Pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự qua thực tiễn tại thành phố Huế tỉnh Thừa Thiên Huế, trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động kinh doanh có điều kiện về an ninh, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn tỉnh thừa thiên huế từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động kinh doanh có điều kiện
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
ĐẶNG SỸ PHƯỚC
PHÁP LUẬT KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN
VỀ AN NINH TRẬT TỰ, QUA THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ -TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc của bảnthân dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên hướng dẫn PGS-TS Trần ThịHuệ Mọi số liệu, thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồngốc, bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Nếu có sai sót, tôi xinhoàn toàn chịu trách nhiệm
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này, kính đề nghị trường Đại học Luật Huếxem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày tháng năm 2018
Người cam đoan
Đặng Sỹ Phước
Trang 3Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến qúy Thầy, Cô, Ban giám hiệu Trường Đại học Luật Huế, Khoa sau Đại học đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học, đặc biệt là Cô giáo PGS-TS Trần Thị Huệ, người đã trực tiếp hướng dẫn Luận văn cho tôi, với phương pháp hướng dẫn tận tình, chu đáo và khoa học Cô đã giúp tôi hoàn thành tốt Luận văn của mình.
Xin cảm ơn quý Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy nhiệt tình, truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích trong suốt khóa học vừa qua.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã hỗ trợ, động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày tháng
11 năm 2018 Học viên Đặng Sỹ Phước
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LDN : Luật doanh nghiệpĐKKD : Điều kiện kinh doanhANTT : An ninh trật tự
GPKD
PCCC
: Giấy phép kinh doanh: Phòng cháy chữa cháy
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
6 Những kết quả nghiên cứu của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ 7
1.1 Khái niệm kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 7
1.1.1 Định nghĩa kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 7
1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 9
1.1.3 Ý nghĩa của các điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự 11
1.2 Khái lược pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 13
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 13
1.2.2 Nội dung tổng quát của pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 22
1.2.4 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 30
Trang 6Tiểu kết chương 1 32
Trang 7THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ-TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 33
2.1 Thực trạng pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 332.1.1 Quy định về ngành nghề cần tuân thủ điều kiện về an ninh trật tự 332.1.2 Quy định về điều kiện an ninh trật tự đối với doanh nghiệm khikinh doanh ngành nghề có điều kiện 362.1.2.1.Điều kiện về người đứng đầu doanh nghiệp 362.1.2.2 Yêu cầu duy trì, đảm bảo thực hiện đúng yêu cầu về an ninh,trật tự trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh 432.1.2.3 Điều kiện về phòng cháy, chữa cháy 462.1.2.4 Các điều kiện khác 492.1.3 Quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh,trật tự 502.1.3.1 Cơ quan có thẩm quyền cấp và thu hồi Giấy chứng nhận đủđiều kiện về an ninh trật tự 512.1.3.2 Hồ sơ và thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về anninh, trật tự 542.1.4 Quy định về quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong kinh doanh
có điều kiện về an ninh trật tự 562.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật
tự tại thành phố Huế - tỉnh Thừa Thiên Huế 602.2.1 Khái quát về các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện về an ninhtrật tự trên địa bàn thành phố Huế 602.2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninhtrật tự tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 61
Trang 82.2.3 Đánh giá việc áp dụng pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an
ninh trật tự 63
2.2.3.1 Những kết quả đạt được 63
2.2.3.2 Một số tồn tại, hạn chế 65
Tiểu kết chương 2 69
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ 70
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự .70 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về điều kiện ANTT để phù hợp với xu hướng đổi mới về điều kiện kinh doanh được quy định tại Luật Đầu tư năm 2014 70
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư và doanh nghiệp 71
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam nhằm thực hiện cải cách thủ tục đầu tư 71
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 72
3.2.1 Cần thống nhất văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 72
3.2.2 Đảm bảo tính hợp pháp và sửa đổi nội dung của một số quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự 75
3.2.3 Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự 76
3.2.4 Xây dựng cơ chế giám sát và kênh thông tin phản hồi phù hợp để kiểm soát việc thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh 76
Trang 93.2.5 Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thứcchấp hành pháp luật về các điều kiện an ninh trật tự cho các cơ sở kinhdoanh và người dân 79
Tiểu kết chương 3 79 KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, điều kiện kinh doanh đã và đang trở thànhmột trong những công cụ quản lý nhà nước quan trọng Bởi lẽ Nhà nước sẽ sửdụng điều kiện kinh doanh để điều tiết, kiểm soát các hoạt động kinh doanh,hướng đến bảo vệ quyền, lợi ích chung của cộng đồng và xã hội Các quyđịnh về điều kiện kinh doanh từ khi hình thành và được ghi nhận chính thứctrong Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã có nhiều thay đổi, góp phần hình thành
và phát triển thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm vai trò quản lý của nhà nướctrong các lĩnh vực, ngành nghề có liên quan
Cùng với những kết quả tích cực đã đạt được, pháp luật về điều kiệnkinh doanh nói chung và pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực anninh trật tự nói riêng còn bộc lộ không ít những hạn chế; cụ thể như chưađược rõ ràng, minh bạch hay những quy định còn rải rác, tản mạn tại nhiềuvăn bản khác nhau cũng như cơ chế kiểm soát, đánh giá việc ban hành, thựcthi các điều kiện kinh doanh vẫn chưa được thực hiện thường xuyên và mangtính hệ thống Có thể nói, những hạn chế trên đã phần nào làm giảm ý nghĩacủa điều kiện kinh doanh trong quản lý nhà nước Mặt khác, hạn chế quyền tự
do kinh doanh của công dân và trong nhiều trường hợp gây “bức xúc” trongdoanh nghiệp trên cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nóiriêng Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, việc Việt Nam tham gia Hiệp địnhđối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP (nay là Hiệp định Đốitác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP) sẽ tạo ra sức ép vềcạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam hay vấn đề mở cửa thị trường
và nếu không có sự chuẩn bị thực sự tốt, các doanh nghiệp sẽ gặp không ítkhó khăn, bất lợi trong thời gian sắp tới
Trang 11Trước thực trạng của pháp luật về kinh doanh các ngành nghề có điềukiện về an ninh trật tự hiện nay cũng như vai trò, ý nghĩa của nó, việc nghiêncứu, đánh giá nhằm hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh
trật tự là cần thiết, ý nghĩa Đây chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp
luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự qua thực tiễn tại thành phố Huế - tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài Luận văn, đã có một số bài viết và một số côngtrình nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau về kinh doanh có điều kiện nhưLuận văn, Khóa luận hay các bài báo tạp chí chuyên nghành Luật có liên quantrực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài nghiên cứu, một trong những công trình tiêubiểu có thể lược qua như:
- Vũ Thị Hiền, Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2014 Luận văn đã làm rõ được
những khía cạnh pháp lý về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam cũng nhưnhững đổi mới cơ bản trong pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh Qua
đó, tác giả phân tích và đánh giá thực trạng về điều kiện kinh doanh ở ViệtNam hiện nay;
- Chu Thị Huyền Trang, Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh rượu
ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học; Hà Nội, 2017; Luận văn tập trung phân
tích các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh rượu, bao gồm cáchoạt động sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán buôn, bán lẻ rượu; hoạt độngbán rượu tiêu dùng tại chỗ Qua đó, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế trongquy định của pháp luật hiện hành và đưa ra những kiến giải về điều kiện đầu
tư kinh doanh rượu ở Việt Nam
- Trần Thu Giang, Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh
vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2017;
Trang 12Luận văn đã phân tích nhiều góc độ của pháp luật về điều kiện đầu tư kinhdoanh trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam Qua đó, tác giả đã đánhgiá các quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều điều kiện kinh doanhkhông rõ ràng, gây khó khăn cho quá trình triển khai trên thực tế.
- Thực trạng giấy phép kinh doanh, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn
phòng Quốc hội, số 04 (2013); Bài viết nghiên cứu đã đặt ra một vấn đề tươngđối mới mẻ, đó là trong số các giấy phép kinh doanh đã được ban hành có quánhiều loại giấy phép bất hợp lý, cản trở không nhỏ tới hoạt động sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp Tác giả đã đặt ra vấn đề liệu có cần cơ chếgiám sát việc ban hành, thực thi các quy định về giấy phép kinh doanh
- TS Nguyễn Thị Yến, ThS Trần Bảo Ánh, Pháp luật về ngành nghề
kinh doanh có điều kiện và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Luật học - Trường
Đại học Luật Hà Nội, số 04 (2013) Bài tạp chí đã đi sâu vào phân tích nhữngbất cập trong pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, ví dụ như tưduy tiếp cận trong quá trình xây dựng luật; thẩm quyền ban hành văn bản quyđịnh điều kiện kinh doanh đối với những ngành, nghề kinh doanh có điềukiện; những điều kiện kinh doanh và số lượng ngành, nghề kinh doanh cóđiều kiện cần phải giảm bớt Qua đó các tác giả đưa ra một số kiến nghị hoànthiện pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh có điều kiện …
Tuy nhiên các công trình trên đa phần chỉ đề cập một cách khái quát vềkinh doanh có điều kiện nói chung, đặc biệt những công trình nghiên cứu nàychưa khai phá được những vấn đề pháp lý và thực tiễn trong kinh doanh cóđiều kiện về an ninh trật tự Đặc biệt, tính đến thời điểm hiện nay chưa cócông trình nghiên cứu riêng nào phân tích, đánh giá việc thực hiện pháp luật
về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Thừa ThiênHuế nói chung, thành phố Huế nói riêng, cũng như chưa có những giải phápthích hợp nhằm hoàn thiện pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật
Trang 13tự, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế trong điều kiện hiện nay.
Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của các Tác giả đi trước, thông quaviệc nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn muốn đi sâu phân tích, đánh giá, đềxuất các định hướng cải cách nhằm từng bước xây dựng một môi trường kinhdoanh lành mạnh, minh bạch cho các doanh nghiệp, góp phần xây dựng hệthống pháp luật về điều kiện an ninh trật tự đối với các ngành nghề kinhdoanh có điều kiện ở địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng
và cả nước nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng rõ những vấn đề lýluận và thực tiễn của pháp luật về hoạt động kinh doanh có điều kiện về anninh trật tự cũng như đi sâu phân tích vai trò quan trọng của các điều kiện anninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ rõnhững thành tựu đã đạt được cùng những khó khăn trong việc áp dụng, thựchiện để từ đó đề xuất những giải pháp về mặt pháp lý nhằm hoàn thiện hệthống pháp luật điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực này ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Thứ nhất, nêu và phân tích một số vấn đề lý luận về điều kiện kinh
doanh, hoạt động kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; làm rõ được hệthống các quy định của pháp luật về các điều kiện an ninh trật tự áp dụng vớicác doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện
- Thứ hai, phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với
hoạt động kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực an ninh trật tự; và chỉ rõnhững điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung, thành
Trang 14phố Huế nói riêng trong việc kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về anninh trật tự Từ đó, đánh giá tình hình áp dụng các quy định pháp luật tronglĩnh vực này của các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện trênđịa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Phân tích được những thành tựu, những hạnchế, tồn tại trong việc áp dụng các quy định của pháp luật tại thành phố Huế,tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện chế định về kinh
doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tác giả tập trung nghiên cứu và làm
rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các điều kiện an ninhtrật tự đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện để từ đó đưa ra một sốgiải pháp và kiến nghị để hoàn thiện các quy định đó
Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về kinh doanh có điều kiện
về an ninh trật tự
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu hoạt động kinh
doanh có điều kiện về an ninh trật tự nói chung và trên địa bàn thành phốHuế, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng trong những năm vừa qua và Luật Doanhnghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực từ ngày 1/7/2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trìnhnghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp bình luận, diễn giải, so sánh, tổnghợp, phân tích,… Các phương pháp này được sử dụng trên cơ sở phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin
Phương pháp phân tích, tổng hợp chủ yếu được sử dụng trong chương 1nhằm làm rõ và khái quát các vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh và kinhdoanh ngành nghề có điều kiện trong lĩnh vực an ninh trật tự Phương pháp luật
Trang 15học so sánh và phương pháp phân tích được sử dụng tại chương 2 để làm rõ thựctrạng pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự cùng với những đánhgiá khó khăn, vướng mắc, bất cập trong áp dụng pháp luật thuộc lĩnh vực này.
6 Những kết quả nghiên cứu của luận văn
Luận văn dự kiến khi hoàn thành sẽ có một số đóng góp mới như:
Hệ thống hoá, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học về cơ sở lýluận của pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự thông quaviệc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng tại địa bàn thành phố Huế, tỉnhThừa Thiên Huế;
Luận văn đưa ra những kết quả đạt được, những khó khăn trong quá trìnhthực hiện và chỉ ra những nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong các quy địnhhiện hành về điều kiện an ninh, trật tự áp dụng với các ngành nghề kinh doanh
có điều kiện cũng như đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của thực tiễn thihành lĩnh vực pháp luật này tại địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Từ đó, đề xuất một số giải pháp thiết thực góp phần sớm hoàn thiện cácquy định pháp luật về điều kiện an ninh, trật tự áp dụng với các doanh nghiệpkinh doanh có điều kiện trên địa bàn; cũng như nâng cao hiệu quả pháp luật
về hoạt động kinh doanh có điều kiện
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Danh mục bảng biểu, Lời mởđầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về kinh doanh có điều kiện về an ninh
trật tự và pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành pháp luật về
kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự tại thành phố Huế - tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3 Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
Trang 16PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH
CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT
VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ
1.1 Khái niệm kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
1.1.1 Định nghĩa kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
Với tốc độ phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,hoạt động kinh doanh hiện nay diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và hầu hết các hoạt động kinh doanh đều là những ngành nghề kinh doanh
có điều kiện Mỗi loại hình kinh doanh khác nhau sẽ cần tới những điều kiệnkinh doanh không giống nhau Pháp luật của Việt Nam cũng như các quốcgia trên thế giới đều có những quy định cụ thể về vấn đề này bởi lẽ nội hàmcủa điều kiện kinh doanh sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động của doanhnghiệp cũng như sự phát triển của nền kinh tế của mỗi quốc gia
Xét về mặt thuật ngữ, “điều kiện kinh doanh” được cấu phần bởi hai thành tố, đó là “điều kiện” và “kinh doanh” Theo Từ điển Tiếng Việt, “điều
kiện” được hiểu là cái cần phải có để cho một cái khác có thể xảy ra Hay nói
cách khác, “điều kiện” còn là điều được nêu ra như một đòi hỏi trước khi tiến
hành thực hiện một hoạt động nào đó1 Theo quy định của pháp luật doanh
nghiệp, “kinh doanh” được hiểu “là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”2
Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa3: “Điều kiện kinh
doanh là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyền tự do kinh
1 GS Hoàng Phê và đ.t.g (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, trang 22.
2 Điểm 16 Điều 14 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
3 Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương, “Thời điểm cho sự thay đổi - Đánh giá Luật
doanh nghiệp và kiến nghị”.
Trang 17doanh của người dân, thường được cụ thể hoá bằng những hành vi của nhân viên hành chính có quyền chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng
ký hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể”.
Theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development – OECD), “điều
kiện kinh doanh” nói chung là tập hợp đa dạng các công cụ mà Chính phủ sử
dụng để đặt ra các yêu cầu đối với công dân và doanh nghiệp
Khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư năm 2014 quy định về ngành nghề kinh
doanh có điều kiện như sau: “Ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là
ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng” Do đó, có thể
hiểu điều kiện kinh doanh là những yêu cầu, đòi hỏi phải đáp ứng do Nhànước quy định đối với chủ thể kinh doanh khi tiến hành kinh doanh nhữngngành, nghề cụ thể và được thể hiện dưới những hình thức nhất định
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất, điều kiện kinh doanh là
những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật đặt ra mà chủ thể kinh doanh phải đáp ứng trước khi tiến hành thực hiện các hoạt động kinh doanh nhất định như đầu tư, sản xuất, tiêu thụ, phân phối, buôn bán, cung ứng dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận (sinh lời).
Thuật ngữ “an ninh trật tự” là cách viết gọn của cụm từ an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội Thuật ngữ này được nêu tại khoản 1 Điều 4 Nghịđịnh 96/2016/NĐ-CP quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Theo đó, “an ninh trật tự”
được hiểu là tình trạng (trạng thái) ổn định, an toàn, có trật tự, kỷ cương của
xã hội Trật tự, kỷ cương và sự an yên đó đuơ̛c̣c xác lập trên cơ sở các quytắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (quy phạm pháp luật) và những giá
Trang 18trị xã hội, chuẩn mực đạo đức truyền thống đuơ̛c̣c mọi nguơ̛ìi trong xã hộithừa nhận, tôn trọng, tuân thủ Nói một cách khác: an ninh trật tự là trạngthái quốc gia được an toàn, xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người
có cuộc sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và những chuẩn mựcđạo đức, pháp lý nhất định
Tóm lại, trên cơ sở những phân tích ở trên, có thể rút ra cách hiểu về
kinh doanh có điều kiện về ANTT, đó là “hoạt động kinh doanh những
ngành nghề mà việc thực hiện hoạt động kinh doanh trong ngành nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do an ninh, quốc phòng của quốc gia cũng như trật tự, kỷ cương và an toàn xã hội”.
1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
Trên cơ sở những phân tích, trình bày ở trên, có thể nhận thấy kinhdoanh có điều kiện về an ninh trật tự có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, về mặt chủ thể: Chủ thể kinh doanh phải đáp ứng các điều
kiện kinh doanh về an ninh trật tự trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh
Chủ thể kinh doanh chỉ được phép kinh doanh khi đã đáp ứng các điềukiện theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, các điều kiện này còn có hiệulực áp dụng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của chủ thể kinhdoanh và được đảm bảo bằng cơ chế kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lýnhà nước Chủ thể kinh doanh không duy trì được các điều kiện trong quátrình kinh doanh sẽ bị coi là kinh doanh trái pháp luật và bị xử lý theo quyđịnh của pháp luật Quy định như vậy mới có thể đảm bảo mục tiêu quản lýcủa nhà nước, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực có thể gây ra từ hoạt động kinhdoanh của những ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự
Thứ hai, về mặt hình thức: Điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự
được thể hiện bằng những hình thức cụ thể tùy thuộc vào quy định của phápluật Ví dụ như, điều kiện kinh doanh được thể hiện thông qua: Giấy phépkinh doanh; Chứng chỉ hành nghề; các loại giấy chứng nhận đủ điều kiện
Trang 19kinh doanh hay giấy chứng nhận bảo hiệm trách nhiệm nghề nghiệp; Cácyêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyềnkinh doanh ngành nghề đó mà không cần xác định, chấp thuận dưới bất kỳhình thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, mỗi một hình thức này có giá trị pháp lý khác nhau, được ápdụng theo từng trường hợp cụ thể Có điều kiện phải được đáp ứng trước khiđăng ký kinh doanh, có điều kiện phải đáp ứng sau khi đăng ký kinh doanhnhưng cũng có những điều kiện phải đáp ứng cùng một lúc cả trước và saukhi kinh doanh
Thứ ba, về đối tượng và phạm vi: Pháp luật chỉ đặt ra các điều kiện
kinh doanh trong một số ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định
Trong các hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, quyền tự do kinhdoanh của công dân trong đó có quyền tự do lựa chọn ngành, nghề kinhdoanh được chính thức ghi nhận từ rất sớm Trên cơ sở quyền tự do này,Nhà nước sẽ đặt ra các điều kiện kinh doanh trong một số ngành nghề, lĩnhvực kinh doanh nhất định nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích công cộng nhất định(pulic order) Chính vì vậy, điều kiện kinh doanh chỉ áp dụng đối với một sốngành nghề nhất định mà sẽ không đặt ra đối với tất cả các ngành nghề kinhdoanh Trên thực tế, những điều kiện này phải được quy định cụ thể trongchính văn bản pháp luật quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Về đối tượng áp dụng các điều kiện của ngành nghề kinh doanh cóđiều kiện về an ninh trật tự, những chủ thể kinh doanh bao gồm các cá nhân,pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh, đang thực hiệnhoạt động kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự
Thứ tư, về ý nghĩa: Ý nghĩa của việc quy định điều kiện kinh doanh là
để đảm bảo rằng chủ thể kinh doanh ngành nghề đó sẽ không gây thiệt hạihay đe doạ gây thiệt hại đến những lợi ích mà nhà nước cần bảo vệ, đảm bảo
an ninh, trật tự và an toàn xã hội Trên thực tế, ý nghĩa của việc quy định
Trang 20điều kiện để kinh doanh đối với các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện về anninh trật tự là thực sự cần thiết Ý nghĩa căn bản nhất của việc quy định điềukiện kinh doanh là để đảm bảo rằng chủ thể kinh doanh ngành nghề đó sẽkhông gây phương hại đến bất kỳ lợi ích chung, lợi ích sống còn mà nhànước đã, đang, sẽ và cần bảo vệ; qua đó góp phần đảm bảo an ninh, trật tự
và an toàn xã hội Ngoài ra, điều kiện kinh doanh còn có ý nghĩa như một
“công cụ” pháp lý để nhà nước kiểm soát, điều tiết các hoạt động của cácchủ thể kinh doanh, nhằm định hướng sự phát triển của nền kinh tế theo chủtrương, chính sách của mỗi quốc gia
1.1.3 Ý nghĩa của các điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự
Trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào, sự quản lý của nhà nướcđối với nền kinh tế luôn được thể hiện bằng những phương thức khác nhau.Nhà nước sẽ phải và cần phải can thiệp vào các hoạt động của thị trường vớicác cách thức và mức độ khác nhau nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh
ổn định Một trong các công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý nền kinh tếchính là điều kiện kinh doanh Vai trò và ý nghĩa của các điều kiện kinhdoanh về an ninh trật tự được thể hiện ở các phương diện sau:
Thứ nhất, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự là một trong những công
cụ đắc lực giúp cho Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết thị trường.
Bất kỳ nền kinh tế thị trường ở nước nào cũng tồn tại những mặt trái,mặt hạn chế Bởi, sự mở rộng các ngành nghề kinh doanh, trong đó cónhững ngành nghề ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề an ninh, trật tự xã hội,môi trường, đạo đức, thuần phong mỹ tục đòi hỏi Nhà nước phải có nhữngbiện pháp quản lý phù hợp Vì vậy, điều kiện kinh doanh được đặt ra sẽ cóvai trò điều tiết và quản lý số lượng các ngành nghề này, không để nó pháttriển một cách tràn lan
Bên cạnh đó, trong hoạt động kinh doanh, vấn đề lợi nhuận luôn đượcđặt lên hàng đầu Trên thực tế có rất nhiều chủ thể kinh doanh chạy theo lợi
Trang 21nhuận mà có thể vượt qua những giới hạn về đạo đức kinh doanh, vi phạmpháp luật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, trật tự công cộng Lúcnày, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự sẽ góp phần định hướng vàthanh lọc các doanh nghiệp muốn kinh doanh trên thị trường Để được kinhdoanh những ngành nghề này thì doanh nghiệp phải đáp ứng được các điềukiện về an ninh trật tự Đây là những điều kiện rất quan trọng để chủ thểkinh doanh có thể thực hiện tốt hoạt động kinh của mình (ví dụ yêu cầu vềvốn, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu về phòng cháy chữacháy ), từ đó giảm thiểu được rủi ro cho chính doanh nghiệp và rủi ro cho
cả nền kinh tế
Mặt khác, trong nội dung của điều kiện kinh doanh về an ninh trật tựkhông chỉ đề cập đến vấn đề thành lập, hoạt động về mặt pháp lý mà cònliên quan đến quá trình, nội dung thực hiện hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp (ví dụ như điều kiện về nhân lực, yêu cầu về phòng cháy chữa cháy,phòng ngừa ô nhiễm môi trường ) Những nội dung này có vai trò quantrọng trong việc nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp với chất lượng hànghoá, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh và sự an toàn của nền kinh tế xãhội nói chung Từ đó, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bảo vệ môitrường, lợi ích công cộng cũng như lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác
Thứ hai, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự góp phần quyết định
cơ cấu ngành nghề kinh doanh.
Điều kiện kinh doanh là do nhà nước đặt ra để điều chỉnh những mốiquan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh cần sự kiểm soát Nội dung củađiều kiện kinh doanh vì thế cũng sẽ thay đổi theo từng giai đoạn, phụ thuộcvào quan điểm, tư duy quản lý của các cơ quan có thẩm quyền Nếu muốnthu hút nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh thì các cơ quan cóthẩm quyền phải tạo ra sự thông thoáng trong quy định của điều kiện kinhdoanh Ngược lại, nếu muốn hạn chế số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt
Trang 22động trong nền kinh tế, nhà nước chỉ cần tăng “độ khó” của điều kiện kinhdoanh Nhà nước đặt ra những điều kiện kinh doanh thống nhất, áp dụng chomọi nhà đầu tư hoặc có những quy định khác biệt đối với mỗi loại nhà đầu
tư, chẳng hạn nhà đầu tư trong nước phải đáp ứng một hệ thống điều kiệnkinh doanh này, trong khi nhà đầu tư nước ngoài lại phải đáp ứng các điềukiện kinh doanh khác sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh vàmôi trường đầu tư trong nước
Thứ ba, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự là cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện được chức năng quản lý doanh nghiệp cũng như giải quyết các tranh chấp, tạo ra sự ổn định và phát triển cho nền kinh tế.
Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc quản lý doanhnghiệp phải dựa trên cơ sở pháp lý nhất định Căn cứ vào các điều kiện kinhdoanh mà pháp luật quy định, các cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện chứcnăng quản lý của mình thông qua các công việc cụ thể như sau:
Một là, ban hành văn bản hướng dẫn doanh nghiệp chấp hành hoặc phải
cam kết thực hiện đúng và đầy đủ những điều kiện kinh doanh đó Bên cạnh
đó, còn ban hành các “giấy phép con” như Giấy chứng nhận về phòng cháy vàchữa cháy hoặc biên bản kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy
Hai là, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật và duy
trì các điều kiện về an ninh trật tự của các doanh nghiệp Nếu phát hiện saiphạm, thực hiện xử lý các vi phạm này theo thẩm quyền
Như vậy, việc làm này sẽ góp phần giám sát hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp, lành mạnh hoá hoạt động kinh doanh tạo ra sự ổn địnhcho nền kinh tế
1.2 Khái lược pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
Trang 23Quá trình hình thành và phát triển của điều kiện kinh doanh về an ninhtrật tự có thể chia thành các giai đoạn khác nhau với nội dung, đặc điểmriêng gắn liền với điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của đất nước Bởi, phápluật về kinh doanh ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự là tổng thể cácquy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điềuchỉnh mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân nhằm thựchiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành nghề có điềukiện về an ninh trật tự.
* Giai đoạn trước năm 1999:
Trước năm 1999, nền kinh tế nước ta trải qua hai giai đoạn phát triểnnổi bật: nền kinh tế kế hoạch tập trung và nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, thành phần kinh tế chủ yếu làkinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Quyền tự do kinh doanh của các thànhphần kinh tế dân doanh đã không được thừa nhận và tạo điều kiện để pháttriển Mọi hoạt động kinh doanh đều phải “xin phép” và khi được “chophép” mới được tiến hành kinh doanh Việc đăng ký kinh doanh và cấp phépkinh doanh không có sự phân biệt rạch ròi, dù dưới tên gọi là “đăng ký kinhdoanh” nhưng về bản chất bao gồm cả những quy định về điều kiện kinhdoanh, được thể hiện dưới hình thức cấp giấy phép kinh doanh Điều 2 Nghịđịnh số 76/CP ngày 08/4/1974 của Hội đồng Chính phủ về điều lệ đăng kýkinh doanh công thương nghiệp và phục vụ thuộc khu vực tập thể và cá thể
quy định: “Tất cả các tổ chức tập thể và cá thể kinh doanh công thương
nghiệp thuộc các ngành nghề: sản xuất tiểu, thủ công nghiệp đều phải xin đăng ký kinh doanh và sau khi được cấp giấy phép kinh doanh mới được hoạt động ” Trong đó, điều kiện để được cấp giấy phép kinh doanh phức
tạp, rườm rà, là tập hợp các loại giấy tờ khác và đều phải có sự xác nhậnhoặc cho phép của cơ quan nhà nước như: Quyết định của cơ quan có thẩmquyền đã công nhận điều lệ hay công nhận việc thành lập tổ chức; Giấy được
Trang 24phép sử dụng địa điểm để sản xuất, kinh doanh có chứng thực của chínhquyền cơ sở Đa số quy định về điều kiện kinh doanh lúc này được thể hiệndưới dạng văn bản hành chính mang tính chỉ đạo của nhà nước cho phéphoặc hướng dẫn tiến hành các hoạt động kinh tế nhất định, can thiệp sâu vàohoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986),Việt Nam chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần địnhhướng xã hội chủ nghĩa Thể chế hoá đường lối này, Nhà nước đã ban hànhhàng loạt các văn bản pháp luật thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế tư nhân
và tạo thành khung pháp lý cho sự phát triển của kinh tế tư nhân và là cơ sởcho sự hình thành của doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ty Lúcnày, ĐKKD mới trở thành công cụ cần thiết mà nhà nước quan tâm đến trongviệc quản lý doanh nghiệp Pháp luật về ĐKKD nói chung và ĐKKD về anninh trật tự lúc này mới được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn
LDN tư nhân năm 1990 và Luật Công ty năm 1990 đều đề cập đếnnhững ĐKKD cơ bản Các văn bản này chủ yếu tập trung quy định về điềukiện để thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty Theo đó, nhà đầu tư phảiđáp ứng được yêu cầu về vốn pháp định; yêu cầu về chuyên môn đối vớingười quản lý hoặc người được thuê quản lý, điều hành doanh nghiệp tưnhân, công ty; chủ thể kinh doanh phải xin giấy phép thành lập ở UBND cóthẩm quyền cấp phép theo quy định của Hội đồng bộ trưởng; đối với một sốngành nghề, chủ thể kinh doanh phải được sự cho phép của Chủ tịch Hộiđồng bộ trưởng, như: Khai thác các loại khoáng sản quý; sản xuất và cungứng điện, nước có quy mô lớn; sản xuất các phương tiện phát sóng truyềntin; dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình, xuất bản; vậntải viễn dương và vận tải hàng không; chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhậpkhẩu; du lịch quốc tế
Trang 25Riêng đối với điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự, pháp luật bắtđầu có những quy định để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh riêng đối vớinhóm ngành nghề này Cụ thể, Nghị định 17-CP ngày 23 tháng 12 năm 1992của Chính phủ về việc quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt; Thông tư số03/TT-BNV ngày 27 tháng 3 năm 1993 của Bộ nội vụ hướng dẫn thi hànhNghị định 17-CP; Quyết định 446/QĐ-BNV(C13) ngày 25 tháng 11 năm
1993 của Bộ trưởng Bộ nội vụ ban hành thể lệ quản lý về an ninh trật tự đốivới các ngành nghề kinh doanh đặc biệt Nhìn chung các văn bản này điềuchỉnh về điều kiện kinh doanh đối với những ngành nghề đặc biệt là nhữngnghề mà trong hoạt động kinh doanh có các điều kiện phương tiện liên quannhiều đến bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội Thời kỳ này,pháp luật mới chỉ quy định có 06 (sáu) ngành nghề kinh doanh đặc biệt về
an ninh trật tự bao gồm: Nghề cho thuê nghỉ trọ; nghề khắc con dấu; nghề in
và sao chụp (photocopy); nghề sản xuất, sửa chữa súng săn; sản xuất đạnsúng săn và cho thuê súng săn; nghề kinh doanh có sử dụng đến chất nổ,chất độc mạnh, chất phóng xạ; nghề giải phẫu thẩm mỹ (thay đổi hình dạngđặc điểm con người) Theo quy định của các văn bản pháp luật trên, nếumuốn kinh doanh những ngành nghề đặc biệt này thì ngoài giấy phép xinthành lập doanh nghiệp và giấy chứng nhận kinh doanh thì doanh nghiệp cònphải xin các giấy phép “con” khác như giấy phép kinh doanh, giấy chứngnhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật
tự để làm nghề kinh doanh đặc biệt Đồng thời, trong qúa trình hoạt độngkinh doanh phải chấp hành các quy định về an ninh, trật tự theo sự hướngdẫn, kiểm tra của cơ quan Công an
Như vậy, trong giai đoạn này, các quy định về kinh doanh các ngànhnghề đặc biệt về an ninh trật tự đã được cụ thể hoá và trở thành công cụquan trọng giúp nhà nước quản lý các hoạt động kinh doanh, đảm bảo trật tự
xã hội Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lối tư duy trong nền kinh tế tập trung
Trang 26bao cấp nhiều năm, kinh nghiệm quản lý thành phần tư nhân chưa nhiều nêncác quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh nói chung và điều kiệnkinh doanh các ngành nghề về an ninh trật tự nói riêng trong giai đoạn nàycòn nhiều hạn chế Nhìn chung trong thời gian này, quy định về ĐKKD vẫncòn sơ sài, chung chung, tản mạn ở nhiều quy định trong một văn bản Luật
và chỉ hướng đến việc thành lập doanh nghiệp, chưa trú trọng đến việc kiểmsoát hoạt động của các nhà đầu tư sau đăng ký kinh doanh Các quy địnhđược đặt ra nghiêm ngặt nhưng thực tế là không cần thiết và bất hợp lý, ápdụng tràn lan, không vì mục tiêu bảo vệ trật tự công cộng, lợi ích xã hội vàchủ yếu vì tâm lý mọi hoạt động kinh doanh đều phải được quản lý của cơquan nhà nước
* Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2005:
Để khắc phục hạn chế của Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân,Luật doanh nghiệp năm 1999 được ban hành đã tạo bước ngoặt lớn trongviệc cải cách khung pháp luật về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam,trong đó có các quy định về kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về anninh trật tự Khoản 2 Điều 17 của Luật doanh nghiệp 1999 quy định:
“Doanh nghiệp có quyền hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh Đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh các ngành, nghề đó kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GPKD hoặc có đủ ĐKKD theo quy định” Nghị định số 03/2000/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều
của LDN năm 1999 đã khẳng định rõ ĐKKD được thể hiện dưới hai hìnhthức: GPKD do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; và các ĐKKD khôngcần giấy phép: các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh antoàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàngiao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh
Trang 27Như vậy, với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninhtrật tự thì không cần giấy phép, tuy nhiên vẫn phải đáp ứng các điều kiện vàthủ tục quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm
2001 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một sốngành, nghề kinh doanh có điều kiện; Thông tư số 02/2001/TT-BCA ngày
04 tháng 5 năm 2001 của Bộ Công an hướng dẫn thi thành Nghị định số08/2001/NĐ-CP Theo đó, những ngành nghề kinh doanh có điều kiện về anninh trật tự phải được cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự hoặccam kết thực hiện điều kiện về an ninh trật tự Như vậy, so với thời kỳ trước,giai đoạn này pháp luật đã mở rộng về phạm vi các ngành nghề kinh doanh
có điều kiện về ANTT Cụ thể, Thông tư số 02/2001/TT-BCA đã nâng sốngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT từ 06 ngành lên thành 13ngành Theo đó, nhóm những ngành, nghề kinh doanh có Giấy xác nhận đủđiều kiện về ANTT bao gồm 07 ngành là: nghề khắc dấu; nghề sản xuất,kinh doanh, sửa chữa cho thuê súng săn, sản xuất và kinh doanh đạn súngsăn (bao gồm cả súng hơi và đạn súng hơi); Nghề sản xuất, kinh doanh vậtliệu nổ công nghiệp; Nghề sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ côngnghiệp; Nghề kinh doanh khí đốt, chất lỏng dễ cháy; Kinh doanh các toà nhàcao từ 11 tầng trở lên dùng làm khách sạn, nhà ở, văn phòng làm việc Nhómnhững ngành, nghề kinh doanh phải cam kết thực hiện các quy định, điềukiện về ANTT gồm 06 ngành bao gồm: kinh doanh lưu trú; hoạt động in;dịch vụ cầm đồ; kinh doanh karaoke; kinh doanh vũ trường; kinh doanh xoabóp massage)
Nhìn chung, xu hướng của pháp luật là đơn giản hóa điều kiện thànhlập doanh nghiệp, tăng cường kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp sauđăng kí kinh doanh Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, quy định về điềukiện kinh doanh về an ninh trật tự trong giai đoạn này vẫn có những bất cậpnhất định, chưa đưa ra được cách hiểu thống nhất về điều kiện kinh doanh,
Trang 28chỉ đưa ra quy định chung, số lượng các ngành nghề kinh doanh có điều kiện
về ANTT ngày càng nhiều, do vậy tạo đà cho hàng loạt các vấn nạn sáchnhiễu, phiền hà từ phía cơ quan công quyền đối với doanh nghiệp
* Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014:
LDN năm 2005 ra đời thay thế LDN năm 1999, vẫn tiếp tục duy trìnhững nội dung cơ bản về điều kiện kinh doanh Tuy nhiên, trong văn bảnpháp luật này, các nhà lập pháp đã đưa ra được định nghĩa thế nào là điềukiện kinh doanh và chỉ rõ các hình thức tồn tại của điều kiện kinh doanh.Theo đó, điều kiện kinh doanh không chỉ bó hẹp trong phạm vi “cho phép”
và “không cần giấy phép” mà nó đã được mở rộng ra thành các “chấp thuận”
và “không cần sự chấp thuận” của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thời kỳ này các quy định của pháp luật về các ngành nghề kinh doanh
có điều kiện không được quy định thống nhất ở một văn bản mà được quyđịnh tản mát ở rất nhiều văn bản khác nhau Chẳng hạn như đối với hoạtđộng kinh doanh lữ hành nội địa cần phải có giấy chứng nhận đủ điều kiệnkinh doanh lữ hành nội địa quy định ở Luật du lịch; đối với hoạt động khaithác và sử dụng nước biển cần phải có Giấy phép khai thác, sử dụng nướcbiển quy định tại Luật tài nguyên nước; đối với việc thành lập và hoạt độngngân hàng thương mại cổ phần cần Giấy phép quy định tại Luật ngân hàngnhà nước Chính điều đó dẫn đến thực tế là có khoảng 386 ngành, nghềkinh doanh có điều kiện được quy định phân tán tại 391 văn bản pháp luật,bao gồm 56 luật, 8 Pháp lệnh, 115 Nghị định, 176 Thông tư, 26 Quyết địnhcủa các Bộ trưởng và 2 văn bản của Bộ Các điều kiện kinh doanh được thểhiện đa dạng dưới nhiều hình thức như giấy phép, giấy chứng nhận đủ điềukiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định, giấy đăng
ký, chấp thuận Phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy định dưới hìnhthức giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh Cụ thể: (1)
Có 110 ngành nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy
Trang 29phép kinh doanh; (2) Có 83 ngành nghề yêu cầu phải có giấy chứng nhận đủđiều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứng nhận; (3) Có 44 loại ngànhnghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng chỉ hành nghề; (4) Có
11 ngành nghề yêu cầu vốn pháp định; (5) Có 345 ngành nghề yêu cầu phải
có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền4 Đây là loại điều kiệnkinh doanh dễ phát sinh tiêu cực trong quá trình xin cấp phép, cấp chứngnhận
Đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiều về ANTT, nhằmtriển khai các quy định của LDN năm 2005 và khắc phục những hạn chế củacác văn bản pháp luật quy định về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện
về an ninh trật tự trước đây, các văn bản mới được ban hành Cụ thể, Nghịđịnh 72/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy địnhđiều kiện về an ninh trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điềukiện; Thông tư số 33/2010/TT- BCA ngày 05 tháng 10 năm 2010 của Bộcông an quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngànhnghề kinh doanh có điều kiện Ngoài ra, điều kiện kinh doanh về an ninh trật
tự còn được quy định tại các văn bản chuyên ngành quy định về điều kiệnkinh doanh đặc trưng tương ứng với ngành nghề thuộc đối tượng điều chỉnhcủa văn bản pháp luật đó Cụ thể, Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày
30 tháng 6 năm 2011 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về quản lý,
sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Nghị định số 25/2012/NĐ-CPngày 05 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ;Thông tư số 30/2012/TT-BCA ngày 29 tháng 5 năm 2012 của Bộ công anquy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũkhí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Nghị định quy định chi tiết thi hành một
số điều của Pháp lệnh Những quy định này đã góp phần tạo ra cơ sở pháp
4http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=68.
Trang 30lý cho các chủ thể áp dụng trên thực tiễn, không còn mờ mịt, phụ thuộc vào
sự giải thích của nhiều cơ quan địa phương như trước đây Tuy nhiên, thựctrạng pháp luật về kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tựvẫn còn nhiều tồn tại hạn chế cần tiếp tục được nghiên cứu, khắc phục, đápứng yêu cầu bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân và yêu cầu hộinhập của đất nước
* Giai đoạn từ khi Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 có
hiệu lực đến nay:
Để khắc phục những hạn chế của Luật doanh nghiệp 2005 và đáp ứngyêu cầu cải cách để hội nhập quốc tế, Luật doanh nghiệp 2014 đã ra đời.Cùng với Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục
kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sốngcủa Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sungnhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật cũ, tiếptục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệquốc tế Hiện nay, Luật Đầu tư năm 2014 là văn bản quy định về kinh doanhngành nghề có điều kiện, cụ thể gồm 267 ngành nghề (có danh mục cụ thểquy định tại phụ lục 2 của Luật) Theo những quy định mới này, nhiềungành nghề trước đây bị cấm kinh doanh thì nay được quy định tại danh mụcngành nghề kinh doanh có điều kiện (ví dụ: kinh doanh pháo, quân trang,quân dụng…), tức là được kinh doanh khi đáp ứng được các điều kiện phápluật quy định Để tránh nguy cơ tuỳ tiện đặt ra điều kiện kinh doanh mới chonhững ngành nghề kinh doanh, Luật Đầu tư năm 2014 cũng quy định rõthẩm quyền quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại Điều 7 của
Luật Đầu tư năm 2014: “Điều kiện đầu tư kinh doanh … được quy định tại
các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban
Trang 31hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh” “Căn cứ điều kiện kinh tế
-xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ rà soát các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung” (Điều 8 của Luật
Đầu tư năm 2014) Điều kiện đầu tư kinh doanh được quy định phải bảo đảmcông khai, minh bạch, khách quan, tiết kiệm thời gian, chi phí tuân thủ củanhà đầu tư Chính phủ quy định chi tiết việc công bố và kiểm soát điều kiệnđầu tư kinh doanh
Những quy định này đã hiện thực hoá quyền tự do kinh doanh tất cảngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp năm 2013,song cũng đang đặt ra những nhiệm vụ mới cho việc hoàn thiện pháp luật vềkinh doanh ngành nghề có điều kiện ở Việt Nam hiện nay
1.2.2 Nội dung tổng quát của pháp luật về kinh doanh có điều kiện
về an ninh trật tự
Với tư cách là một bộ phận của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật
về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự có nhiệm vụ là phải điều chỉnhmột cách đầy đủ, toàn diện các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thànhlập, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó kinhdoanh ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự Pháp luật về điều kiệnkinh doanh về an ninh trật tự không có quy định chung trong một văn bản
mà tồn tại ở nhiều văn bản luật chuyên ngành khác nhau và có sự thay đổiphụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội Nhìn chung, phápluật về kinh doanh ngành nghề có điều kiện ở Việt Nam sẽ bao gồm nhữngnội dung cơ bản sau:
- Quy định về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự;
- Quy định điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự và các hình thứccủa điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự;
- Quy định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh
Trang 32về an ninh trật tự;
- Quy định về quản lý nhà nước đối với điều kiện kinh doanh về anninh trật tự Cụ thể sẽ xác định thẩm quyền đặt ra các quy định về điều kiệnkinh doanh về an ninh trật tự; thẩm quyền, trách nhiệm cấp, hoặc xác nhậncác điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự; thẩm quyền xem xét, kiểm tra và
xử lý các vi phạm điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự
1.2.3 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
Điều kiện kinh doanh là những yêu cầu nhà nước đặt ra buộc các chủthể kinh doanh phải đáp ứng được khi thực hiện kinh doanh trong nhữngngành nghề kinh doanh có điều kiện Đây được coi là công cụ quản lý nềnkinh tế, là nội dung không thể thiếu ở mọi quốc gia trên thế giới Mỗi quốcgia đều có những quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh phù hợp với yêucầu quản lý kinh tế và môi trường pháp lý riêng của quốc gia mình
* Pháp luật về điều kiện kinh doanh của Trung Quốc 5
Tại Trung Quốc, các quy định về điều kiện kinh doanh được nhà nướcnày quan tâm rất sát sao, đưa ra nhiều quy định phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội tại các đạo Luật có hiệu lực cao như: Luật Công ty năm 2005, LuậtCấp phép kinh doanh năm 2004 và các đạo luật chuyên ngành khác Nhìnchung các điều kiện kinh doanh ở Trung Quốc cũng thể hiện ở hình thức vănbản chấp thuận hay điều kiện kinh doanh không cần văn bản chấp thuận của
cơ quan có thẩm quyền DN tại Trung Quốc phải đáp ứng những điều kiệnkinh doanh cả trước khi đăng ký thành lập DN và cả sau khi DN đi vào hoạtđộng Khi thực hiện đăng ký thành lập DN, chủ thể kinh doanh phải xin chấpthuận của cơ quan nhà nước về:
- Tên của DN: Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, bước đầutiên để bắt đầu một DN ở quốc gia này là việc chọn tên cho DN Chủ thể
5 Xem Measuring Besiness Regulations, Doing business in China,
http://www.doingbusiness.org/law-library/china (truy cập lần cuối ngày 14/7/2018).
Trang 33kinh doanh phải nộp đơn xin chấp thuận của Cục quản lý Công nghiệp vàThương mại địa phương (AIC) về tên DN Chỉ khi được cơ quan này có vănbản chấp nhận tên DN thì chủ thể kinh doanh đó mới được tiến hành cáchành vi đăng ký kinh doanh tiếp theo.
- Vốn pháp định: Pháp luật Trung Quốc yêu cầu DN muốn được khaisinh và công nhận sự ra đời một cách hợp pháp thì phải đáp ứng yêu cầu vềvốn tối thiểu theo từng loại hình công ty Theo Luật Công ty năm 2005 củaTrung Quốc, để thành lập một công ty TNHH 1 thành viên, DN phải có ítnhất 100.000 nhân dân tệ, để thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên,
DN phải có ít nhất 30.000 nhân dân tệ và thành lập công ty cổ phần DN phải
có ít nhất 5.000.000 nhân dân tệ
Theo quy định này, DN sau khi được sự chấp thuận của AIC về tên
DN, sẽ chủ động mở tài khoản ngân hàng, nộp tiền góp vốn ban đầu vào tàikhoản đó và yêu cầu ngân hàng xác nhận Nếu việc góp vốn ban đầu khôngbằng tiền mặt, mà bằng tài sản thì chủ thể góp vốn phải thực hiện chuyểnquyền sở hữu tài sản cho công ty và giá trị tài sản phải được thẩm định mộtcách hợp pháp Trong một số trường hợp DN phải có báo cáo thẩm tra vốn
từ cơ quan kiểm toán Đây là tài liệu không thể thiếu trong hồ sơ đăng ký
DN Vốn pháp định ở Trung Quốc không nhất thiết phải góp đủ ở thời điểmđăng ký DN mà có thời gian tối đa để thực hiện việc góp vốn này
Khi thực hiện hoạt động kinh doanh, DN trong một số trường hợp nhấtđịnh phải xin phép hoạt động với cơ quan chuyên ngành quản lý lĩnh vực mà
DN đó kinh doanh Đầu tiên phải kể đến hệ thống cấp phép, bao gồm:
- GPKD tạm thời: Đây là giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấptrong thời gian DN chờ đợi góp đầy đủ vốn pháp định Vốn pháp định đượcgóp đầy đủ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, khi DN đã đủ vốnpháp định, thời gian ở GPKD sẽ được điều chỉnh theo thời gian hoạt độngthực tế của DN
Trang 34- GPKD bắt buộc: Đây là yêu cầu bắt buộc phải có ở Trung Quốc gắnliền với một số ngành nghề nhất định như: xuất nhập khẩu, sản xuất, kinhdoanh thuốc, khám chữa bệnh… Thông thường mục đích của việc cấpGPKD là để chứng nhận DN được thành lập hợp pháp, quy định thời gianđược phép kinh doanh, phạm vi kinh doanh của DN Theo đánh giá củanhiều nhà nghiên cứu, việc cấp GPKD ở Trung Quốc rất phức tạp, cần đápứng rất nhiều yêu cầu và đối với các nhà đầu tư nước ngoài việc cấp phépkinh doanh sẽ khó khăn hơn nhà đầu tư trong nước Ngoài ra, khi thực hiệnhoạt động kinh doanh, DN ở Trung Quốc còn phải thông qua nhiều sự chấpthuận khác của cơ quan có thẩm quyền.
* Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Mỹ 6
Mỹ là một quốc gia cộng hòa lập hiến liên bang, gồm có 50 bang vàmột đặc khu liên bang Hệ thống pháp luật của Mỹ bao gồm hệ thống phápluật liên bang, hệ thống pháp luật bang Do đó, khi thực hiện hoạt động kinhdoanh của quốc gia này, DN phải tuân thủ một loạt các quy định của địaphương, tiểu bang và của liên bang
Pháp luật DN Mỹ cũng có những quy định về điều kiện kinh doanhgắn liền với loại hình DN hoặc một số loại ngành nghề nhất định Đa số cácnhà nghiên cứu đều đánh giá rằng, việc bắt đầu một DN ở Mỹ tương đối dễdàng vì những quy định rất đơn giản, gọn nhẹ về thủ tục đăng ký kinhdoanh Bên cạnh hệ thống đăng ký kinh doanh, nhà nước thiết lập cơ chế xingiấy phép và chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền rất rõ ràng và cụ thể đểkiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các DN
Ở Mỹ có hai hệ thống cấp phép: Giấy phép và sự chấp thuận của Liênbang; Giấy phép và sự chấp thuận của tiểu bang Hai hệ thống này song songtồn tại và chi phối đến hoạt động kinh doanh của DN Đầu tiên bản thân DN
6 Xem The U.S Small Business Administration, Obtain Business Licenses & Permits,
business/obtain-business-licenses(truy cập lần cuối ngày 14/7/2018).
Trang 35http://www.sba.gov/category/navigation-structure/startingmanaging-business/starting-đó phải đáp ứng được các yêu cầu để xin phép kinh doanh tại địa phương,tiểu bang – nơi mà DN có trụ sở Nếu như DN đó kinh doanh lĩnh vực,ngành nghề có sự kiểm soát của liên bang thì DN chỉ được thực hiện hoạtđộng kinh doanh đó khi được chính quyền liên bang chấp thuận hoặc cấpgiấy phép kinh doanh (GPKD) Có thể kể đến một số ngành nghề cơ bản ở
Mỹ mà DN phải xin giấy phép của Liên bang như:
- Nếu DN nhập hoặc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật, sinhhọc, công nghệ sinh học hoặc có nhà máy trên khắp các bang, họ sẽ phải xingiấy phép từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA)
- DN có các hoạt động liên quan đến tàu bay; việc vận chuyển hànghoá, người qua đường hàng không sẽ cần phải áp dụng cho một hoặc nhiềugiấy phép từ Cục Hàng không Liên bang
- Các DN sản xuất, thỏa thuận và nhập khẩu vũ khí, đạn dược, vật liệu
nổ phải tuân thủ các yêu cầu cấp phép của Đạo Luật kiểm soát vũ khí Đạo luậtnày được quản lý bởi Cục quản lý Rượu, thuốc lá, súng và chất nổ (ATF)
- DN tham gia vào bất kỳ hoạt động liên quan đến động vật hoang dã,bao gồm cả việc nhập khẩu/xuất khẩu động vật hoang dã và các sản phẩm pháisinh, phải có một giấy phép từ cơ quan quản lý Động vật hoang dã Hoa Kỳ
- DN sản xuất năng lượng hạt nhân cũng như các DN tham gia vàoviệc phân phối và xử lý vật liệu hạt nhân phải xin giấy phép từ Ủy ban Điềutiết hạt nhân Mỹ
Còn nhiều ngành nghề khác mà khi thực hiện hoạt động kinh doanh
DN phải xin phép cơ quan quản lý chuyên ngành liên bang như: khai thácthủy sản, phát thanh truyền hình, khai thác mỏ, kinh doanh vận tải hàng hải,giao thông vận tải và hậu cần… Đây là những ngành nghề mà sức ảnhhưởng từ bản chất của hoạt động kinh doanh hay quy mô của DN không chỉ
bó hẹp trong phạm vi một bang mà cần phải có sự kiểm soát của liên bang
để đảm bảo an toàn và an ninh cho nền kinh tế
Trang 36Bên cạnh đó, mỗi một địa phương, tiểu bang lại có quy định khácnhau về việc cấp giấy phép và cho phép kinh doanh đối với DN, tùy thuộcvào điều kiện kinh tế xã hội và chính sách của các nhà cầm quyền Có nhữngđịa phương đòi hỏi DN phải có giấy phép chung, có những nơi quy định giấyphép theo ngành nghề kinh doanh, có những nơi quy định giấy phép theoloại hình DN Ví dụ: Ở bang Columbia, hầu hết các cá nhân và các công tykinh doanh tại Quận Columbia phải có GPKD cơ bản của DCRA - Cơ quanquản lý chung của quận, đảm bảo phúc lợi sức khỏe, an toàn và kinh tế củangười dân thông qua chương trình cấp phép, kiểm tra, tuân thủ và thực thipháp luật Ngoài ra, Sở Y tế (DHO) phát hành giấy phép chuyên ngành nhấtđịnh, Bộ Giao thông vận tải quận (DDOT) quy định không gian công cộng
và Văn phòng Phân vùng (DCOZ) kiểm soát sử dụng đất
Bên cạnh GPKD cấp cho DN, Mỹ cũng tồn tại cơ chế cấp phép cho cánhân thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến năng lực, chuyên môncủa cá nhân này nhằm bảo đảm lợi ích công cộng Rất nhiều ngành nghề ở
Mỹ chịu sự kiểm soát của các cơ quan quản lý Sự kiểm soát này thể hiện ở
3 hình thức:
- Cấp phép: Đây là cơ chế bắt buộc đối với một số ngành nghề, chỉ khi
có được giấy phép hành nghề này thì cá nhân mới được phép hoạt động trênthực tế (nếu không có mà vẫn thực hiện hoạt động nghề nghiệp đồng nghĩavới việc đã vi phạm pháp luật) Để có được giấy phép hành nghề này, cánhân đó phải đáp ứng những quy định, tiêu chuẩn của các cơ quan có thẩmquyền, ví dụ như: bác sỹ, luật sư, y tá
- Cấp giấy chứng nhận: Việc cấp giấy chứng nhận được đặt ra khi hoạtđộng đó không có trong giới hạn của ngành nghề được cấp giấy phép, chủthể thực hiện có thể tự nguyện xin xác nhận là có chuyên môn liên quan đếnlĩnh vực này từ các cơ quan có thẩm quyền mà nhà nước chỉ định Ví dụ
Trang 37như: chứng nhận là nhà phân tích tài chính, chứng nhận bác sỹ có chuyênkhoa hô hấp…
- Đăng ký: Các cơ quan có thẩm quyền sẽ lập một danh sách, cung cấpnhững điều kiện nhất định để được có tên trong danh sách này, sau đó cácchủ thể có nhu cầu đăng ký tên và địa chỉ, trình độ với các cơ quan quản lý.Chỉ cần có khiếu nại của người tiêu dùng (khách hàng), hoặc việc thực hiệnniêm yết công khai thông tin chưa đúng thì chủ thể đó có thể bị loại ra khỏidanh sách này Điều đó đồng nghĩa với việc tiếp tục thực hiện kinh doanh sẽ
* Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Singapore 7
Pháp luật DN của Singapore chịu ảnh hưởng nhiều của pháp luật Anh(trừ những nội dung mang tính địa phương) và được đánh giá có nhiều điểmtiến bộ đem lại hiệu quả hiệu chỉnh cao đối với hoạt động kinh doanh củacác DN trong và ngoài nước Chủ thể khi muốn thành lập DN thì nộp hồ sơthông báo đến cơ quan có thẩm quyền về đăng ký kinh doanh, đó là Cơ quanquản lý kế toán và DN của Singapore (ACRA) Thủ tục này có thể đượcthực hiện hoàn toàn qua hệ thống đăng ký trực tuyến của ACRA
Cũng như nhiều nước trên thế giới, để thực hiện việc đảm bảo lợi íchnền kinh tế và yêu cầu của quá trình quản lý nhà nước, bên cạnh cơ chế đăng
ký thành lập, Singapore đặt ra quy định về điều kiện kinh doanh trong một
số những ngành nghề nhất định ví dụ: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụkhám chữa bệnh, Giao thông vận tải và lưu trữ, xuất nhập khẩu hàng hóa,kinh doanh khách sạn, nhà trọ, hoạt động trong ngành giải trí… Theo pháp
7 Xem Serving Singapore’s Business Community, starting your business,
http://www.enterpriseone.gov.sg (truy cập lần cuối ngày 14/7/2018).
Trang 38luật Singapore, để có thể đăng ký kinh doanh hoặc thực hiện kinh doanhtrong một số ngành nghề cụ thể, DN phải được cấp giấy phép hoặc được sựcho phép của cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, tại Singapore có 3 loại giấy phép phổ biến, đó là:
- Giấy phép bắt buộc: Đây là loại giấy phép cấp cho DN kinh doanhnhưng không phải tất cả các DN mà chỉ một số loại hình DN nhất định đòihỏi phải có giấy phép đặc biệt này trước khi họ có thể hoạt động Ví dụ như:Trường tư, các công ty sản xuất video, công ty du lịch, các nhà phân phốirượu, người cho vay, các ngân hàng và các trung tâm chăm sóc trẻ em…Chủ thể kinh doanh sẽ cần phải có giấy phép này khi đăng ký kinh doanh vớiACRA
Hay nói cách khác, DN phải có giấy phép này thì mới được đăng kýkinh doanh Trong trường hợp này, có thể mất từ 14 ngày đến 2 tháng để cóđược tất cả các giấy phép cần thiết, sự cho phép và phê duyệt để lập thành
DN Điều đặc biệt, pháp luật Singapore tạo điều kiện tiết kiệm thời gian vàtiền bạc cho các chủ thể kinh doanh bằng cách cho phép họ có thể đăng kýkinh doanh và nộp đơn xin giấy phép bắt buộc cùng một lúc bằng cách sửdụng dịch vụ cấp GPKD trực tuyến (OBLS)
- Giấy phép nghề nghiệp: Một DN muốn hoạt động trong lĩnh vựccung cấp dịch vụ chuyên nghiệp (ví dụ như: dịch vụ khám chữa bệnh, dịch
vụ pháp lý…), phải có giấy phép nghề nghiệp Loại giấy phép này khôngcấp cho DN mà cấp cho cá nhân là người quản lý DN hoặc các nhân viêncủa DN đó Những ngành phổ biến, yêu cầu phải có giấy phép nghề nghiệp ởSingapore đó là: bác sỹ, luật sư, kiến trúc sư, kế toán… Giấy phép này sẽđược cấp bởi các tổ chức nghề nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lýtương ứng
- Giấy phép hoạt động kinh doanh: Sau khi được thành lập, đi vàohoạt động, DN phải thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như: cải tạo, dựng
Trang 39biển quảng cáo trên cơ sở của DN, thuê lao động nước ngoài, xuất khẩu,nhập khẩu sản phẩm, buôn bán những hàng hóa bị kiểm soát như rượu, thuốclá… DN chỉ được thực hiện hoạt động đó khi được cấp giấy phép hoặc được
sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ví dụ: Khi DN thựchiện hoạt động xuất, nhập khẩu, bắt buộc phải xin giấy phép xuất khẩu, nhậpkhẩu qua TradeNet - trang thông tin quản lý của Hải quan Singapore Họ sẽphải kích hoạt tài khoản hải quan của mình trước khi xuất khẩu, nhập khẩuhàng hóa Hoặc khi DN muốn thực hiện hoạt động quảng cáo, nếu như làquảng cáo ngoài trời thì cần phải xin giấy phép xây dựng của Cơ quan quản
lý xây dựng BCA; nếu là quảng cáo các sản phẩm y tế thì cần phải xin giấyphép của Cơ quan khoa học y tế HAS…
Các điều kiện kinh doanh đều được Chính phủ Singapore công khaitrên các trang thông tin điện tử chính thức, các DN có thể sử dụng dịch vụcấp phép EnterpriseOne kinh doanh trực tuyến (OBLS) để thực hiện việc xinnhững giấy phép cần thiết trong thành lập và hoạt động Điều này rất hữuích, các DN không phải mất thời gian để đến trực tiếp gặp các cơ quan cóthẩm quyền
1.2.4 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Ở Việt Nam, quy định về điều kiện kinh doanh cũng đã có nhiều thayđổi với sự ra đời của Luật DN năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 Toàn bộyêu cầu về điều kiện kinh doanh được đưa về khâu hậu kiểm thay vì phảiđáp ứng ngay từ khi thành lập DN như trước đây Số lượng các ngành nghềkinh doanh có điều kiện cũng đã giảm xuống đáng kể, nhưng những nộidung về điều kiện kinh doanh vẫn cần có nhiều sửa đổi cho phù hợp với yêucầu quản lý và hoạt động kinh doanh thương mại Việc tìm hiểu pháp luật vềđiều kiện kinh doanh của các quốc gia trên thế giới là rất cần thiết để có thểrút ra bài học kinh nghiệm đáng quý trong quá trình xây dựng pháp luật vềnội dung này ở Việt Nam
Trang 40Thứ nhất, cần phải học tập các quốc gia khác trên thế giới thiết lập
cổng thông tin điện tử cung cấp toàn bộ các nội dung liên quan đến điều kiệnkinh doanh cho các chủ thể kinh doanh Mặc dù Luật Đầu tư năm 2014 đãđưa ra danh sách các ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhưng các điềukiện kinh doanh đó là gì thì lại được quy định rải rác trong rất nhiều các vănbản khiến các chủ thể kinh doanh khó có thể tra cứu xem mình phải đáp ứnggây ra mất thời gian, đồng thời gây khó khăn cho phía cơ quan quản lý Vớitiến bộ về khoa học kỹ thuật, việc thiết lập quản lý điều kiện kinh doanh quamạng điện tử là một việc rất cần thiết và thiết nghĩ sẽ mang lại hiệu quảquản lý cao
Thứ hai, xem xét, học tập và xây dựng cơ chế về điều kiện kinh doanh
cho cá nhân ở Việt Nam Vì hiện nay, các cá nhân thực hiện hoạt động kinhdoanh ở Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ hành nghề khi kinhdoanh trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhưng cơ chế đào tạo
và cấp chứng chỉ hành nghề ở Việt Nam hiện nay rất nặng về hình thức vàkhông được quản lý chặt chẽ Cần thiết phải đặt ra cơ chế cấp phép chặt chẽhơn đối với cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh để họ có tráchnhiệm hơn với nghề nghiệp mà mình thực hiện
Thứ ba, phải xác định rõ căn cứ thiết lập các điều kiện kinh doanh.
Thực tế, các điều kiện kinh doanh chỉ được đặt ra khi thực sự cần thiết đểbảo vệ nền kinh tế và an ninh xã hội Ở các quốc gia đã trình bày ở trên, đặcbiệt là ở Mỹ, có rất nhiều các điều kiện kinh doanh nhưng đều đưa ra đượccăn cứ thật cần thiết để thiết lập điều kiện kinh doanh và quy định cụ thểviệc quản lý nó như thế nào
Ở Việt Nam, việc đưa ra căn cứ thiết lập điều kiện kinh doanh cònchưa thực hiện được Theo Luật Đầu tư năm 2014, Việt Nam có 243 ngànhnghề kinh doanh có điều kiện, việc xác định vì sao các ngành nghề này phảiđáp ứng điều kiện mà pháp luật đặt ra và những điều kiện đó cụ thể là gì sẽ