Các yếu tố giải phẫu đóng vai trò chủ yếu trong bệnh sinh của Glôcôm góc đóng nguyên phát - Chiều dài trục nhãn cầu: chiều dài trục nhãn cầu của Glôcôm gócđóng nguyên phát, theo Nguyễn T
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Glôcôm là một bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Ở hầuhết các nước, đây là nguyên nhân thứ 2 gây mù loà và cũng là mối đe doạnguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thếgiới năm 2008 tại Hội nghị Phòng chống mù loà trên thế giới ở Argentina thìnguyên nhân gây mù do glôcôm chiếm 10% Kết quả điều tra của RAAB(Rapid Assessment of Avoidable Blindness) năm 2007 [1] cho thấy ở ViệtNam tỷ lệ mù loà hai mắt do glôcôm ở người trên 50 tuổi chiếm khoảng 6,5%,đứng thứ hai sau nguyên nhân gây mù lòa do đục thể thuỷ tinh
Ở Việt Nam glôcôm góc đóng gặp với tỷ lệ tương đối cao chiếm tới45% trong tổng số glôcôm nguyên phát [1]
Phương pháp phẫu thuật cắt bè củng giác mạc được áp dụng từ nhữngnăm 1960 và trở thành phương pháp phẫu thuật tiêu chuẩn trong điều trịglôcôm Đó cũng là phương pháp điều trị phổ biến cho các hình thái glôcôm.Ngày nay với sự phát triển của nghành khoa học đã phát minh ra Laser thìviệc cắt mống mắt chu biên bằng Laser càng trở thành phẫu thuật an toàn vàđược nhiều nhà phẫu thuật lựa chọn
Mục đích của phẫu thuật cắt bè củng giác mạc hay Laser mống mắt chubiên là đều tạo ra một đường lưu thông thuỷ dịch từ hậu phòng ra tiền phòng,giải quyết cơ chế nghẽn đồng tử Đồng thời mở rộng góc tiền phòng ngănchặn dính góc tiền phòng, tạo điều kiện thuận lợi cho thuỷ dịch từ tiền phòng
ra ngoài nhãn cầu qua hệ thống góc tiền phòng
Hiện nay đã có nhiều phương pháp đánh giá tình trạng bán phần trướcnhãn cầu như: Sinh hiển vi kết hợp soi góc bằng kính Goldman, siêu âm bán
Trang 2phần trước (UBM/Ultrasound Biomicroscopy) và chụp cắt lớp cố kết quang học bán phần trước (AS-OCT/Anterior segment Optical coherence tomography) Trong đó, AS-OCT là phương pháp khách quan, tiện lợi và cho
kết quả có độ chính xác cao với hình ảnh chi tiết các cấu trúc bán phần trướcnhãn cầu Các thế hệ máy OCT ngày càng được cải tiến, trong đó máy VisanteOCT có thể ghi lại hình ảnh với độ phân giải cao lên tới 18 µm Máy cho hìnhảnh của tiền phòng với độ sâu lên tới 6mm và rộng 16 mm Kỹ thuật nàycho phép ghi lại hình ảnh sắc nét cũng như những phân tích định lượng cụthể về cấu trúc tiền phòng, góc tiền phòng và giác mạc ngay cả khi nhữngcấu trúc này không thể thấy được trên sinh hiển vi do đục giác mạc [2],[3],[4],[5],[6]
Trên thế giới đã có những nghiên cứu về tình trạng bán phần trước nhãn cầubằng OCT trên một số bệnh glôcôm góc đóng nguyên phát [7], [8], [9], [10],[11] Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào được tiến hành để đánh giá tình trạngbán phần trước nhãn cầu trước và sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc điều trịGlôcôm góc đóng cơn cấp Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bán phần trước nhãn cầu trước và sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc điều trị Glôcôm góc đóng cơn cấp bằng máy Visante - OCT” nhằm các
mục tiêu sau:
1 Mô tả tình trạng bán phần trước nhãn cầu trước và sau phẫu thuật cắt
bè củng giác mạc trong điều trị Glôcôm góc đóng cơn cấp.
2 Đánh giá mối liên quan giữa nhãn áp và sự thay đổi bán phần trước nhãn cầu sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 NHẮC LẠI GIẢI PHẪU SINH LÝ BÁN PHẦN TRƯỚC NHÃN CẦU
Nhãn cầu được chia làm hai phần Phần trước nhãn cầu gồm có giácmạc, tiền phòng, mống mắt, thể mi và thể thủy tinh [12]
Hình 1.1 Cấu trúc phần trước nhãn cầu
1.1.1 Giác mạc (GM)
Giác mạc chiếm 1/5 trước vỏ ngoài của nhãn cầu Giác mạc có hình cầu,trong suốt, nhẵn bóng, không có mạch máu và phong phú về thần kinh [12],[13] Đường kính dọc của giác mạc từ 9-11 mm, đường kính ngang từ 11-12
mm Bán kính độ cong giác mạc ở mặt trước là 7,8 cm, ở mặt sau là 6,6 cm
Độ dày giác mạc ở trung tâm khoảng 0,5 mm, ở ngoại vi là 0,7 mm [12].Cấu trúc mô học của giác mạc gồm 5 lớp từ trước ra sau là:
+ Biểu mô giác mạc: là lớp ngoài cùng và dễ tách ra khỏi màng Bowman
Trang 4+ Màng Bowman là một màng trong suốt đồng nhất như màng đáy củalớp biểu mô.
+ Nhu mô: là lớp dày nhất khoảng 90% chiều dày giác mạc Cấu tạogồm những lá mỏng sợi tạo keo, collagen sắp xếp song song
+ Màng Descemet được tổng hợp và phục hồi bởi lớp nội mô giác mạc,
là màng dai, rất đàn hồi và tương đối bền vững Được sinh ra bởi lớp nội mô.+ Nội mô chỉ gồm một hàng rào tế bào có vai trò giữ đậm độ nước nhấtđịnh để giác mạc trong suốt [12], [13]
1.1.2 Tiền phòng
Tiền phòng là khoang chứa thuỷ dịch nằm giữa giác mạc-củng mạc ởphía trước, mống mắt-thể thuỷ tinh ở phía sau Phần trung tâm tiền phòng làchỗ sâu nhất khoảng 3-3,5mm Càng ra phía rìa độ sâu tiền phòng càng giảm
Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về độ sâu tiền phòng khi đobằng các phương pháp khác nhau Theo Khúc Thị Nhụn (1984) [14] độ sâutiền phòng trung bình ở người bình thường khi đo bằng phương pháp quanghọc là 2,94mm Theo Nguyễn Hữu Châu và Nguyễn Chí Hưng (2001) [15] độsâu tiền phòng ở người bình thường khi đo bằng siêu âm A là 3,62mm TheoJonas JB và cộng sự (2011) [16] độ sâu tiền phòng tiền phòng trung bình củangười bình thường trên siêu âm là 3,22 ± 0,34mm
Độ sâu tiền phòng trên những mắt glôcôm góc đóng nhỏ hơn trên mắtngười bình thường Theo nghiên cứu của Marchini và cộng sự (1998) [17] chothấy rằng độ sâu tiền phòng trên mắt glôcôm góc đóng cơn cấp là2,41±0,25mm, trên mắt glôcôm góc đóng mạn tính là 2,77±0,31mm và trênmắt bình thường là 3,33±0,31mm Theo Trần Thị Nguyệt Thanh và NguyễnThị Hoàng Thảo (2007) [18], độ sâu tiền phòng trung bình ở những mắtglôcôm tiềm tàng khi đo bằng phương pháp quang học là 2,11mm, cao nhất là2,21mm và thấp nhất là 1,86mm
Trang 5► Vùng bè là một giải lăng trụ tam giác, nằm trong chiều sâu của vùngrìa củng-giác mạc Mặt cắt của vùng bè có hình tam giác đỉnh quay về phíachu biên của giác mạc, đáy dựa trên cựa củng mạc và thể mi Mặt ngoài vùng
bè tiếp giáp với ống Schlemm, còn mặt trong là giới hạn của tiền phòng.Vùng bè gồm 3 phần có cấu trúc khác nhau, từ trong ra ngoài là bè màng bồđào, bè củng giác mạc và bè cạnh ống Schlemm
- Bè củng giác mạc: Từ vòng Schwallbe đến cựa củng mạc, tại vùngnày các lớp sợi xếp chồng lên nhau phối hợp với các sợi chéo hình thànhnhiều lớp Trên những lá bè có những lỗ thủng có đường kính từ 2-12µmm.Mỗi lá bè gồm một lõi chứa chất cơ bản, trong đó có rất nhiều Glycoprotein,acid Hyaluronic, các sợi Collagen và sợi đàn hồi Thuỷ dịch đi qua những lỗtrên lá bè, sau đó qua gian bè rồi qua lỗ của lá bè khác
- Bè màng bồ đào: Gồm những sợi mảnh hình vòng cung gọi là nhữngsợi bè có đường kính từ 5-12µm.Bè màng bồ đào có từ 2-4 lớp, cách nhau
Trang 6khoảng 20µm tạo nên một mạng lưới, các mắt lưới rộng từ 20-75µm nên thuỷdịch đi qua dễ dàng
- Bè sàng (Bè cạnh ống Schlemm): Được tạo bởi 2-5 lớp tế bào xếpthành 1 mạng lưới
► Ống Schlemm có hình nhẫn rộng nằm trong chiều dày củng mạc,chạy song song với vùng rìa dài khoảng 40 mm, đường kính khoảng0,282mm, tương ứng với cựa củng mạc khi soi góc Nó có cấu trúc tương tựthành mạch máu, có tổ chức liên kết bao quanh thành nội mô Phía trong ốngSchlemm thông với tiền phòng nhờ các kênh phía trong, phía ngoài thông vớiđám rối tĩnh mạch thượng củng mạc và kết mạc nhờ các kênh phía ngoài vàtĩnh mạch nước
► Chỗ nối mống mắt-thể mi tạo nên thành sau của góc, chân mốngmắt dính vào đáy thể mi, nằm ngay sau cựa củng mạc, trước cơ thể mi vàvòng động mạch lớn của mống mắt.Vị trí của chỗ dính quyết định độ sâutiền phòng
Hình 1.2: Cấu trúc giải phẫu góc tiền phòng
Trang 71.1.3.2 Phân loại góc tiền phòng
- Phân loại theo Shaffer được đề xuất từ năm 1960, dựa vào độ mở của góc vàcác cấu trúc góc quan sát được khi soi góc, hiện đang được sử dụng phổ biếntại Việt Nam [7]
Bảng 1.1 - Phân loại góc tiền phòng theo Shaffer
Độ 0 Đóng 0 Không thấy cấu trúc góc Đóng
Độ 1 Rất hẹp < 10 Chỉ thấy vòng Schwalbe Rất có thể đóng
Độ 2 Hẹp 10 -20 Thấy chi tiết góc đến dải
bè, không thấy cựa củng mạc và dải thể mi
Có thể đóng góc
Độ 3 Mở 20 – 35 Thấy chi tiết góc đến cựa
củng mạc, không thấy dải thể mi
Không có
Độ 4 Mở rộng 35 – 45 Thấy toàn bộ chi tiết góc
đến dải thể mi
Không có
Trang 8Hình 1.3: Phân loại độ mở góc tiền phòng theo Shaffer
Phân loại theo Speath được đề xuất năm 1971: dựa vào độ mở của góc,hình thể chân mống mắt và vị trí bám của chân mống mắt Hệ thống này cho
ta biết đầy đủ tình trạng góc (cả trước và sau nghiệm pháp ấn) Tuy nhiên hệthống này phức tạp nên không được phổ biến rộng [7]
- Phân loại theo Etienne:
+ Độ O: Không thấy cấu trúc góc
+ Độ I: Chỉ thấy vòng Schwalbe
+ Độ II: Thấy ống Schlemm
+ Độ III: Thấy cựa củng mạc
+ Độ IV: Thấy được thể mi [7]
- Phân loại theo Posner:
+ Góc rộng: Thấy toàn bộ chi tiết góc
+ Góc trung bình: Thấy vùng bè và cựa củng mạc
+ Góc hẹp: Chỉ thấy 1/3 trước của vùng bè [7]
Trang 91.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới độ mở góc tiền phòng
Độ mở góc tiền phòng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
► Độ mở góc tiền phòng liên quan chặt chẽ với tuổi, tuổi càng cao thìgóc tiền phòng càng hẹp Ishikawa và cộng sự (2000) [19] đã đưa ra nhận xét
là ở người bình thường tuổi càng cao, TTT càng dày, độ sâu tiền phòng cànggiảm và góc tiền phòng càng hẹp
► Mống mắt và thể mi: Kích thước cơ thể mi là một trong những yếu
tố quan trọng liên quan đến vị trí và bề dày của TTT, nó làm giảm độ sâu củatiền phòng ở những mắt có tiền phòng hẹp Chân mống mắt có thể bám ratrước hoặc ra sau so với bình thường Khi chân mống mắt bám ra trước thìgóc hẹp hơn và ngược lại góc sẽ rộng ra
► Vị trí và độ dày TTT ảnh hưởng rất lớn tới bệnh glôcôm Ở nhữngmắt glôcôm độ dày TTT thường lớn, trung bình là 5,09mm so với 4,5mm ởmắt người bình thường
► Ở mắt viễn thị phần vòng của cơ thể mi phát triển mạnh kết hợp vớitình trạng nhãn cầu bé của người viễn thị nên góc tiền phòng thường hẹp.Ngược lại trên mắt cận thị góc tiền phòng thường rộng
1.1.5 Mống mắt.
Là phần trước của màng bồ đào Mống mắt như một màng ngăn cáchgiữa tiền phòng và hậu phòng, điều chỉnh lượng ánh sáng vào trong nhãn cầuqua lỗ đồng tử
Hình thể: Mống mắt hình tròn, ở giữa có lỗ tròn gọi là lỗ đông tử.
+ Mặt trước mống mắt
Là giới hạn phía sau của của tiền phòng, màu sắc của mặt trước mốngmắt thay đổi theo chủng tộc Có một đường vòng chạy quanh đồng tử chiamống mắt làm 2 phần
Trang 10- Phần trong hay phần cơ vòng chiếm 1/3 chiều rộng của mống mắt.Giới hạn trong của mống mắt là viền sắc tố đó là bờ đồng tử.
- Phần ngoại vi có nhiều thớ cơ sắp xếp theo hướng nan hoa
+ Mặt sau mống mắt: là giới hạn trước của hậu phòng Bờ tự do của
mặt sau mống mắt áp vào mặt trước của thể thuỷ tinh
1.1.6 Thể mi
1.1.6.1 Cấu tạo giải phẫu
Thể mi là phần nhô lên của màng mạch nằm giữa mống mắt ở phíatrước và hắc mạc ở phía sau Thể mi chạy vòng phía sau của mống mắt Mặtcắt của thể mi có hình tam giác, đỉnh quay về phía hắc mạc, đáy quay về phíatrung tâm giác mạc, một cạnh áp vào mạt sau củng mạc, một cạnh tiếp giápvới phần trước của dịch kính Thể mi được chia làm 2 phần:
- Phần trước: có cơ thể mi và các nếp thể mi (tua mi)
- Phần sau: là phần thẳng của thể mi (para plana)
1.1.6.2 Chức năng của thể mi
+ Tiết thuỷ tinh điều hoà nhãn áp (do các nếp thể mi)
+ Tham gia vào quá trình điều tiết (do các cơ thể mi làm nhiệm vụ điều tiết)
1.1.6.3 Nguồn gốc thuỷ dịch: (Nhãn khoa gian yếu - Tập 2- PD227)
Thuỷ dịch là một chất lỏng trong suốt do các nếp thể mi sinh ra, nằmrong hậu phòng và tiền phòng của nhãn cầu giữ hai chức năng quan trọng là:
- Duy trì nhãn cầu để ổn định chức năng quang học của mắt
- Dinh dưỡng cho giác mạc, thể thuỷ tinh
Trang 11Thuỷ dịch được tạo ra là do sự kết hợp của các cơ chế vận chuyển tíchcực (chế tiết) Siêu lọc và khuyếch tán đơn thuần với lưu lượng bình thườngkhoảng 2-3ml/ phút Tuy nhiên tốc độ sản xuất thuỷ dịch bị ảnh hưởng bởi nhiềuyếu tố như sự toàn vẹn của hàng rào máu - thuỷ dịch, lưu lượng máu vào thể mi
và sự điều hoà thần kinh thể dịch của mạch máu và biểu mô thể mi, lượng thuỷdịch tiết ra thay đổi trong ngày, giảm đi vào buổi tối, đạt thấp nhất từ nửa đêmđến 4h sáng Sau đó lại tăng từ trong khoảng từ 4h-8h (Ericksơn 1958)
Thuỷ dịch mới được tạo thành hơi ưu trương hơn so với huyết thanh
và các thành phần hoá học có nồng độ trong huyết thanh Tuy nhiên quátrình lưu thông từ hậu phòng ra ngoài, thành phần thuỷ dịch cũng thay đổi
do hiện tượng trao đổi chất sự chuyển hoá của thể thuỷ dịch, giác mạc Dovậy thành phân thuỷ dịch ở từng khu vực khác nhau trong nhãn cầu khôngnhư nhau
Như Protein nồng độ 5-10mg/100ml Các chất khuyếch tán khôngion hoá như glucose, acid hyaluronic, acid lactic, histamin acid nicotinic,acid ascovis nồng độ gần 12-20mg/ 100ml và các chất điện giải như
Na+, K+, Cl-, HCO3
1.1.7 Sinh lý quá trình lưu thông thủy dịch
► Lưu thông thủy dịch trong nhãn cầu: Thủy dịch sau khi được sảnxuất ra từ thể mi, chứa trong hậu phòng sẽ lưu thông qua lỗ đồng tử ra tiềnphòng, vào góc tiền phòng rồi thoát ra khỏi nhãn cầu
► Lưu thông thủy dịch ra ngoài nhãn cầu: Thuỷ dịch lưu thông rangoài nhãn cầu qua 2 con đường: bè củng giác mạc và màng bồ đào củng mạc
- Lưu thông qua vùng bè củng giác mạc: 80% lượng thuỷ dịch trongnhãn cầu được thoát ra ngoài qua hệ thống vùng bè củng giác mạc rồi qua
Trang 12ống Schlemm, sau đó vào tĩnh mạch nước, đổ vào đám rối tĩnh mạch thượngcủng mạc, vào tĩnh mạch mắt rồi vào hệ thống tuần hoàn chung.
- Lưu thông qua màng bồ đào-củng mạc: Chỉ 20% lượng thuỷ dịchtrong mắt sẽ thoát ra ngoài qua con đường này Thuỷ dịch đi qua chân mốngmắt và mô kẽ của cơ thể mi để đến khoang thượng hắc mạc Từ đây thuỷ dịchthoát trực tiếp qua các tấm collagen qua củng mạc
1.1.8 Thể thủy tinh (TTT):
Là một thấu kính trong suốt hai mặt lồi (mặt sau lồi hơn mặt trước),không có mạch máu và thần kinh, nằm dọc sau mống mắt [20],[21],[22].TTT được tiếp nối với: các lớp thể mi bởi dây Zinn, ở phía sau với màngdịch kính trước bởi dây chằng Wieger (rất chắc ở người trẻ) TTT phát triểntrong suốt cuộc đời con người
Cấu tạo của thể thủy tinh từ ngoài vào trong gồm:
+ Bao thể thủy tinh (bao trước và bao sau)
+ Biểu mô dưới bao thể thủy tinh
+ Nhân và vỏ thể thủy tinh
Thể thủy tinh có đặc điểm có thể thay đổi bán kính độ cong khi điều tiếtnhờ đó mà hội tụ được ánh sáng trên võng mạc
1.1.9 Hậu phòng
Được giới hạn bởi phía trước là mặt sau của mống mắt và phía sau làdây Zinn Hậu phòng là một khoang hẹp chứa đầy thủy dịch [13]
Trang 141.2.1.2 Cơ chế nghẽn góc
Do hiện tượng nghẽn đồng tử, thuỷ dịch bị cản trở lưu thông từ hậuphòng ra tiền phòng sẽ ứ lại làm tường áp lực hậu phòng Chân mống mắt bịđẩy ra trước áp vào vùng bè củng giác mạc gây đóng góc và tăng nhãn áp.Lúc đầu góc tiền phòng chỉ đóng cơ năng chưa dính, quá trình đóng góc kéodài dẫn tới dính góc Ở giai đoạn này góc tiền phòng không mở ra được đã cócan thiệp bằng thuốc Laser hay phẫu thuật [20], [23]
1.2.2 Các yếu tố giải phẫu đóng vai trò chủ yếu trong bệnh sinh của Glôcôm góc đóng nguyên phát
- Chiều dài trục nhãn cầu: chiều dài trục nhãn cầu của Glôcôm gócđóng nguyên phát, theo Nguyễn Thị Tuyết là 21,6mm, còn ở mắt bình thường
- Mống mắt và thể mi: Vị trí bám của mống mắt vào thể mi ảnh hưởngrất quan trọng đến độ mở góc tiền phòng Khi chỗ bám của chân mống mắtvào thể mi hơi dịch ra trước sẽ dẫn đến hẹp góc tiền phòng, đây là điều kiệnthuận lợi của Glôcôm góc đóng
Hội chứng mống mắt phẳng là một dạng bất thường khác của vị trí bámchân mống mắt, mống mắt có vẻ phẳng hơn bình thường, khi đồng tử giãnchân mống mắt dồn lên bít vào vùng bè gây đóng góc
Trang 15- Thể thuỷ tinh: Theo Gohdo - T và cộng sự (2000) bề dày của thể thuỷtinh càng tăng, vị trí của thể thuỷ tinh càng nhô ra trước thì đồ sâu tiền phòngcàng giảm và góc tiền phòng càng hẹp [25].
Khi đo độ sâu tiền phòng và bề dày thể thuỷ tinh ở bệnh nhân GlôcômSaxena - S nhận thấy ở mắt bình thường trưởng thành bề dày thể thuỷ tinh là4,13±919mm Và độ sâu tiền phòng là 2,87 ± 0,10mm trên mắt Glôcôm bềdày thể thuỷ tinh tăng lên 4,87 ± 0,34mm với độ sâu tiền phòng giảm đi trungbình là 2,28 ± 0,19 mm Vì vậy các tác giả coi tỷ lệ độ sâu tiền phòng trên bềdày thể thuỷ tinh là một chế số theo dõi bệnh glôcôm góc đóng
Lowrf nhận thấy bề dày thể thuỷ tinh trên mắt bị bệnh dày hơn 0,6mm
so với mắt bình thường [20] Theo Nguyễn thị Tuyết bề dày thể thuỷ tinh trênmắt bị bệnh và mắt bình thường là 4,801 mm và 4,234 mm [21]
1.3 OCT BÁN PHẦN TRƯỚC VÀ MÁY VISANTE OCT
1.3.1 Nguyên lý
Máy OCT sử dụng nguồn ánh sáng Laser diod, phát chùm tia hồngngoại có bước sóng 1310nm chiếu trực tiếp vào khu vực mô cần thăm dò Sựkhác nhau về chỉ số khúc xạ của các thành phần trong tổ chức mô mềm như
mô liên kết, bào tương, nhân tế bào, hạt sắc tố… sẽ gây phản xạ các tia theotừng mức độ và thời điểm khác nhau Các thời điểm phản xạ ánh sáng từ tổchức được máy ghi nhận Tuy nhiên do tốc độ ánh sáng quá nhanh nên việcghi trực tiếp thời gian phản xạ trên khoảng cách vài micromet không thể thựchiện được nên máy phải đo thời gian này một cách gián tiếp thông qua sosánh với thời gian phản xạ của chùm tia tham chiếu Thời điểm giao nhau củahai tia sáng này được xác định bằng giao thoa kế Hình ảnh OCT là hình ảnhtổng hợp của rất nhiều đường chụp gần sát nhau tạo thành [26],[27],[28]
Trang 16Trong những năm gần đây các thế hệ máy OCT đã tăng lên nhanhchóng từ loại Time-domain OCT đến Fourier-domain OCT và mới nhất hiệnnay là Swept-source OCT Các thế hệ máy càng ra sau càng trở nên chuyênbiệt hơn trong việc ghi lại hình ảnh các cấu trúc giải phẫu với độ phân giảicao, tốc độ chụp nhanh và chính xác [29], [28].
Hiện nay, tại Bệnh viện Mắt Trung Ương đang sử dụng máy VisanteOCT để chụp cắt lớp bán phần trước
1.3.2 Máy Visante OCT
Visante OCT được giới thiệu lần đầu tiên vào tháng 6 năm 2001 trongHội thảo Quốc tế về giác mạc và OCT bán phần trước nhãn cầu lần thứ nhất.Visante OCT của Zeiss được FDA Hoa kỳ chấp nhận vào tháng 10 năm 2005.Với nguồn sáng có bước sóng 1310 nm và phần mềm tiêu chuẩn máy có thểghi lại hình ảnh với độ phân giải cao lên tới 18 – 25 µm và cải thiện hình ảnhkhi xuyên qua củng mạc Máy cho hình ảnh của tiền phòng với độ sâu lên tới6mm và rộng 16 mm Tốc độ chụp 2000 A-scans/giây Với một đường quét
256 A-scans, mỗi khung hình mất 0,13 giây Máy có định vị trong để điềuchỉnh khúc xạ của bệnh nhân Việc điều chỉnh tật khúc xạ là quan trọng vì làmgiảm tối đa ảnh hưởng của kích thước đồng tử và vị trí thể thủy tinh do điềutiết Kỹ thuật này cho phép ghi lại hình ảnh sắc nét cũng như những phân tíchđịnh lượng cụ thể về cấu trúc tiền phòng, góc tiền phòng và giác mạc [27],[29], [30], [31], [28]
Trang 17Hình 1.5 Máy Visante OCT (Nguồn: Carl Zeiss Meditec Inc (2007), Visante OCT user manual, tr:1)
Máy Visante OCT sử dụng nguồn sáng có bước sóng 1310nm cho hìnhảnh cắt ngang với độ phân giải cao Hình cắt ngang được đo bằng cách tính
độ dày của mô tại các vị trí bề mặt khác nhau Còn chiều dày của các mô khảosát thì lại được tính bằng cách lấy thời gian phản hồi nhân với vận tốc ánhsáng qua mô
Hình 1.6 Mô tả lát quét ngang OCT và cách tạo ảnh giác mạc hai chiều (Nguồn: Đỗ Như Hơn (2012), Nhãn khoa tập 1, NXB Y Học, tr:256)
Trang 18Để quan sát, các dữ liệu thu được sẽ được xử lý bằng máy vi tính vàthể hiện bằng thang bậc xám và thang bậc màu
* Hình ảnh tiền phòng trên Visante OCT
Máy chụp cắt lớp bán phần trước cho hình ảnh có độ phân giải cao hơnmáy siêu âm sinh hiển vi, nhưng nhược điểm của máy là không quan sát đượcnhững cấu trúc nằm sau biểu mô sắc tố mống mắt Mặc dù vậy, đối với cáccấu trúc ở phía trước lớp biểu mô sắc tố như giác mạc, củng mạc, tiền phòng,góc tiền phòng và bề mặt thể thủy tinh, máy có thể ghi lại hình ảnh rất chi tiết
Hình 1.7 Hình ảnh mặt cắt ngang tiền phòng trên Visante OCT
(Nguồn: www.iovs.org/content/52/5/2059/F1.expansion.html)
Mặt cắt ngang toàn bộ cấu trúc của tiền phòng được ghi lại chỉ trongmột lần chụp và mặt cắt này có thể quay 360˚ đến bất cứ vị trí nào cần quansát Những hình ảnh cắt lớp này cung cấp một cái nhìn toàn diện và rõ nét vềtất cả những bất thường của tiền phòng Độ sâu và độ rộng của tiền phòng cóthể được quan sát trực tiếp cũng như đo đạc cụ thể trên hình chụp với sự hỗtrợ của phần mềm có sẵn [27], [28]
Trang 19AS-OCT còn được coi là một phương tiện có thế mạnh đặc biệt trongđánh giá hình thái góc tiền phòng Phương pháp soi góc truyền thống mangtính chủ quan, định tính và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của người khám.Ngược lại, AS-OCT cho hình ảnh góc hoàn toàn khách quan, có thể địnhlượng được và dễ sử dụng ngay cả với những kỹ thuật viên mới Khi soi góc,ảnh hưởng của ánh sáng, sự điều tiết và lực ấn tiếp xúc lên mắt làm thay đổigiải phẫu của góc tiền phòng Trong khi đó AS-OCT không tiếp xúc trực tiếpvới mắt, có thể chụp được trong môi trường hoàn toàn tối và có hệ thống định
vị giúp chụp được hình ảnh của góc tiền phòng trong điều kiện ổn định Vớicác phần mềm kèm theo, AS-OCT có thể đo chính xác các chỉ số thể hiệnmức độ mở, hẹp hay đóng của góc Khả năng phát hiện góc đóng trên AS-OCT cao hơn nhiều so với phương pháp soi góc truyền thống Các nghiên cứuđều chỉ ra rằng đây là một phương pháp mới giúp khẳng định một cách địnhlượng khả năng đóng của góc [27], [29], [30], [31], [32], [28]
Hình 1.8 Góc tiền phòng trên Visante OCT.
A: Góc mở B: Góc hẹp C: các chỉ số đo lường độ mở của góc
(Nguồn:www.revophth.com/CMSImagesContent/2011/4/040_RP0411_F3_2.jpg)
C
Trang 20* Các chỉ số đo lường độ mở của góc
Hình 1.9 Các chỉ số đo lường độ mở của góc (Nguồn:www.nature.com/eye/journal/v25/n3/fig_tab/eye2010201f2.html)
a Góc bè mống mắt (trabecular iris angle /TIA)
b Khoảng mở góc (angle-opening distance /AOD)
c Diện tích khoảng bè mống mắt (trabecular iris space area /TISA)
d Diện tích ngách tiền phòng (angle recess area/ARA)
- AOD500/750: Khoảng mở góc 500 hoặc 750 được đo bằng chiều dàiđường thẳng vuông góc với mạng bè ở điểm phía trước cựa củng mạc 500 µmhoặc 750 µm đến mặt trước mống mắt
- TIA500/750: Góc bè mống mắt là góc có đỉnh ở phần lõm của mốngmắt, một cạnh đi qua điểm phía trước cựa củng mạc 500 µm hoặc 750 µm vàmột cạnh đi qua điểm trên mống mắt đối diện vuông góc
- TISA500/750: là diện tích một vùng được giới hạn bởi phía trước làAOD500 hoặc AOD750, phía sau là một đường được vẽ từ cựa củng mạc đốidiện sang mống mắt, phía trên là mặt trong của giác củng mạc, phía dưới làmặt trước mống mắt
- ARA500/750: là diện tích vùng giới hạn bởi phía trước là AOD500hoặc AOD750, phía sau là góc bè mống mắt [33], [27], [31], [28]
Trang 21Hiện tại, với phần mềm tích hợp trong máy Visante OCT, tất cả nhữngchỉ số này sẽ được đo một cách bán tự động sau khi người đo xác định vị trícủa cựa củng mạc Vị trí của vùng bè, thường là khoảng 250-500 µm phíatrước cựa củng mạc, dọc theo thành góc [34], [35], [36],[37].
Độ tin cậy của OCT bán phần trước trong đo góc tiền phòng: Do cấuhình của mống mắt và thể mi thay đổi với điều kiện ánh sáng và điều tiết củamắt vì vậy những thay đổi của kích thước đồng tử và vị trí thể thủy tinh khiđiều tiết mắt cũng có thể ảnh hưởng đến giá trị đo góc Với điều kiện ánh sángchuẩn và tật khúc xạ được điều chỉnh bằng cố định trong, hệ số biến đổi của
độ rộng góc trong một lần đo của OCT Visante nhỏ hơn hoặc bằng 7% vàgiữa các lần đo nhỏ hơn hoặc bằng 10% Độ chính xác của AS-OCT khi đođạc các thông số của góc tiền phòng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng pháthiện được vị trí của cựa củng mạc, cựa củng mạc được coi là mốc giải phẫuquan trọng nhất để định lượng góc tiền phòng [28]
Nghiên cứu của Sakata LM và cộng sự (2008) trên 502 mắt người trên
50 tuổi tại Singapor bằng OCT bán phần trước và soi góc cho thấy vị trí cựacủng mạc có thể xác định được trên 72% ảnh chụp OCT bán phần trước, khảnăng phát hiện cựa củng mạc sẽ kém hơn trên những mắt được xác định gócđóng qua soi góc, và cũng kém hơn ở góc phần tư trên và dưới so với phíamũi và thái dương (tỷ lệ phát hiện được cựa củng mạc tương ứng là 64%,67%, 75% và 80%) [36]
Narayanaswamy N và cộng sự (2010) dùng OCT bán phần trước và soigóc khám sàng lọc trên 2047 người trên 50 tuổi còn thể thủy tinh, trong đó có
582 bệnh nhân có ảnh chụp OCT bán phần trước xấu hoặc không thể xác địnhđược cựa củng mạc Còn lại 1465 người, trong đó 315 người chiếm (21,5%)
có góc hẹp qua soi góc, 90% là người Trung Quốc Diện tích dưới đường
Trang 22cong (AUC) để phát hiện được góc hẹp trên OCT bán phần trước quaAOD750 là cao nhất tại góc phần tư mũi (0,9) và phía thái dương (0,91) Cáctác giả kết luận AOD750 là chỉ số đo góc hữu ích nhất để xác định góc hẹp.Cựa củng mạc khó xác định ở 25% bệnh nhân chụp OCT bán phần trước [38].
* Ưu điểm của OCT bán phần trước:
- Độ phân giải cao
- Nhanh hơn, dễ thực hiện hơn UBM
- Định vị tổn thương chính xác hơn
- Không tiếp xúc, bệnh nhân ở tư thế ngồi nên dễ chịu hơn và có thểlặp lại nhiều lần mà không gây khó chịu, biến chứng
* Nhược điểm của OCT bán phần trước: Không quan sát được các tổ chức
bị mống mắt che lấp như xích đạo thể thủy tinh, dây Zinn, càng của thấu kínhnội nhãn và thể mi nhưng để đánh giá tiền phòng và góc tiền phòng thì OCTbán phần trước có tính ưu việt hơn [39]
1.3.3 Ứng dụng của Visante OCT trong nhãn khoa
Các thiết bị của hệ thống Visante OCT cho phép đo các cấu trúc, tổ chứcthuộc phần trước nhãn cầu, được sử dụng trong công tác chẩn đoán, theo dõitrước và sau phẫu thuật thuộc bán phần trước bao gồm:
- Phát hiện bệnh lý giác mạc, sẹo, chấn thương, tình trạng sức khỏe củagiác mạc Đo bản đồ giác mạc phục vụ cho phẫu thuật ghép giác mạc, phẫuthuật khúc xạ [31]
- Phát hiện các tổn thương của bán phần trước trong chấn thương đụngdập, phù giác mạc, bong màng Descemet, tổn thương mống mắt, tổn thươnggóc tiền phòng, tổn thương thể thủy tinh, các dị vật vùng góc… [40]
Trang 23- Chẩn đoán và đánh giá Glôcôm nhờ phát hiện góc đóng, mở, đánh giábọng thấm và tình trạng vùng bè, đánh giá góc thóat lưu,… [31].
- Đánh giá tình trạng trước và sau phẫu thuật đặt thể thủy tinh nhân tạo[31], [41]
1.4 HÌNH ẢNH BÁN PHẦN TRƯỚC NHÃN CẦU BÌNH THƯỜNG TRONG VISANTE OCT
1.4.1 Hình ảnh OCT bình thường bán phần trước nhãn cầu được xử
lý bằng máy vi tính và mô tả theo bậc thang xám Mầu trắng biểu hiện cho
phản xạ cao nhất của tín hiệu còn mầu đen và xám biểu hiện cho phản xạ yếu
1 Giác mạc 3 Góc tiền phòng 5 Thể thủy tinh
2 Tiền phòng 4 Mống mắt 6 Lớp sắc tố phía sau
Hình 1.10 Bán phần trước nhãn cầu bình thường trên Visante OCT
Trên hình ảnh OCT, giác mạc được thể hiện với cấu trúc hình vòm cólớp biểu mô giác mạc được thể hiện là đường tăng sáng đồng nhất (phần nhu
mô giác mạc có biểu hiện màu xám kém sáng hơn biểu mô, phần trung tâmkém sáng hơn phần chu biên) Đệm giác mạc là tập hợp các sợi collagen hìnhống và được sắp xếp thành tấm mỏng, vùng đệm sau phản chiếu có hướng
Trang 24hơn phần đệm trước Do đó trên OCT ta thấy vùng đệm sau thể hiện tăngsáng hơn vùng đệm trước ở vùng trung tâm Khi xa trung tâm hơn, phần đệmgiác mạc thể hiện là phần sáng mờ hơn biểu mô và có sự hiện diện của các sợixen kẽ sóng và các khoảng nối đều đặn giữa các lớp [42].
Trên hình ảnh OCT củng mạc thể hiện tăng sáng mạnh không hoàn toànđồng nhất và các khoảng nối ít trật tự và không đều đặn như phần đệm giácmạc (do collagen củng mạc ít trật tự hơn) [42]
Trên OCT biểu mô sắc tố mống mắt biểu hiện là đường tăng sáng mạnhđồng nhất do có một tập hợp đồng nhất mức độ mạnh của các tín hiệu trênhình ảnh OCT bất kể tia tới thế nào Phần đệm mống mắt gồm cả mô liên kết
và các tế bào hay các thành phần bất thường (máu, dịch kính ) là những phầntăng sáng không đồng nhất với các phản chiếu không hướng, xen các khoảngtối không đều [42]
Thủy dịch bình thường là một khoảng tối đồng nhất trên OCT
Trên hình ảnh OCT lớp vỏ cực trước và cực sau TTT được thể hiện làđường tăng sáng (ở phần trung tâm sáng hơn ngoại vi), phần nhân thể thủytinh biểu hiện tăng sáng mờ gần giống phần đậm giác mạc ở xa trung tâmnhưng với những khoảng nới rộng hơn Khi TTT ở vị trí bình thườngđường sáng thể hiện lớp vỏ TTT luôn áp sát phần tăng sáng mạnh của lớpbiểu mô sắc tố mống mắt diện đồng tử đồng thời vùng xích đạo TTT saumống mắt là vùng tối do tia sáng OCT không qua được lớp sắc tố mốngmắt và củng mạc [31]
Trang 251.4.2 Hình bản đồ giác mạc bình thường trên Visante OCT
Hình 1.11 Hình bản đồ giác mạc bình thường trên Visante OCT [43]
Hình bản đồ giác mạc thể hiện chiều dày giác mạc tối thiểu, trung bình
và tối đa tại mỗi vùng khi chia giác mạc bằng những đường trục hướng tâmtrên 8 kinh tuyến xuyên tâm với đường kính 10 mm qua các đường phảnchiếu từ đỉnh (thành 8 vùng: trên, trên thái dương, thái dương, dưới tháidương, dưới, dưới mũi, mũi, mũi trên) và các vòng khuyên đồng tâm (có cácđường kính 2, 5, 7, 10 mm) Với giác mạc bình thường vùng 0 -2 (có thể làvùng 2-5) là vùng giác mạc có chiều dày mỏng nhất
1.4.3 Độ mở góc trong Visante OCT
Các nghiên cứu về OCT bán phần trước cho thấy OCT bán phần trước cókhả năng sàng lọc góc đóng
Sử dụng phần mềm đo góc trong Visante OCT: Độ mở góc tiền phòngđược thể hiện là số đo của góc tạo bởi 2 cạnh:
+ Một cạnh là đường nối tại một điểm cuối trên mặt sau giác mạc tới cựacủng mạc
+ Một cạnh là đường nối một điểm cuối ở mặt mống mắt tới cựa củng mạc
Trang 26Hình 1.12 Hình ảnh minh họa góc tiền phòng trong Visante OCT [44]
1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG OCT TRONG BỆNH GLÔCÔM TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.5.1 Nghiên cứu trên thế giới
Đã có nhiều nghiên cứu được nhiều nước trên thế giới thực hiện đểđánh giá sự thay đổi tiền phòng sau phẫu thuật PHACO đặt thấu kính nộinhãn bằng OCT bán phần trước trên bệnh nhân đục thể thủy tinh có góc đónghoặc hẹp, bệnh nhân glôcôm góc đóng hoặc mở, bệnh nhân đã laser mống mắtchu biên…
Năm 2010 Zhang HT và cộng sự [8] đã tiến hành nghiên cứu đánh giábán phần trước nhãn cầu trên 41 bệnh nhân glôcôm góc đóng cơn cấp bằngOCT Tác giả cũng đánh giá tình trạng góc tại các góc phần tư trên, dưới mũi
và thái dương thông qua các chỉ số góc bè-mống mắt , độ vồng mống mắt
Năm 2005 Radhakrishnan S [45] và cộng sự dánh giá bán phần trướcnhãn cầu trên 32 bệnh nhân glôcôm góc đóng nguyên phát bằng OCT vàUBM để so sánh Theo tác giả Chụp cắt lớp vi tính gắn kết quang học tương
Trang 27tự như UBM trong việc phát hiện ra glôcôm Thế nhưng OCT được thực hiện
dễ dàng hơn UBM và không đòi hỏi tiếp xúc với mắt Chụp cắt lớp vi tính gắnkết quang học là một phương pháp đầy hứa hẹn để sàng lọc các bệnh nhân cónguy cơ bị bệnh glôcôm
Máy OCT còn được Karandish A [46] và cộng sự đưa vào đánh giá tìnhtrạng bán phần trước nhãn cầu trước và sau phẫu thuật Laser YAG trên 11bệnh nhân glôcôm góc đóng
Năm 2013 Guzman CP [47] và cộng sự đã phân nhóm glôcôm gócđóng bằng OCT bán phần trước trên 425 đối tượng thông qua các chỉ số:AOD750, TISA750, IT750, ACD…
1.5.2 Ở Việt Nam
Đã có một số nghiên cứu ứng dụng máy OCT bán phần trước vào việc
đo góc tiền phòng hoặc sẹo bọng sau mổ cắt bè củng giác mạc như:
Nghiên cứu của Nghiêm Thị Hồng Hạnh, Vũ Thị Thái (2011) “Đánhgiá tình trạng sẹo bọng sau phẫu thuật cắt bè củng mạc điều trị glôcômnguyên phát bằng máy Visante OCT” đã kết luận tình trạng sẹo bọng sau phẫuthuật cắt bè có thể đánh giá được bằng máy OCT và có sự phù hợp về đặcđiểm hình thái, kích thước sẹo bọng giữa kết quả chụp OCT và khám lâmsàng [48]
Nghiên cứu của Trần Minh Hà, Đào Thị Lâm Hường (2012) “Đánh giá
sự thay đổi tiền phòng và góc tiền phòng trong thử nghiệm buồng tối với kỹthuật chụp cắt lớp bán phần trước nhãn cầu Visante OCT” cho thấy máyVisante OCT có thể giúp phát hiện tốt tình trạng góc đóng trên mắt có nguy
cơ bị glôcôm, số góc đóng sau thử nghiệm buồng tối ở những mắt thử nghiệmdương tính tăng lên rõ rệt [49]
Trang 28Nghiên cứu của Nguyễn Công Kiệt, Biện Thị Cẩm Vân (2012) “ Sosánh độ mở góc tiền phòng giữa chụp cắt lớp quang học phần trước và soi góctiền phòng” nhận thấy khả năng phát hiện góc đóng trên OCT cao hơn so vớiphương pháp soi góc truyền thống [50].
Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Khánh, Hoàng Trần Thanh (2012)
“Đánh giá sự thay đổi tiền phòng sau phẫu thuật Phaco-Đặt thấu kính nộinhãn bằng OCT bán phần trước” cho thấy độ sâu tiền phòng , khoảng mở gócAOD500/750, diện tích khoảng bè mống mắt TISA500/750 sau phẫu thuậtđều tăng lên rõ rệt [51]
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
Những bệnh nhân được chẩn đoán là Glôcôm góc đóng cơn cấp tạikhoa Khám bệnh theo yêu cầu - Bệnh viện Mắt Trung ương từ /2013 - /2014
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân bị Glôcôm góc đóng cơn cấp tại khoa Khám bệnh theo yêucầu Bệnh viện Mắt trung ương
- Đủ sức khoẻ để cộng tác và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Chúng tôi đã loại trừ khỏi nhóm nghiên cứu những đối tượng
- Glôcôm góc đóng không phải là cơn cấp
- Bệnh lý giác mạc mống mắt
- Mắt đang bị viêm nhiễm
- Mắt có tiền sử chấn thương, phẫu thuật nội nhãn
- Toàn thân mắc bệnh tiểu đường hoặc cao HA
- Glôcôm phối hợp với các bệnh lý khác của mắt như: bệnh lý dịch kínhvõng mạc, rối loạn vận nhãn
- Hồ sơ không đạt yêu cầu: không đủ thông tin phục vụ cho nghiên cứu
- Bênh nhân không đến khám lại
- Glôcôm thứ phát
- Glôcôm bẩm sinh
Trang 302.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu cắt ngang với cỡ mẫu theo công thức:
2
2 2
) 1
( ε
Trong đó:
α: mức ý nghĩa thống kê (chọn α = 0,05)
Z: tra cứu theo bảng Z tương ứng với giá trị α được chọn thì Z1−α/2 =1,96
p: tỷ lệ phát hiện được cựa củng mạc trên máy Visante OCT (Carl ZeissMeditec Inc.Dublin, California, USA) trong nghiên cứu “Đánh giá cựacủng mạc trên ảnh chụp cắt lớp cố kết quang học bán phần trước” của tácgiả Sakata LM, Lavanya R và cộng sự năm 2008 Theo đó, p = 0,72 [45].ε: tỷ lệ sai lệch giữa tỷ lệ thu được từ mẫu nghiên cứu và tỷ lệ của quầnthể, lấy ε = 0,2
n: Số mắt tối thiểu cần nghiên cứu để kết quả có ý nghĩa n = 37 mắt
2.2.2 Phương tiện nghiên cứu
- Bảng đo thị lực vòng hở Landolt và bộ thử kính khúc xạ
- Nhân áp kế Maclakov, sử dụng quả cân 10g
- Thị trường kế Maggiore
- OCT
- Máy soi đáy mắt hình thẳng của hãng Karl - Zeizz
- Sinh hiển vi đèn khe hãng Inami
Trang 31- Kính Vold.
- Kính tiếp xúc Voldba mặt gương
2.2.3 Tiến hành nghiên cứu
Mỗi đối tượng nghiên cứu có một phiếu nghiên cứu riêng theo mẫu(trong phần phụ lục)
Những đối tượng nghiên cứu đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn sẽ đượcgiải thích, hướng dẫn tham gia nghiên cứu, hỏi bệnh, đo thị lực, khám lâm sàng
ở cả hai mắt, đo nhãn áp, soi góc bằng kính Goldmann, chụp OCT trước phẫuthuật,và đánh giá , tiến hành phẫu thuật cắt bè củng giác mạc,chụp OCT sauphẫu thuật 1 tuần và 1 tháng Mọi kết quả sẽ được ghi nhận vào phiếu theo dõi
Trang 32- Khám trên sinh hiển vi và soi đáy mắt Nếu phát hiện có bệnh lý tại mắt(viêm kết mạc, viêm loét giác mạc, viêm màng bồ đào, dính mống mắt, mắt
có chấn thương cũ, lệch thể thủy tinh…) hoặc nghi ngờ bệnh nhân có bệnhglôcôm thứ ,bệnh nhân đang dùng thuốc hạ nhãn áp, đối tượng sẽ bị loại khỏinghiên cứu
- Soi góc bằng gương kính Goldmann, đánh giá mức độ mở góc ở 4 phía(mũi, thái dương, trên, dưới) theo phân loại của Shaffer năm 1960
Tiến hành chụp OCT bán phần trước
- Chuẩn bị bệnh nhân: giải thích giá trị của khám nghiệm, hướng dẫncách thức phối hợp tiến hành
- Khởi động máy Visante OCT, chụp ở chế độ All Scans – Enhancedanterior segment single, ghi lại hình ảnh của tiền phòng ở vị trí 0˚ - 180˚ (phíamũi và thái dương) Không chụp góc phần tư trên và dưới vì theo nhiềunghiên cứu, AS-OCT cho hình ảnh với chất lượng không cao, khó xác địnhđược vị trí cựa củng mạc ở hai vị trí này Đồng thời để chụp được phía trên vàphía dưới, đòi hỏi kỹ thuật viên phải vành mi, có thể gây tác động đè nén lênnhãn cầu, làm biến dạng tiền phòng và góc tiền phòng, ảnh hưởng đến kết quảthu được [45], [46]
- Hình ảnh OCT được coi là đạt tiêu chuẩn khi hình chụp lấy được trụctrung tâm cân xứng ở giữa hình Ảnh phải rõ nét cân đối với kích thước đồng
tử bình thường, ánh đồng tử bình thường, lấy được các cấu trúc bao gồm giácmạc, mống mắt, đồng tử và mặt trước thể thủy tinh hoặc thấu kính nội nhãn.Góc tiền phòng phải lấy được mốc là cựa củng mạc