Hình ảnh sụn phễu trong hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản và so sánh với các triệu chứng tại tai mũi họng...24 4.2.1... ĐẶT VẤN ĐỀHội chứng trào ngược dạ dày – thực quản GER– Gastr
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Lịch sử nghiên cứu 3
1.1.1 Thế giới 3
1.1.2 Việt Nam 4
1.2 Sơ lược giải phẫu vùng họng - thanh quản, thực quản, dạ dày 4
1.2.1 Giải phẫu họng 4
1.2.2 Giải phẫu thanh quản 5
1.2.3 Giải phẫu thực quản 5
1.2.4 Giải phẫu dạ dày 6
1.3 Sinh lý bài tiết dịch vị và sinh lý nuốt 7
1.3.1 Sinh lý bài tiết dịch vị 7
1.3.2 Sinh lý nuốt 7
1.4 Đại cương về hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản 7
1.4.1 Bệnh sinh 7
1.4.2 Lâm sàng 9
1.4.3 Biến chứng 11
1.5 Hình ảnh sụn phễu trong hội chứng trào ngược qua nội soi Tai Mũi Họng 11
1.6 Hình ảnh tổn thương thực quản qua nội soi dạ dày thực quản: 12
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.1.1 Các tiêu chuẩn lựa chọn: 13
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 13
2.2 Thiết kế nghiên cứu 13
2.3 Chọn mẫu và cỡ mẫu 14
2.4 Thiết kế nội dung và các tham số nghiên cứu 14
2.5 Quy trình nghiên cứu 16
2.5.1 Tuyển chọn đối tượng nghiên cứu theo các tiêu chuẩn lựa chọn 16
2.5.2 Xây dựng kỹ thuật, công cụ thu thập số liệu nghiên cứu và đánh giá kết quả 16
2.5.3 Tiến hành nghiên cứu 16
Trang 2Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 18
3.2 Hình ảnh sụn phễu trong hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản 19
3.3 Đối chiểu tổn thương sụn phễu với triệu chứng cơ năng: 20
3.4 Phân loại tổn thương thực quản và đối chiếu tổn thương sụn phễu 20
3.4.1 Phân độ tổn thương thực quản 20
3.4.2 Đối chiếu triệu chứng cơ năng với tổn thương thực quản 21
3.4.3 Đối chiếu RFS với tổn thương thực quản 21
Chương 4: BÀN LUẬN 23
4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 23
4.1.1 Đặc điểm về tuổi: 23
4.1.2 Đặc điểm về giới: 23
4.2 Hình ảnh sụn phễu trong hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản và so sánh với các triệu chứng tại tai mũi họng 24
4.2.1 Hình ảnh của sụn phễu trong hội chứng trào ngược 24
4.2.2 So sánh tổn thương sụn phễu với triệu chứng tai mũi họng: 25
4.3 Phân độ trào ngược và đối chiếu với tổn thương sụn phễu 25
4.3.1 Phân loại trào ngược: 25
4.3.2 Đối chiếu triệu chứng cơ năng với phân độ trào ngược dạ dày – thực quản 26
4.3.3 Đối chiếu tổn thương sụn phễu 26
KẾT LUẬN 28
KIẾN NGHỊ 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1: Tổn thương sụn phễu qua nội soi TMH 19
Bảng 3.2: Đối chiếu mức độ phù nề sụn phễu với triệu chứng cơ năng 20
Bảng 3.3: Đối chiếu triệu chứng cơ năng với tổn thương thực quản 21
Bảng 3.4: Đối chiếu điểm RFS với tổn thương thực quản 21
Bảng 3.5: Đối chiếu tổn thương sụn phễu với tổn thương thực quản 22
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản (GER– GastroesophagealReflux) là sự bất thường về số lần và số lượng dịch vị đi lên từ dạ dày quathực quản tới tai mũi họng vượt quá giới hạn cho phép gây ra các triệu chứngbệnh lý và các tổn thương thực thể của niêm mạc vùng này mà không donguyên nhân thực thể nào khác Hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản làmột rối loạn chức năng của đường tiêu hóa trên, có thể kèm theo rối loạn chứcnăng của ruột (hội chứng ruột kích thích)[1]
Trào ngược dạ dày – thực quản khá phổ biến, ở nước Mỹ và các nướcchâu Âu tần suất 10 - 20% ở người lớn [1] Các nước châu Á, tỷ lệ trào ngược
dạ dày – thực quản dao động từ 5 – 15% và có xu hướng ngày càng tăng TạiViệt Nam mặc dù chưa có thống kê về tỷ lệ bệnh này trong dân số nhưngđược các thầy thuốc lâm sàng đề cập tới càng ngày càng nhiều
Một trong những nguyên nhân làm cho trào ngược dạ dày – thực quảnchưa được quan tâm đúng mức ở nước ta là do triệu chứng thường được quycho những bệnh khác như viêm loét dạ dày – tá tràng, loạn cảm họng, viêmhọng mạn tính, viêm thanh quản, viêm mũi xoang Vì vậy nhiều tác giả đưa rachiến lược quản lý chẩn đoán, điều trị trào ngược dạ dày – thực quản cần phải
có sự phối hợp giữa các chuyên khoa tiêu hóa, hô hấp, tai – mũi – họng, nhikhoa, dược học
Các triệu chứng ở tai – mũi – họng trong bệnh lý trào ngược dạ dày –thực quản đã được một số tác giả nghiên cứu, gọi là LPR (Laryngo –Pharyngeal Reflux), họ cho rằng ở những bệnh nhân viêm mũi họng do tràongược dạ dày thưc quản nếu được điều trị sớm sẽ đem lại kết quả tốt, và niêmmạc vùng tai mũi họng hoàn toàn có thể trở về bình thường, ngược lại nếubệnh trào ngược đã xuất hiện ở độ 3, 4 thì niêm mạc vùng tai mũi họng dễ bị
Trang 5biến đổi, loạn sản, có thể là một trong những lý do gây nên khối u ác tínhvùng tai mũi họng[1] Dịch trào ngược khi qua miệng thực quản tiếp xúc với hạhọng – thanh quản, trong đó sụn phễu và nếp liên phễu là nơi tiếp xúc đầu tiên của
cơ quan tai mũi họng với dịch trào ngược nên vùng này thường bị tổn thương sớmnhất và nặng nề nhất với biểu hiện phổ biến là ban đỏ và phù nề [2], [3] Xuất
phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu mức độ tổn thương sụn phễu qua nội soi Tai – Mũi – Họng ở những bệnh nhân có hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản” với mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả mức độ tổn thương sụn phễu qua nội soi Tai – Mũi – Họng ở
những bệnh nhân có hội chứng trào ngược so sánh với các biểu hiện lâm sàng tại tai mũi họng.
2 Đối chiếu mức độ thương tổn sụn phễu với phân độ GERD theo Los
Angeles.
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Thế giới
- 1935, Asher Winkelstein giới thiệu và lưu ý thuật ngữ “viêm thựcquản pepsin”, mô tả khá rõ về các triệu chứng lâm sàng của nhiều bệnh nhânđược nghĩ là viêm thực quản thứ phát do hiện tượng trào ngược của HCl vàPepsin [4]
- 1950 Berenberg và Neuhauser mô tả các triệu chứng và cơ chế củatrào ngược dạ dày – thực quản [theo 3]
- 1958 Berstein và Backer dùng X-Quang để chẩn đoán GERD[theo 1]
- 1962 Người ta bắt đầu áp dụng nội soi ống mềm trong chẩn đoánGERD[1]
- 1986 Wiener dùng phương pháp đo độ pH thực quản trong 24 giờ,qua hơn 20 năm đây vẫn là test tiêu chuẩn để chẩn đoán GERD[1]
- 1989 Meltzer, Mosher và Jackson mô tả hình ảnh hẹp, viêm, loét thựcquản qua nội soi[3]
- Năm 1991, Jacob P đo độ pH thực quản trong những bệnh nhân viêmthanh quản mạn tính nghi ngờ do trào ngược[5]
- 1994 Ing AJ nói đến cơ chế của ho kéo dài trong hội chứng tràongược [5]
- 1997 Nelson SP nêu các triệu chứng tiền triệu của hội chứng tràongược trong thời kỳ sơ sinh [6]
- 2000 Koufman JA mô tả mối liên quan giữa viêm thanh quản và khàntiếng ở những bệnh nhân hội chứng trào ngược [7]
Trang 7- 2005 Leggett J nêu mối liên quan giữa trào ngược và hen Milstein CF
mô tả những triệu chứng kích thích ở thanh quản ở bệnh nhân có hội chứngtrào ngược [8]
- 2006 Baldi F báo cáo về điều trị ho mạn tính trong trào ngược dạ dày– thực quản bằng thuốc ức chế bơm Proton [8]
- 2008 Hiệp hội Tiêu hóa và phẫu thuật nội soi Mỹ (the Society ofAmerican Gastrointestinal and Endoscopic Surgeons - SAGES) đưa ra chỉđịnh điều trị phẫu thuật trong trào ngược [8]
- 2012 Saritas Yuksel E mô tả các triệu chứng ngoài thực quản trongbệnh trào ngược dạ dày – thực quản: ho, hen, viêm thanh quản, đau ngực [8]
1.1.2 Việt Nam
- 1999 GS.Võ Tấn đã có phát biểu “cảnh tỉnh” với các thầy thuốc TMH
về “Hồi lưu dạ dày- thực quản” tại Hội nghị Tai Mũi Họng toàn quốc ở ĐàNẵng, BS.Huỳnh Khắc Cường đã báo cáo khá đầy đủ về triệu chứng và điềutrị bệnh [9]
- 2000, Ngô Ngọc Liễn trong tạp chí Tai Mũi Họng 2 đã bước đầu tổngkết về GERD ở trẻ em với đề xuất từ mới “ Ho ngang” là triệu chứng điểnhình bệnh ở trẻ em [9]
- 2004 Ngô Ngọc Liễn và Ngô Thùy Nga nêu 42 trường hợp GERD ởngười lớn với đặc điểm chỉ có 14,28% có loét dạ dày tá tràng, có đến 16,6%không có viêm loét dạ dày [9]
1.2 Sơ lược giải phẫu vùng họng – thanh quản, thực quản, dạ dày
1.2.1 Giải phẫu họng
Họng là một ống cơ sợi được phủ niêm mạc, dài 12 -14 cm, trải từ nền
sọ đến bờ dưới sụn nhẫn (ngang mức đốt sống cổ VI), liên tiếp với thực quảntại miệng thực quản Họng là ngã tư của đường ăn và đường thở, họng mởthông ở phía trước vào ổ mũi, khoang miệng và thanh quản và được chia
Trang 8thành ba phần tương ứng Họng mũi có hai lỗ của loa vòi Eustachi thông lênhòm tai Niêm mạc họng liên tiếp với niêm mạc của mũi, niêm mạc vòi tai, tai
và một phần niêm mạc thanh quản [9] Do cấu trúc giải phẫu như thế nên dịch
dạ dày ảnh hưởng nhiều tới tai mũi họng
1.2.2 Giải phẫu thanh quản
1.2.2.1 Sụn phễu: là một phần của thanh quản, phía sau là miệng thực quản
nên đây là phần tiếp xúc đầu tiên và kéo dài nhất với dịch dạ dày – thực quản
- Cấu tạo:
+ Gồm hai sụn khớp với bờ trên sụn nhẫn Sụn phễu hình tháp có 3mặt, một đỉnh, một đáy, mặt trước ngoài có dây thanh âm trên và cơ giápphễu bám Mặt sau có cơ liên phễu bám Mặt trong liên quan với thanh môn.Mặt ngoài tiếp giáp với miệng thực quản
+ Cơ nhẫn phễu sau bám từ mặt sau sụn nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu.Khi cơ co làm xoay 2 mỏm cơ của sụn phễu kéo ra sau và xuống dưới gần lạinhau Đồng thời hai mỏm thanh âm đưa ra trước và lên trên xa nhau, do đóthanh môn được mở rộng, lúc này dịch trào ngược có thể đi vào thanh môngây tổn thương toàn bộ vùng thanh quản
1.2.3 Giải phẫu thực quản
Thực quản là đoạn đầu tiên của ống tiêu hóa nối họng với dạ dày
- Ở cổ: Phía trước thực quản dính vào thành màng của khí quản bởi môliên kết lỏng lẻo, các dây thần kinh thanh quản quặt ngược chạy lên trongrãnh giữa khí quản và thực quản
Trang 9- Lớp niêm mạc ở vị trí nối với tâm vị dạ dày có dạng biểu mô trụtương ứng với đường Z trên nội soi (lớp biểu mô trụ giống biểu mô của tâm vị
dạ dày) Đoạn nối giữa hai lớp biểu mô này thường không đều
Bình thường pH đo được tại thực quản là môi trường pH > 7, khi cótrào ngược dạ dày thực quản pH < 4 Khi pH < 4 gây tổn thương niêm mạcthực quản, tạo ra các triệu chứng lâm sàng của hội chứng trào ngược dạ dàythực quản
1.2.4 Giải phẫu dạ dày
Dạ dày là phần giãn to nhất của ống tiêu hóa Nối tiếp với đầu dướithực quản là lỗ tâm vị, có cấu tạo như một van ngăn không cho thức ăn từ dạdày trào ngược vào thực quản, van này gọi là cơ thắt dưới thực quản hay cơthắt tâm vị - bản chất không có cấu trúc giải phẫu như cơ thắt Cơ chế hoạtđộng của cơ thắt dưới thực quản được được nghiên cứu thấy:
- Các nếp niêm mạc ở chỗ nối thực quản – dạ dày có tác dụng như mộtcái van
- Góc nhọn chỗ thực quản chạy vào dạ dày tạo ra một hiệu quả giốngnhư van do sự sắp xếp các sợi cơ của dạ dày quanh tâm vị
- Cơ vòng của đầu dưới thực quản là một cơ thắt sinh lý chứ khôngphải là một cơ thắt giải phẫu
- Trục phải cơ hoành có tác dụng như một đòn chẹn đối với phần dướithực quản vì thực quản chạy qua cơ hoành
- Áp lực dương trong ổ bụng ép lên các thành của đoạn thực quảntrong ổ bụng vì thế khi ăn quá no cũng gây nên hiện tượng trào ngược sinh lý,nếu cứ để tình trạng này kéo dài, tần xuất xuất hiện tăng dần thì thói quen ăn
no cũng gây ra bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản
Trang 101.3 Sinh lý bài tiết dịch vị và sinh lý nuốt
1.3.1 Sinh lý bài tiết dịch vị
Dạ dày bài tiết khoảng 1 – 3 lit dịch vị mỗi ngày Dịch vị là một chấtlỏng không màu, quánh Dịch vị có nồng độ acid HCl cao (khoảng 150 mmol/
l, pH =1) và chứa pepsin, lipase, yếu tố nội, chất nhầy Hầu hết dịch vị do cáctuyến sinh acid (tuyến oxyntic) nằm ở niêm mạc vùng thân và đáy dạ dày tiết,các bơm proton đẩy acid từ các tuyến ra lòng dạ dày, bơm này bị ức chế bởiomeprazole.[10]
Vai trò của HCl:
Tạo pH cần thiết để hoạt hóa pepsinogen
Tạo pH tối thuận cho pepsin hoạt động
Sát khuẩn: tiêu diệt các vi khuẩn có trong thức ăn
Phá vỡ lớp vỏ bọc sợi cơ thịt
Thủy phân cellulose ở thực vật non
Tham gia cơ chế đóng mở môn vị và tâm vị
1.3.2 Sinh lý nuốt
Nuốt là một động tác nửa tùy ý, nửa tự động có cơ chế phức tạp
Bình thường trong cơ chế nuốt, cơ thắt dưới thực quản ở trạng thái cotrương lực tạo ra van một chiều để ngăn cản sự trào ngược của thức ăn acid từ
dạ dày lên thực quản
1.4 Đại cương về hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản
Trang 11thực quản hoàn toàn co lại nhằm ngăn chặn sự trào ngược của các chất trong
dạ dày, cơ thắt dưới thực quản chỉ giãn cho thức ăn đi vào dạ dày và giãn nhấtthời trung bình 3 – 4 lần mỗi giờ Ở người bệnh trào ngược thì tần số giãnnhất thời cơ thắt dưới thực quản cao hơn, khoảng 8 lần trở lên trong một giờ
Hình 1.1: Cơ thắt dưới thực quản [11]
Khi có sự trào ngược của dịch dạ dày lên thực quản, dịch nhầy thựcquản với bicarbonate và nước bọt có tính kiềm sẽ trung hòa acid HCl của dịch
vị làm giảm hoặc mất sự kích thích của dịch vị lên niêm mạc thực quản
Nhu động của thực quản sẽ đẩy dịch trào ngược trở xuống dạ dày.Các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn hoạt động của cơ thắt dưới thựcquản và cơ chế bảo vệ chống trào ngược có thể là do:
Sự giãn cơ thắt dưới thực quản xảy ra thường xuyên hơn và kéo dàihơn
Thoát vị hoành [11], [12], [13]
Rối loạn nhu động thực quản
Giảm tiết nước bọt [14] (hút thuốc lá) và các tác nhân làm giảm áp lực
cơ thắt dưới thực quản như các thuốc secretin, cholescystokinin, glucagon,kháng tiết choline; các chất cafein, thuốc lá, chocolate, hay bữa ăn nhiều mỡ,uống rượu bia…
Trang 12Yếu tố tấn công: quá trình tiêu hóa thức ăn ở dạ dày chậm; và sự bàitiết quá mức acid, muối mật và các enzyme tiêu hóa khác ở dạ dày dẫn đến sựtrào ngược các chất chứa trong dạ dày vào thực quản [15], [16].
- Ợ chua: chua trong miệng sau khi ợ, xuất hiện sau ăn, khi nằm, khithay đổi tư thế và về đêm Thường ợ chua xảy ra sau khi ợ nóng gây nhữngcơn ho, khó thở
Tuy nhiên người ta chỉ coi là bệnh lý khi tần suất các triệu chứng xảy ranhiều và kéo dài, dựa theo tiêu chuẩn Rome II: thời gian xuất hiện các triệuchứng kéo dài ít nhất 12 tuần (không cần liên tục) trong một năm, ít nhất 1 lầntrong một tuần
1.4.2.2 Thể không điển hình:
Biểu hiện tại cơ quan tiêu hóa:
+ Nuốt khó: cảm giác vướng, nghẹn khi nuốt thức ăn khoảng 15s Hiệntượng này là hậu quả của thực quản bị phù nề, co thắt hoặc hẹp Trong viêmtrào ngược gây hẹp thực quản, lúc đầu nuốt khó với thức ăn đặc, sau với thức
ăn sệt rồi thức ăn lỏng
+ Nuốt đau: là hiện tượng đau sau xương ức khi nuốt Khi kết hợp vớicác triệu chứng khác của trào ngược thì đó là biểu hiện của viêm thực quảnnặng do trào ngược
Trang 13 Triệu chứng ngoài cơ quan tiêu hóa [17], [18]:
+ Đau ngực: tính chất đau rát sau xương ức lan lên vai, sau lưng, lêncung răng Những bệnh nhân này thường phàn nàn đau bất thình lình, ngắtquãng không liên quan đến ăn, lao động nặng và gắng sức, đáp ứng kém vớicác thuốc giãn vành, cần làm các thăm dò khác để chẩn đoán loại trừ các bệnh
lý về mạch vành
+ Các triệu chứng tại phổi: khó thở về đêm do acid dạ dày trào vàothanh quản gây ra co thắt đường thở Đây là một triệu chứng đặc biệt xảy ra ởnhững trường hợp trào ngược trầm trọng, dịch trào ngược gây co thắt chít hẹpphế quản Khó thở không đáp ứng với các thuốc giãn phế quản và long đờmnhưng khi dùng các thuốc chống trào ngược thì cơn khó thở giảm đi một cách
rõ rệt
+ Các triệu chứng tai mũi họng:
Đau rát họng, cảm giác đau họng xuất hiện không liên tục, kéo dàithành viêm họng mạn tính
Vướng họng
Ho kéo dài dai dẳng, có thể ho thành cơn nhiều về đêm
Khàn tiếng là triệu chứng hay gặp, thường khởi đầu bằng những đợtkhàn nhiều vào buổi sáng, sau đó đỡ dần trong ngày, tái diễn nhiều lần và trởthành viêm thanh quản mạn tính
Chảy dịch mũi tăng lên theo các đợt trào ngược, giảm và đỡ khidùng thuốc chống trào ngược
Hay gặp viêm tai thanh dịch ở trẻ em, viêm tắc vòi tai
Chẩn đoán bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản dựa vào triệu chứnglâm sàng kể trên và tiến hành điều trị thử theo phác đồ chuẩn Nếu diễn biếntốt sau 4 – 8 tuần điều trị thì chẩn đoán xác định
Trang 141.4.3 Biến chứng
- Biến chứng tại thực quản: tùy mức độ trào ngược và thời gian mắcbệnh, các biến chứng có thể diễn ra qua các giai đoạn sau:
+ Viêm thực quản trào ngược: phát hiện qua nội soi
+ Loét thực quản: tổn thương viêm và làm mòn lớp cơ niêm gây nêncác ổ loét dài và sâu, đặc điểm của ổ loét do trào ngược thường từ tâm vị kéodài lên trên, không bao giờ gây ra các ổ loét đơn độc nằm ở 1/3 trên hoặc giữathực quản
+ Hẹp thực quản: các ổ loét dần dần xơ hóa làm lòng thực quản hẹp lại
và gây nuốt nghẹn, nuốt khó Chẩn đoán bằng nội soi thực quản hoặc chụp Xquang thực quản có uống barium
+ Viêm thực quản Barret: niêm mạc thực quản phơi nhiễm với acid lâungày gây ra nhiều ổ loét chạy dài từ tâm vị lên và niêm mạc tại vùng này thayđổi cấu trúc giống niêm mạc dạ dày (biểu mô lát tầng -> biểu mô trụ) Thựcquản Barret có nguy cơ cao chuyển thành ung thư thực quản Chẩn đoán bằngnội soi kết hợp sinh thiết
+ Ung thư thực quản: chưa rõ ràng
- Các biến chứng ngoài thực quản:
+ Viêm thanh quản mạn tính
+ Ho kéo dài, co thắt về đêm
+ Khó thở kiểu hen về đêm mà không xác định được các nguyên nhângây dị ứng
1.5 Hình ảnh sụn phễu trong hội chứng trào ngược qua nội soi Tai Mũi Họng
Hình ảnh tổn thương sụn phễu: biểu hiện phổ biến là ban đỏ và phù nề
[2], [3] Nếp liên phễu nề, mọng là dấu hiệu có giá trị nhất, luôn gặp trongGERD người lớn (lưu ý liên phễu nề mọng nhưng không bệch màu như trong
Trang 15lao thanh quản) Trường hợp kéo dài 2 sụn phễu cũng phù nề, hoặc xuất hiệnban đỏ (87%), nốt cục, u hạt (19%), loét (2%) [2].
1.6 Hình ảnh tổn thương thực quản qua nội soi dạ dày thực quản:
Phân loại Los Angeles 1993 về tổn thương thực quản do trào ngược qua nội soi [1] thường được sử dụng trên lâm sàng:
Hình 1.2: Phân độ tổn thương thực quản theo Los Angeles [19]
Độ A: có một hoặc nhiều tổn thương không kéo dài quá 5 mm kể từtâm vị, không kéo dài đến giữa 2 đỉnh nếp niêm mạc
Độ B: có một hoặc nhiều tổn thương kéo dài quá 5 mm, không kéo dàiđến giữa 2 đỉnh nếp niêm mạc
Độ C: có một hoặc nhiều tổn thương nối liền giữa 2 đỉnh của 2 haynhiều nếp niêm mạc nhưng không xâm phạm quá 75% chu vi ống thực quản
Độ D: có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc xâm phạm quá 75% chu
vi ống thực quản
Trang 16Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được chọn từ phòng khám nội soi Tai – Mũi –Họng số 254– bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Thời điểm nghiên cứu từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 10 năm 2014 có
130 bệnh nhân phù hợp với các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ dưới đây:
2.1.1 Các tiêu chuẩn lựa chọn:
- Được chẩn đoán hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản theo phânloại Los Angeles
- Có triệu chứng đường tiêu hóa: nóng rát sau xương ức, ợ chua, đaubụng vùng thượng vị, đầy bụng sau ăn no
- Có các triệu chứng tai mũi họng: khàn tiếng, ho, triệu chứng tại họng(nuốt vướng, cảm giác như có gì chẹn ở họng, đau họng…), ù tai, đau tai,chảy mũi, ngạt mũi
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân trào ngược dạ dày – thực quản do các nguyên nhân thựcthể (tắc ruột cao, u dạ dày)
- Các trường hợp ho kéo dài do các bệnh lý tại phổi: lao, tâm phếmạn…
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang