Đối với các thuốc phải qua chế biến, chưa có qui trình chế biến chuẩn,quá trình chế biến của nhiều vị thuốc với cùng một phương pháp còn có nétkhác nhau; thành phần hoá học trong dược li
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-& -Chuyên đề 06:
Nghiên cứu tiêu chuẩn hóa cao bán thành phẩm
Phục vụ đề tài:
“NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA CỐM
“TIỀN LIỆT HC” TRONG ĐIỀU TRỊ PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN
TIỀN LIỆT TRÊN THỰC NGHIỆM VÀ LÂM SÀNG”
Mã số: 01C-80/08-2013-2
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Thu Hà
PGS.TS Nguyễn Nhược Kim
Nhóm nghiên cứu chuyên đề: PGS TS Hoàng Minh Chung
PGS TS Nguyễn Mạnh Tuyển
Hà Nội, 2013
Trang 2MỞ ĐẦU
Để có qui trình bào chế ổn định, sản phẩm làm ra đạt tiêu chuẩn thìkhông những nguyên liệu ban đầu phải đảm bảo chất lượng mà các sản phẩmtrung gian cũng phải được tiêu chuẩn hoá Nếu thực hiện được như vậy sẽgiúp cho việc kiểm tra, kiểm soát chất lượng trong suốt quá trình sản xuất
Hiện nay việc tiêu chuẩn hoá thuốc cổ truyền còn gặp nhiều khó khănvì: cùng một dược liệu nhưng có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ theo địa phươnghoặc khi thu hái nhân dân không phân biệt được các loài, thứ khác nhau, mặc
dù cây thuốc vẫn cùng một chi Thời vụ thu hái chưa được chú ý chặt chẽ nênhàm lượng các chất trong một dược liệu nhiều khi khác nhau qua các lần thuhái [2]
Đối với các thuốc phải qua chế biến, chưa có qui trình chế biến chuẩn,quá trình chế biến của nhiều vị thuốc với cùng một phương pháp còn có nétkhác nhau; thành phần hoá học trong dược liệu rất phức tạp; sau chế biến, có
sự thay đổi về định tính và định lượng nên việc chiết, tách, phân lập các chất
để làm chất chuẩn rất tốn kém Điều này đã làm cho tiêu chuẩn hoá thuốc sauchế biến bị nhiều hạn chế
Việc tiêu chuẩn hoá các sản phẩm trung gian rất cần thiết vì sẽ gópphần cho sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng Tiêu chuẩn hoá sản phẩm trunggian thường được đề nghị trong các dây chuyền sản xuất đạt GMP nhất là đốivới các chế phẩm có nguồn gốc từ dược liệu Bởi vì, đưa một lượng dượcliệu rất lớn vào dây chuyền sản xuất đạt GMP gặp khó khăn nhiều hơn khiđưa vào một sản phẩm trung gian có lượng ít hơn Tuy nhiên, xây dựng tiêuchuẩn cho sản phẩm trung gian không phải dễ
Vì vậy, để có thể tiêu chuẩn hoá được các vị thuốc có nguồn gốc từdược liệu, WHO và Bộ y tế có hướng dẫn nên cần tìm ra chất đặc trưng haydấu vân tay (finger print) để làm tiêu chí trong kiểm định dược liệu, nên tìmnhững đặc điểm khác nhau giữa thuốc sống và thuốc chế để xây dựng phươngpháp kiểm định phù hợp, khả thi, dễ áp dụng cho các tuyến cơ sở Đối với
Trang 3những bài thuốc mà dược liệu có chất chuẩn để có thể đối chiếu được là đượckhuyến khích Tuy nhiên việc sử dụng chất chuẩn làm đối chiếu đối với dượcliệu cũng cần phải có điều kiện khắt khe còn đối với bài thuốc có nhiều vịthuốc thì hiện nay gần nhưu chưa thực hiện được ở các cơ sỏ sản xuất vớinhiều yếu tố khách quan và chủ quan
Vì vậy việc sử dụng tiêu chí sao cho có kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiệnđược ở tuyến cơ sở hiện nay đang là phổ biến
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số chỉ tiêu cần thiết cho cao thu được từdịch chiết toàn phần của bài thuốc, từ đó đề xuất tiêu chuẩn cho sản phẩmtrung gian của của bài thuốc Tiền liệt HC có thể áp dụng được vào thực tế Mục tiêu của chuyên đề:
1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu của cao « Tiền liệt HC ».
2 Đề xuất TCCS cho cao bán thành phẩm « Tiền liệt HC ».
I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 41.1 CAO THUỐC (Extracta)
1.1.1 Định nghĩa
Cao thuốc là chế phẩm được chế bằng cách cô hoặc sấy đến thể chất quyđịnh các dịch chiết thu được từ dược liệu thực vật hay động vật với các dungmôi thích hợp
Các dược liệu trước khi chiết xuất được xử lý sơ bộ (sấy khô và chia nhỏđến kích thước thích hợp) Đối với một số dược liệu đặc biệt có chứa men làmphân hủy hoạt chất cần phải diệt men trước khi đưa vào sử dụng bằng cáchdùng hơi cồn sôi, hơi nước sôi hoặc bằng phương pháp thích hợp khác
Cao thuốc được chia làm 3 loại:
Cao lỏng: Là chất lỏng hơi sánh, có mùi vị đặc trưng của dược liệu sử
dụng trong đó cồn và nước đóng vai trò dung môi chính (hay chất bảo quảnhay cả hai) Nếu không có chỉ dẫn khác, quy ước 1 ml cao lỏng tương ứng với
1 g dược liệu dùng để điều chế cao thuốc
Cao đặc: Là khối đặc quánh Hàm lượng dung môi sử dụng còn lại trong
cao không quá 20%
Cao khô: Là khối hoặc bột khô, đồng nhất nhưng rất dễ hút ẩm Cao khô
không được có độ ẩm lớn hơn 5%
Trang 5đó, dược liệu thô đã được chia nhỏ đến kích thước phù hợp, được làm ẩmvới một lượng dung môi vừa đủ rồi đậy kín để yên trong khoảng 2 - 4 giờ.Sau đó, chuyển khối dược liệu vào bình ngấm kiệt, thêm lượng dung môi vừa
đủ đến khi ngập hoàn toàn khối dược liệu Thời gian ngâm lạnh và tốc độchảy trong quá trình chiết có thể thay đổi theo khối lượng và bản chất củadược liệu thô đem chiết
Giai đoạn II
Cao lỏng: Sau khi thu được dịch chiết, tiến hành lọc và cô dịch chiết
bằng các phương pháp khác nhau để thu được cao lỏng có tỷ lệ theo như quyước (1 ml cao lỏng tương ứng với 1g dược liệu) Trong trường hợp điều chếcao lỏng bằng phương pháp ngâm nhỏ giọt, tốc độ chảy cuả dịch chiết có thểchậm, vừa hay nhanh Nếu chiết xuất 1000 g dược liệu thì:
Ở tốc độ chậm: Không quá 1 ml dịch chiết/ phút,
Cao đặc và cao khô: Dịch chiết được cô đặc đến khi độ ẩm còn lại không
quá 20% Trong trường hợp điều chế cao khô, tiếp tục sấy khô để độ ẩm cònlại không quá 5% Để đạt đến thể chất quy định, quá trình cô đặc và sấy khôdịch chiết thường được tiến hành trong các thiết bị cô dưới áp suất giảm ởnhiệt độ không quá 60oC Nếu không có các thiết bị cô đặc và sấy dưới ápsuất giảm thì được phép cô cách thủy (không được cô trực tiếp trên lửa) vàsấy ở nhiệt độ không quá 80oC
Trang 6Trường hợp muốn thu cao thuốc có tỷ lệ tạp chất thấp, phải tiến hànhloại tạp chất bằng các phương pháp thích hợp tuỳ thuộc vào bản chất cuảdược liệu, dung môi và phương pháp chiết xuất
Có thể cho thêm chất bảo quản hoặc các chất trơ để làm chất mang hay
để cải thiện các tính chất vật lý Đối với cao khô có thể sử dụng các bột trơthích hợp hay cao khô của dược liệu sử dụng để điều chỉnh nồng độ hoạt chấtđến tỷ lệ quy định
1.1.3 Yêu cầu chất lượng của cao
Mỗi loại cao cần phải đạt các yêu cầu theo quy định trong chuyên luậnriêng nhưng với tất cả các loại cao thì cần đạt các yêu cầu chung sau đây:
Độ tan: Cao lỏng phải tan hoàn toàn trong dung môi đã sử dụng để điều
chế cao
Độ trong, mùi vị, độ đồng nhất và màu sắc: Cao thuốc phải đúng màu
sắc đã mô tả trong chuyên luân riêng, có mùi và vị đặc trưng của dược liệu sửdụng Ngoài ra, cao lỏng còn phải đồng nhất, không có váng thuốc, không cócặn bã dược liệu và vật lạ
Cách tiến hành: Lấy riêng phần phía trên của chai thuốc chỉ để lạikhoảng 10 - 15 ml Chuyển phần còn lại trong chai vào một bát sứ men trắng,nghiêng bát cho chúng chảy trên thành bát tạo thành một lớp dễ quan sát.Quan sát dưới ánh sáng tự nhiên, thuốc phải đạt các yêu cầu quy định Nếukhông đạt phải thử lại lần hai với chai khác, nếu không đạt coi như lô thuốckhông đạt chỉ tiêu này
Mất khối lượng do làm khô (nếu không có chỉ dẫn khác):
Cao đặc không quá 20%
Cao khô không quá 5%
Hàm lượng cồn: Đạt 90 - 110% lượng ethanol ghi trên nhãn (áp dụng
cho cao lỏng và cao đặc)
Trang 7Kim loại nặng: Đáp ứng yêu cầu qui định trong chuyên luận riêng Dung môi tồn dư: Nếu điều chế với dung môi không phải là cồn, nuớc
hay hỗn hợp cồn - nước, dư lượng dung môi sử dụng phải đáp ứng yêu cầuqui định trong Phụ lục 10.14 Xác định dung môi tồn dư
Giới hạn nhiễm khuẩn: Đáp ứng yêu cầu qui định trong Phụ lục 13.6 Thử
giới hạn nhiễm khuẩn
1.2 Một số quy định trong xây dựng tiêu chuẩn
1.2.1 Các chất đối chiếu (ĐC)
Chất đối chiếu là chất đồng nhất đã được xác định là đúng để dùng trongcác phép thử đã được quy định về hoá học, vật lý và sinh học Trong các phépthử đó các tính chất của chất đối chiếu được so sánh với các tính chất của chấtcần thử Chất đối chiếu phải có độ tinh khiết phù hợp với mục đích sử dụng.Chất đối chiếu được dùng trong các phép thử sau:
Định tính bằng phương pháp quang phổ hấp thụ hồng ngoại
Định lượng bằng phương pháp quang phổ hấp thụ tử ngoại và khả kiến,quang phổ huỳnh quang
Các phép thử định tính tạp chất và định lượng bằng phương pháp sắc ký
Trang 8Định lượng bằng phương pháp vi sinh vật.
Các phép chuẩn độ đo thể tích, phân tích trọng lượng
Trước khi mở bao gói để dùng, chất đối chiếu cần được để một thời gian đểđạt tới nhiệt độ phòng thí nghiệm
Các phép thử được tiến hành đồng thời trên mẫu thử và mẫu đối chiếu đãđược chuẩn bị trong cùng điều kiện ghi trong chuyên luận
Nếu trên nhãn của chất đối chiếu không có chỉ dẫn phải làm khô và nếutrong phép thử riêng của chuyên luận không chỉ định phải làm khô thì có thể
sử dụng ngay chất đối chiếu mà không phải làm khô Trong trường hợp nàycần hiệu chỉnh lại lượng cân của chất đối chiếu do khối lượng bị giảm khi làmkhô hoặc do hàm lượng nước Mất khối lượng do làm khô hoặc hàm lượngnước được xác định theo hướng dẫn ở chuyên luận của chất thuốc tương ứng.Khi chất đối chiếu có nước kết tinh, có thể có hướng dẫn đặc biệt trong mộtphép thử riêng
Nếu không thể thực hiện được việc xác định hàm lượng nước của chất đốichiếu bằng phương pháp chuẩn độ (phương pháp Karl Fischer) và nếu chuyênluận thuốc tương ứng không có phép thử mất khối lượng do làm khô, thì nênlàm khô chất đối chiếu trên một chất hút ẩm thích hợp để chuyển lượng cân củachất đối chiếu thành chất khan, trừ khi có hướng dẫn khác
Khi đọc thấy chữ “chuẩn” xuất hiện sau tên chất được ghi trong các phépthử hay phép định lượng, có nghĩa là phải sử dụng chất đối chiếu
Trang 91.2.2 Quy định đối với tạp chất là dung môi tồn dư (CPMP/ICH/283/95)
Mục tiêu của Quy định này là đề ra lượng dung môi cho phép tồn dưtrong dược phẩm, nhằm bảo đảm sự an toàn của người bệnh Quy địnhkhuyến cáo dùng các dung môi ít độc và đề ra những giới hạn độc tính có thểchấp nhận được đối với một số dung môi
Dung môi tồn dư trong dược phẩm là các chất hữu cơ bay hơi, được sửdụng hoặc sinh ra trong quá trình sản xuất các dược chất, tá dược hoặc quátrình bào chế các dược phẩm Các dung môi này không loại bỏ được hoàntoàn trong quá trình sản xuất Sự chọn lọc dung môi thích hợp có thể nâng caosản lượng hoặc quyết định các đặc tính như dạng tinh thể, độ tinh khiết, tínhhoà tan của sản phẩm Vì vậy, đôi khi dung môi là yếu tố quyết định trong quytrình tổng hợp Quy định này không đề cập đến các dung môi dùng có cânnhắc kỹ lưỡng như một chất phụ gia, hoặc đến các solvat Tuy nhiên hàmlượng dung môi trong các sản phẩm loại này phải được xác định và chứngminh hợp lý
Vì các dung môi tồn dư không có tác dụng điều trị, các dung môi nàyphải được loại bỏ đến mức tối đa để đạt được các yêu cầu kỹ thuật của sảnphẩm, việc thực hành tốt sản xuất (GMP) hoặc các yêu cầu chất lượng khác.Dược phẩm phải chứa một mức dung môi tồn dư không được cao hơn các dữliệu an toàn Phải tránh dùng một số dung môi có độc tính không thể chấp
nhận được (dung môi nhóm 1, Bảng 10.14.1-1), trừ khi lợi ích của việc sử
dụng chúng được xác định chắc chắn Một số dung môi có độc tính ít nguy
hiểm hơn (dung môi nhóm 2, Bảng 10.14.1-2) cũng cần phải dùng hạn chế, để
bảo vệ người bệnh khỏi tác dụng độc hại Tốt nhất phải dùng các dung môi ít
độc (dung môi nhóm 3, Bảng 10.14.1-3).
a Phạm vi áp dụng
Các dung môi tồn dư trong dược chất, tá dược và dược phẩm thuộc phạm
vi áp dụng của quy định này Vì thế phải thực hiện phép thử tìm các dung môi
Trang 10tồn dư trong quá trình sản xuất hay tinh chế để kiểm soát sự hiện diện củachúng Chỉ cần kiểm tra đối với các dung môi đã được sử dụng hay được sảnsinh ra trong quá trình sản xuất hoặc tinh chế các dược chất, tá dược hoặcdược phẩm đó Mặc dù các nhà sản xuất có thể chọn phương pháp xác địnhhàm lượng dung môi tồn dư trong sản phẩm, ta vẫn có thể tính hàm lượng đó,
đi từ hàm lượng dung môi tồn dư trong các thành phần dùng để sản xuất rasản phẩm đó Nếu kết quả tính toán bằng hoặc thấp hơn giới hạn cho phép đãđược khuyến cáo trong bản quy định này, thì không cần tiến hành thí nghiệmtrên sản phẩm Trái lại, nếu kết quả tính được vượt mức giới hạn cho phép,dược phẩm phải được thử nghiệm để biết chắc chắn lượng tồn dư dung môi
đó có nằm trong phạm vi cho phép không Sản phẩm cũng phải được thửnghiệm nếu có dùng dung môi trong quá trình sản xuất
Quy trình này không áp dụng cho dược chất, tá dược hoặc sản phẩm mớiđang trong quá trình nghiên cứu áp dụng lâm sàng và cũng không áp dụngcho các dược phẩm đang được lưu hành trên thị trường
Quy định này áp dụng cho mọi dạng bào chế và mọi cách dùng thuốc.Trong một vài trường hợp, có thể cho phép giới hạn dung môi tồn dư cao hơnnhư khi dùng trong thời gian ngắn (30 ngày hay ít hơn), hoặc khi dùng dạngthuốc đắp Việc chứng minh sự đúng đắn của giới hạn cao này phải dựa trên
cơ sở của từng trường hợp một
b Các nguyên tắc cơ bản
Phân loại dung môi tồn dư theo mức độ nguy hiểm
Thuật ngữ “liều có thể dung nạp được cho mỗi ngày” (tolerable daily
intake, TDI) được Chương trình quốc tế về an toàn hoá chất (IPS) sử dụng và
thuật ngữ “liều có thể dùng mỗi ngày” (acceptable daily intake ADI) được Tổ
chức y tế thế giới, các Viện và các cơ quan quản lý sức khoẻ quốc gia và quốc
tế khác sử dụng để chỉ giới hạn hàm lượng các hoá chất độc có thể dùng mỗingày
Trang 11Thuật ngữ mới “liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày (permitted daily
exposure, PDE) được nêu trong Quy định này là một lượng dung môi tồn dư
có thể đưa vào cơ thể, để tránh nhầm với liều ADI của cùng dung môi
Các dung môi tồn dư ghi trong Quy định này được liệt kê theo tên thôngthường Chúng được phân làm 3 nhóm, tuỳ thuộc khả năng gây độc đối vớisức khoẻ con người, như sau:
Nhóm
1: Các dung môi cần tránh dùng
Các chất gây ung thư cho người hay có khả năng gây ung thư cho người
rõ rệt Các chất nhiễm độc môi trường
Nhóm 2: Các dung môi cần hạn chế dùng
Các chất gây ung thư trên động vật không độc cho gen hoặc các tác nhân
có thể gây độc không hồi phục như độc tính trên thần kinh hoặc gây quái thai.Các dung môi nghi có độc tính quan trọng, nhưng hồi phục được
b Phương pháp xác định giới hạn phơi nhiễm
Phương pháp dùng để xác định liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày củacác dung môi tồn dư được giới thiệu trong chú thích 3 Tóm tắt các dữ liệu vềđộc tính dùng để thiết lập liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày được công bố
trong Pharmeuropa Vol 1, No 1, Supplement April/1997.
c Cách xác định giới hạn dung môi nhóm 2
Có hai cách có thể áp dụng để xác định giới hạn cho các dung môi nhóm 2
Trang 12Cách 1:
Có thể dùng hàm lượng (nồng độ) giới hạn tính theo phần triệu (ppm)
ghi trong Bảng 10.14.1-2 Các nồng độ này được tính theo công thức (1) với
lượng chế phẩm dùng mỗi ngày cho là 10 g
1000 x PDE Nồng độ (phần triệu) = (1)
10
Với PDE: liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày tính theo mg/ngày,
10: số lấy làm lượng chế phẩm dùng trong mỗi ngày và tính theo g/ngày.Giới hạn này áp dụng cho mọi dược chất, tá dược hoặc dược phẩm Cáchmột có thể áp dụng nếu liều dùng hàng ngày không được biết hoặc khôngđược quy định cụ thể Khi mọi tá dược, dược chất có trong công thức bào chếđáp ứng với giới hạn cho bởi cách 1, các thành phần của chế phẩm có thểdùng theo bất kỳ tỷ lệ nào Không cần tính toán gì thêm, nếu liều dùng mỗingày không quá 10 g Chế phẩm có liều dùng lớn hơn 10 g mỗi ngày phải tínhtheo cách 2
Cách 2:
Không nhất thiết mỗi thành phần của dược phẩm đều phải đáp ứng giớihạn đã đưa ra trong cách 1 Có thể dùng liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày(PDE) tính theo mg/ngày ghi trong bảng 10.14.2, cùng với liều tối đa mỗingày và công thức (1) để xác định hàm lượng dung môi tồn dư cho phép trongdược phẩm Các giới hạn này được chấp nhận miễn là chứng minh được rằngdung môi tồn dư đã được giảm đến lượng thực tế tối thiểu Các giới hạn nàyphải thực tế có liên quan đến độ chính xác của phép phân tích, điều kiện sảnxuất, các thay đổi hợp lý của quá trình sản xuất và các giới hạn phải thực hiệncác tiêu chuẩn công nghệ đương thời
Có thể áp dụng cách 2 bằng cách cộng các lượng dung môi tồn dư trongmỗi thành phần của chế phẩm Tổng lượng dung môi dùng trong ngày phảithấp hơn liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày (PDE)
Trang 133.4 Quá trình phân tích dung môi tồn dư
Phương pháp phân tích dung môi tồn dư thông thường là dùng kỹ thuậtsắc ký như sắc ký khí Nếu thích hợp, dùng phương pháp xác định dung môitồn dư mô tả trong dược điển Ngoài ra, nhà sản xuất có thể tự do chọn lựamột quy trình phân tích có hiệu lực thích hợp nhất để áp dụng riêng Nếu chỉhiện diện dung môi nhóm 3 thôi, có thể dùng một phương pháp không đặchiệu như phương pháp giảm khối lượng do sấy khô (Phụ lục 9.6)
C Giới hạn dung môi tồn dư
* Dung môi phải tránh sử dụng: Thường không dùng trong YHCT
* Dung môi phải hạn chế sử dụng: Thường không dùng trong YHCT
* Dung môi có độc tính thấp
Các dung môi nhóm 3 (có trong Bảng 10.14.1-3) có thể coi như ít độc và
có nguy cơ thấp đối với sức khoẻ con người Nhóm 3 bao gồm các dung môikhông nguy hiểm đối với sức khoẻ con người ở hàm lượng thường được chấpnhận trong dược phẩm Tuy nhiên chưa có các nghiên cứu về độc tính trườngdiễn và về khả năng gây ung thư của nhiều dung môi thuộc nhóm này Các dữliệu hiện có cho thấy các dung môi này tỏ ra ít độc trong các cuộc nghiên cứucấp diễn hoặc ngắn hạn và cho kết quả âm tính với những thử nghiệm độc tínhtrên di truyền Do đó, coi như được phép dùng các dung môi này với lượng 50
mg mỗi ngày hoặc thấp hơn (tương ứng với hàm lượng 5000 ppm hoặc 0,5%tính theo cách 1) mà không cần phải thuyết minh Có thể dùng ở mức cao hơn,miễn là thực tế có liên quan đến khả năng sản xuất và thực hành sản xuất tốt
* Dung môi chưa có đủ thông tin về độc tính
Các dung môi trong Bảng 10.14.1-4 có thể cũng được các nhà sản xuất
dược chất, tá dược hoặc dược phẩm quan tâm Tuy nhiên, chưa có các dữ liệuđầy đủ về độc tính của chúng để làm cơ sở cho việc xác định liều phơi nhiễmđược phép mỗi ngày (PDE) Khi sử dụng các dung môi này trong sản xuất,
Trang 14nhà sản xuất phải giải trình rõ ràng sự tồn dư của các dung môi này trong sảnphẩm của mình.
Bảng 10.14.1-3: Các dung môi nhóm 3, phải được giới hạn vì GMP hoặc
vì các yêu cầu chất lượng khác
Tert – Butylmethyl ether Methylisobutylketon
II NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Trang 15Hóa chất: acid sulfuric (TT), ethanol 96 %
1.3 Máy móc - trang thiết bị
- Máy chiết, cô dưới áp xuất giảm
Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao
Máy xay
Máy tạo hạt
2 Phương pháp (theo phụ lục DĐVN IV)
- Phương pháp chiết bằng cách nấu dược liệu với nước
- Phương pháp hóa thực vật