, chứng tý là chứng kinh mạch bị ngoại tà vào làm bế tắcdẫn đến khí huyết vận hành bị trở ngại gây nên bì phu cân cốt cơ nhục khớpxương đau tức ê ẩm tê bì, nặng thì khớp sưng lên co duỗi khó khăn Hainguyên nhân phối hợp với nhau gây nên bệnh: Một là nguyên khí hư yếu, hai
là phong hàn thấp ba loại tà khí thừa hư cùng xâm nhập vào kinh lạc, làm bếtắc kinh lạc, hoặc là phong hàn thấp tà uất lâu hóa nhiệt, hoặc là kinh lạc cótích nhiệt, nay lại có phong hàn thấp tà xâm nhập Phân loại một cách tổngquát theo nguyên nhân gây bệnh, thường chia làm 2 loại: phong hàn thấp tý
và nhiệt tý, cũng gọi là phong thấp nhiệt tý Tuy là tà khí cùng tác động trongphong hàn thấp tý, song có lúc phong là yếu tố trội (phong thắng) có tên làhành tý, có lúc hàn là yếu tố trội (hàn thắng) tên là thống tý, có lúc thấp là yếu
tố trội (thấp thắng) có tên là trước tý Ở phong hàn thấp tý gặp lạnh thì cấp,gặp nóng thì hoãn Các bệnh thấp khớp cấp, viêm khớp dạng thấp, thốngphong, viêm cột sống dinh khớp, đau nhức cơ khớp nằm trong phạm vichứng tý Trong lâm sàng cụ thể thường chữa theo nguyên nhân gây bệnh, tùytheo tà khí là gì mà sử dụng các pháp khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinhlạc hay thanh nhiệt [16]
1.5.6 Kiên tý
Trong các y thư cổ đại của đông y lấy chứng trạng đau ở vùng vai làmchủ yếu mà công năng hoạt động bình thường hoặc có ảnh hưởng mức độnặng nhẹ khác nhau gọi là kiên tý [22] Y học cổ truyền chia làm ba thể: kiênthống (tương ứng với viêm quanh khớp vai đơn thuần của YHHĐ), kiênngưng (tương ứng với VQKV thể tắc nghẽn, viêm cứng khớp vai củaYHHĐ), hậu kiên phong (tương ứng với thể hội chứng vai tay, loạn dưỡngphản xạ chi trên của YHHĐ) Trong cả 3 thể viêm quanh khớp vai kể trên,chú ý tìm nguyên nhân gây bệnh để điều trị theo nguyên nhân, tránh bỏ sótnhững bệnh nội tạng và cột sống cổ có biểu hiện triệu chứng ở khớp vai như:
Trang 21Các bệnh màng, đỉnh phổi, nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim, u trungthất, [16].
1.5.7 Hạc tất phong
Hạc tất phong chỉ triệu chứng khớp gối đau, sưng to, cơ ở đùi và bắpchân bé đi làm đầu gối giống gối con hạc Bệnh chủ yếu do thận âm khuy tổn,hàn thấp thừa hư xâm nhập vào chi dưới, rồi đi đến khớp gối, trú ở đó gâynên Thường do “lịch tiết phong” phát triển thành, cần dùng phép tư dưỡngcan thận, khu phong tán hàn trừ thấp thông kinh lạc để chữa [23]
1.5.8 Thất miên
Thất miên hay còn gọi là Bất mị, chỉ triệu chứng rối loạn giấc ngủ; nhẹthì bệnh nhân khó vào giấc ngủ, ngủ nhưng dễ tỉnh giấc, sau khi tỉnh thìkhông ngủ lại được hoặc ngủ không sâu giấc; trường hợp nặng thì có thể cảđêm không ngủ được Thất miên còn có bệnh danh khác như: Mục bất minh,bất đắc miên Chứng thất miên còn có thể kèm theo các triệu chứng nhưchóng mặt, đau đầu, hồi hộp, đánh trống ngực, hay quên, Chỉ cần triệuchứng chính của bệnh nhân là mất ngủ thì đều có thể dựa vào biện chứng thấtmiên để điều trị Nếu như trong các bệnh khác bệnh nhân xuất hiện mất ngủthì không điều trị theo chứng thất miên Có nhiều nguyên nhân gây ra thấtmiên, thường gặp do suy nghĩ, lo lắng, mệt mỏi quá độ, do âm hư sinh nộinhiệt, đàm nhiệt Cơ chế gây bệnh chủ yếu của chứng thất miên là “tâm thầnthất dưỡng” (tâm chủ thần minh, khí huyết hư không nuôi dưỡng được tạngtâm gây ra chứng mất ngủ) và “tâm thần bất an” (do tà khí nhiễu loạn tâmthần gây ra mất ngủ) Chứng thất miên được chia làm hư chứng và thựcchứng Hư chứng là do chức năng các tạng tâm, can , tỳ, thận không điều hòa;khí huyết không nuôi dưỡng được tâm thần Thực chứng thường do hỏa nhiệt,đàm nhiệt làm nhiễu loạn tâm thần, bệnh thời gian ngắn, khởi phát đột ngột.Nguyên tắc điều trị chủ yếu của chứng thất miên là hư thì bổ, thực thì tả nhằm
Trang 22điều chỉnh lại sự cân bằng âm dương, đồng thời kết hợp với các vị thuốc anthần [24].
1.5.9 Diện thống
Sách “Linh khu – Thiên tà khí tạng phủ bệnh hình đã viết: “thập nhịkinh mạch, tam bách lục thập ngũ lạc, kỳ khí huyết giai thượng vu diện”nghĩa là: 12 kinh mạch, 365 lạc đều vận chuyển khí huyết lên mặt Người xưa
đã quan sát sự biến đổi của sắc mặt để chẩn đoán bệnh Theo quan điểm củaNguyễn Tài Thu, diện thống có thể do các nguyên nhân sau đây: trường vitích nhiệt, can đởm thực nhiệt Căn cứ thể bệnh trên lâm sàng, và nguyên tắc
“Kinh mạch sở quá, chủ trị sở cập” tức là kinh mạch đi qua vùng nào thì cótác dụng chữa bệnh tại vùng đó, cũng như vị trí nhánh dây V đau
Ngoài ra còn một số chứng bệnh khác điều trị bằng YHCT như: huyễnvựng, hư lao, ma mộc
1.6 Một số liên hệ giữa bệnh danh YHCT và YHHĐ
Mỗi bệnh danh YHCT có thể không tương ứng hoàn toàn với một bệnhdanh YHHĐ Mỗi chứng bệnh của YHCT thường bao gồm một hoặc nhiềubệnh của YHHĐ và ngược lại, mỗi bệnh của YHHĐ lại có thể bao gồm mộthoặc nhiều chứng bệnh của YHCT Ví dụ chứng huyễn vựng khi liên hệ vớiYHHĐ gồm tất cả các bệnh gây ra triệu chứng hoa mắt chóng mặt như: tănghuyết áp, thiếu máu, hội chứng tiền đình, thiểu năng tuần hoàn não, Bệnhtăng huyết áp khi liên hệ YHCT thì tùy triệu chứng khác nhau lại được xếpvào các chứng bệnh khác nhau như: hoa mắt chóng mặt thì thuộc chứnghuyễn vựng, đau đầu thì thuộc chứng đầu thống, hồi hộp đánh trống ngực thìthuộc chứng tâm quý,
Sau đây chúng tôi xin đề cập đến một số chứng bệnh khi liên hệ vớiYHHĐ có liên quan đến mô hình bệnh tật điều trị tại phòng Châm cứu ngoạitrú bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội:
Trang 23Bệnh danh YHCT - Tên bệnh YHHĐ
1, Lạc chẩm: đau vùng cổ gáy
2, Yêu thống: đau lưng
3, Khẩu nhãn oa tà: liệt VII ngoại biên
4, Yêu cước thống: đau thần kinh tọa
5, Chứng tý: THCS, thoái hóa đa khớp, đau sau zona,
6, Kiên tý: hội chứng cánh tay cổ, viêm quanh khớp vai
7, Hạc tất phong: thoái hóa khớp gối
8, Thất miên: rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu
9, Diện thống: đau dây V
1.7 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội và phòng Châm cứu ngoại trú
Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa hạng II,bệnh viện chuyên khoa đầu ngành YHCT, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y
Tế Hà Nội
Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội được thành lập năm 1998 trên cơ sởsát nhập 2 bệnh viện là bệnh viện Y học dân tộc Hà Nội (tiền thân là bệnhviện Hữu Nghị) và bệnh viện Thăng Long (trước là bệnh viện Nam Từ Liêm).Trong 20 năm xây dựng và phát triển, bệnh viện ngày càng lớn mạnh về cảchất lượng và số lượng, từ một cơ sở điều trị chỉ có phòng khám bệnh và khuđiều trị nội trú với 63 cán bộ công nhân viên và 40 giường bệnh, đến nay bệnhviện đã phát triển lên đến 18 khoa phòng và 3 tổ công tác với 261 cán bộ và
300 giường nội trú, trở thành một bệnh viện đa khoa về YHCT hoàn chỉnh.Bệnh viện có cơ sở hạ tầng khang trang, sạch đẹp, thân thiện, hệ thống trangthiết bị hiện đại trong chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng và sản xuất, bàochế dược liệu
Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội là một trong những mô hình đầu tiêncủa cả nước là bệnh viện đa khoa kết hợp YHHĐ và YHCT Số lượng bệnh
Trang 24nhân đến khám và điều trị ngày càng tăng, chất lượng chuyên môn và chấtlượng dịch vụ ngày càng đảm bảo Bệnh viện trở thành địa chỉ tin cậy chonhân dân thủ đô Hiện tại, trung bình mỗi ngày bệnh viện khám và điều trịcho gần 500 bệnh nhân ngoại trú và trên 350 bệnh nhân nằm điều trị nội trú.
Ngoài nhiệm vụ khám chữa bệnh kết hợp YHCT với YHHĐ cho nhândân, bệnh viện còn tiếp nhận, hướng dẫn cho học sinh, sinh viên, học viên củacác cơ sở đào tạo và các đơn vị có nhu cầu đến thực hành lâm sàng tại bệnhviện như Đại học Y Hà Nội, Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam, Caođẳng Y tế Hà Nội, Trung cấp Dược Hà Nội,
Khoa Khám bệnh là một trong 18 khoa phòng của Bệnh viện Đa khoa
Y học cổ truyền Hà Nội Khoa được thành lập từ khi Bệnh viện được hìnhthành theo quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 28 tháng 10 năm 1998 của Ủyban nhân dân Thành phố Hà Nội Khoa có chức năng nhiệm vụ: Tổ chức vàtiếp nhận người bệnh đến cấp cứu, khám bệnh, phân loaị bệnh nhân vào điềutrị nội trú; thực hiện công tác điều trị ngoại trú và hướng dẫn chăm sóc sứckhỏe ban đầu; khám sức khỏe, theo dõi tình hình bệnh tật trong vùng dân cưđược phụ trách để có biện pháp ngăn ngừa bệnh tật Hiện nay khoa có 07 bác
sỹ (trong đó có 02 thạc sỹ, 01 bác sỹ chuyên khoa cấp I) và 16 điều dưỡng.Hiện tại, khoa có 5 phòng khám với 7 bàn khám, 3 phòng châm cứu ngoại trúđáp ứng điều trị trung bình khoảng 65000 lượt khám/năm Khoa khám và điềutrị kết hợp YHHĐ và YHCT các bệnh tim mạch, tiêu hóa, cơ xương khớp,thận tiết niệu Phòng châm cứu ngoại trú hàng năm tiếp nhận và điều trịngoại trú hàng nghìn lượt bệnh nhân với các mặt bệnh như đau vai gáy, đaulưng, đau thần kinh tọa, viêm quanh khớp vai, liệt VII ngoại biên Hiện nay,Khoa đã ứng dụng các phương pháp của YHHĐ và YHCT trong chẩn đoán vàđiều trị bệnh, phối hợp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc mang lại hiệuquả cao trong công tác điều trị và phòng bệnh, góp phần bảo vệ, nâng cao sứckhỏe nhân dân
Trang 25Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương tiện nghiên cứu
- Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật (ICD – 10) [14] (Phụ lục 1)
- Mẫu bệnh án nghiên cứu (phụ lục 2)
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Tất cả hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được điều trị ngoại trú tại phòngchâm cứu ngoại trú - Bệnh viện đa khoa YHCT Hà Nội từ 01/01/2016đến 31/12/2017
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và hồi cứu
- Cỡ mẫu: Lấy mẫu toàn bộ các bệnh án điều trị ngoại trú tại phòngChâm cứu ngoại trú trong 2 năm: 2016, 2017
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Các chỉ tiêu về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
Tuổi: Dựa vào ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm vào viện, phânthành các nhóm:
Trang 26- Lao động chân tay
Đối tượng bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT):
- BHYT tuyến 1: là đối tượng bệnh nhân có thẻ BHYT đăng kí khámchữa bệnh ban đầu tại Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội
- BHYT tuyến 2: là đối tượng bệnh nhân có thẻ BHYT được chuyểnđúng tuyến tới điều trị tại Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội
- Tự túc: bệnh nhân không có thẻ BHYT
2.4.2 Các chỉ tiêu về mô hình bệnh tật tại phòng châm cứu ngoại trú:
- Chẩn đoán tên bệnh theo YHHĐ: Dựa vào triệu chứng lâm sàng và cậnlâm sàng để chẩn đoán tên bệnh theo YHHĐ
- Chẩn đoán mã bệnh theo ICD 10: Dựa vào cấu trúc của phân loại quốc
tế về bệnh tật lần thứ 10 gồm 21 chương bệnh để phân loại mã bệnhtheo ICD-10 [20] (Phụ lục 1)
- Chẩn đoán bệnh danh theo YHCT: Dựa vào chứng hậu và chứng trạng
để chẩn đoán bệnh danh theo YHCT [20]
2.4.3 Các chỉ tiêu về tình hình điều trị :
Phương pháp điều trị:
- YHHĐ: thuốc YHHĐ, điện xung, hồng ngoại
- YHCT: thuốc YHCT (thuốc hoàn, tán, sắc), điện châm, châm cứu, xoabóp bấm huyệt, cứu ngải
Các xét nghiệm được sử dụng:
Trang 27- TPT tế bào máu, hóa sinh máu, TPT nước tiểu, siêu âm, X-quang, máulắng, nội soi TMH, điện tim, test Dengue, điện giải đồ, nội soi thựcquản- dạ dày, xét nghiệm tế bào cặn nước tiểu, thời gian máu chảy, thờigian máu đông, soi nấm, siêu âm tuyến giáp, HbsAg.
Số ngày điều trị trung bình:
- Số ngày điều trị trung bình = Tổng số ngày nằm viện/Tổng số bệnhnhân
Số lượt bệnh nhân được châm cứu, xoa bóp, cứu ngải, chiếu đèn hồngngoại
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Kho lưu trữ bệnh án- Bệnh viện đa khoa Y học cổtruyền Hà Nội
Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 01/2018 đến 10/2018
Trang 282.6 Thu thập và xử lý số liệu
Số liệu được nhập trên Exel và được phân tích bằng phần mềm STATA13.0 với các thuật toán tính các tỷ lệ, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn SD
2.7 Đạo đức nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thông qua Hội đồng khoa học của Bệnh viện Đakhoa YHCT Hà Nội
Đề tài nghiên cứu hoàn toàn nhằm mục đích khoa học, không vì mục đíchkhác
Nghiên cứu đảm bảo bí mật các thông tin bệnh nhân trong đề tài nghiêncứu Các kết quả chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học
Trung thực với các số liệu thu thập được,tính toán đảm bảo chính xác
Không làm hư hỏng hay thất lạc bệnh án, hoàn trả lại phòng lưu trữ sau khithu thập số liệu
o Tập huấn kĩ cho người lấy số liệu
o Thống nhất cách lấy số liệu, nguồn số liệu, mốc thời gian
o Kiểm tra, giám sát quy trình mã hóa, nhập liệu, lập bảng
o Kiểm tra đối chiếu các biểu mẫu báo cáo thống kê để phát hiện
sự bất hợp lý, tình trạng sai lệch số liệu giữa các biểu và nhữngnghi ngờ về độ chính xác được kiểm tra lại từ bệnh án lưu trữ(kiểm tra xác suất)
Trang 29Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Số lượt bệnh nhân đến khám và điều trị
Bảng 3.1: Số lượt bệnh nhân điều trị tại phòng Châm cứu ngoại trú
Nhận xét: Số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại phòng Châm
cứu ngoại trú trong 2 năm là 1705 bệnh nhân Trong đó số bệnh nhân từ tháng01/2016 đến tháng 12/2016 là 878 bệnh nhân (chiếm 51,49%), từ tháng01/2017 đến tháng 12/2017 là 827 bệnh nhân (chiếm 48,51%), năm 2016 caohơn năm 2017 là 3%
Bảng 3.2: Phân bố số lượt bệnh nhân tái điều trị tại phòng Châm cứu
Nhận xét: Trong số 1705 lượt bệnh nhân đến khám và điều trị tại
phòng Châm cứu ngoại trú từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2017 có 1417 bệnhnhân, trong đó có 1221 bệnh nhân đến khám 1 lần, chiếm 86,17%, nhiều nhất
là tái khám 14 lần (có 01 bệnh nhân, chiếm 0,07%)
Trang 30Biểu đồ 3.1: Phân bố số lượt bệnh nhân đến khám theo tháng
Nhận xét: Trong 2 năm, từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2017, số lượng
bệnh nhân tới khám ít nhất vào tháng 2 hàng năm và thường tăng nhiều nhấtvào khoảng tháng 6 và khoảng tháng 10, 11, 12 trong năm Số lượt bệnh nhânđến khám tăng vọt vào tháng 6 năm 2016
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Bảng 3.3: Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Nhận xét: Bệnh nhân đến khám và điều trị phân bố đều ở các nhóm
tuổi Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 43,20 ± 14,40 tuổi Trong
đó, bệnh nhân trong độ tuổi 35 - 60 chiếm tỉ lệ cao nhất (55,37 %) Bệnh nhânnhỏ hơn 18 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất, 1,52% Bệnh nhân có tuổi nhỏ nhất đếnkhám là 4 tuổi, lớn nhất là 88 tuổi
3.1.3 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
Trang 31Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân nữ cao hơn bệnh nhân nam ở các nhóm tuổi
trên 18 tuổi Bệnh nhân ở nhóm tuổi dưới 18 tuổi, lượng bệnh nhân nam đếnkhám nhiều gấp 1,5 lần bệnh nhân nữ ( Nam: 0,9% và Nữ: 0,6%)
3.1.4 Phân bố bệnh nhân theo đối tượng hưởng bảo hiểm y tế
58,8%
11,4%
29,8%
BHYT tuyến 1
BHYT tuyến 2
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhân đến điều trị theo đối tượng hưởng BHYT
Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân đến khám và điều trị phòng Châm cứu ngoại trú
có BHYT tuyến 1 cao nhất (58,8%), sau đó là bệnh nhân tự túc, chiếm 29,8%.Chỉ có 11,4% bệnh nhân có BHYT tuyến 2
3.1.5 Phân bố bệnh nhân theo nơi cư trú
Trang 32Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân theo nơi cư trú
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân tới khám và điều trị đa số thuộc khu vực
quận Từ Liêm với tỷ lệ 48,0%, tiếp theo là quận Cầu giấy và các quận kháctại Hà Nội với tỉ lệ lần lượt là 26,3% và 20,2% Các tỉnh, thành phố khácchiếm tỉ lệ thấp (5,4%)
Bảng 3.4: Phân bố bệnh nhân theo nơi cư trú và đối tượng hưởng BHYT
Nơi cư trú
(n=1705)
Đối tượng hưởng BHYT
Tổng Tuyến 1 Tuyến 2 Tự túc
Quận Cầu Giấy 303 67,48 17 3,79 129 28,73 449 100Quận Từ Liêm 569 69,47 39 4,76 211 25,76 819 100Các Quận khác 114 33,04 127 36,81 104 30,14 345 100Các tỉnh thành khác 16 17,39 12 13,04 64 69,57 92 100
Nhận xét: Quận Cầu Giấy và quận Từ Liêm bệnh nhân BHYT tuyến 1
chiếm tỷ lệ cao nhất, tương ứng lần lượt là 67,48% và 69,47% Các quận khác
ở Hà Nội phân bố đều ở cả 3 nhóm BHYT, nhưng cao nhất vẫn là BHYTtuyến 2, chiếm 36,81% Các tỉnh thành khác BHYT chủ yếu là tự túc, chiếmtới 69,57%
3.1.6 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp
Bảng 3.5: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp
Trang 33Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân tới khám và điều trị đa số là nghề tự do với
tỷ lệ 45,16%, tiếp theo là lao động trí óc và hưu trí với tỉ lệ lần lượt là 26,16%
và 16,36% Lao động chân tay chiếm tỉ lệ thấp (12,32%)
Bảng 3.6 Các xét nghiệm tại phòng khám Châm cứu ngoại trú
1 TPT tế bào máu 119 6,97 10 Điện giải đồ 2 0,11
2 Hóa sinh máu
163 9,56 11 Nội soi thực quản-
3 TPT nước tiểu
18 1,06 12 XN tế bào cặn nước
5 X- quang 495 29,03 14 Thời gian máu đông 1 0,06
7 Nội soi TMH 22 1,29 16 Siêu âm tuyến giáp 1 0,06
Nhận xét: Trong số các xét nghiệm tại phòng Châm Cứu ngoại trú, có
1046 lượt bệnh nhân được làm xét nghiệm (chiếm 61,33%) Trong đó xétnghiệm X-quang là xét nghiệm nhiều nhất (chiếm tỷ lệ 29,03%) Các xétnghiệm Hóa sinh máu, Công thức máu, Siêu âm chiếm tỷ lệ lần lượt là 9,56%,6,97%, 5,86% Các xét nghiệm khác chiếm tỷ lệ thấp
3.2 Đặc điểm mô hình bệnh tật
3.2.1 Đặc điểm mô hình bệnh tật theo Y học hiện đại
3.2.1.1 Mô hình bệnh tật theo ICD 10
Bảng 3.7: Bảng phân loại bệnh tật theo ICD 10
Trang 34Chương II: Khối u (Bướu tân
sinh); Chương IV: Bệnh nội tiết,
dinh dưỡng và chuyển hóa
Chương XIII: Bệnh cơ xương
khớp và mô liên kết
M17, M54, M54.3, M54.2,M53.1, M47, M75, M19, M51,M77.1, M46.1, M43.6, M77.0,
Nhận xét: Các bệnh cơ xương khớp và mô liên kết chiếm tỷ lệ cao nhất
với 77,01% Đứng thứ hai là các bệnh của hệ thần kinh chiếm 17,83%; nhómbệnh hệ tiêu hóa 1,65% Các bệnh còn lại chiếm tỷ lệ thấp (<1%)
3.2.1.2 Các bệnh điều trị tại phòng châm cứu ngoại trú
Bảng 3.8: Tỷ lệ các bệnh điều trị tại phòng Châm cứu ngoại trú
STT Tên bệnh theo YHHĐ
Trang 353 Liệt VII ngoại biên G51 211 12,38
Nhận xét: Bệnh nhân đau vùng cổ gáy chiếm tỷ lệ nhiều nhất
(31,73%), bệnh nhân đau lưng chiếm 17,65%, bệnh nhân liệt VII ngoại biên
chiếm 12,38% Các bệnh thoái hóa khớp khác, mất ngủ chiếm tỷ lệ thấp