1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và NHU cầu đào tạo NGUỒN NHÂN lực y tế CÔNG LẬPTỈNH cà MAU năm 2016

69 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 597,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘILÊ THỊ THƯ THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ CÔNG LẬP TỈNH CÀ MAU NĂM 2016 Chuyên ngành : Bác sỹ y học dự phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ THỊ THƯ

THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO

NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ CÔNG LẬP TỈNH CÀ MAU

NĂM 2016

Chuyên ngành : Bác sỹ y học dự phòng

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Trần Như Nguyên

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Trải qua suốt thời gian học tập tại trường và nghiên cứu tại trường đạihọc Y Hà Nội, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm

ơn tới:

Thầy giáo, Phó giáo sư – Tiến sỹ Trần Như Nguyên bộ môn Sức khỏenghề nghiệp – Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng đã tận tìnhhướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận này

Ban lãnh đạo và phòng đào tạo của Viện đào tạo Y học dự phòng – Y tếcông cộng đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành khóa luận

Các thầy cô trong bộ môn Sức khỏe nghề nghiệp – Viện đào tạo Y học

dự phòng và Y tế công cộng đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốtthời gian học tập, rèn luyện tại nhà trường và đã đóng góp nhiều ý kiến quýbáu cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi họctập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cha, mẹ, anh chị em và bạn bè

đã luôn giúp đỡ, động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện giúp tôi học tập

Tôi xin ghi nhận những tình cảm quý báu và công lao to lớn đó

Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2017

Lê Thị Thư

Trang 4

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:

 Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội

 Phòng quản lý đào tạo Đại học, phòng Công tác Học sinh- Sinh viên trường Đại học Y Hà Nội

 Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng trường Đại học Y Hà Nội

 Bộ môn Sức khỏe nghề nghiệp trường Đại học Y Hà Nội

 Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp năm 2016- 2017

Tôi xin cam đoan đề tài “Thực trạng và nhu cầu đào tạo nguồn nhân

lực y tế công lập tỉnh Cà Mau năm 2016” là đề tài do tôi tự thực hiện.

Các số liệu trong bản khóa luận này là hoàn toàn trung thực, chưa đượccông bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2017

Ký tên

Lê Thị Thư

Trang 5

ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm

SK- LĐ- MT Sức khỏe- Lao động- Môi trường

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm nhân lực y tế 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ thống y tế 4

1.2 Tình hình chung nhân lực y tế trên thế giới và việt nam 5

1.2.1 Tình hình nhân lực y tế thế giới 5

1.2.2 Tình hình nhân lực y tế tại Việt Nam 8

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Địa điểm nghiên cứu 22

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 23

2.3 Thời gian nghiên cứu 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu 24

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu trong nghiên cứu 24

2.4.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu, phương pháp và công cụ thu thập thông tin 25

2.4.4 Thu thập số liệu 27

2.4.5 Sai số và cách khắc phục sai số trong nghiên cứu 27

2.5 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 28

2.6 Đạo đức nghiên cứu 28

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Tình hình tổ chức và nhân lực y tế tỉnh Cà Mau năm 2016 29

Trang 7

3.1.2 Nhân lực y tế 32

3.2 Nhu cầu nhân lực y tế công lập tỉnh Cà Mau năm 2016 39

3.3 Những lý do của việc nhân lực y tế thiếu về số lượng và yếu chất lượng:.41 Chương 4: BÀN LUẬN 44

4.1 Thực trạng nhân lực y tế công lập tỉnh Cà Mau 2016 44

4.2 Nhu cầu đào tạo nhân lực y tế công lập tỉnh Cà Mau năm 2016 51

KẾT LUẬN 54

KHUYẾN NGHỊ 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 2.1: Biến số, chỉ số nghiên cứu và công cụ thu thập số liệu 25

Bảng 3.1: Tổ chức mạng lưới cơ sở y tế tỉnh Cà Mau năm 2016 29

Bảng 3.2 Phân bố độ tuổi nhân viên y tế theo tuyến ngành y tế tỉnh Cà Mau năm 2016 32

Bảng 3.3 Phân loại cơ cấu chức danh chuyên môn nhân viên y tế theo giới 34

Bảng 3.4 Phân loại cơ cấu chức danh chuyên môn nhân viên y tế theo tuyến 34

Bảng 3.5 Phân bố cán bộ y tế /vạn dân ngành y tế tỉnh Cà Mau năm 2016 35

Bảng 3.6: Phân bố tỷ số điều dưỡng, hộ sinh, bác sỹ 36

Bảng 3.7 Cơ cấu theo bậc học của bác sỹ và y tế công cộng 36

Bảng 3.8 Cơ cấu dược sỹ theo bậc học 37

Bảng 3.9 Cơ cấu theo bậc học của điều dưỡng và hộ sinh 37

Bảng 3.10 Cơ cấu theo bậc học của KTV y học và các ngành khác 38

Bảng 3.11 Biến động nhân lực lao động 38

Bảng 3.12 Khảo sát nhu cầu y tế bậc đại học 39

Bảng 3.13: Nhu cầu nhân lực y tế bậc sau đại học hệ thực hành 40

Bảng 3.14: Nhu cầu nhân lực y tế sau đại học hệ nghiên cứu 40

Trang 9

Biểu đồ3.1: Phân bố giới tính nam, nữ nhân viên y tế theo tuyến 33 Biểu đồ 3.2 Phân bố CBYT dân tộc theo tuyến 35

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay khôngthành công trong phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, do vậy tất cả các nướctrên thế giới luôn quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực [1] Theo tổ chức y

tế thế giới (WHO) nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho mọi thành tự y tế [2]

Ở quy mô toàn cầu, nguồn NLYT đang có một sự thiếu hụt nghiêmtrọng Theo ước tính của WHO có 57/192 quốc gia thiếu hụt NVYT ViệtNam không chỉ thiếu hụt nguồn NLYT mà còn có sự phân bố nhân lực khôngđều giữa các vùng miền và ở nhiều bệnh viện trong cả nước [3]

Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, đời sống nhân dâncòn gặp nhiều khó khăn, mức sống còn thấp so với các nước trong khu vực vàtrên thế giới.Trong những năm gần đây, nền kinh tế đang hội nhập để pháttriển, sự du nhập của hàng hóa, dịch vụ và con người, kết hợp với sự biến đổikhí hậu đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các mầm bện, dịchbệnh Bên cạnh đó, cuộc sống xã hội năng động hơn tạo áp lực lớn làm giatăng các bệnh về sức khỏe tâm thần, các bệnh mạn tính…Tất cả những điều

đó đã và đang gây áp lực nặng nề cho ngành y tế Hiện nay, các bệnh việncông của nhà nước, nguồn NLYT công lập thiếu cả về số lượng và chất lượng Đội ngũ cán bộ y tế giỏi có trình độ chuyên môn tập trung chủ yếu ở cácbệnh viện lớn và trung tâm của cả nước [3]

Cà Mau là một tỉnh ven biển cực nam của Việt Nam, thuộc khu vựcđồng bằng sông Cửu Long Đường biển của Cà Mau dài nhất Việt Nam gần

254 km, trong đó có 107 km bờ Biển Đông và 147 km bờ biển Tây Biển CàMau tiếp giáp với vùng biển các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và

là trung tâm của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á Tỉnh Cà Mau mang đặc

Trang 11

trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với nền nhiệt độ cao vàoloại trung bình trong tất cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Khí hậu CàMau được chia thành 2 mùa là mùa mưa và mùa khô [4] Tại tỉnh CàMau,công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân những năm gần đây cóbước phát triển tích cực, cơ sở vật chất phục vụ công tác khám, chữa bệnhđược các cấp quan tâm đầu tư nâng cấp và mở rộng [5]

Do vậy, việc nghiên cứu đặc điểm nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạonguồn NLYT của tỉnh Cà Mau là một điều cần thiết Dựa vào kết quả nghiêncứu này sẽ giúp cho việc đánh giá cơ cấu tổ chức nhân lực, phân bố và hoạtđộng hệ thống nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Cà Mau, cũng như nhu cầu đàotạo thêm của ngành y tế tỉnh Từ đó tiếp tục đề ra các phương hướng, giảipháp mang tính khoa học để tiếp tục công tác nâng cao sức khỏe nhân dân

Từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu :

“Thực trạng và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực y tế công lập tỉnh Cà Mau năm 2016”

Với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng nguồn nhân lực y tế công lập tại tỉnh Cà Mau năm 2016

2 Khảo sát nhu cầu đào tạo nhân lực y tế công lập tỉnh Cà Mau năm 2016.

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái niệm nhân lực y tế

1.1.1 Khái niệm

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức ( với quy

mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vàoquá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốcgia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về ngồn nhân lực xuất phát từ quan niệmcoi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nênnăng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức [1]

Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cảnhững người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nâng cao sức khỏe” theo

đó, nhân lực y tế bao gồm tất cả những người cung cấp dịch vụ y tế, ngườilàm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấpcác dịch vụ y tế Nó bao gồm cán bộ y tế( CBYT) chính thức và cán bộ khôngchính thức ( như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe giađình, lang y…); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong nhữngngành khác ( như quân đội , trường học hay các doanh nghiệp) [1] [6]

Theo báo cáo y tế Việt Nam năm 2006, nhân lực y tế có những thànhphần sau :

 Bậc nghề gồm: Điều dưỡng sơ học, hộ sinh sơ học, dược tá, côngnhân dược, công nhân kĩ thuật y tế

 Bậc trung học gồm: Y sĩ đa khoa và Y sĩ y học cổ truyền, dược sĩtrung học, điều dưỡng trung học , hộ sinh trung học, KTV trung học cácchuyên ngành chuẩn đoán hình ảnh , phục hồi chức năng, xét nghiệm…

Trang 13

 Bậc cao đẳng gồm: Điều dưỡng cao đẳng, hộ sinh cao đẳng, kỹ thuậtviên y học cao đẳng các chuyên ngành khác.

 Bậc đại học: BSĐK, BS chuyên khoa, BS YHCT, BS YHDP, dược sĩđại học, cử nhân điều dưỡng, hộ sinh, cử nhân KTYH các chuyên ngành, cửnhân YTCC

 Bậc sau đại học y và dược: sau khi tốt nghiệp các chuyên ngành khácnhau thuộc khoa học sức khỏe, các nhân viên y tế sẽ có cơ hội học tiếp tục để

có bằng sau đại học của các chuyên ngành sâu Đào tạo sau đại học ngành y tếchia thành 2 hệ: hệ hàn lâm gồm thạc sĩ và tiến sĩ; hệ thực hành CKI, CKII;

hệ nội trú là loại hình đào đạo sau đại học đặc biệt của ngành y tế [7]

Tại Việt Nam trước đây, CBYT chủ yếu là BS, dược sĩ, y tá trung học,

sơ học, nhưng ngày nay đã xuất hiện thêm nhiều loại hình nhân lực y dược đadạng hơn, chuyên sâu hơn để phục vụ công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng caosức khỏe nhân dân như điều dưỡng viên bậc đại học, cử nhân YTCC, KTV yhọc… [7]

1.1.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ thống y tế.

Theo WHO, hệ thống y tế có 6 thành phần cơ bản [8], [9]:

- Nguồn nhân lực y tế được coi là một trong các thành phần cơ bản và

quan trọng nhất trong hệ thống Nguồn nhân lực có mối liên hệ rất chặt chẽ vàkhông thể thiếu đối với cá thành phần khác của hệ thống y tế

- Phát triển nguồn nhân lực không chỉ thông qua đào tạo , mà còn phải sử

dụng, quản lý phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đến người dân

- Cần có một mô hình tổ chức và chức năng của các thành phần của

hệ thống cung ứng dịch vụ để biết được nhu cầu về quy mô và cơ cấu nhânlực y tế như thế nào, ngược lại , hệ thống cung ứng dịch vụ y tế phụ thuộc mậtthiết vào mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực y tế

Trang 14

- Hệ thống thông tin y tế cũng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần

thiết, tin cậy cho việc lập kế hoạch và sử dụng nhân lực đáp ứng nhu cầuCSSK của nhân dân, đồng thời giúp phát hiện những vấn đề của nguồn nhânlực như phân bố không hợp lý, năng lực không phù hợp để đáp ứng nhu cầuCSSK từ phía người dân và cộng đồng, hoặc phát hiện và phân tích tần suấtsai sót chuyên môn để khắc phục

- Cấp tài chính cho nhân lực y tế cũng phải đảm bảo cho công tác đào

tạo mới và đào tạo liên tục CBYT, đủ để trả lương và chính sách khuyến khích

ở mức đảm bảo được cuộc sống cho CBYT, tạo ra động lực khuyến khíchCBYT làm việc có chất lượng và sẵn sàng làm việc ở các miền núi, vùng sâu,vùng xa, hoặc trong các môi trường, chuyên ngành độc hại, nguy hiểm

sẽ tăng lên 12, 9 triệu trong vài thập niên tới Dịch Ebola tại Tây và Trung Phicho thấy rằng hệ thống y tế yếu kém tại khu vực này với nhân lực y tế còn hạnchế đã không ứng phó nổi với các nhu cầu y tế khẩn cấp Tuy nhiên, nhiềuquốc gia khác với mức độ phát triển khác nhau cũng gặp phải vấn đề trongviệc duy trì lực lượng y tế sao cho đáp ứng được nhu cầu tiếp cận sâu rộng

Trang 15

của người dân Tại các nước thu nhập cao hệ thống y tế vẫn thường xuyênphụ thuộc vào nguồn nhân lực y tế nhập cư từ các nước đang phát triển và họbuộc phải có kế hoạch sử dụng các nguồn nhân lực này nhằm đáp ứng nhucầu ngày càng gia tăng của dân số già hóa [10] Và với các nước đang pháttriển mà có ngồn nhân lực y tế đưa sang các nước phát triển trên thì cũng phảigiải quyết bài toán khó về nguồn nhân lực y tế, khi mà vừa cung ứng đủ trongnước, vừa đảm bảo có nguồn đưa sang các nước khác.

Ở châu Phi: Khoảng 70% các quốc gia có mật độ nhân viên y tế chuyênnghiệp < 22,8/10.000 dân( và độ phủ nữ hộ sinh < 80% đều tập trung tại ChâuPhi (31 quốc gia, 57%) Chỉ có Algeria, Botswana và Tunisia là có mật độ nhânviên y tế chuyên nghiệp > 22,8/10.000 dân [11] WHO khuyến cáo các nướcphải có trung bình 22,8 cán bộ chăm sóc sức khoẻ chuyên nghiệp trên 10.000người dân thì mới đạt mức bình quân Mật độ nhân viên y tế chuyên nghiệp củachâu Phi là 13/10.000 dân (trong đó là 2 bác sỹ và 11 y tá- nữa hộ sinh), thấpnhất trong các khu vực của WHO Vùng lãnh thổ phía đông Địa Trung Hải cómật độ nhân viên y tế chuyên nghiệp là 25/10.000 dân (10 bác sỹ và 15 nữ hộsinh- y tá), xếp thấp hàng thứ 3 trong các khu vực của WHO [12]

 Phía tây Thái Bình Dương có mật độ nhân viên y tế chuyên nghiệp là34/10.000 dân [12]

 Châu Âu: Trong số 68 quốc gia có mật độ nhân viên y tế chuyênnghiệp > 59,4/10.000 dân thì có đến 36 quốc gia ở khu vực Châu Âu [11].Mật độ nhân viên y tế chuyên nghiệp ở châu Âu rất cao, 110/10.000 dân [12]

 Ở châu Mỹ có mật độ nhân viên y tế chuyên nghiệp là 68/ 10.000dân [12]

Trang 16

Tổ chức y tế thế giới ước tính,toàn cầu thiếu 4 triệu bác sỹ,điều dưỡng,

nữ hộ sinh, 57 quốc gia thiếu 2,4 triệu bác sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, trong

đó 36/57 nước thuộc vùng dưới sa mạc Sahara- châu Phi Nhu cầu tương đốilớn nhất là ở khu vực Cận Sahara của Châu Phi, cụ thể là số lượng cán bộ y

tế phải tăng thêm 140% thì mới đạt mật độ theo yêu cầu Tình trạng thiếu cán

bộ y tế về giá trị tuyệt đối nghiêm trọng nhất là ở Châu Á, đặc biệt là đét, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a [12], [13]

Băng-la-Nhân viên y tế được phân bố không đồng đều giữa các quốc gia Nhữngquốc gia có nhu cầu tương đối thấp lại có số nhân viên y tế rất cao, trong khi

đó những quốc gia với gánh nặng bệnh tật lớn phải giải quyết vấn đề vớinguồn nhân lực ít hơn Châu Mỹ chỉ có 10 % gánh nặng bệnh tật của thế giớinhưng có đến 37% nguồn nhân lực và 50% chi tiêu y tế toàn cầu Ngược lại,châu Phi chịu tới 24 % gánh nặng bệnh tật nhưng chỉ có 3% nguồn nhân lực

để giải quyết và tiếp cận ít hơn 1 % chi tiêu y tế.Trong những khu vực vàquốc gia sự tiếp cận đối với nhân viên y tế cũng không đồng đều Nhiều yếu

tố ảnh hưởng đến sự khác biệt địa lý được thấy trong mật độ nhân viên y tế Ởnhững nơi có các trường đào tạo nhân viên y tế và người dân có khả năng chitrả các dịch vụ y tế luôn luôn thu hút nhiều nguồn nhân lực y tế hơn nhữngvùng không có điều kiện thuận lợi hay những hỗ trợ về tài chính Như vậy,mật độ nhân viên y tế rõ ràng cao nhất ở các thành phố lớn nơi có các trungtâm đào tạo và người dân có thu nhập cao Trong khi dưới 55% dân số sống ởkhu vực thành thị, thì có hơn 75% bác sỹ, trên 60% điều dưỡng và 58% nhânviên y tế khác sống ở đó [12]

Mất cân bằng giới: theo số liệu điều tra về NLYT ở các vùng lãnh thổ thì

có 70% nam giới là bác sỹ, trong khi đó 70% nữ giới là điều dưỡng, nữ hộ sinh[12]

Trang 17

1.2.2 Tình hình nhân lực y tế tại Việt Nam.

1.2.2.1 Hệ thống tổ chức y tế tại Việt Nam.

Hệ thống tổ chức của ngành y tế Việt Nam bao gồm 4 cấp, gắn với hệthống hành chính nhà nước: cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã [13]:

Cấp trung ương: Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức

năng quản lý nhà nước về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻnhân dân Bộ máy của Bộ Y tế gồm có Văn phòng, các Cục, Vụ và Thanh tra.Ngoài ra, Bộ Y tế còn có 70 đơn vị trực thuộc gồm các khối chính: khối bệnhviện, khối y tế dự phòng, các viện nghiên cứu, các viện chuyên ngành và khốicác trường đại học, cao đẳng [13]

Cấp tỉnh: Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương, có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thựchiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh về bảo vệ, chăm sóc và nângcao sức khoẻ nhân dân Bộ máy của Sở Y tế có Văn phòng, Thanh tra, cácphòng chuyên môn, nghiệp vụ, các đơn vị sự nghiệp về khám, chữa bệnh, về yhọc dự phòng, kiểm nghiệm, giám định, đào tạo và truyền thông [13]

Cấp huyện: Phòng Y tế huyện là cơ quan chuyên môn thuộc UBNDhuyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, thực hiện chức năng quản lý nhànước về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trên địa bànhuyện Y tế tuyến huyện còn có Bệnh viện huyện (kể cả các phòng khám đakhoa khu vực) và Trung tâm y tế dự phòng là 2 đơn vị tách ra từ Trung tâm y tếhuyện theo Nghị định 172, đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý của Sở Y tế [13]

 Cấp xã/phường: Trạm y tế xã, phường, thị trấn là đơn vị kỹ thuật y

tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế Nhà nước, cónhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ ban đầu, pháthiện dịch sớm, chữa các bệnh và đỡ đẻ thông thường, vận động nhân dân thực

Trang 18

hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, vệ sinh phòng bệnh, tăng cườngsức khoẻ; chịu trách nhiệm trước Phòng Y tế huyện, thị và trước UBND xã vềcông tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trên địa bàn xã;đồng thời nhận sự hỗ trợ về chuyên môn của bệnh viện huyện Dưới trạm y tế

xã có các nhân viên y tế thôn, ấp, bản là cánh tay nối dài của tuyến y tế xã.Mỗi thôn/bản có một nhân viên y tế (được đào tạo từ 3-9 tháng) [13]

1.2.2.2 Nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam hiện nay.

Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến vấn đề tuyển chọn, đào tạo, sửdụng nguồn nhân lực y tế nhằm thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc, nângcao sức khỏe nhân dân Mạng lưới các cơ sở đào tạo cán bộ y tế đã được mởrộng đáng kể trong thời gian qua Tính đến tháng 6 năm 2014, cả nước đã có

173 cơ sở đào tạo CBYT ở tất cả các trình độ với 68 cơ sở đào tạo ngoài cônglập Trong số đó, có 35 cơ sở đào tạo trình độ đại học (14 trường y tế, 21trường đa ngành), tăng 10 cơ sở so với năm 2010, 44 cơ sở đào tạo trình độcao đẳng và 123 cơ sở đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp [14] Đề ánĐào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh thuộc miềnBắc và miền Trung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyêntheo chế độ cử tuyển triển khai từ 2007 đến 2018 Trong 3 năm từ 2007 đến

2009, đã tuyển được 1488 sinh viên y khoa và 306 sinh viên dược đại học, đa

số trong đó là người dân tộc ít người [15] Dự án Bắc Trung Bộ giai đoạn2012-2016 đã đào tạo cho 5 tỉnh Bắc Trung Bộ ( Thái Bình, Nghệ An, HàTĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị) 300 bác sĩ YHDP và 100 bác sĩ đa khoa [16]

Hằng năm có trung bình khoảng 6.200 sinh viên tốt nghiệp đại họcthuộc ngành y tế, 18.000 học sinh tốt nghiệp trung học y , dược và khoảng

3000 học viên tốt nghiệp sau đại học [7] Tổng số sinh viên đại học khốingành y tốt nghiệp sau đại học năm 2010 là 7.897, gấp đôi năm 2008 [17]

Trang 19

Mỗi năm nước ta đào tạo ra khoảng 6.700 bác sĩ, 2.800 dược sỹ, 5000

cử nhân điều dưỡng, kỹ thuật y học, y tế công công và 5.100 CBYT ở trình độđại học [18]

Tổng số CBYT công tăng dần qua các năm, từ 241.498 năm 2003 tănglên 299.100 năm 2008 và 407.148 năm 2012 Số lượng CBYT tăng đều đặn ởtất cả các loại hình Số lượng bác sĩ tăng từ 47.587 năm 2003 lên 56.208 năm

2008 và 65.135 năm 2012 Số lượng y sĩ tăng từ 48.325 năm 2003 lên 49.123năm 2008 và 54.564 năm 2012 Số lượng dược sĩ đại học tăng từ 6.266 năm

2003 lên 10.524 năm 2008 và 17.360 năm 2012 Số lượng dược sĩ trung cấp,

kỹ thuật viên trung cấp dược tăng từ 10.078 lên 12.533 năm 2008 và 65.895năm 2012 Số lượng điều dưỡng tăng từ 48.157 năm 2003 lên 67.081 năm

2008 và tăng lên 92.201 năm 2012 Số lượng hộ sinh tăng từ 16.218 năm

2003 lên đến 22.943 năm 2008 và 27.992 năm 2012 Số lượng lương y tăng từ

317 năm 2003 lên đến 882 năm 2008 Số lượng kỹ thuật viên y học tăng từ9.637 năm 2003 lên đến 15.682 năm 2008 Số lượng nhân viên y tế khác cũngtăng [8], [19]

Giai đoạn 2010-2014, theo loại hình đào tạo sau đại học, số lượng tiến

sỹ tăng từ 143 năm 2010 lên 168 năm 2013 Số lượng thạc sỹ tăng từ 954năm 2010 lên 1063 năm 2013 Số lượng chuyên khoa 1 tăng từ 1710 năm

2010 đến 2616 năm 2013 Số lượng chuyên khoa 2 tăng từ 463 năm 2010 đến

516 năm 2013 Bác sỹ nội trú tăng từ 117 năm 2010 lên 317 năm 2013 ( theobáo cáo chung tổng quan ngành y tế hằng năm) [20]

Nếu xét số CBYT trên 1 vạn dân: Số y bác sỹ trên một vạn dân tăng lên(12,23 của năm 2008 so với 12,52 vào năm 2009 và 13,4 năm 2011), số bác

sỹ trên vạn dân tăng lên ( từ 6,52 năm 2008 lên 6,59 năm 2009, 7,2 năm 2010

và 7,6 năm 2014) và số lượng điều dưỡng trên một vạn dân cũng tăng (7,78

Trang 20

của năm 2008 so với 8,82 của năm 2009 và 10,02 năm 2011) Số dược sỹ đạihọc trên vạn dân tăng từ 1,76 năm 2010 lên 2,15 năm 2014 ( vượt mục tiêu đề

ra cho năm 2015 là 1,8/ vạn dân) Tỷ số điều dưỡng trên bác sỹ cũng tăng, từ1,2 năm 2008 lên 1,4 năm 2014 Số lượng nhân lực y tế tiếp tục duy trì xuhướng đi lên của thập kỷ qua ( theo báo cáo Thống kê niên giám hằng năm)[8], [17], [20]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Thắng năm 2014 ở Hà Tĩnh, tỷ lệĐD-HS-KTV/10.000 dân là 12.7 so với mục tiêu của Bộ Y tế đến năm 2015

tỷ lệ ĐDV, HS/10.000 dân là 18.5 thì còn rất thấp Nguồn nhân lựcĐD/HS/KTV tại các cơ sở y tế công lập trong toàn tỉnh là 1996 người, nữchiếm 83.3% [21]

Một nghiên cứu khác của Trần Thị Mai Oanh năm 2008 cho thấy cảnước có nhu cầu đào tạo 3.994 bác sỹ y học dự phòng [22] Nghiên cứu củaKhưu Minh Cảnh năm 2010 tại Cần Thơ cho thấy nhu cầu đào tạo cử nhân y

tế công cộng là 44,2%, bác sỹ y học dự phòng là 30% [23]

1.2.2.3 Tình trạng phân bố nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam.

Việt Nam được xếp vào nhóm những nước có tỷ lệ cao (hơn 5 bácsĩ/10.000 dân) song phân bố mất cân đối theo vùng miền Tập trung đông nhấttại các thành phố lớn như TP HCM và Hà Nội tỷ lệ 14 bác sĩ trên 10.000 dânnăm 2012 Thấp nhất là ở Tây Nguyên 3,6 bác sỹ trên 10.000 dân Ở vùngnông thôn như Cao Bằng, Hà Giang và đồng bằng sông Cửu Long, ĐôngNam bộ có khoảng 4-5 bác sĩ trên 10.000 dân [19] Tính đến năm 2015, đồngbằng sông Cửu Long có 5,88 bác sỹ trên 10.000 dân [20]

Theo Bộ Y tế (2008) khu vực Tây Bắc và Đông Bắc có tỷ lệ CBYTtrên vạn dân cao nhất cả nước lần lượt là 38,0% và 32,2% Năm 2011, khuvực Đông Nam Bộ đứng vị trí thứ ba với tỷ lệ CBYT trên vạn dân là 29,4%,

Trang 21

tiếp theo là khu vực Tây Nguyên với 27,1% [24] Khu vực đồng bằng sôngCửu Long và đồng bằng sông Hồng lại có tỷ lệ CBYT trên vạn dân thấp nhấttrong cả nước với tỷ lệ lần lượt 22,8% và 23,3% [17].

Nếu xét theo tuyến, hệ thống y tế công được tổ chức rộng rãi từ tuyến

cơ sở (huyện, xã, thôn/bản) đến tuyến tỉnh và trung ương Tuy nhiên, số lượng

và cơ cấu nhân lực ở mỗi tuyến, mỗi vùng, miền có khác nhau Tuyến tỉnhchiếm tỷ lệ CBYT lớn nhất, gồm cả cán bộ KCB, YTDP và hành chính Ởtuyến tỉnh và huyện, điều dưỡng chiếm tỷ lệ lớn nhất, trong khi tuyến xã lạidựa vào y sỹ nhiều hơn

Nhìn chung, xét về số lượng, nhân lực y tế tương đối hợp lý Tuy nhiên

sự bao phủ không chỉ xác định bằng số lượng nhân lực y tế, mà phải bằng cảnhững kỹ năng thực hành thích hợp theo nhu cầu của địa phương Đây là mộtthách thức rất lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước, nhất là các nướcđang phát triển Nổi cộm ở Việt Nam hiện nay là [8]:

 Số lượng CBYT tập trung nhiều ở tuyến trung ương, tỉnh, chủ yếu ởkhu vực thành thị Thành thị chiếm 51,3% tổng số CBYT (15% ở trung ương

và 37% ở tuyến tỉnh), trong khi dân số thành thị chỉ chiếm 28,1% dân số cảnước (mặc dầu CBYT ở thành thị không chỉ phục vụ cho dân sống ở thànhphố) CBYT tuyến huyện chiếm 27,6% và tuyến xã chiếm ít hơn: 21,1% tổng

số CBYT

 Có sự khác nhau lớn về trình độ chuyên môn giữa khu vực thành thị

và nông thôn Tỷ lệ bác sỹ tập trung ở thành thị là 60% (20% ở trung ương và40% ở tuyến tỉnh) và dược sỹ đại học với tỷ lệ 84% ở thành thị (45% ở trungương và 39% ở tuyến tỉnh) Hơn một nửa số điều dưỡng (57%) tập trung ởthành thị Các cán bộ khác không thuộc chuyên môn y tế có trình độ văn hóacao cũng phân bổ rất không đồng đều với 73% đại học và 64% cao đẳng,trung cấp ở thành thị Chỉ có y sỹ và hộ sinh được phân bổ tương đối hợp lý

Trang 22

giữa thành thị và nông thôn, với tỷ lệ ở thành thị tương ứng là 18% và26%.Cán bộ y tế có trình độ cao thường tập trung về tuyến trên, về những nơi

có điều kiện tốt hơn, lĩnh vực chuyên môn có sức hấp dẫn…, bỏ lại tuyếndưới, những vùng khó khăn Điều đó càng làm cho vấn đề phân bố nguồnnhân lực y tế trở nên bức xúc hơn bao giờ hết

 CBYT ở tuyến cơ sở cũng phân bổ không đều Tỷ lệ TYT xã có bác

sỹ cao nhất ở các vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam Bộ và Đồngbằng sông Cửu Long Vùng Tây Bắc có độ bao phủ bác sỹ ở TYT xã thấpnhất – chỉ 32,4% Tuy nhiên tính chung cả nước thì tỉ lệ TYT xã có bác sỹtăng từ 70% năm 2010 lên 75% năm 2013 Tỷ lệ TYT xã có y sỹ sản nhihoặc hộ sinh cao nhất ở các vùng Bắc Trung Bộ và vùng Đồng bằng sôngCửu Long với tỷ lệ trên 96% Ở Trung du và miền núi phía Bắc (Tây Bắc,Đông Bắc) heo hút, đi lại khó khăn lại có tỷ lệ thấp hơn [8] Tỷ lệ này chungcho cả nước là 95,6% năm 2010 tăng lên 96% năm 2013 [20]

Xu hướng dịch chuyển NVYT không mong muốn là dịch chuyển từhuyện lên tỉnh và trung ương, từ nông thôn ra thành phố, từ miền núi về đồngbằng, từ lĩnh vực dự phòng sang lĩnh vực điều trị, cận lâm sàng, lâm sàng, từtrường sang bệnh viện, từ chuyên ngành ít hấp dẫn /rủi ro sang chuyên ngànhhấp dẫn, từ công lập sang tư nhân, từ ngành y, dược sang ngành nghề khác Việc dịch chuyển NVYT nhìn chung không làm thay đổi số NVYT, nhưng dodịch chuyển mạnh đội ngũ NVYT và khó kiểm soát trong những năm qua đãgây biến động về phân bố nguồn nhân lực giữa các vùng miền, giữa cáctuyến, giữa các khu vực chuyên môn, giữa các chuyên ngành [8] Hậu quả làmất cân đối trong phân bổ NVYT, thiếu NVYT ở tuyến dưới, ở vùng sâuvùng xa, ít người làm y tế dự phòng và cận lâm sàng, thiếu người làm chuyênngành khó khăn Việc dịch chuyển NVYT từ y tế công sang y tế tư (cácbệnh viện tư nhân, bệnh viện vốn nước ngoài ) ngày càng phổ biến, đặc biệt

là đối với một số CBYT có trình độ chuyên môn giỏi

Trang 23

Báo cáo tổng quan ngành y tế hàng năm (JAHR) cũng nhận định chấtlượng nhân lực y tế phân bố mất cân đối theo vùng miền Nhóm có trình độcao như bác sĩ, dược sĩ đại học và sau đại học chủ yếu tập trung ở khu vựcthành thị và trung tâm lớn thuộc tuyến trung ương, chiếm 14,5%, trong đónhân lực trình độ đại học 57,8% và sau đại học là 95,2% cả nước Các địaphương, cán bộ y tế cũng tập trung đông hơn tại thành phố, thị xã (36,8%),sau đó mới đến tuyến huyện (27,6%), xã (21,1%)

Lý giải nguyên nhân, đa phần người làm ngành y, nhất là các thầythuốc giỏi sau khi học xong đều muốn có công việc ổn định ở một bệnh việnlớn trong thành phố Do đó thầy thuốc ở thành thị đông còn vùng xa lại thiếutrầm trọng Vì không tìm được bác sĩ giỏi nên người bệnh ở các vùng xa lại

đổ về thành phố để khám chữa bệnh, góp phần gây tình trạng quá tải bệnhviện vốn là vấn đề nhức nhối hiện nay Theo các chuyên gia, thực trạng dịchchuyển nguồn nhân lực y tế từ tuyến dưới lên tuyến trên, từ nông thôn rathành thị, từ y tế công sang tư nhân đang là vấn đề đáng báo động, ảnh hưởngđến việc đảm bảo số lượng nhân lực tối thiểu ở các cơ sở y tế Hệ lụy tấtyếu là sự phân bổ nhân lực y tế ngày càng chênh lệch giữa các tuyến Ngoài

ra còn có sự mất cân đối ở các chuyên ngành Những ngành "kém hot" thiếunhân lực trầm trọng là y học dự phòng, y tế công cộng, nhi, truyền nhiễm, tâmthần, pháp y, giải phẫu bệnh, lao và phong, thanh tra an toàn vệ sinhthực phẩm, kỹ thuật viên y tế, kỹ sư chuyên về thiết bị y tế, thống kê y tế,quản lý bệnh viện [25]

1.2.2.4 Chất lượng nhân viên y tế tại Việt Nam

Chất lượng của nhân lực y tế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và có thểđược đánh giá tổng quát bằng kết quả đầu ra của hệ thống y tế - tình trạng sức

Trang 24

khoẻ nhân dân Chất lượng của nhân lực y tế cũng có thể được đánh giá bằngnăng lực chuyên môn và ứng xử có trách nhiệm [8].

Bộ đã phê duyệt “Đề án mời giáo sư, phó giáo sư và chuyên gia ngành

y tế đã nghỉ hưu còn sức khoẻ, tự nguyện tham gia công tác đào tạo, nghiêncứu khoa học, tư vấn về dịch vụ y tế" Trong thời gian tới, Bộ Y tế có địnhhướng triển khai đề án trên ở một số trường đại học, để tăng cường chất lượngđào tạo và nghiên cứu của nhà trường [26]

Chỉ thị 06 năm 2008 của Bộ Y tế về việc tăng cường chất lượng đào tạonhân lực y tế, yêu cầu các cơ sở đào tạo nhân lực y tế, các cơ sở y tế có họcsinh, sinh viên y dược đến thực tập, thực hành phải thực hiện tốt một số côngviệc Cụ thể, phải tuyển sinh theo đúng định mức về số sinh viên/giảng viên,

tỷ lệ sinh viên hệ chính quy trong tổng số sinh viên Điều kiện thực hành,thực tập chuyên môn tại trường phải đạt các quy chuẩn chuyên môn theo quyđịnh của Bộ Y tế Điều kiện thực hành, thực tập [27]

Bên cạnh sự gia tăng đáng kể về số lượng nhân lực, nhiều kết quả vềnâng cao chất lượng nhân lực y tế cũng được ghi nhận Năm 2008 trong tổng

số CBYT nhà nước chỉ còn 7% cán bộ ở trình độ sơ học (gồm điều dưỡng, hộsinh, kỹ thuật viên, dược tá) Số CBYT có trình độ học vấn cao đẳng và trungcấp tổng cộng là 163.322 người, chiếm khoảng 55% tổng số CBYT Tỷ lệ cán

bộ trình độ đại học chiếm 26%, với số lượng là 77.395 người Khoảng 2% cán

bộ có trình độ thạc sỹ và 0,4% CBYT có trình độ tiến sỹ Cơ cấu về bậc họcnhư vậy đã tiến bộ so với năm 2000, giảm tỷ lệ cán bộ có trình độ sơ học vàdần dần tăng tỷ lệ có trình độ cao hơn Theo thống kê, số lượng các loại hìnhcán bộ công tác trong y tế công lập tăng đáng kể qua các năm từ 344 876 năm

2010 [28] lên 424 237 người vào năm 2013 [29] Số bác sĩ có trình độ đại họctrở lên đã tăng lên khá nhanh, bình quân hằng năm số bác sĩ tăng 6,5% Theonhận định của Tổng cục Thống kê với tốc độ phát triển này, Việt Nam có thể

Trang 25

dễ dàng thực hiện được mục tiêu chiến lược đặt ra là 10 bác sĩ trên một vạndân vào năm 2020 và thu hẹp được khoảng cách với các nước trong khu vực.Với số lượng và trình độ cán bộ y tế như vậy, chúng ta cũng có khả năng đápứng được mục tiêu của Chiến lược kinh tế-xã hội giai đoạn 2011 – 2020 [30].

Theo Nguyễn Việt Thắng năm 2014 ở Hà Tĩnh, hộ sinh có trình độ caođẳng và đại học thấp nhất trong các đối tượng đại học, cao đẳng, trung cấp, sơcấp (1.87% so với nhóm còn lại là 98,15%), và chủ yếu là hộ sinh trung cấp92,8% Kỹ thuật viên có trình độ trung cấp cao gấp hơn 3 lần cao đẳng và đạihọc ( 76,44% so với 23,56%) Điều dưỡng chủ yếu là trình độ trung cấp(81,5%) và trình độ trung cấp, sơ cấp (82,76%) cao gấp gần 5 lần trình độcao đẳng, đại học (17,24%) Trình độ ĐD/HS/KTV tại các cơ sở y tế có trình

độ trung cấp 82,3% tương đương với trung bình chung toàn quốc 6/2013(82.25%), Riêng hệ bệnh viện trình độ cao đẳng, đại học chiếm 20,4 % tươngđương trung bình chung toàn quốc năm 2013 là 19.2, không có sau đại học(toàn quốc 0.4%), so với chương trình hành động của Bộ Y tế đến năm 2015phải đạt 30% có trình độ cao đẳng, đại học thì đang còn mức thấp[21]

Trong tương lai số lượng sinh viên tốt nghiệp hệ trung cấp sẽ giảm đinhiều và ngược lại số sinh viên tốt nghiệp hệ cao đẳng sẽ tăng lên đáng kể, dogần đây nhiều trường trung cấp đã được nâng cấp lên cao đẳng Với điều kiệncủa Việt Nam có thể chấp nhận được tình hình và xu hướng này vào thời điểmhiện tại Tuy nhiên trong những năm tới cần nâng tỷ lệ CBYT có trình độ đạihọc trở lên cho cả tuyến tỉnh và huyện

Hiệu quả triển khai các chính sách liên quan đến đào tạo , thu hút vàduy trì nguồn nhân lực còn hạn chế do các chính sách còn thiếu nhất quánhoặc thiếu điều kiện kinh phí để thực thi [31] Các trường đại học đang phảiđối mặt với tình trạng quá tải sinh viên, sinh viên theo học đông mà cơ sở vật

Trang 26

chất, trang thiết bị phục vụ cho việc thực tập, thực hành còn hạn chế Do đókhông đảm bảo chất lượng đầu ra Bên cạnh đó, công tác cải cách giáo dụcvẫn chưa đồng bộ giữa các trường, có nhiều trường vẫn đào tạo theo chươngtrình cũ, không còn phù hợp với thực tế Sau khi sinh viên ra trường, chínhsách thu hút việc làm vẫn còn nhiều bất cập nên dẫn đến nhiều sinh viên thấtnghiệp nhưng nhiều vùng sâu vùng xa vẫn còn rất thiếu CBYT Hơn nữalương cho CBYT công lập còn chưa cao, thấp hơn rất nhiều so với tư nhân,nên đã dẫn đến tình trạng bác sỹ ở cơ sở công lập xin thôi việc và chuyểnsang cơ sở y tế tư nhân [31].

Tỷ lệ cán bộ y tế tuyến xã có kiến thức và kỹ năng đúng trong sơ cấpcứu, chuẩn đoán và điều trị một số bệnh, cũng như kiến thức về xử lý bệnhdịch còn rất hạn chế ( 17,3% số y sỹ và bác sỹ có kiến thức và kỹ năng đúngtrong xử trí sơ cấp cứu, 17% số bác sỹ và y sỹ được hỏi biết được các dấuhiệu nguy hiểm trong thời kỳ phụ nữ mang thai, 50,5% cán bộ được hỏi biếtcách chuẩn đoán tăng huyết áp, 15,6% biết cách xử trí một vụ dịch…)[31].Kết quả từ một số khảo sát khác cũng cho thấy kiến thức về chăm sóc sơ sinhcủa cán bộ TYT chỉ đạt 60% so với chuẩn Quốc gia [32], 54,3% bác sỹ cókiến thức đúng về chuẩn đoán và điều trị mất nước do tiêu chảy [33]

Bên cạnh đó, năng lực cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực y tế dựphòng hiện còn yếu Chỉ có 20% cán bộ/nhân viên y tế có trình độ đại học, vàrất nhiều trong số họ không được cập nhật kiến thức chuyên môn về y tế dựphòng /y tế công cộng [34] Số lượng đào tạo bác sỹ y học dự phòng hệ chínhquy hằng năm còn rất thấp, chiếm tỷ lệ nhỏ (9,4%) so với tổng số bác sỹ đượcđào tạo hằng năng [35] Cơ cấu giữa các chuyên ngành trong lĩnh vực YTDPcũng còn bất hợp lý Bộ phận chuyên ngành y trong lĩnh vực YTDP ở tuyếntỉnh chỉ chiếm 67% Mặt khác trong tổng số cán bộ chuyên ngành hệ YHDPtuyến tỉnh, tỷ lệ bác sỹ chỉ chiếm khoảng 25%, trong khi đó tỷ lệ cán bộ trung

Trang 27

cấp y chiếm tỷ lệ cao nhất với 34% [18] Tại tuyến quận/huyện việc phân bổ

cơ cấu cán bộ cũng chưa hợp lý trong đó trên 77% số cán bộ có trình độchuyên môn nghiệp vụ là trung cấp y, tỷ lệ bác sỹ chỉ chiếm khoảng 11%,thấp hơn nhiều so với nhu cầu đề ra [8]

Chưa có cơ chế có hiệu quả để theo dõi kết quả làm việc của cán bộ y

tế, làm căn cứ để đưa ra những chế độ khuyến khích và đãi ngộ thích hợp.Hiện nay Bộ Nội vụ mới ban hành chức năng nhiệm vụ cho các loại hình cán

bộ y tế như bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng, cử nhân y tế công cộng mà chưa cóbản mô tả công việc cho các vị trí công tác khác nhau Điều này làm cho việcviệc bố trí, sắp xếp công việc cho cán bộ ở các cơ sở y tế còn chưa hợp lý,việc đánh giá cán bộ còn khó khăn, không khuyến khích được cán bộ hoànthành tốt công việc Việc giám sát thực hiện công việc cũng chưa được hoàntoàn phù hợp, chủ yếu dựa vào số lượng mà chưa thực sự chú ý đến chấtlượng công việc Kinh nghiệm cho thấy, giám sát thực hiện công việc dựa trên

mô tả công việc rõ ràng, đưa phản hồi kịp thời là một biện pháp hiệu quả đểkhuyến khích nâng cao năng lực của cán bộ y tế Đây cũng chính là một hìnhthức thúc đẩy đào tạo tại chỗ [8]

1.2.2.5 Nhu cầu về nhân lực y tế tại Việt Nam.

Nhận định rằng nhân lực y tế là thành phần quan trọng trong hệthống y tế, là yếu tố chính đảm bảo sự hiệu quả & chất lượng dịch vụ y tế.Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực y tế là nhiệm vụ quan trọng củangành y tế, để làm sao đảm bảo được sức khỏe cộng đồng một cách tốt nhất

Hiện tại, nhân lực ngành y tế ở nước ta phân bố chưa đồng đều, ở cáctỉnh đồng bằng sông Cửu Long đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu nhiều so với cácvùng khác Ở các vùng núi, vùng sâu vùng xa thì nguồn nhân lực y tế lại thiếutrầm trọng hơn cả, cho dù nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích nhưng

Trang 28

tỷ lệ bác sĩ làm việc ở đây không nhiều Đội ngũ chất lượng cán bộ y tế chưa

cao, nhiều người còn chưa làm đúng với chuyên môn của mình Nhận thấyvẫn còn tình trạng bác sĩ là người kiêm luôn công tác hành chính ở một sốbệnh viện, điều này gây lãng phí nguồn nhân lực mà nên để họ làm tốt côngviệc của mình và những người có chuyên môn về hành chính đảm nhiệm côngviệc đó Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh năm 2015 ở Sóc Trăngcho biết hằng năm số lượng bác sỹ được đào tạo vẫn tăng nhưng chỉ mộtlượng rất ít về phục vụ cho y tế vùng sâu vùng xa của tỉnh; Nhu cầu về bác sĩbậc đại học đều cao nhất ở tuyến tỉnh và huyện [36]

Để tiến đến đạt các chỉ số về số CBYT trên 10.000 dân, nước ta vẫncần đẩy mạnh công tác đào tạo sinh viên y và CBYT cả về số lượng và chấtlượng Đặc biệt là nâng cao trình độ từ sơ cấp, trung cấp lên cao đẳng, đại họccủa ĐD, HS và KTV Nâng cao trình độ của các CBYT xã, huyện Hiện nay,

số bác sỹ trên 10.000 dân vẫn còn thấp ở nhiều vùng, ở vùng nông thôn nhưCao Bằng, Hà Giang và đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ có khoảng4-5 bác sĩ trên 10.000 dân [19] Tính đến năm 2015, đồng bằng sông CửuLong có 5,88 bác sỹ trên 10.000 dân [20] Tại Sóc Trăng ( 2015) có 3,6 bác sỹtrên 10.000 dân, điều dưỡng là 6,4 chủ yếu là trình độ trung cấp (87,5%),KTV, dược sỹ và nữ hộ sinh cũng chủ yếu là trình độ trung cấp ( 65,9%,81,6% và 93,1%) Một nghiên cứu khác của Trần Thị Mai Oanh cho thấynăm 2008 cả nước có nhu cầu đào tạo 3.994 bác sỹ y học dự phòng [22] TạiSóc Trăng năm 2015 nhu cầu về bác sĩ bậc đại học ở tuyến tỉnh là 52,6% vàtuyến huyện là 47,2%; Riêng tuyến xã lại không có nhu cầu này Và nhu cầubác sỹ bậc đại học tính chung cả tỉnh chiếm tỷ lệ cao nhất là 49,3% và nhucầu thấp nhất là cử nhân YTCC với 0,9% [36] Nghiên cứu của Khưu MinhCảnh tại Cần Thơ năm 2010 cho thấy nhu cầu đào tạo cử nhân y tế công cộng

là 44,2%, bác sỹ y học dự phòng là 30% [23] Ở Hà Tĩnh, tỷ lệ ĐD-HS-KTV/

Trang 29

10.000 dân là 12.7 so với mục tiêu của Bộ Y tế đến năm 2015 tỷ lệ ĐDV, HS/10.000 dân là 18.5 thì còn rất thấp [21].

Tại một số địa phương cho dù là thiếu cán bộ y tế nhưng sinh viên ra

trường xin việc vào đó lại rất khó, thế nên vòng luẩn quẩn về nguồn nhân lựcvẫn cứ mãi thiếu bởi những nguyên nhân xuất phát từ chính thức tế củangành Các nhà hoạt định chuyên môn cho rằng, nguồn nhân lực y tế nước tacòn nhiều bất cập là do: Chất lượng nhân lực y tế thấp đặc biệt ở tuyến dưới;Chất lượng đào tạo chưa đảm bảo; Phân bố nhân lực y tế chưa hợp lý; Đào tạo

sử dụng chưa hiệu quả và Thiếu cán bộ cho một số chuyên ngành Đặc biệt làcác ngành còn thiếu và yếu như YHDP, giải phẫu bệnh, lao, tâm thần…

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Cà Mau là 1 trong 13 tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long,tái lập ngày 1/1/1997, toàn tỉnh được chia thành 9 đơn vị hành chính cấphuyện, trong đó có 1 thành phố và 8 huyện và tỉnh duyên hải tận cùng về phíaNam của Việt Nam, thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có 6 trên 9 đơn

vị hành chính cấp huyện là giáp biển, gồm có: Đầm Dơi, Năm Căn, NgọcHiển, Phú Tân, Trần Văn Thời và U Minh Cà Mau là xứ đầm lầy ngập nước,

có nhiều bụi lác mọc tự nhiên và hoang dã [4]

Thực trạng nguồn nhân lực y tế tỉnh Cà Mau còn rất thiếu về số và yếu

về chất Cụ thể, năm 2009, Cà Mau có tổng số CBYT là gần 4000, trong đó

có 5 bác sĩ chuyên khoa II, 11 thạc sĩ, 215 bác sĩ chuyên khoa I, 443 bác sĩ,2.200 cán bộ trung cấp y tế, cuối năm 2010, số lượng bác sĩ của tỉnh là 717người, dược sĩ 48 người; tỷ lệ bác sĩ/vạn dân là 5,58, dược sĩ/vạn dân là 0,39.Trong khi đó, yêu cầu về nhân lực y tế phải có hơn 10 bác sĩ/vạn dân vào năm2020; 2,5 dược sĩ đại học/vạn dân; 12 điều dưỡng/vạn dân Nguồn nhân lựcđiều dưỡng, kỹ thuật viên phân bổ không đồng đều ở các tỉnh trong vùng và

Trang 30

cơ bản vẫn còn thiếu ở một số lĩnh vực chuyên môn sâu như gây mê hồi sức,hình ảnh y học, xét nghiệm Theo một nghiên cứu của Đặng Hải Đăng vàPhạm Thị Tâm trong khối YHDP, năm 2012 ở Cà Mau: tỷ lệ cán bộ y tế dựphòng trên 10.000 dân là 4,36; Tỷ lệ bác sỹ/10.000 dân là 1,19; Cán bộ trungcấp chiếm tỷ lệ 45,3%, đại học và cao đẳng 31,8% và sau đại học 11,3% Tổng

số 147 bác sĩ bao gồm 27,3% trình độ đại học, 16.82% BSCKII, 41,2% BSCKI

và 11,2% thạc sĩ Nhu cầu cần đào tạo sau đại học của khối YHDP là: y tế côngcộng 21,6%, y học dự phòng 13,1%, quản lý 19,4%, điều trị 25,1%, chuyênkhoa cấp I là 50%, thạc sĩ 28,8% Cán bộ trung cấp có nhu cầu đào tạo bác sĩ đakhoa 23,9%, bác sĩ y tế dự phòng 16,5%, đại học khác 22,3% [37]

Nghị quyết số 03 của Tỉnh uỷ Cà Mau về nâng cao chất lượng nguồnnhân lực tỉnh nhà giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 có tácđộng sâu rộng đến toàn bộ hệ thống chính trị, ở tất cả các lĩnh vực xã hội.Riêng lĩnh vực ngành y tế, giai đoạn trước đây, Cà Mau gặp phải vô vàn tháchthức Công tác khám, chữa bệnh ban đầu cho người dân hạn chế, mạng lưới y

tế cơ sở chưa thực sự tạo dựng được niềm tin cho Nhân dân Ðội ngũ y, bác sĩ

có tay nghề cao chiếm tỷ lệ nhỏ, lực lượng phục vụ trong ngành yếu và thiếu

ở tất cả các tuyến Từ định hướng của Nghị quyết 03, toàn ngành đã dốc sứcđầu tư và đào tạo nguồn nhân lực, tạo nên một diện mạo mới đầy tích cực.Thời gian qua, ngoài liên kết đào tạo nhân lực y tế với các trường đại họcnhư: Trường Đại học Y dược TPHCM, Trường Đại học Y dược Cần Thơ,Trường Đại học Y khoa Huế, tỉnh Cà Mau còn tổ chức đào tạo nhân lực y tếtheo địa chỉ, đào tạo y tế chuyên khoa 2, chuyên khoa 1 và đào tạo sau đạihọc, đào tạo bác sĩ gia đình cho tất cả các trạm y tế [38]

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Tỉnh Cà Mau nằm ở phía nam Việt Nam, thuộc khu vực đồng bằngchâu thổ sông Cửu Long Cách thành phố Hồ Chí Minh 370 km, cách thànhphố Cần Thơ 180 km về phía nam Từ bắc tới nam theo đường chim bay dài

100 km Cà Mau là mảnh đất tận cùng của tổ quốc với 3 mặt tiếp giáp vớibiển, phía Đông giáp với Biển Đông, phía Tây và phía Nam giáp với vịnhThái Lan, phía Bắc giáp với 2 tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau

Trang 32

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu:

 Nhân viên y tế tại các cơ sở công lập trên địa bàn tỉnh(qua biểu mẫuthống kê nhân lực y tế công lập tỉnh Cà Mau 2016) tại các tuyến tỉnh, huyện, xã

 Đối tượng để Phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm:

Tuyến Tỉnh: Cán bộ chủ chốt của Sở Y Tế và các ban ngành đoàn thểcủa tỉnh (lấy số liệu sẵn có)

Tuyến huyện: chọn 3 huyện: Thới Bình, Cái Nước, Ngọc Hiển Mỗihuyện phỏng vấn các đối tượng gồm Cán bộ Ủy Ban,Phòng Y tế, Trung tâm

Y tế và bệnh viện tuyến huyện, hội liên hiệp phụ nữ, đoàn thanh niên, hội chữthập đỏ (hội nông dân) phòng giáo dục và Trung tâm dân số

Tuyến xã: Mỗi xã phỏng vấn các đối tượng gồm Cán bộ Ủy Ban, Trạm Y tế xã ( trưởng trạm, phó trạm và cán bộ chủ chốt), hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội chữ thập đỏ

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

Các nhân viên y tế đang làm việc và có mặt tại nơi làm việc ( trong mãthống kê của Bộ Y tế) trong thời gian tiến hành nghiên cứu tại tỉnh Cà Mau

Danh sách đầy đủ, rõ ràng

Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ :

Nhân viên y tế không có mặt tại nơi làm việc( hoặc không trong mãthống kê của Bộ Y tế) trong thời gian nghiên cứu

Danh sách không rõ ràng

Đối tượng không hợp tác trong quá trình nghiên cứu

2.3 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian bắt đầu từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017.

- Thời gian thu thập số liệu: tháng 10-11 năm 2016.

Trang 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu địnhlượng và định tính Sử dụng số liệu thứ cấp

2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu trong nghiên cứu

- Cỡ mẫu cho mục tiêu 1: Toàn bộ hồ sơ biểu mẫu báo cáo thống kê

nguồn nhân lực y tế công lập tỉnh Cà Mau năm 2016

- Cỡ mẫu cho mục tiêu 2: Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng kết hợp địnhtính được tính theo công thức sau:

2

2

)2/1(

) 1

n= cỡ mẫu nghiên cứu là số đối tượng điều tra

Z= 1,96 với mức ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%

p= 0,27 ( dựa theo nghiên cứu thử của đề tài cấp Bộ [39])

Δ=0,05 là độ chính xác tuyệt đối mong muốn

Cỡ mẫu tính được n= 303 người Điều chỉnh thêm 10% đề phòng đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu và làm tròn có cỡ mẫu cuối cùng là

330 người

 Chọn mẫu: chọn chủ đích với sự tham gia của lãnh đạo Sở y tế Cà Mau:

- Tuyến tỉnh : 120 người.

- Tuyến huyện: chọn 140 người trong 3 huyện ( Thới Bình, Cái Nước,

Ngọc Hiển), tiêu chí là 1 huyện thuộc phía Bắc tỉnh Cà Mau, 1huyện ở trung tâm tỉnh và 1 huyện ở phía Nam tỉnh, có chú ý đếntính hợp tác và khả thi của các huyện nghiên cứu

- Tuyến xã: 70 người thuộc 9 xã của 3 huyện ở trên.

Trang 34

2.4.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu, phương pháp và công cụ thu thập thông tin.

Bảng 2.1: Biến số, chỉ số nghiên cứu và công cụ thu thập số liệu.

Kỹ thuật, công cụ thu thập

1 Thực trạng nguồn nhân lực y tế công lập Cà Mau

+, Tỷ lệ % cơ sở y tế tuyến huyện (số cơ sở tuyến huyện.100%/ Tổng số cơ sở y

tế toàn tỉnh)+, Tỷ lệ % cơ sở y tế tuyến xã( số cơ sở tuyến xã.100%/

Tổng số cơ sở toàn tỉnh)

- Số lượng CBYT:

+, CBYT/1 vạn dân ( Tổng sốCBYT.10000/ Tổng số dân của tỉnh)

+, Tỷ số bác sỹ, dược sỹ, điềudưỡng, nữ hộ sinh/ 1 vạn dân ( Tổng số bác sỹ, hoặc dược

sỹ, hoặc điều dưỡng, hoặc nữ

hộ sinh 10000/ Tổng số dân của tỉnh)

+, Tỷ số điều dưỡng và nữ hộ sinh/ 1 bác sỹ ( Tổng số điều dưỡng, nữ hộ sinh/ Tổng số

Từ bảng biểu mẫu sẵn có của

Bộ Y tế xuống ghi chép

Ngày đăng: 23/08/2019, 18:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Bộ Y tế (2010). Sau 3 năm thực hiện “Đề án Đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh thuộc miền Bắc, miền Trung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên theo chế độ cử tuyển giai đoạn 2007- 2018” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Đào tạo nhân lực y tế chovùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh thuộc miền Bắc, miền Trung, vùngĐồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên theo chế độ cử tuyểngiai đoạn 2007- 2018
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
26. Bộ Y tế (2008). Quyết định số 1278/QĐ-BYT: “Đề án mời giáo sư, phó giáo sư và chuyên gia ngành y tế đã nghỉ hưu còn sức khỏe, tự nguyện tham gia công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn về dịch vụ y tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án mời giáo sư, phógiáo sư và chuyên gia ngành y tế đã nghỉ hưu còn sức khỏe, tự nguyệntham gia công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn về dịch vụ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
17. Bộ Y tế (2011). Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2011. Nâng cao năng lực quản lý , đổi mới tài chính y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm ngành y tế, 2011-2015, Hà Nội, Tr.29-176 Khác
18. Viện Chiến lược và Chính sách y tế (2010). Nghiên cứu đánh giá thực trạng và nhu cầu bác sỹ ra trường, Hà Nội, Bộ Y tế Khác
19. Bộ Y tế (2012). Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, Hà Nội. . 20. Bộ Y tế (2014). Báo cáo tổng kết công tác y tế 2014, một số nhiệm vụ vàgiải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016-2020, 35, Hà Nội Khác
21. Nguyễn Việt Thắng (2014). Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh, kĩ thuật viên tại các cơ sở y tế công lập Hà Tĩnh năm 2014, Sở Y tế Hà Tĩnh Khác
22. Trần Thị Mai Oanh (2010). Thực trạng nhu cầu bác sĩ giai đoạn hiện nay.Tạp chí chính sách y tế, 6, Tr. 38-44 Khác
23. Khưu Minh Cảnh (2010). Nghiên cứu tình hình và nhu cầu nhân lực y tế các cơ sở Y tế dự phòng tỉnh Cần Thơ năm 2010, Luận án chuyên khoa 2, Đại học Y dược Cần Thơ, Tr.86-87 Khác
24. Trương Việt Dũng, Phạm Xuân Viết, Phạm Ngân Giang (2008). Báo cáo chuyên đề: Đào tạo nhân lực y tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, Bộ Y tế và WHO Khác
27. Bộ Y tế (2008). Chỉ thị 06/2008/CT-BYT về việc tăng cường chất lượng đào tạo nhân lực y tế Khác
30. Tổng cục Thống kê y tế Việt Nam (2014). Qua tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
31. Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (2012). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thu hút và duy trì nhân lực y tế ở khu vực miến núi. . 32. Trần Chí Liêm, Đinh Thị Phương Hoài (2009). Đánh giá kiến thức cánbộ y tế và trang thiết bị tại TYT xã về chăm sóc trẻ sơ sinh Khác
33. Lê Văn Thêm (2013). Thực trạng hoạt động của Bác sỹ tại trạm y tế xã và đánh giá hiệu quả can thiệp nâng cao chất lượng hoạt động của trạm y tế xã tỉnh Hải Dương, Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương Khác
34. Bộ Y tế (2007). Dự án hỗ trợ trung tâm y tế huyện giai đoạn 2007-2010, Hà Nội, Bộ Y tế, Tr 34-65 Khác
35. Cục Y tế dự phòng (2012). Đề án quy hoạch phát triển nhân lực y tế dự phòng giai đoạn 2011-2020, Hà Nội, Cục Y tế dự phòng Khác
36. Trần Như Nguyên, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, (2015). Thực trạng nguồn nhân lực y tế công lập và nhu cầu đào tạo nhân lực y tế tại tỉnh Sóc Trăng năm 2015, Trường đại học Y Hà Nội, Tr.25-46 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w