1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN đến KIẾN THỨC, THỰC HÀNH rửa TAY BẰNG xà PHÒNG của các bà mẹ NGƯỜI MÔNG ĐANG NUÔI CON dưới 5 TUỔI TỈNH sơn LA và HIỆU QUẢ CAN THIỆP

194 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 46,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG ---*---BÙI HỮU TOÀN THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH RỬA TAY BẰNG XÀ PHÒNG CỦA CÁC BÀ MẸ NGƯỜI MÔNG ĐANG NUÔI CON DƯỚI 5 TU

Trang 1

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

-* -BÙI HỮU TOÀN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH RỬA TAY BẰNG XÀ

PHÒNG CỦA CÁC BÀ MẸ NGƯỜI MÔNG ĐANG NUÔI CON

DƯỚI

5 TUỔI TỈNH SƠN LA VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP

CHUYÊN NGÀNH: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức Y tế

MÃ SỐ: 62 72 01 64

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Trang 2

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

-* -BÙI HỮU TOÀN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH RỬA TAY BẰNG XÀ

PHÒNG CỦA CÁC BÀ MẸ NGƯỜI MÔNG ĐANG NUÔI CON

DƯỚI

5 TUỔI TỈNH SƠN LA VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP

CHUYÊN NGÀNH : Vệ sinh xã hội học và Tổ chức Y tế

Trang 3

Quá trình học tập nghiên cứu sinh tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đối vớitôi thực sự khó khăn, tôi sẽ không thể hoàn thành chương trình học tập và thực hiệnluận án tiến sĩ mà không có sự hỗ trợ, khuyến khích động viên của các thầy, cô,đồng nghiệp, gia đình và bạn bè.

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn và kính trọng đến PGS.TS Nguyễn Huy Nga

và GS.TS Phùng Đắc Cam, là những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảotận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành Luận án.Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện, Phòng Đào tạo Sau đại học, Bộmôn Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế, các anh chị đồng nghiệp công tác tại Viện

Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã rất tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôitrong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Cục Quản lý môi trường y tế, PhòngHóa chất- Đánh giá tác động sức khỏe, Cục Quản lý môi trường y tế, Lãnh đạo Sở

Y tế Sơn La, anh Nguyễn Tiến Dũng- Giám đốc trung tâm y tế dự phòng tỉnh Sơn

La và anh chị em đồng nghiệp trong Trung tâm, Lãnh đạo UBND huyện Vân Hồ vàUBND huyện Mai Sơn, Ban giám đốc và các cán bộ của Trung tâm y tế huyện MaiSơn, Vân Hồ đã nhiệt tình ủng hộ, phối hợp, tạo mọi điều kiện thuận lợi và chia sẻthông tin, tài liệu cho tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin đến khi hoàn thiệnnghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo các đoàn thể xã, Trạm Y tế xã, Hộiphụ nữ xã và các nhân viên y tế thôn bản trên địa bàn triển khai nghiên cứu, mặc dùcòn nhiều khó khăn, bận rộn nhưng đã nhiệt tình tham gia, phối hợp chặt chẽ và cónhiều ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình xây dựng chương trình can thiệp tạiđịa phương

Cuối cùng, tôi xin dành tình cảm đặc biệt và cảm ơn sâu sắc đến bố, mẹ, vợ vàcon gái tôi trong thời gian qua đã động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi cóthể tập trung học tập và hoàn thành luận án này

Dù đã rất cố gắng song đề tài không thể tránh khỏi những mặt còn hạn chế nênrất mong nhận được lời góp ý của Quý Thầy Cô, đồng nghiệp và các bạn đọc

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Bùi Hữu Toàn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được thực hiện dưới sự

hỗ trợ của các thầy hướng dẫn khoa học

Các số liệu, kết quả trình bày trong Luận án của tôi là trung thực và chưa từngđược công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Bùi Hữu Toàn

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Giải thích nghĩa

TT-GDSK

TTYTDP

Truyền thông - Giáo dục sức khỏeTrung tâm Y tế dự phòng

(Development Programme of United Nation)

(International Children Fund of United Nation)

UNFPA

VSTQ

Quỹ Dân sô Liên hợp quốc (United Nation Population Fund)

Vệ sinh thường qui

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4

1.1 Rửa tay và rửa tay bằng xà phòng 4

1.2 Giải phẫu sinh lý da và các phổ vi khuẩn trên da 5

1.2.1 Cấu trúc, sinh lý của da 5

1.2.2 Chức năng da 6

1.2.3 Các phổ vi khuẩn thường có trên da bàn tay 7

1.2.4 Vi khuẩn định cư 7

1.2.5 Vi khuẩn vãng lai 8

1.3 Một số nghiên cứu về rửa tay xà phòng trên thế giới 9

1.4 Các nghiên cứu về rửa tay xà phòng ở Việt Nam 12

1.5 Nghiên cứu về TT - GDSK trong phòng, chống bệnh lây truyền 18

1.6 Nghiên cứu về TTGDSK trong cộng đồng người dân tộc ít người và người Mông 19

1.6.1 Nguồn gốc và lịch sử, văn hóa dân tộc Mông 19

1.6.2 Nghiên cứu rửa tay bằng xà phòng trong các nhóm dân tộc 25

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 28

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 29

2.2 Thiết kế nghiên cứu 29

2.3 Chọn mẫu và cỡ mẫu trong điều tra cắt ngang 30

Trang 7

2.3.1 Chọn mẫu trong điều tra cắt ngang 30

2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu trong nghiên cứu can thiệp 32

2.4 Các nhóm biến số 34

2.5 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 35

2.6 Xây dựng nội dung và hình thức can thiệp 38

2.6.1 Xác định các vấn đề cần can thiệp 38

2.6.2 Chương trình can thiệp tại cộng đồng 39

2.7 Chỉ số đánh giá kết quả can thiệp 41

2.7.1 Chỉ số về các hoạt động can thiệp đã thực hiện 41

2.7.2 Đánh giá hiệu quả về nâng cao kiến thức và thực hành của các bà mẹ người Mông 41

2.8 Vật liệu và kỹ thuật nghiên cứu 41

2.8.1 Công cụ thu thập số liệu 41

2.8.2 Điều tra viên, giám sát viên 42

2.8.3 Tiến hành điều tra và giám sát 43

2.9 Quản lý, phân tích, sử dụng số liệu 44

2.9.1 Nhập số liệu 44

2.9.2 Kế hoạch làm sạch số liệu 44

2.9.3 Phân tích số liệu 45

2.9.4 Quản lý số liệu và sử dụng kết quả nghiên cứu 45

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 45

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 45

2.12 Yếu tố nhiễu và cách khống chế nhiễu: 47

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1 Thực trạng kiến thức, thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ Mông đang nuôi con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan 48

3.1.1 Đặc điểm về dân số học về đối tượng nghiên cứu 48

3.1.2 Đặc điểm một số yếu tố liên quan đến rửa tay bằng xà phòng 51

3.1.3 Thực trạng kiến thức và thực hành của các bà mẹ Mông liên quan tới rửa tay bằng xà phòng 57

Trang 8

3.1.4 Mối liên quan của một số yếu tố kiến thức và thực hành rửa tay 64

3.2 Hiệu quả hoạt động truyền thông, GDSK 663.2.1 Các hoạt động can thiệp cộng đồng 663.2.2 Hiệu quả của các hoạt động truyền thông về RTBXP taị các xã can thiệp .683.2.3 Hiệu quả can thiệp của các hoạt động truyền thông 703.3 Tình hình mắc một số bệnh có liên quan đến rửa tay bằng xà phòng 77

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 81

4.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội và sử dụng nguồn nước của các bản Mông 2 huyệnVân Hồ và Mai Sơn 814.2 Hiệu quả các hoạt động truyền thông-GDSK nâng cao kiến thức, thực hànhrửa tay bằng xà phòng 98

KẾT LUẬN 102 KHUYẾN NGHỊ 103 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ DƯỢC CÔNG BỐ

CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Danh sách các bản Mông huyện Vân Hồ được chọn nghiên cứu 32

Bảng 2.2 Danh sách các bản Mông huyện Mai Sơn được chọn vào nhóm chứng 33

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và trình độ học vấn 48

Bảng 3.2 Thời gian định cư và hoạt động canh tác của các bản Mông ở huyện Vân Hồ 49

Bảng 3.3 Phân bố tỉ lệ (%) theo nghề nghiệp và thu nhập của các bà mẹ người Mông 50

Bảng 3.4 Phân bố nguồn nước chính sử dụng của các hộ bà mẹ Mông 51

Bảng 3.5 Danh sách đối tượng phỏng vấn sâu tại hai huyện điều tra 54

Bảng 3.6 Khoảng cách đến nơi rửa tay trước khi cho trẻ ăn 55

Bảng 3.7 Khoảng cách đến nơi rửa tay sau khi cho trẻ đi vệ sinh 55

Bảng 3.8 Phân bố các loại xà phòng đang dùng tại các hộ bà mẹ Mông 56

Bảng 3.9 Nguồn thông tin về rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ Mông được tiếp cận 57

Bảng 3.10 Kết quả các cuộc thảo luận nhóm 58

Bảng 3.11 Tỷ lệ bà mẹ biết những bệnh gây nên do bàn tay bẩn 59

Bảng 3.12 Hiểu biết của bà mẹ người Mông về bàn tay sạch và thời điểm rửa tay .60

Bảng 3.13 Tỉ lệ rửa tay của các bà mẹ trong ngày hôm trước điều tra 61

Bảng 3.14 Liên quan giữa các yếu tố dân số học và kiến thức của bà mẹ người Mông về RTBXP 64

Bảng 3.15 Liên quan đơn biến giữa các yếu tố dân số học và thực hành rửa tay bằng xà phòng các bà mẹ người Mông 65

Bảng 3.16 Liên quan đơn biến giữa kiến thức và thực hành rửa tay bằng xà phòng các bà mẹ người Mông 66

Bảng 3.17 Kết quả các buổi thảo luận nhóm về rửa tay xà phòng tại các bản Mông 67

Bảng 3.18 Kết quả thăm hộ gia đình 67

Bảng 3.19 Hoạt động truyền thông trên hệ thống loa đài xã, thôn/bản 68

Bảng 3.20 Nguồn thông tin về RTBXP đã được các bà mẹ tiếp nhận sau 1 năm can thiệp ở huyện Vân Hồ 68

Bảng 3.21 Chỉ số hiệu quả tiếp cận các kênh truyền thông ở nhóm can thiệp 69

Bảng 3.22 Chỉ số hiệu quả về tiếp cận các kênh truyền thông ở nhóm chứng 70

Trang 10

Bảng 3.23 Hiệu quả can thiệp của các kênh truyền thông - GDSK 70Bảng 3.24 Tính sẵn có nguồn nước và xà phòng tại các hộ người Mông trước và

sau can thiệp 71Bảng 3.25 Tỉ lệ hộ gia đình đủ nước dùng trước và sau can thiệp 71Bảng 3.26 Hiệu quả nâng cao kiến thức RTBXP của các bà mẹ nhóm can thiệp .72Bảng 3.27 Hiệu quả nâng cao kiến thức RTBXP của các bà mẹ nhóm chứng 72Bảng 3.28 Hiệu quả can thiệp về kiến thức của các bà mẹ 72Bảng 3.29 Hiệu quả cải thiện rửa tay trước khi cho trẻ ăn của các bà mẹ ở nhóm

can thiệp 73Bảng 3.30 Hiệu quả cải thiện rửa tay trước khi cho trẻ ăn của các bà mẹ ở nhóm

chứng 73Bảng 3.31 Hiệu quả can thiệp thực hành rửa tay, rửa tay bằng xà phòng của các bà

mẹ trước khi cho trẻ ăn 74Bảng 3.32 Hiệu quả thực hành rửa tay sau khi cho con đi đại tiện của các bà mẹ

nhóm can thiệp 74Bảng 3.33 Hiệu quả thực hành rửa tay sau khi cho con đi đại tiện của các bà mẹ

nhóm chứng 75Bảng 3.34 Hiệu quả can thiệp thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ sau

khi cho trẻ đi đại tiện 75Bảng 3.35 Hiệu quả thực hành RTBXP sau khi cho con đi tiểu tiện của các bà mẹ

nhóm can thiệp 76Bảng 3.36 Hiệu quả thực hành RTBXP sau khi cho con đi tiểu tiện của các bà mẹ

nhóm chứng 76Bảng 3.37 Hiệu quả can thiệp thực hành rửa tay, rửa tay bằng xà phòng của các bà

mẹ sau khi cho trẻ đi tiểu tiện 77Bảng 3.38 Tỉ lệ mắc tiêu chảy của trẻ em trong vòng 1 tháng qua trước và sau can

thiệp của nhóm can thiệp 77Bảng 3.39 Tỉ lệ mắc tiêu chảy của trẻ em trong vòng 1 tháng qua trước và sau can

thiệp của nhóm chứng 78Bảng 3.40 Tình hình mắc bệnh tiêu chảy của trẻ dưới 6 tuổi của hai nhóm 78Bảng 3.41 Tình hình mắc bệnh đường hô hấp của trẻ dưới 5 tuổi của hai nhóm

nghiên cứu 79

Trang 11

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Bản đồ vị trí các xã điều tra nghiên cứu 28

Biểu đồ 3.1 Thực trạng về cung cấp nước tại các hộ bà mẹ Mông 52Biểu đồ 3.2 Khoảng cách để xà phòng đến nơi có nguồn nước rửa tay 57Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ các bà mẹ rửa tay trước khi cho trẻ ăn và sau khi cho trẻ đi vệ sinh 62Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bà mẹ thực hành các bước rửa tay đúng cách 63Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ trẻ mắc bệnh tiêu chảy trên 1000 trẻ của hai nhóm từ 2013-2016 79Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ trẻ mắc bệnh đường hô hấp trên 1000 trẻ của hai nhóm từ

2013-2016 80

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo báo cáo của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), hàng năm vẫncòn có khoảng 1,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở các quốc gia nghèo chết do tiêu chảy[114] Thống kê các bệnh truyền nhiễm của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho thấykhoảng một nửa các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất là những bệnh có liênquan tới nước sạch, vệ sinh môi trường và các hành vi vệ sinh cá nhân, trong đó cóhành vi rửa tay [10], [4]

Những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong các Chương trình mục tiêuquốc gia về Y tế, Môi trường đã thu được những thành tựu đáng kể tỉ lệ người dânđược sử dụng nguồn nước sạch [1],[5] Xong kiến thức, thái độ và thực hành về vệsinh môi trường và vệ sinh cá nhân của người dân nông thôn Việt Nam tại thời điểmhiện tại vẫn còn nhiều yếu kém Mức độ nghiêm trọng tăng dần theo từng vùngmiền, từ đồng bằng đến miền núi, theo nhóm người dân tộc từ đa số đến thiểu số,theo trình độ học vấn từ cao đến thấp và theo mức độ thu nhập từ không nghèo đếnnghèo, tỷ lệ người dân được sử dụng nguồn nước và nhà tiêu hợp vệ sinh còn rấtthấp, điều kiện kinh tế ở nhiều vùng còn rất khó khăn, nhiều phong tục tập quán lạchậu, thói quen mất vệ sinh của người dân còn khá phổ biến, nguy cơ phát sinh, pháttriển dịch bệnh nêu trên là rất lớn Để nhanh chóng khắc phục những khó khăn, tồntại trên rất cần có sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, sự phối kết hợp chặt chẽ củacác ban ngành đoàn thể từ trung ương đến địa phương và sự tham gia tích cực củangười dân trong việc cải thiện các điều kiện vệ sinh môi trường kết hợp với vệ sinh

cá nhân như là một trong các giải pháp đồng bộ nhằm từng bước khống chế và giảm

tỷ lệ mắc của các bệnh dịch này

Rửa tay bằng xà phòng (RTBXP) được coi là cách phòng bệnh có chi phíthấp nhất nhưng lại mang lại hiệu quả phòng các bệnh tiêu chảy, giun sán, nhiễmkhuẩn hô hấp cao hơn so với các biện pháp khác trong các chương trình can thiệp

về nước sạch và vệ sinh môi trường (NS&VSMT) Thói quen RTBXP trước khi ăn

và sau khi đại, tiểu tiện giúp loại bỏ mầm bệnh theo tay bẩn xâm nhiễm vào thức ăn,nước uống, vào cơ thể gây ra những bệnh tật nguy hiểm cho con người [19], [113]

Trang 13

Theo số liệu điều tra của Cục Y tế dự phòng năm 2007, tỷ lệ người khôngrửa tay sau khi đi tiểu là cao nhất (33,6%); tỷ lệ người không rửa tay trước khi ăn và

và sau khi đại tiện ít chênh lệch nhau (16,5% và 14,3%) [9]

Dân tộc Mông được cho là nhóm cần được quan tâm đặc biệt do đang đốidiện trước những nguy cơ rất lớn về lây nhiễm các bệnh nhiễm trùng: Tỷ lệ ngườiMông mù chữ rất cao (76,8%) Tỷ lệ người dân không được tiếp cận với cácphương tiện truyền thông cao hơn các nhóm dân khác

Tỉ lệ không rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh của người Mông khá cao

so với các nhóm dân tộc phía Bắc trong nhiều nguyên nhân chủ yếu vẫn do thóiquen và thiếu nước [3]

Sơn La là một tỉnh miền núi, là địa bàn sinh sống chủ yếu của đồng bào dântộc Mông Cùng với các cộng đồng dân tộc khác, dân tộc Mông tại tỉnh Sơn Lađang phải đối diện với các vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng với điều kiện sống khókhăn, thiếu nước sinh hoạt và tỷ lệ bệnh truyền nhiễm ngày càng gia tăng trongnhững năm gần đây và không có xu hướng thuyên giảm hoặc có thì chỉ giảm rất ít.Năm 2008- 2010, Tiêu chảy là một trong 5 bệnh luôn có số ca mắc cao nhất nhưnăm 2008 với 1507,9 trường hợp/100.000 dân; năm 2009 là 1441,9/100.000 dân;năm 2010 là 1318,1 trường hợp/100.000 dân Dân tộc Mông là dân tộc có số dânđứng thứ 3 tại tỉnh Sơn La (147.516 người) và tỷ lệ mắc bệnh trên 100.000 dân luôncao nhất so với các dân tộc khác trong tỉnh Năm 2008 tỷ lệ mắc tiêu chảy dân tộcMông là 2.685 trường hợp/100.000 dân, năm 2009 là 2.634/100.000 dân, năm 2010

tỷ lệ trên vẫn là 2.348/100.000 dân [12] Tỷ lệ này luôn cao hơn tỷ lệ chung toàntỉnh ở tất cả các bệnh truyền nhiễm khác không riêng gì tiêu chảy Với những lý dotrên, đưa Truyền thông- Giáo dục sức khỏe (TTGDSK) nhằm cải thiện hiểu biết vàthực hành rửa tay, rửa tay bằng xà phòng phù hợp cho dân tộc Mông, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ người Mông đang nuôi con dưới 5 tuổi tỉnh Sơn La và hiệu quả can thiệp”.

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ Mông đang nuôi con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Sơn La năm 2013.

2 Đánh giá hiệu quả can thiệp Truyền thông - Giáo dục sức khỏe đối với hành vi rửa tay bằng xà phòng của đối tượng nghiên cứu năm 2014-2016.

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Rửa tay và rửa tay bằng xà phòng

Bàn tay là công cụ đa năng nhất trong lao động và các sinh hoạt hàng ngàycủa con người, nhưng nó cũng là phương tiện chính để truyền tải phát tán mầmbệnh Các nghiên cứu cho thấy rằng bàn tay của một người có thể mang tới 4,6 triệumầm bệnh Theo đó, vi khuẩn cư trú trên bàn tay (tập trung số lượng lớn ở kẽ tay và

kẽ móng tay), đặc biệt, tụ cầu khuẩn thường xuyên có trên bề mặt da và trong niêmmạc mũi của người khỏe mạnh, loại vi khuẩn rất nguy hiểm này truyền nhiễm sangngười khác qua tiếp xúc thông thường [15] Các mầm bệnh trên bàn tay bao gồm:loại bám dính, loại tạm trú, và loại thường trú Theo sự ước lượng của các nhà khoahọc thì có vào khoảng từ 10.000 đến 100.000.000 mầm bệnh hiện diện trên hai bàntay và đặc biệt là dưới khe của các móng tay Trong bối cảnh này, một số mầm bệnh

có thể tồn tại trong nhiều phút thậm chí trong nhiều giờ Đó là trường hợp của các

loại virus gây các bệnh cảm nhiễm như cảm cúm, rối loạn tiêu hóa, bệnh feu sauvage (herpes labial), bệnh impétigo (chốc lở) và các bệnh ngộ độc thực phẩm

Một vài loại vi khuẩn độc hại hơn có nguồn gốc từ phân, chẳng hạn như vi khuẩnSalmonella (gây bệnh thương hàn) cũng có thể lây nhiễm từ hai bàn tay Mỗi khi bắttay với nhau là mỗi người có thể sau đó đem truyền sang cho 6 người khác… [14]

Vi khuẩn Staphylococcus là một loại vi khuẩn kị khí, thường xuyên có mặt trên bềmặt da và trong niêm mạc mũi ở khoảng 25% người khỏe mạnh bình thường.Staphylococcus aureus là một vi khuẩn được xem là khá nguy hiểm vì chúng có khảnăng sản xuất ra nhiều độc tố có thể làm cho người bị nhiễm dễ mắc bệnh Các bệnh

có liên quan đến vi khuẩn S.aureus bao gồm viêm dạ dày ruột Chúng được truyềnnhiễm sang người khác qua tiếp xúc thông thường Chỉ khi cơ thể bị thương hoặcgiảm sức đề kháng, vi khuẩn mới có cơ hội gây bệnh [22]

Việc giữ gìn cho bàn tay luôn sạch thông qua hành vi rửa tay bằng xà phòng

có vai trò rất lớn trong việc phòng chống lây nhiễm bệnh tật Các nhà khoa học đãxác định, trên 1cm2 da của người bình thường chứa tới 40.000 vi khuẩn Đặc biệt sốlượng này còn nhiều hơn ở trên da bàn tay, vốn là nơi thường xuyên tiếp xúc với đủ

Trang 16

mọi vật trong cuộc sống thường ngày [22] Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chỉmột động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩnShigella, vốn là nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy và làm tử vong hàng triệungười mỗi năm trên thế giới [115] Một số nghiên cứu cho thấy việc rửa tay có thểlàm giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%, nhiễm khuẩn đường hô hấp tới 19-45% Theo báo cáo của UNICEF, trung bình mỗi ngày trên thế giới có khoảng5.000 trẻ em dưới 5 tuổi chết do tiêu chảy Còn ở Việt Nam, hai nguyên nhân chínhgây tử vong nhiều nhất ở trẻ là bệnh viêm đường hô hấp cấp và bệnh tiêu chảy.Theo số liệu của Bộ Y tế, trong tháng 5/2008, cả nước có thêm 1.386 trường hợpmắc tiêu chảy cấp nguy hiểm, trong đó có 170 trường hợp tả Như vậy, tính từ đầunăm 2008 tới nay, cả nước có 3.394 ca tiêu chảy cấp nguy hiểm, trong đó có 497trường hợp dương tính tả [13]

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y tế Việt Nam: Việckhông rửa tay bằng xà phòng vào các thời điểm quan trọng như trước khi ăn, saukhi tiểu/đại tiện, trước khi cho con ăn và sau khi chăm sóc trẻ,… đang làm gia tăngcác bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, giun sán, đây là các bệnh rất phổ biến và chiếm tỷ lệ caotrong số các bệnh thường gặp ở các vùng nông thôn Việt Nam Đặc biệt, năm nayvới diễn biến phức tạp của dịch cúm A (H5N1) trên thế giới và ở Việt Nam, nguy

cơ có thể gây nên một đại dịch lớn thì vấn đề nâng cao ý thức người dân về cáchành vi vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường trong đó việc thực hành thường xuyênrửa tay bằng xà phòng để phòng tránh dịch bệnh là rất cần thiết

Theo Curtis, Motarjemi và Esrey ước tính khoảng 70% các trường tiêu chảytrẻ em năm 2000 có liên quan đến thực phẩm và nguồn nước và phần chủ yếu khôngrửa tay sau khi đi đại , tiểu tiện và trước khi ăn [51]

1.2 Giải phẫu sinh lý da và các phổ vi khuẩn trên da.

1.2.1 Cấu trúc, sinh lý của da.

Da là cơ quan bao bọc và chiếm 15% trọng lượng cơ thể Da bảo vệ cơ thểchống lại các tác nhân như vật lý, hoá học, cơ học, sinh học (vi trùng, vi nấm ), ởmôi trường chung quanh Cấu trúc da thay đổi theo tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp

Trang 17

và theo vị trí Da dày nhất là ở lòng bàn tay, lòng bàn chân: 0,8 mm, mỏng nhất ở

mí mắt: 0,6mm Da gồm có 3 phần: thượng bì, trung bì và hạ bì [21], [25]

Thượng bì: Gồm 5 lớp tế bào [25].

Trong cùng là màng đáy chỉ có một tế bào hình trụ gọi là tế bào đáy, xen kẽvới một số tế bào tạo ra sắc tố đen gọi là hắc tế bào, đây là lớp duy nhất có khả năngsinh sản những tế bào mới thay thế tế bào cũ, vì vậy nếu bị loét da, mất lớp này thìkhi lành sẽ có sẹo

Tiếp theo đó là lớp tế bào gai: đây là lớp dày nhất thượng bì, có khoảng mộtchục hàng tế bào, có những cầu liên bào rất chắc giúp da dai chắc

Kế tiếp là lớp tế bào hạt: gồm những tế bào hình thoi, chứa nhiều hạtKeratohyalin

Lớp sáng: chỉ có ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gồm 2 đến 3 hàng tế bào Cuối cùng là lớp sừng: gồm những tế bào sừng, không nhân, xếp thành nhữngphiến mỏng chồng chất lên nhau Bình thường, những tế bào sừng phía ngoài táchrời rồi tróc ra liên tục tạo nên những vảy nhỏ bám vào quần áo hay lẫn mồ hôi, chất

bã Như vậy, thượng bì luôn luôn ở tình trạng sinh sản những tế bào mới ở lớp đáy

tế bào, già cỗi ở lớp hạt, rồi tróc ra ở lớp sừng

Trung bì: Được cấu tạo bởi các sợi keo, sợi đàn hồi, sợi lưới, các tế bào sợi,

mô bào, dưỡng bào Lớp này có nhiều mạch máu, dây thần kinh, là bộ phận rất quantrọng vì là nơi các thuốc điều trị theo các mạch máu thấm vào thượng bì cũng nhưnang lông, tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn giúp da lành bệnh

Hạ bì

Chủ yếu là các tế bào mỡ xếp thành từng thùy, có nhiệm vụ nâng đỡ da

1.2.2 Chức năng da.

Da có những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng:

Da làm nhiệm vụ che chở cơ thể chống lại các tác nhân bên ngoài như tácnhân vật lý, cơ học, hóa học, sinh học, da đàn hồi và chắc chắn nhờ các sợi đàn hồi

và sợi keo bình thường da hơi căng nhưng khi bóp da sẽ thun lại tính giãn của da

Trang 18

mạnh ở người trẻ vì lúc này da có nhiều sợi đàn hồi, khi già, độ thun của da sẽ giảm

vì số lượng sợi đàn hồi, sợi keo và mô mỡ dưới da giảm, vì vậy da người già nhão,chảy xệ và có nhiều nếp nhăn

Chức năng điều hòa nhiệt độ: lớp sừng và chất bã cách nhiệt rất tốt, nhưngtùy theo nhiệt độ không khí bên ngoài mà da có thể nóng hay lạnh Sự đổ mồ hôilàm giảm thân nhiệt còn có các phản xạ vận mạch đưa đến hoặc một sự giãn mạchkhi nóng hoặc một sự co mạch khi lạnh [21]

1.2.3 Các phổ vi khuẩn thường có trên da bàn tay

Khi bàn tay tiếp xúc với bề mặt bất kỳ đồ vật, dụng cụ nào cũng có thể bị ônhiễm vi sinh vật trên đó Các vi sinh vật tìm thấy trên bàn tay gồm vi khuẩn, vi rút,nấm trong đó vi khuẩn là tác nhân thường gặp nhất gây ra Khi tiếp xúc với bệnhnhân trong các thao tác sạch như trải ga giường, bắt mạch, đo huyết áp, bàn tay có

thể bị ô nhiễm từ 100 – 1000 Vi khuẩn Klebsiella spp Khi tiếp xúc với máu, dịch

cơ thể như hút đờm, đặt catheter tĩnh mạch, thay băng vết mổ, các đầu ngón taynhân viên y tế (NVYT) có thể bị ô nhiễm tới 3000 tế bào vi khuẩn [17]

Mật độ vi khuẩn trên bàn tay mỗi người đều khác nhau, nhưng ít thay đổi ởmột người Năm 1938, Price PB chia các vi khuẩn phân lập được trên da bàn taylàm 2 nhóm: vi khuẩn vãng lai và vi khuẩn định cư [99]

Nhóm vi khuẩn này gồm:

Các cầu khuẩn Gram dương:S epidermidis, S aurers, S hominis

Nghiên cứu tại một đơn vị Hồi sức tích cực ở một Bệnh viện nước Đức thấy 18,4%

y tá và 36% bác sĩ có S aureus thường trú trên bàn tay [63].

Trang 19

Các vi khuẩn Gram âm:Acinetobacter, Enterobacter Theo nghiên cứu của Lanson, 21% NVYT có vi khuẩn Acinetobacter và các vi khuẩn thuộc nhóm Klebsiella-Enterobacter cư trú trên bàn tay [21], [61] Casewell và Phillips đã có những thông báo về các vụ dịch NKBV do lây truyền Klebsiella từ tay của các nhân

viên y tế (NVYT) Vi khuẩn Gram âm thường chiếm tỷ lệ cao ở tay của nhân viênđơn vị Hồi sức Cấp cứu, đặc biệt là ở những người rửa tay dưới 8 lần trong ngày [61].Phần lớn các vi khuẩn định cư có độc lực thấp, ít có khả năng gây nhiễmkhuẩn trừ khi chúng xâm nhập vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn như phẫu thuật,đặt catheter tĩnh mạch [20]

Vi khuẩn định cư thường cư trú ở lớp sâu của da, có khả năng tồn tại và nhânlên trên da, thường xuyên phân lập được trên da tay Vi khuẩn định cư có mật độthay đổi tuỳ theo từng vùng trên bàn tay Loại vi khuẩn này tập trung cao nhất ởxung quanh móng tay, móng tay và kẽ ngón tay và khó loại bỏ bằng các biện pháp

cơ học (rửa tay với nước và xà phòng thường) khó loại bỏ được hoàn toàn các vikhuẩn này khỏi bàn tay, nhưng có thể loại bỏ bằng hoá chất khử khuẩn Do vậy,trước khi thực hiện các thủ thuật xâm lấn, đặc biệt là trước khi phẫu thuật, NVYTcần vệ sinh tay bằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc chlorhexidine với thời giannhất định nhằm loại bỏ vi khuẩn này

1.2.5 Vi khuẩn vãng lai

Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay khi thăm hoặc tiếp xúc với các đồ vậtbẩn trong môi trường (chăn, ga giường, dụng cụ phương tiện sử dụng ), trong quátrình chăm sóc và điều trị Mức độ ô nhiễm bàn tay phụ thuộc vào loại thao tác sạchhay bẩn và thời gian thực hiện thao tác Các vi khuẩn vãng lai chỉ tồn tại trên dadưới 24 giờ, không có khả năng tự nhân lên và có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩnnày bằng biện pháp vệ sinh thường quy (VSTQ) (với nước và xà phòng thườnghoặc chà xát tay bằng dung dịch chứa cồn) [38]

Phổ vi khuẩn vãng lai gồm mọi vi sinh vật có mặt trong môi trường (Vi khuẩn, vi

rút, nấm, ký sinh trùng), nhưng thường gặp là: liên cầu, E coli, trực khuẩn mủ xanh Vi

khuẩn vãng lai là thủ phạm chính gây nên [100] Do vậy, VSTQ trước và sau khi tiếpxúc là biện pháp đơn giản và quan trọng nhất trong phòng ngừa nhiễm khuẩn

Trang 20

Bàn tay khi động chạm vào bất kỳ bề mặt môi trường nào cũng có thể bị ônhiễm vi sinh vật

1.3 Một số nghiên cứu về rửa tay xà phòng trên thế giới

Theo các nhà khoa học Mỹ, rửa tay bằng xà phòng có thể giảm 1/2 số trẻ emnhiễm viêm phổi, căn bệnh gây tử vong hàng đầu cho trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thếgiới [41]

Nghiên cứu tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh dịch (CDC) Atlanta cũng cho biếtđộng tác đơn giản này còn có thể giảm thiểu các trường hợp mắc bệnh tiêu chảy,chốc lở, nhiễm trùng da [44]

Mỗi ngày trên thế giới, hầu hết ở các nước đang phát triển, có tới hơn 27.000trẻ em dưới 5 tuổi chết vì những nguyên nhân lẽ ra có thể phòng tránh được Viêmphổi và các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cướp đi sinh mạng khoảng 2 triệu trẻ

em mỗi năm, gần 3/4 con số này là trẻ dưới 1 tuổi [61]

Tại Mỹ, trong một cuộc khảo sát qua điện thoại, kết quả cho thấy, hơn 90%người được hỏi cho biết họ sẽ rửa tay sau khi đi vệ sinh ở nơi công cộng Tuy nhiên,khi các nhà nghiên cứu quan sát hành vi đi vệ sinh ở nơi công cộng thì thấy: chỉ hơn75% nam giới và 90% phụ nữ có rửa tay sau khi ra khỏi nhà vệ sinh [59]

Mỗi năm ở Anh có khoảng 100.000 người bị nhiễm khuẩn bệnh viện và5.000 người bị chết gây tốn kém cho hệ thống y tế Quốc gia của nước này 1 tỷ đô la

Mỹ mỗi năm Trên 30% các nhiễm trùng bệnh viện này có thể kiểm soát được bằnghành vi rửa tay xà phòng [70]

Rửa tay xà phòng đặc biệt quan trọng đối với trẻ em ở độ tuổi vườn trẻ,chúng có nguy cơ lây nhiễm bệnh đường tiêu hóa rất cao và dễ dàng lây nhiễm chogia đình và các thành viên khác trong cộng đồng [71] Để tránh cho trẻ bị mắc cácbệnh lây truyền theo đường tiêu hóa, cần hướng dẫn và giám sát chúng rửa taythường xuyên và đúng quy trình

Tỷ lệ người dân thường xuyên rửa tay xà phòng rất cao ở các nước phát triển,tháng 8 năm 2005, một nghiên cứu tiến hành quan sát hành vi rửa tay xà phòng của6.336 người tại một số công trình vệ sinh công cộng ở 4 thành phố lớn của Mỹ năm

Trang 21

2005 cho thấy, tỷ lệ người dân rửa tay xà phòng sau khi sử dụng nhà vệ sinh côngcộng là 83%, tỷ lệ này cao hơn ở phụ nữ (90%) và thấp hơn ở nam giới (75%) [68].

Tỷ lệ người dân rửa tay xà phòng thường xuyên rất thấp ở các nước đang phát triển

Ở Ghana, một nghiên cứu quan sát đã chỉ ra rằng chỉ có 4% người dân rửa tay bằng

xà phòng [39]

Nhóm do tiến sĩ Stephan Luby thuộc CDC (Trung tâm Kiểm soát dịch bệnhcủa Mỹ) đứng đầu đã nghiên cứu tại một khu dân cư ở thành phố Karachi (Pakistan)

đã so sánh ảnh hưởng của rửa tay xà phòng hàng ngày đối với 900 hộ gia đình sống

ở các cụm dân cư này trong vòng 1 năm Khoảng 600 trong số 900 hộ này thườngxuyên được cung cấp xà phòng thường và xà phòng diệt khuẩn trong khi 300 hộ cònlại (nhóm đối chứng) chỉ được trang bị các kiến thức về vệ sinh [88] Những giađình này đều được ghé thăm hàng tuần và được khuyến khích giữ vệ sinh tốt hơn.Kết quả, so với những gia đình trong nhóm đối chứng, các ca tiêu chảy và viêmphổi giảm 50% ở những gia đình thuộc nhóm còn lại Bệnh chốc lở da ở trẻ em dưới

15 tuổi cũng giảm 34% Mỗi năm bệnh viêm phổi và tiêu chảy làm hơn 3,5 triệu trẻ

em trên thế giới tử vong Như vậy thói quen đơn giản và rẻ tiền này rất cần thiết chonhững quốc gia đang phát triển Không có sự khác biệt giữa các gia đình dùng xàphòng thường và xà phòng diệt khuẩn Theo Luby, để giảm thiểu mầm bệnh, rửa taybằng xà phòng đặc biệt quan trọng trước khi chuẩn bị đồ ăn và ăn, sau khi đi vệ sinh

và sau khi tắm cho trẻ Thực tế đã chứng minh giữ gìn vệ sinh đôi tay nên là ưu tiênhàng đầu trong chăm sóc sức khỏe bản thân và cộng đồng [88], [89]

Tại Colombia, nơi có tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cao, một cuộc điều tra cơ bản

đã được tiến hành tại 500 hộ gia đình thuộc diện nghèo, phân bố đều tại các vùngđịa lý chính của Colombia, kể cả ở thành thị hay nông thôn (ít nhất một hộ gia đình

có một trẻ em dưới 5 tuổi) Cuộc điều tra xác định tỷ lệ rửa tay ở những bà mẹ vànhững người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi Dưới đây là một số kết quả chính [40], [92]:10% trẻ em dưới 5 tuổi có triệu chứng tiêu chảy tại ngày trước khi tiến hành cuộcđiều tra; 22% trẻ em dưới 5 tuổi có triệu chứng tiêu chảy trước hai tuần tiến hành cuộcđiều tra; Chỉ 20,7% trường hợp có rửa tay tại thời điểm quan sát; Chỉ 38% trong sốtrường hợp rửa tay là có sử dụng xà phòng; Tỷ lệ rửa tay tại thời điểm sau tiểu tiện, đại

Trang 22

tiện (32,2%) cao hơn đáng kể so với tỷ lệ rửa tay trước khi ăn (17,5%); Sau khi tiếp xúcvới phân, hơn một nửa số trường hợp rửa tay bằng xà phòng Còn tại thời điểm trướckhi ăn, chỉ dưới 1/3 số đối tượng quan sát có rửa tay bằng xà phòng.

Victor Rhee thuộc Trường Y tế cộng đồng Johns Hopkins Bloomberg và cácđồng sự đã có được số liệu từ 1 cuộc nghiên cứu quan sát trên 23.662 trẻ sơ sinhtrong suốt 28 ngày tuổi ở vùng nông thôn phía bắc Nepal từ năm 2002-2006 Các bà

mẹ của những trẻ sơ sinh được đưa những bảng câu hỏi sau khi sinh và sau đó 2tuần để xác định các thói quen rửa tay của mẹ và người đỡ đẻ [46], [72]

Hơn 90% các trẻ được sinh ở nhà hay ngoài trời trong khi bà mẹ đang đượcchuyển đến 1 nơi đầy đủ tiện nghi Những người đỡ đẻ rửa tay trước khi đỡ thì có59,2% trẻ sinh ra còn sống, trong khi đó chỉ có 14,8% các bà mẹ rửa tay bằng xàphòng và nước hay chất khử trùng trước khi chạm vào đứa con Tỷ lệ tử vong toànthể là có 32,1/1.000 trẻ sinh ra còn sống [48]

Những trẻ sơ sinh mà người đỡ đẻ của chúng rửa tay trước khi đỡ thì nguy cơ

tử vong thấp hơn 25% so với những trẻ mà người đỡ đẻ đã không rửa tay Những trẻ

sơ sinh mà mẹ của chúng rửa tay trước khi sờ vào chúng thì nguy cơ tử vong của trẻthấp hơn 60% so với những trẻ mà mẹ của chúng đã không rửa tay trước khi chạmvào chúng Nói chung, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh thấp hơn 41% nếu người đỡ đẻ

và mẹ của chúng rửa tay trước khi chạm vào chúng [51]

Ở các nước đang phát triển, nơi mà phần lớn trẻ được sinh tại nhà, thì người

ta không nhận thức rõ ràng về khái niệm rửa tay bằng xà phòng trước khi đỡ đẻ đểbảo vệ chúng khỏi mắc bệnh lây nhiễm Các phương pháp củng cố và tăng cườngviệc rửa tay của các bà mẹ và người đỡ đẻ có thể cải thiện được tỷ lệ tử vong của trẻ

Trang 23

gây ra những bệnh tật nguy hiểm cho con người Theo tiến sỹ Anthony Komarofftại đại học Harvard Health Letter (Mỹ), các nghiên cứu cho thấy, rửa tay bằng xàphòng với nước trong 15 giây có thể loại bỏ được 90% vi khuẩn [40]

Nhìn chung, tỷ lệ người dân thường xuyên rửa tay xà phòng rất cao ở cácnước phát triển Tháng 8 năm 2005, một nghiên cứu tiến hành quan sát hành vi rửatay xà phòng của 6.336 người tại một số công trình vệ sinh công cộng ở 4 thành phốlớn của Mỹ năm 2005 cho thấy, tỷ lệ người dân rửa tay xà phòng sau khi sử dụngnhà vệ sinh công cộng là 83%, tỷ lệ này cao hơn ở phụ nữ (90%) và thấp hơn ở namgiới (75%) [68] Trong khi đó, tỷ lệ người dân rửa tay xà phòng thường xuyên rấtthấp ở các nước đang phát triển Một nghiên cứu quan sát ở Ghana đã chỉ ra rằngchỉ có 4% người dân rửa tay bằng xà phòng [39] Những trẻ sơ sinh mà người đỡ đẻcủa chúng rửa tay trước khi đỡ thì nguy cơ tử vong thấp hơn 25% so với những trẻ

mà người đỡ đẻ đã không rửa tay Những trẻ sơ sinh mà mẹ của chúng rửa tay trướckhi sờ vào chúng thì nguy cơ tử vong của trẻ thấp hơn 60% so với những trẻ mà mẹcủa chúng đã không rửa tay trước khi chạm vào chúng Nói chung, tỷ lệ tử vong củatrẻ sơ sinh thấp hơn 41% nếu người đỡ đẻ và mẹ của chúng rửa tay trước khi chạmvào chúng [46]

1.4 Các nghiên cứu về rửa tay xà phòng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hành vi rửa tay xà phòng nói chung vẫn chưa được người dânquan tâm Theo kết quả điều tra vệ sinh môi trường tại 3 huyện Quảng Trạch, BốTrạch, Phú Lộc thuộc Bắc Trung bộ năm 2005, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu trả lờithường xuyên rửa tay xà phòng rất thấp (dưới 2%), trong đó rửa tay xà phòng trướckhi ăn là 1,7%, sau khi ăn là 1,8% [10]

Kết quả điều tra vệ sinh môi trường tại 3 huyện Quản Bạ, Yên Minh, ChiêmHóa thuộc khu vực miền núi phía Bắc năm 2005, hầu hết người dân ở các vùngmiền núi này đều không có thói quen rửa tay xà phòng trước khi ăn và sau khi đạitiểu tiện Chỉ có 0,2% đối tượng thường xuyên rửa tay xà phòng trước khi ăn và0,8% đối tượng rửa tay xà phòng sau khi đại tiểu tiện [4]

Trang 24

Theo kết quả điều tra thực trạng quản lý phân người và kiến thức, thái độ,thực hành của cộng đồng một số tỉnh phía Bắc của Lê Văn Chính năm 2005 chothấy tỷ lệ đối tượng thường xuyên rửa tay xà phòng trước khi ăn là 17,2% và saukhi đi đại, tiểu tiện là 41%.

Kết quả điều tra của Hội chữ thập đỏ Mỹ về hành vi rửa tay xà phòng của các

bà mẹ tại 6 tỉnh Việt Nam hiện đang chăm sóc con nhỏ dưới 24 tháng tuổi ở hai thờiđiểm rửa tay xà phòng sau khi đại tiện và một trong các thời điểm: sau khi rửa đítcho con hoặc trước khi chuẩn bị bữa ăn hoặc trước khi ăn hoặc trước khi cho con ănchỉ đạt 17% tổng số bà mẹ được quan sát [36]

Một nghiên cứu khác là cuộc điều tra về vệ sinh môi trường do Bộ Y tế tiếnhành đầu năm 2006 trên 37.000 hộ gia đình tại 20 tỉnh đặc trưng cho vùng nôngthôn Việt Nam Tất cả các đối tượng từ 16 - 60 tuổi trong gia đình đều được hỏi là

có rửa tay xà phòng thường xuyên hay không trước khi ăn, sau khi tiểu tiện và saukhi đại tiện? Điều tra viên đã kết hợp phỏng vấn và trực tiếp quan sát có xà phònghay không tại nơi rửa tay để khẳng định tính xác thực trong hành vi rửa tay của đốitượng Kết quả điều tra như sau [10]: Tỷ lệ đối tượng rửa tay xà phòng rất thấp ở cả

ba thời điểm, trước khi ăn là 12%, sau tiểu tiện là 12,2% và sau đại tiện là 15,6%.Kết quả của cuộc điều tra này cũng đã xác nhận hành vi rửa tay xà phòng chưa phảithói quen của người dân nông thôn Việt Nam, đặc biệt là với các đối tượng học vấnthấp, thu nhập thấp, nam giới, dân tộc thiểu số, các vùng miền núi phía Bắc, Trung

bộ và Tây Nguyên Đối với họ, rửa tay xà phòng còn là một việc rất xa lạ

Ở các nhóm đối tượng có trình độ học vấn cao hoặc thu nhập cao, phụ nữ,dân tộc Kinh, các vùng ĐBSH, Đông Nam Bộ, ĐBSCL có tỷ lệ rửa tay cao hơn hẳn

so với các nhóm còn lại, tuy nhiên vẫn còn ở mức thấp Xác suất một người thuộcnhóm có học vấn từ trung học cơ sở trở lên có kiến thức phòng bệnh giun và tiêuchảy bằng cách rửa tay xà phòng cao hơn 2,2 lần so với nhóm có học vấn từ tiểuhọc trở xuống Tỷ lệ phụ nữ thường xuyên có rửa tay xà phòng trước khi ăn và sauđại tiểu tiện là gần 20%, cao hơn so với nam giới khoảng 1,5 lần Xác suất một đốitượng thuộc gia đình có thu nhập bình quân trên 200.000 đồng/người/tháng có rửa

Trang 25

tay xà phòng cao hơn từ 2,3 - 3,2 lần so với nhóm thu nhập từ 200.000đồng/người/tháng trở xuống Phân tích theo vùng sinh thái, xác suất một đối tượngthuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên córửa tay xà phòng cao hơn trên 10 lần, vùng Đông Nam Bộ cao hơn từ 26 đến 30 lần.

Tại trường học, kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ điểm trường có học sinh rửatay bằng xà phòng rất thấp ở tất cả các bậc học và các vùng sinh thái Trong tổng sốhọc sinh được quan sát ở những điểm trường có khu vực rửa tay, chỉ có một tỷ lệ rấtnhỏ học sinh có rửa tay bằng xà phòng sau khi đi tiểu tiện (4,6%) và sau khi đi đạitiện (11,5%) Kết quả đã khẳng định rằng đại đa số học sinh không có thói quen rửatay xà phòng sau khi sử dụng công trình vệ sinh mặc dù trường các em có khu vựcrửa tay và từ nhỏ các em đã được dạy điều này Thêm vào đó, tình trạng thiếu nước

và đặc biệt là thiếu xà phòng tại khu rửa tay cũng đã làm giảm tỷ lệ học sinh rửatay bằng xà phòng Kết quả điều tra về tính sẵn có của xà phòng tại khu vực rửa tay

là chỉ có 4,6% tổng số điểm trường điều tra có khu vực rửa tay có xà phòng và chỉ có29% số điểm trường điều tra có khu vực rửa tay có đủ nước [9]

Về hành vi rửa tay, trong số những hoạt động vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xàphòng chỉ được 5% số bà mẹ được phỏng vấn đề cập đến đầu tiên Trường hợp rửatay thường xuyên nhất là sau khi đi vệ sinh, theo đó là trước bữa ăn, sau khi lau chùicho trẻ và sau khi nấu ăn Theo quan sát, tỷ lệ rửa tay xà phòng thực tế là 5% trướckhi cho trẻ ăn và 3% sau khi cho trẻ ăn Sau khi cho trẻ đi đại tiện, chỉ có 1/4 sốngười được phỏng vấn có rửa tay bằng xà phòng bánh - tỷ lệ này bằng với tỷ lệ khingười dự vấn trực tiếp đi đại tiện, 1/4 sử dụng loại chất tẩy rửa khác Trẻ em rửatay ít hơn nhiều so với các bà mẹ Một kết luận có ý nghĩa được đưa ra là: Nơi để

xà phòng rất quan trọng trong việc hình thành thói quen rửa tay của người dân; và

sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn ảnh hưởng rõ rệt tới hoạt động vệ sinh,đặc biệt là rửa tay [24]

Tìm hiểu về những động lực và cản trở hình thành thói quen rửa tay xàphòng, báo cáo nhận định, trước hết là do sự thiếu hiểu biết Mọi người dân đều biết

là vi khuẩn tồn tại, nhưng hầu hết các bà mẹ (đặc biệt là những người có trình độ

Trang 26

học vấn thấp) chỉ nhận thức rằng vi khuẩn là các vết bẩn nhìn thấy được bằng mắtthường, do vậy, họ chỉ rửa tay với xà phòng khi tay bẩn hoặc có mùi khó chịu.Những người dự vấn cũng nghĩ rằng các bệnh hay gặp là do các nhân tố khác, chứkhông phải do thực hiện vệ sinh kém, do vậy, họ thiếu động cơ để rửa tay xà phòng.Một số nhân tố thực tiễn cũng có vai trò quyết định là thời gian, giá cả và hậu cần.Những phụ nữ nghèo thường rất bận bịu, trong khi đó, rửa tay xà phòng mất nhiềuthời gian hơn so với việc chỉ rửa tay bằng nước không - hoặc không cần rửa tay.Mặc dù mỗi gia đình đều có sử dụng chất tẩy rửa, nhưng xà phòng thơm ít phổ biếnhơn vì đó là phần chi phí thêm Nơi để xà phòng cũng rất quan trọng, và trên thực tế,nhà vệ sinh/khu vực tắm thường ở xa nơi nấu ăn cũng như nơi để các chất tẩy rửa Mặtkhác, nước và hệ thống vệ sinh thường có chất lượng rất kém [24].

Kết quả nghiên cứu đầu kỳ (trước can thiệp) trong khuôn khổ dự án “Hiện trạng rửa tay xà phòng tại địa bàn dự án do Quỹ Unilever tài trợ” tại 10 xã thuộc

các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nam, Hà Tây và Hải Phòng từ tháng 12/2006 đếntháng 1/2007 [11] cho thấy: tỷ lệ người dân trong cộng đồng có thực hiện hành virửa tay xà phòng rất thấp Chỉ có 6,1% số đối tượng được quan sát có rửa tay xàphòng trước khi ăn, 0,8% rửa tay xà phòng sau tiểu tiện và 14,6% có thực hiện hành

vi rửa tay xà phòng sau khi đi đại tiện Tỷ lệ các bà mẹ rửa tay xà phòng trước khicho trẻ ăn, sau khi lau/rửa đít và đổ phân cho trẻ cũng rất thấp (2,6%, 10,5% và16,1%) Tại các nơi công cộng như trường học, trạm y tế, UBND xã chỉ có: 2,5% sốngười có rửa tay bằng xà phòng sau khi đi đại tiện (trong đó 2,3% là học sinh mầmnon và 15% số người đi đại tiện ở trạm y tế, 0% tại các bậc học lớn hơn và UBNDxã); 6,3% số người đi tiểu tiện ở trạm y tế là có rửa tay bằng xà phòng, còn tất cảhọc sinh (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở) cũng như những người ở UBND xãđều không có thói quen này Điều tra còn cho thấy: tỷ lệ rửa tay xà phòng của ngườidân trong cộng đồng còn thấp không hẳn do thiếu nước sinh hoạt (90% gia đình củanhững người được điều tra có đủ nước sinh hoạt hàng ngày), cũng không hẳn do nơirửa tay cách quá xa nơi ăn hay nơi đại tiểu tiện (khoảng một nửa số gia đình quansát có nơi rửa tay cách xa nơi ăn và đại tiểu tiện không quá 5m) Trình độ học vấn,mức thu nhập của gia đình khá và vị trí để xà phòng gần với nơi rửa tay có ảnh

Trang 27

hưởng hỗ trợ cho việc thực hiện hành vi rửa tay xà phòng Yếu tố có tác động rất rõtới hành vi rửa tay xà phòng là việc sẵn có xà phòng rửa tay và đặc biệt là nhận thứcđúng về tác dụng của rửa tay xà phòng Bên cạnh việc thiếu nước và xà phòng chorửa tay tại trường học, thì ý thức rửa tay bằng xà phòng của học sinh sau đại tiểutiện còn chưa tốt Nếu như ở trường tỷ lệ học sinh rửa tay xà phòng sau đại tiểu tiệnthấp là do không có sẵn xà phòng thì ở tại gia đình trong điều kiện nước và xàphòng không quá thiếu thì tỷ lệ học sinh rửa tay xà phòng trước khi ăn và sau đạitiểu tiện cũng rất thấp và thấp hơn cả người lớn trong gia đình Như vậy, giáo dụchành vi vệ sinh cá nhân cho học sinh, đặc biệt là rửa tay xà phòng chưa đạt đượcmục tiêu học đi đôi với hành

Cuộc điều tra đánh giá hiệu quả can thiệp thông qua việc so sánh với kết quả

đánh giá ban đầu của dự án “Hiện trạng rửa tay xà phòng tại địa bàn dự án do Quỹ Unilever tài trợ”, được tiến hành tại 10 xã thuộc các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hà

Nam, Hà Tây và Hải Phòng từ tháng 12/2007 đến tháng 1/2008, đã tiến hành quansát hành vi rửa tay của 390 trẻ em từ 6-15 tuổi, 390 người từ 16-60 tuổi và 390 bà

mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi tại hộ gia đình trong vòng 14 giờ (từ 5 giờ sáng đến

20 giờ tối); hành vi rửa tay của những người sử dụng công trình vệ sinh ở trườnghọc, trạm y tế, trụ sở UBND từ 7 giờ đến 17 giờ [11] cho thấy: Hiểu biết của ngườidân nói chung và học sinh nói riêng về các bệnh có thể bị lây nhiễm do bàn taykhông sạch sau can thiệp tuy chưa thật cao và toàn diện nhưng đã được cải thiệnđáng kể Tỷ lệ đối tượng được phỏng vấn kể được các bệnh có thể bị lây nhiễm dobàn tay không sạch như tiêu chảy, tả, lỵ thương hàn sau can thiệp đã tăng lên rấtđáng kể so với trước can thiệp Ngược lại, tỷ lệ đối tượng điều tra không kể đượctên một bệnh nào do bàn tay không sạch gây ra sau can thiệp đã giảm xuống còn10,4%, thay vì 23,1% trước can thiệp Hiểu biết đúng và đầy đủ về qui trình rửa tay

xà phòng tuy chưa cao nhưng đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp Nhóm trẻ em(6-15 tuổi) hiểu biết về qui trình rửa tay xà phòng tốt hơn so với nhóm 16-60 tuổi(36,9% số trẻ em kể được đầy đủ và đúng trình tự 6 bước rửa tay xà phòng, cònnhóm 16-60 chỉ đạt 7,9%) Tỷ lệ đối tượng được quan sát trong điều tra cuối kỳ córửa tay xà phòng trước khi ăn cao hơn nhiều so với trước can thiệp (54% so với

Trang 28

6,1%) Tỷ lệ đối tượng có rửa tay xà phòng sau tiểu tiện trong điều tra cuối kỳ đãđược cải thiện nhưng vẫn còn rất thấp (11,8% sau can thiệp so với 0,8% trước canthiệp) Hành vi rửa tay xà phòng sau khi đi đại tiện của đối tượng điều tra sau canthiệp đã cao hơn rất nhiều so với trước can thiệp (63,8% so với 14,6%)

Theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế Việt Nam: Việc không rửa tay bằng

xà phòng vào các thời điểm quan trọng như trước khi ăn, sau khi tiểu/đại tiện, trướckhi cho con ăn và sau khi chăm sóc trẻ,… đang làm gia tăng các bệnh tiêu chảy, tả,

lỵ, giun sán Đây là các bệnh rất phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong số các bệnhthường gặp ở các vùng nông thôn Việt Nam Đặc biệt, với diễn biến phức tạp củadịch cúm A (H5N1) trên thế giới và ở Việt Nam, nguy cơ có thể gây nên một đạidịch lớn thì vấn đề nâng cao ý thức người dân về các hành vi vệ sinh cá nhân, vệsinh môi trường trong đó việc thực hành thường xuyên rửa tay bằng xà phòng đểphòng tránh dịch bệnh là rất cần thiết

Cuộc điều tra về vệ sinh môi trường do Bộ Y tế tiến hành đầu năm 2006 trên37.000 hộ gia đình tại 20 tỉnh đặc trưng cho vùng nông thôn Việt Nam cho thấy: Tỷ

lệ đối tượng rửa tay xà phòng rất thấp ở cả ba thời điểm, trước khi ăn là 12%, sautiểu tiện là 12,2% và sau đại tiện là 15,6% Kết quả của cuộc điều tra này cũng đãxác nhận hành vi rửa tay xà phòng chưa phải thói quen của người dân nông thônViệt Nam, đặc biệt là với các đối tượng học vấn thấp, thu nhập thấp, nam giới, dântộc thiểu số, các vùng miền núi phía Bắc, Trung bộ và Tây Nguyên Đối với họ, rửatay xà phòng còn là một việc rất xa lạ [11]

Kết quả điều tra của Hội chữ thập đỏ Mỹ về hành vi rửa tay xà phòng của các

bà mẹ tại 6 tỉnh Việt Nam hiện đang chăm sóc con nhỏ dưới 24 tháng tuổi ở hai thờiđiểm rửa tay xà phòng sau khi đại tiện và một trong các thời điểm: sau khi rửa đítcho con hoặc trước khi chuẩn bị bữa ăn hoặc trước khi ăn hoặc trước khi cho con ănchỉ đạt 17% tổng số bà mẹ được quan sát [36]

Một nghiên cứu khác cho thấy, tỷ lệ bà mẹ có rửa tay bằng xà phòng/chất tẩyrửa ở một số thời điểm quan trọng còn rất thấp: trước khi ăn là 15,3%, sau khi đitiểu tiện là 4,7%, sau khi đi đại tiện là 25%, trước khi cho trẻ ăn là 13,2%, sau khilau/rửa đít cho trẻ là 25% và sau khi dọn phân/đổ bô cho trẻ là 29,3%

Trang 29

“Nghiên cứu thói quen sinh hoạt của người dân” là một Dự án Quốc gia vềvấn đề rửa tay do công ty IndoChina tiến hành điều tra tại 8 tỉnh nước ta Tổng sốđối tượng được dự vấn (quan sát, phỏng vấn, theo dõi) là 720 bà mẹ có con nhỏdưới 5 tuổi, đang sống tại các thị trấn & khu vực nông thôn các xã Kết quả chothấy: đại đa số đối tượng rửa tay ít nhất 3 lần/ngày, tuy vậy, phân nửa số đó chỉ rửatay với nước, 1/4 dùng xà phòng thơm và phần còn lại dùng các chất tẩy rửa khác;60% số người dự vấn chỉ rửa tay với nước cho biết họ thấy xà phòng không cầnthiết và việc sử dụng xà phòng để rửa tay có mối tương quan trực tiếp đối với trình

độ học vấn của người dự vấn [24]

Trong cuộc điều tra Các thói quen và hành vi liên quan đến việc rửa tay ởnhóm các bà mẹ có con dưới 5 tuổi do Bộ Y tế tiến hành cho thấy: Chỉ có 30% số

bà mẹ được phỏng vấn rửa tay trước khi cho con ăn và 20% rửa tay sau khi cho con

ăn Trong hầu hết các trường hợp, họ chỉ rửa tay bằng nước Điều tra cũng cho thấychỉ có 22,5% các bà mẹ rửa tay sau khi cho con đi vệ sinh và hơn một nửa trong số

họ cũng chỉ rửa tay bằng nước và không dùng xà phòng hay bất kỳ một loại hoáchất tẩy rửa nào Chỉ 12% người dân có thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi

ăn và sau khi vệ sinh

1.5 Nghiên cứu về TT - GDSK trong phòng, chống bệnh lây truyền

Truyền thông - Giáo dục sức khỏe là một phương tiện hữu hiệu để thay đổithói quen truyền thống như: sử dụng màn và màn tẩm hóa chất xua diệt muỗi phòngchống bệnh sốt rét, thói quen ăn gỏi cá của người dân trong các vùng lưu hành bệnhsán lá gan và thói quen sử dụng bao cao su trong việc phòng chống lây qua đườngtình dục như AIDS là không thể thay đổi trong giai đoạn ngắn Sự khuyến khíchchuẩn bị thức ăn đúng cách, cung cấp màn và khuyến khích người dân sử dụng màndường như là biện pháp có hiệu quả nhất thông qua kết hợp nhiều loại hình truyềnthông gián tiếp và trực tiếp Tuy nhiên, những cán bộ y tế cần sử dụng các kỹ thuậtgiao tiếp tốt hơn cho thông điệp này Sự tuyên truyền giáo dục kiên trì và liên tụcnhấn mạnh vào lợi ích việc nằm màn, của nấu chín cá nước ngọt được coi là biệnpháp có hiệu quả để phòng, chống các bệnh này [84]

Trang 30

1.6 Nghiên cứu về TTGDSK trong cộng đồng người dân tộc ít người và người Mông.

1.6.1 Nguồn gốc và lịch sử, văn hóa dân tộc Mông

Dân tộc Mông là dân tộc ít người nằm trong đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam.Dân tộc Mông có nhiều tên gọi khác nhau, các thuật ngữ, "Miêu" và "Mông" , H’Mông ("Mèo" và "Mông" tại Việt Nam), hiện thời đều được sử dụng để chỉ một trongnhững nhóm thổ dân ở Trung Quốc Họ sống chủ yếu ở miền nam Trung Quốc, trongcác tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc

Dân tộc Mông được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng cácdân tộc thiểu số ở Việt Nam Dân tộc Mông cư trú thường ở độ cao từ 800 đến1500m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địabàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến

Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Namnhư: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La Do tập quán du mục nên một số ngườiMông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ởmột số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum [23]

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mông ở Việt Nam códân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở ViệtNam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Mông cư trú tập trung tạicác tỉnh: Hà Giang (227.909 người, chiếm 31,8 % dân số toàn tỉnh và 21,7 % tổng

số người Mông tại Việt Nam), Điện Biên (168.542 người, chiếm 34,2 % dân số toàntỉnh và 16,0 % tổng số người Mông tại Việt Nam), Sơn La (147.516 người, chiếm13,9 % dân số toàn tỉnh và 14,7 % tổng số người Mông tại Việt Nam), Lào Cai

(143.795 người, chiếm 23,3 % dân số toàn tỉnh và 13,7 % tổng số người Mông tạiViệt Nam), Lai Châu (81.829 người), Yên Bái (36.837 người), Cao Bằng (50.167người), Nghệ An (28.992 người), Đắk Lắk (22.760 người), Đắk Nông (21.952người), Bắc Kạn (17.470 người), Tuyên Quang (16.974 người), Thanh Hóa (15.116người) [12], [29]

Dân tộc Mông là một dân tộc có lịch sử lâu đời, hầu hết các chuyên gianghiên cứu về người Mông trên thế giới đều cho rằng, người Mông đã từng sinh

Trang 31

sống ở lưu vực sông Hoàng Hà và là một trong những chủ nhân của nhà nước TamMiêu [32], nền văn hóa phát triển khá rực rỡ với nền văn minh lúa nước, có chữ viết

và vương quốc riêng Truyền thuyết của người Hán cho rằng, người Mông xuất hiệnsớm nhất ở lưu vực sông Hoàng Hà và người Mông theo Suy Vưu chống lại Hoàng

Đế, nhưng Suy Vưu đã bị Huy Viên là người Hán đánh bại và xưng vua, nên ngườiMông buộc phải di cư về hồ Động Đình và hồ Bành Lãi, xây dựng nên nước TamMiêu và đóng đô ở Trường Sa Sách Chiến quốc ghi rõ địa vực cư trú của ngườiMông thời Hạ Vũ, và theo lời của Ngô Khởi thì nước Tam Miêu xưa ở phía tả có hồĐộng Đình, phía hữu có hồ Bành Lãi, phía nam là núi Văn Sơn, phía bắc là núiHành Sơn, tức thuộc các vùng Giang Tây, An Tây, Hồ Nam ngày nay Theo Báchkhoa thư văn hoá cổ điển Trung Quốc của Nguyễn Tôn Nhan [26], người Môngxuất hiện ở khu vực trung và hạ lưu sông Trường Giang, ngày nay là vùng Hồ Bắc,

Hồ Nam và Giang Tây với vương quốc Cửu Lê do vua Suy Vưu đứng đầu bao gồm

9 bộ lạc, mỗi bộ lạc có 9 thị tộc, có khả năng dùng đồng chế tạo vũ khí Bị liênminh bộ lạc của Hoàng đế - Viêm đế đánh bại sau mấy chục trận chiến ở cánh đồngTrác Lộc, một bộ phận Cửu Lê không chịu khuất phục, đã rút lui về lưu vực GiangHán Phương Nam và lập nên bộ lạc liên minh Tam Miêu Ở thời kỳ của vuaNghiêu, Thuấn, Vũ, vương quốc “Tam Miêu” của người Mông đã được xây dựng

và khá hùng mạnh Sau khi Sở Trang Vương xưng vương, đã dời đô từ lưu vựcGiang Hán Phương Nam về vùng Hồ Bắc, phần lớn người dân “Tam Miêu” cùngcác tộc người ở miền trung lưu vực sông Trường Giang thuộc vương quốc “Kinhsở” Nước Kinh sở thời Chiến quốc và Miêu tộc ngày nay là hậu duệ của cửu Lê,Tam Miêu Đến thời nhà Hán, việc mở rộng lãnh thổ và chính sách đàn áp rất khốcliệt đã đẩy người Mông lui dần xuống phía nam của sông Hoàng Hà và rút về lưuvực sông Dương Tử, rồi vượt sông Dương Tử đi về phía Nam và Tây Nam Vàokhoảng thế kỷ IV sau công nguyên, lợi dụng sự suy yếu của triều đình nhà Hán,người Mông đã kiểm soát vùng Hồ Bắc, Hồ Nam và lập ra vương quốc Mông Đếnthế kỷ IX, vương quốc Mông bị nhà Hán đánh bại, người Mông lại bị truy diệt vàphải di cư xuống vùng Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam để tránh cáccuộc tàn sát liên tục của các triều đại nhà Hán Từ cuối thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ

Trang 32

XIX, các cuộc khởi nghĩa chống chế độ chia rẽ và áp bức dân tộc vẫn liên tiếp nổ

ra Từ năm 1840 đến năm 1869, người Mông ở Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây đãkiên cường nổi dậy, tham gia phong trào Thái Bình Thiên quốc chống nhà Thanh,điển hình là cuộc khởi nghĩa Hàm Đông năm 1853 dưới sự lãnh đạo của Trương Tú

Mi bắt đầu từ đông nam Quý Châu lan sang các tỉnh Hồ Nam và Vân Nam, kéo dàisuốt 18 năm Khi đó, riêng vùng Quý Châu có trên 60 vạn người Mông, sau khởinghĩa chỉ còn sót lại vài vạn người Các vùng đất và vương quốc cuối cùng củangười Mông ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Tây, Hải Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu

và Vân Nam bị nhà Thanh thôn tính vào thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX [32]

Một số nhà nghiên cứu về người Mông đã coi Đông Nam A lục địa là vùngđất tổ thứ ba bởi hầu hết người Mông sinh sống ở khắp nơi trên thế giới hiện nay(trừ Trung Quốc) đều coi Việt Nam, Lào, và Thái Lan là vùng đất cội nguồn củadân tộc và luôn tìm cách giữ quan hệ với quê hương Theo công trình nghiên cứuCác dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học do Nhàxuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1978, bộ phận người Mông đầu tiên di cư

từ Quý Châu xuống Vân Nam (Trung Quốc) và Mèo Vạc, Đồng Văn (Việt Nam)được bắt đầu cách đây khoảng 350 năm và đợt thiên di rất lớn là sau sự kiện Hiệpước Thiên Tân (Pháp - Mãn Thanh) năm 1884 về việc xác định biên giới giữa ViệtNam và Trung Quốc Từ Đồng Văn, Mèo Vạc, Lào Cai, một bộ phận lớn ngườiMông đã di cư đến Tây Bắc Việt Nam và di cư tiếp đến nước Lào Cao nguyênĐồng Văn thuộc tỉnh Hà Giang luôn được coi là quê hương của phần lớn ngườiMông ở Việt Nam, là nơi lưu giữ được những yếu tố văn hoá cổ truyền nhất củangười Mông ở Đông Nam Á cũng như người Mông đang cư trú ở trên thế giới, lànơi thử thách bản lĩnh sinh tồn và đặc tính tâm lý của dân tộc Mông [27]

Nền kinh tế tự cung tự cấp đã biến mỗi gia đình Mông trở thành một đơn vịkinh tế độc lập Trừ dầu hỏa và muối ăn phải trao đổi, mua bán, mỗi gia đình Mông

đã nổi tiếng từ lâu với nhiều nghề thủ công như: xe lanh dệt vải, in hoa văn trên áováy bằng sáp ong, rèn đúc mang đậm tính nghệ thuật và bản sắc văn hóa độc đáo.Người Mông có kỹ thuật rèn dao, búa, cuốc, cào cỏ rất sắc bén và kỹ thuật khoannòng sũng kíp rất khéo léo, dùng được lâu và được nhiều người ưu thích Do nhu

Trang 33

cầu của dời sống kinh tế cũng như tín ngưỡng, tôn giáo, chăn nuôi gia súc là mộtngành rất phát triển ở dân tộc Mông, nhất là kinh nghiệm lựa chọn và chăn nuôitrâu, bò, lợn, gà Người Mông ăn nhiều thịt mỡ lợn và rau cải, nấu rượu ngon vàthường dùng rượu để cưới xin, tang ma và thể hiện tình cảm nhưng ít khi say Sựkết hợp hài hòa giữ hoạt động kinh tế và văn hóa được thể hiện rất sinh động ở chợphiên, nhất là Tết độc lập (ngày 2/9 hằng năm) được đồng bào Mông rất mong đợi

và yêu thích [31], [32]

Tình hình kinh tế - xã hội có những tiến bộ quan trọng và thu được nhiềuthành tựu về các lĩnh vực ăn, mặc, ở, học tập, chữa bệnh, giao thông, nước sinhhoạt, điện thắp sáng, ứng dụng khoa học- công nghệ mới vào sản xuất, chuyển đổitập quán sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, xóa đói giảm nghèo, cảibiến tín ngưỡng cổ hủ lạc hậu, tiếp thu các yếu tố văn hóa tiên tiến, v.v Đây lànhững yếu tố thuận lợi cho việc can thiệp truyền thông thay đổi các hành vi vệ sinh

cá nhân trong cộng đồng dân tộc Mông Tuy vậy, đời sống kinh tế - xã hội ở dân tộcMông cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác ở miền núi nước ta đang còn gặp nhiềukhó khăn như: trình độ sản xuất và dân trí còn thấp; cơ sở hạ tầng còn mỏng vàthiếu; tỷ lệ đói nghèo vẫn còn ở mức cao như Tuyên Quang (13,95%), Thanh Hóa(72,4%) và diện chưa ổn dịnh định canh định cư còn lớn [28]

Dân tộc Mông có một nền văn hoá tinh thần phong phú và đặc sắc Trongquá trình lịch sử, dân tộc Mông hình thành nên những đặc điểm văn hoá có tính bềnvững và riêng biệt Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Mông thường gắn vớinội dung tín ngưỡng và góp phần củng cố quan hệ cộng đồng ở dân tộc Mông

Ở Việt Nam, dân tộc Mông có bốn nhóm: Mông trắng, Mông đen, Mônghoa, Mông xanh, nhưng có một tiếng Mông chung và giàu tính thẩm mỹ, là phươngtiện sinh hoạt văn hoá tinh thần và văn học, nghệ thuật

Dân tộc Mông có nhiều thành tựu về văn hoá, nhất là văn học, nghệ thuật, có

ý thức bảo tồn và lưu giữ bằng hình thức truyền miệng bao gồm thần thoại, truyềnthuyết, truyện cổ tích, thơ cổ, cố ca, tình ca, tục ngữ, kịch nói, múa khèn, trang tríhoa văn trên đồ trang sức và trang phục, v.v Đặc biệt, hát, múa khèn, thổi sáo, thổi

lá là sở thích của người Mông

Trang 34

Dân tộc Mông có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp như: đoàn kết, gắn bó vớinhau, kết bạn, thuỷ chung với bạn bè, nhập họ, giúp đỡ lẫn nhau, trọng nghĩa khinhtài, nhân ái vị tha; ghét gian, tà, áp bức, bất công; luôn sống khiêm nhường, kiênnhẫn, thận trọng, kín đáo, tế nhị, lịch sự, giữ gìn tôn ti trật tự theo thứ bậc, tuổi tác

và quan hệ xã hội; có những quy ước kiêng kỵ rất chặt chẽ của gia đình, dòng họ vàbản làng (họ Giàng kiêng kỵ với quả tim của các loài động vật, họ Ly kiêng kỵ với

lá lách của mọi con vật, họ Lầu kiêng không ăn chim xanh Đa lâu, họ Vàng kiêng

ăn quả xanh cùng trong bữa cơm, họ Vàng quy định con dâu không được ăn cơmcùng bố chồng, anh chồng và không được vào buồng ngủ của bố mẹ chồng, họ Sùngquy định con dâu không được trèo lên gác xép, v.v ) [27]

Trong quá trình phát triển, với phong cách tư duy cụ thể, thiết thực, ngạinhững điều trừu tượng, phức tạp, chồng chéo, đan xen, người Mông vừa bảo tồnbản sắc văn hoá của dân tộc mình, vừa ra sức tiếp thu những tinh hoa văn hoá tốtđẹp của các dân tộc khác ở nước ta và trên thể giới Trong quá trình đó, đã và đangdiễn ra mạnh mẽ sự đan xen cộng sinh giữa văn hoá truyền thống và văn hoá mới,

có những thành tố văn hoá truyền thống được cải biến nâng cao và phát triển trởthành văn hoá hiện đại, một số thành tố văn hoá truyền thống bị mai một và mất đitrong đời sống tinh thần người Mông, tạo dựng nên các giá trị văn hoá mối sâu sắc

và góp phần làm phong phú bản sắc văn hoá của cộng đồng dân tộc Việt Nam

Ở nước ta, hơn 90% dân số dân tộc Mông theo tín ngưỡng nguyên thuỷ, đathần, chịu ảnh hưởng của đạo giáo ngành phù thuỷ, trong đó đặc biệt coi trọng tínngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người thân đã khuất, những vị thần bản mệnh của

cá nhân, của dòng họ và dân tộc Mông Tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống có vai tròrất quan trọng trong sự cố kết cộng đồng dòng họ nói riêng và cả dân tộc Mông nóichung Theo luật tục của dân tộc Mông, dưới mái nhà của một gia đình Mông phải

có nơi thờ cúng tổ tiên ở vách tường thuộc gian giữa đối diện với cửa chính củangôi nhà để tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Chỗ thờ cúng tổ tiên là nơithiêng liêng nhất chỉ chủ nhà mới được đến gần và thực hiện lễ nghi thờ cúng tổtiên Chỗ thờ cúng tổ tiên của người Mông có bàn thờ với ống hương hay lư hương

và mảnh giấy tiền hình chữ nhật làm bằng giấy bản được gắn lên vách nhà Người

Trang 35

Mông rất tôn kính đối với tổ tiên, những người đã khuất thuộc các thế hệ từ thế hệcha ông trở về trước, những người đã làm nên sự nghiệp để lại cho con cháu và luôngiám sát con cháu xây dựng cuộc sống, luôn phù hộ cho con cháu và dòng họ pháttriển phồn vinh, nên phải biết ơn và thờ cúng tổ tiên Việc thờ cúng tổ tiên vừa thểhiện lòng biết ơn đối với cha ông, với tổ tiên, vừa thể hiện sự cầu mong xin tha thứ

và phù hộ Lễ cúng tổ tiên được tiến hành rất trang nghiêm tại các “lễ cúng tết”, “lễvào nhà mới”, “lễ cưới xin”, “lễ cơm nước”, “lễ đặt tên trẻ sơ sinh”, “lễ trưởngthành”, “lễ gọi vía”, “lễ tang ma”, “lễ đuổi ma tà”, “lễ thả hồn”, “lễ cúng bò nhớ ơn

bố mẹ”, “lễ thần nhà, thần cửa”, v.v Các vị thần nhà, thần cửa (thần cột ma nhà,thần cửa chính Trung Ta, thần cửa Trung Trua, thần cửa buồng, thần thuốc, thầnvườn, thần bếp) được người Mông rất biết ơn và luôn thờ cúng vì sự chi phối nhấtđịnh của các vị thần đối với con người [32]

Ở dân tộc Mông, mỗi dòng họ đều có một tổ chức tự quản riêng gồm cótrưởng họ, thầy thần quyền, bà cô Trưởng họ là người có tín nhiệm, công tâm, ngaythẳng, có bản lĩnh, giỏi lý lẽ, am hiểu cuộc sống, đảm nhiệm việc đối nội, đối ngoại,quyết định thành lập hội đồng dòng họ khi có việc lớn và tuyên bố khi có chiếntranh, bảo đảm cho sự đoàn kết và phát triển đúng hướng của dòng họ mình trongcộng đồng các dòng họ Mông và các dân tộc anh em trong một quốc gia Thầy thầnquyền là người rất am hiểu nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo của dòng họ, phụ trách nghi

lễ của dòng họ và làm cố vấn cho trưởng họ trong đối ngoại Bà cô có uý tín đượclựa chọn sẽ tham gia những việc chung của dòng họ, giám sát thầy thần quyền vàmọi thành viên trong việc thực hiện luật tục quyết định việc sửa đổi một số nghi lễtín ngưỡng của dòng họ khi thấy không còn phù hợp và có ý kiến trong việc hônnhân của các thành viên Có thể nói, trong xã hội truyền thống, tổ chức dòng họ ởngười Mông đã tạo nên sự cố kết chặt chẽ của những người cùng huyết thống dù họ

cư trú xa nhau, giàu nghèo và vị trí chính trị khác nhau Vì vậy, người Mông luônchào hỏi khi gặp nhau lần đầu với hai câu: là dân tộc gì? thuộc dòng họ nào? Trongquá trình giao lưu và tiếp thu những yếu tố văn hoá mới, quan hệ dòng họ vẫn làmột cấu trúc xã hội cơ bản được tồn tại bền vững và là một trong những yếu tố vănhoá đặc sắc của dân tộc Mông Vì vậy, nguyên tắc sống trong dòng họ “cùng ma” là

Trang 36

một nguyên tắc rất chặt chẽ, không thể tuỳ tiện thêm, bỏ và nếu có ai vi phạm tựtách mình ra khỏi dòng họ thì người đó sẽ không được chấp nhận là anh em “Cứ tí

tu đá tu khua”

Ở Sơn La, tổng dân số toàn tỉnh có trên 1 triệu người với 12 dân tộc cùngchung sống (Bảng 1), trong đó, dân số dân tộc Mông có gần 25.000 hộ với trên132.000 người, chiếm 13% và xếp thứ 3 về tỷ trọng số dân của tỉnh, có mặt trên 600bản và trên 122 xã của 12 huyện, thành phố của tỉnh Sơn La Phần lớn đồng bàoMông cư trú ở những vùng núi cao, độ cao so với mực nước biển từ 800 m- 1.000m,theo các bản quy mô nhỏ và chưa có đủ điều kiện định canh, định cư bền vững Bảncủa người Mông không đông, thường chỉ từ 20- 50 hộ ở trên một quả đồi nhỏ, mộttriền núi cao và thung lũng, lưng có núi vây quanh và hướng nhìn phía trước vớimột khoảng không gian thoáng mát rộng dài Người Mông phổ biến ở nhà đất, về cơbản bố trí các gian nhà, buồng ngủ, giường khách, bàn thờ tổ tiên giống với dân tộckinh, dân tộc Dao và nhiều dân tộc khác ở Việt Nam Những đặc điểm trên phầnnào ảnh hưởng đến việc cung cấp nước và công tác tiếp cận tuyên truyền [12], [32]

1.6.2 Nghiên cứu rửa tay bằng xà phòng trong các nhóm dân tộc

Trong điều tra về vệ sinh môi trường ở một số dân tộc thiểu số Việt Nam của

Bộ Y tế năm 2008 [3] Tỷ lệ hiểu biết về cách phòng bệnh giun sán và tiêu chảy bằngrửa tay còn thấp, chỉ chiếm 14,1% mẫu điều tra Tỷ lệ này ở riêng người Kinh cao hơnmức chung (17,2%); ở các DTTS đều thấp, thậm chí người Ba Na trong điều tra nàykhông có ai hiểu biết về cách phòng bệnh giun sán và tiêu chảy bằng rửa tay Nhìnchung, hiểu biết của các dân tộc thiểu số ở Trung Bộ và Tây Nguyên hạn chế hơn sovới Miền núi phía Bắc Tỷ lệ người “không biết” cách phòng bệnh giun sán và tiêuchảy bằng rửa tay rất cao; ở người Kinh - Hoa là 82,8% nhưng ở người DTTS còn caohơn (94,3%), sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (OR = 3,42; p < 0,0001)

Rửa tay xà phòng giúp tiêu diệt mầm bệnh và ngăn chặn một cách hiệu quả

sự lây lan của mầm bệnh từ tay người vào thức ăn, nước uống và gây ra bệnh tật.Nếu hành vi rửa tay xà phòng được phổ biến rộng khắp, gánh nặng bệnh tật cónguồn gốc từ phân người và gia súc sẽ giảm đi đáng kể Tuy vậy, hiểu biết của

Trang 37

người dân về cách phòng bệnh giun sán và tiêu chảy bằng rửa tay xà phòng rất thấp,chỉ chiếm 2,3% mẫu điều tra Tỷ lệ đó ở người Kinh cao hơn mức chung (2,7%) làđáng tin cậy, nhưng ở người Ra glai cao tới 3,6% thì cần xem lại Một số dân tộcnhư Gia Rai, Ba Na, Mnông ở Tây Nguyên và Mông ở Miền núi phía Bắc không có

ai trong mẫu điều tra hiểu biết cách phòng bệnh giun sán và tiêu chảy bằng rửa tay

xà phòng

Tỷ lệ người không rửa tay trước khi ăn và rửa tay sau khi đi đại tiện đều thấpnhất trong các dân tộc có trong mẫu điều tra (9,6% và 8,2%) Một số DTTS như GiaRai, Ba Na, Ê Đê, Ra glai, Mnông, Bru-Vân Kiều và Mông có tỷ lệ rất cao nhữngngười không rửa tay trước khi ăn (từ 45% đến hơn 70%); đồng thời những dân tộcnày cũng có tỷ lệ rất cao những người không rửa tay sau khi đi tiểu tiện (từ 45% đếnhơn 88%) hoặc không rửa tay sau khi đi đại tiện (từ 45% đến hơn 70%) [18]

Đối với hành vi rửa tay trước khi ăn: Sự khác nhau giữa người Kinh vớingười dân tộc ít người trong mẫu điều tra khá rõ rệt; tỷ lệ người Kinh không rửa taytrước khi ăn chỉ có 9,6% trong khi tỷ lệ tương ứng ở người dân tộc ít người là35,1%, khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (OR = 5,07) Sự khác nhau đó còn thểhiện ở các vùng miền núi, nhất là Trung Bộ và Tây Nguyên (16,5% so với 60,6%;

OR = 7,78) Riêng ở các vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL sự khác biệt này không có

ý nghĩa do số lượng nhỏ

Đối với hành vi rửa tay sau khi tiểu tiện cũng có sự khác nhau giữa ngườiKinh với người các nhóm dân tộc khác trong mẫu điều tra; tỷ lệ người Kinh khôngrửa tay sau khi tiểu tiện là 28,3% và tỷ lệ tương ứng ở nhóm dân tộc ít người là49,7%, khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (OR = 2,33) Sự khác nhau đó còn thểhiện ở các vùng miền núi, nhất là Trung Bộ và Tây Nguyên (47% so với 78,2%;

OR = 4,05) Riêng ở các vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL sự khác biệt này không có

ý nghĩa do số lượng nhỏ

Việc rửa tay sau khi đi đại tiện cũng tương tự như sau khi tiểu tiện nhưng với

tỷ lệ thấp hơn những người không rửa tay sau khi đi đại tiện ở các dân tộc; trongmẫu điều tra, chỉ có 8,2% người Kinh so với 30,9% người dân tộc ít người khôngrửa tay sau khi đi đại tiện (OR = 4,99)

Trang 38

Tỷ lệ không rửa tay xà phòng rất cao ở một số DTTS như Ba Na, Ra glai,Bru-Vân Kiều, Gia Rai, Mnông, Ê Đê Số liệu phân tích theo vùng cho thấy tỷ lệkhông rửa tay xà phòng cao nhất ở Tây Nguyên, tiếp theo là Nam Trung Bộ và BắcTrung Bộ Nếu lấy tỷ lệ người rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi đạitiện và sau khi tiểu tiện của dân tộc Thái bằng 1, thì tỷ lệ đó ở nhóm Kinh - Hoa caogấp từ 3-4 lần có ý nghĩa thống kê; một số dân tộc như Mường, Dao, Ba Na, Ê Đê,

Ra glai đều kém hơn so với Thái có ý nghĩa thống kê [18]

Các nghiên cứu về sức khỏe dân tộc Mông tập trung chủ yếu vào các bệnhmang tính chất lưu hành địa phương như Bướu cổ, sốt rét Các bệnh nhiễm trùngđược Nghiên cứu có đề cập đến dân tộc thiểu số được triển khai trên bình diện rộng

nhất hiện nay là nghiên cứu Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) năm 2003 do Bộ Y tế, WHO, UNICEF tiến hành

Các nghiên cứu cũng đã xác định được một rào cản lớn trong hoạt độngtruyền thông tại cộng đồng dân tộc thiểu số như: Hầu hết các dân tộc thiểu số đều

có trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ cao và khả năng sử dụng tiếngphổ thông còn hạn chế, đặc biệt là nhóm nữ Tỷ lệ đối tượng không tiếp cận đượcvới các phương tiện truyền thông đại chúng rất cao

Các nghiên cứu về truyền thông giáo dục sức khỏe trong phòng chống bệnhtruyền nhiễm cũng được đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Huy Nga , Trịnh HữuVách nhưng chỉ đề cập ít đến người Mông Chưa có nghiên cứu sâu về người Mông

và vấn đề sức khỏe [2],[10]

Trang 39

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Phụ nữ người dân tộc Mông đang nuôi con dưới 5 tuổi

- Lãnh đạo cộng đồng: Các đoàn thể, trưởng bản, nhân viên y tế thôn bản,cán bộ trạm y tế của các xã nghiên cứu

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai tại 3 xã của huyện Mai Sơn là Chiềng Sung,Chiềng Chăn, Cò nòi và 3 xã của huyện Vân Hồ là Vân Hồ, Loóng Luông vàChiềng Xuân của tỉnh Sơn La, các xã trên có từ 4 bản người Mông sinh sống trênđịa bàn các xã Cả 6 xã của 2 huyện đều nằm dọc theo trục đường quốc lộ 6 của Caonguyên Nà sản và Mộc Châu (Hình 2.1.)

Hình 2.1 Bản đồ vị trí các xã điều tra nghiên cứu

Trang 40

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian triển khai nghiên cứu từ tháng 9/2013 đến tháng 12/2016: i) Từ9/2013-4/2014 Nghiên cứu nền dựa trên điều tra cắt ngang, đánh giá thực trạng kiếnthức, thái độ và thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ Mông, Mối liênquan của các yếu tố kinh tế - xã hội đến việc rửa tay bằng xà phòng; ii) Từ tháng9/2014- 12/2016 Tổ chức thực hiện các hoạt động can thiệp bằng Truyền thông -Giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành rửa tay bằng xàphòng của các bà mẹ Mông đang nuôi con dưới 5 tuổi

2.2 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính

là nghiên cứu nền nhằm mô tả kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đếnhành vi rửa tay của bà mẹ người dân tộc Mông có con dưới 5 tuổi trước can thiệp

và đánh giá hiệu quả can thiệp sau 1 năm can thiệp

- Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có chủ đích, có đối chứng, theo dõi đánhgiá trước, sau hiệu quả các hoạt động truyền thông - giáo dục sức khỏe nhằm nângcao hiểu biết và thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ người Mông đangnuôi con dưới 5 tuổi được tiến hành 1 năm theo sơ đồ sau:

Ngày đăng: 23/08/2019, 18:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Y tế (2008), Vệ sinh môi trường ở một số dân tộc thiểu số Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường ở một số dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2008
4. Bộ Y tế- UNICEF (2006), Điều tra vệ sinh môi trường nông thôn Việt nam 5. Bộ Y tế - Tổng cục thống kê (2011), Điều tra Y tế quốc gia 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra vệ sinh môi trường nông thôn Việt nam"5. Bộ Y tế - Tổng cục thống kê (2011)
Tác giả: Bộ Y tế- UNICEF (2006), Điều tra vệ sinh môi trường nông thôn Việt nam 5. Bộ Y tế - Tổng cục thống kê
Năm: 2011
6. Bộ y tế, Bệnh viện Bạch Mai (2000), Quy định kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định kiểm soát nhiễm khuẩnbệnh viện
Tác giả: Bộ y tế, Bệnh viện Bạch Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2000
7. Hoàng Hữu Bình (1998), Các tộc người ở miền núi phía Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, tr 9- 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người ở miền núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1998
9. Cục Y tế dự phòng Việt Nam (2008),Vệ sinh môi trường tại trường học và một số nơi công cộng vùng nông thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường tại trường học vàmột số nơi công cộng vùng nông thôn Việt Nam
Tác giả: Cục Y tế dự phòng Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
10. Cục Y tế Dự phòng Việt Nam (2006), Chất lượng nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam theo các vùng sinh thái, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng nước sinh hoạt nôngthôn Việt Nam theo các vùng sinh thái
Tác giả: Cục Y tế Dự phòng Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
11. Cục Y tế Dự phòng và Môi trường và Trung tâm ứng dụng cấp nước vệ sinh môi trường (2008), Hiện trạng rửa tay bằng xà phòng trước và sau can thiệp tại địa bàn dự án do Unilever tài trợ, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng rửa tay bằng xà phòng trước và saucan thiệp tại địa bàn dự án do Unilever tài trợ
Tác giả: Cục Y tế Dự phòng và Môi trường và Trung tâm ứng dụng cấp nước vệ sinh môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
13. Cục Quản lý môi trường y tế (2011), Sự thay đổi kiến thức và hành vi liên quan đến rửa tay bằng xà phòng tại 5 tỉnh, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2011), Sự thay đổi kiến thức và hành vi liênquan đến rửa tay bằng xà phòng tại 5 tỉnh
Tác giả: Cục Quản lý môi trường y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
14. Cục Quản lý môi trường y tế (2012), Báo cáo kết quả điều tra tỷ lệ rửa tay với xà phòng và kiến thức, hành vi liên quan đến rửa tay với xà phòng của người dân tại Hà Nam và Bắc Ninh, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra tỷ lệ rửatay với xà phòng và kiến thức, hành vi liên quan đến rửa tay với xà phòngcủa người dân tại Hà Nam và Bắc Ninh
Tác giả: Cục Quản lý môi trường y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2012
15. Đỗ Gia Cảnh(1999), Điều tra dịch tễ học về bệnh tiêu chảy ở Việt Nam,Hội thảo các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột, đường thở, Viện VSDTTW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dịch tễ học về bệnh tiêu chảy ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Gia Cảnh
Năm: 1999
16. Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm Kinh tế- Xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Tr 208- 310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm Kinh tế- Xã hội các dân tộc miền núiphía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 1996
18. Đào Duy Khuê, Trịnh Hữu Vách (2007), “Hiểu biết, thực hành về vệ sinh và vệ sinh môi trường của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Tạp chí dân tộc học, số 6-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu biết, thực hành về vệ sinhvà vệ sinh môi trường của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam”
Tác giả: Đào Duy Khuê, Trịnh Hữu Vách
Năm: 2007
20. Nguyễn Việt Hùng (2010), Vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩnbệnh viện
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
22. Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư, Đoàn Mai Phương (2008), “Mức độ ô nhiễm vi khuẩn ở bàn tay NVYT và hiệu quả khử khuẩn của một số chế phẩm vệ sinh bàn tay sử dụng tại Bệnh viện Bạch Mai”. Tạp chí Y học lâm sàng, (số chuyên đề tháng 6/2008), tr. 150-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mứcđộ ô nhiễm vi khuẩn ở bàn tay NVYT và hiệu quả khử khuẩn của một số chếphẩm vệ sinh bàn tay sử dụng tại Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư, Đoàn Mai Phương
Năm: 2008
23. Diệp Đình Hoa (1998), Dân tộc Mông và thế giới thực vật, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, tr 22- 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Mông và thế giới thực vật
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bảnVăn hóa dân tộc
Năm: 1998
26. Nguyễn Tôn Nhan (2002), Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung quốc, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung quốc
Tác giả: Nguyễn Tôn Nhan
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa thông tin
Năm: 2002
27. Vương Duy Quang (2005), Văn hóa tâm linh của người Mông ở Việt Nam:Truyền thống và hiện tại, Nhà xuất bản Văn hóa- Thông tin, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh của người Mông ở Việt Nam:"Truyền thống và hiện tại
Tác giả: Vương Duy Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa- Thông tin
Năm: 2005
28. Trần Hữu Sơn (1996), Văn hóa Mông, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, p 82-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Mông
Tác giả: Trần Hữu Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc
Năm: 1996
29. Tổng cục Thống kê (2001), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhàxuất bản Thống kê
Năm: 2001
31. Viện nghiên cứu văn hóa dân gian (2000), Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục và phát triển nôngthôn hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: Viện nghiên cứu văn hóa dân gian
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w