1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

câu 5 tr 150 hai phương thức sản xuất giá trị thặng dư và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu

3 272 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 18,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 5 (Tr 150): Hai phương thức sản xuất giá trị thặng dư. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu. Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa. Vì vậy, các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được bằng cách kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động, thời gian lao động tất yếu và giá trị sức lao động không đổi. Ví dụ ngày lao động có độ dài 8 giờ thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là 100% nếu ngày lao động kéo dài thành 10 giờ trong khi năng suất lao động, thời gian lao động tất yếu và giá trị sức lao động không đổi. Giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 6 giờ và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 150%. Để có được giá trị thặng dư tuyệt đối có thể sử dụng các biện pháp như kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu càng dài càng tốt hoặc tăng cường độ lao động. Do đó sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối bị giới hạn bởi thời gian trong ngày và tình hình sức khỏe tâm sinh lý của người công nhân. Việc áp dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối thường gây ra sự phản kháng của công nhân làm thuê. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được = cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi ngày lao động có thể không đổi hoặc thậm chí rút ngắn. Ví dụ ngày lao động có độ dài 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là 100%. Nếu ngày lao động không đổi, thời gian lao động tất yếu giảm xuống còn 3 giờ thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 160%. Nếu ngày lao động rút ngắn còn 7 giờ, thời gian lao động tất yếu giảm xuống còn 2 giờ thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 250%. Để thu được giá trị thặng dư tương đối, cần rút ngắn thời gian lao động tất yếu. Để rút ngắn thời gian lao động tất yếu cần phải hạ thấp giá trị sức lao động. Mà muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải tìm cách hạ giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động thông qua các biện pháp tăng năng suất lao động trong những ngành sản xuất tư liệu sản xuất vật chất để sản xuất tư liệu sinh hoạt và trong những ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt. Quá trình tăng năng suất lao động diễn ra trong thực tế trước hết ở một hoặc một số doanh nghiệp. Những doanh nghiệp đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mới cải tiến quản lý hay tận dụng được những điều kiện sản xuất thuận lợi sẽ tăng năng suất lao động cá biệt, giảm giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường, từ đó sẽ thu được một số giá trị thặng dư vượt trội so với các doanh nghiệp khác. Phần giá trị thặng dư trội hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch. Đối với từng doanh nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời xuất hiện rồi mất đi Nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch lại là hiện tượng tồn tại thường xuyên nó có thể mất đi chỗ này lúc này nhưng lại xuất hiện chỗ khác lúc khác. Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động. Hoạt động riêng lẻ đó của từng nhà tư bản đã dẫn đến kết quả làm tăng năng suất lao động xã hội hình thành giá trị thặng dư tương đối, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

Trang 1

Câu 5 (Tr 150): Hai phương thức sản xuất giá trị thặng

dư Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu.

Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối

đa Vì vậy, các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối

- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được bằng cách kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động, thời gian lao động tất yếu và giá trị sức lao động không đổi

Ví dụ ngày lao động có độ dài 8 giờ thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 4 giờ,

tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là 100% nếu ngày lao động kéo dài thành 10 giờ trong khi năng suất lao động, thời gian lao động tất yếu và giá trị sức lao động không đổi Giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 6 giờ và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 150%

Để có được giá trị thặng dư tuyệt đối có thể sử dụng các biện pháp như kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu càng dài càng tốt hoặc tăng cường độ lao động Do đó sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối bị giới hạn bởi thời gian trong ngày và tình hình sức khỏe tâm sinh lý của người công nhân Việc áp dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối thường gây ra sự phản kháng của công nhân làm thuê

- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được = cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi ngày lao động có thể không đổi hoặc thậm chí rút ngắn

Ví dụ ngày lao động có độ dài 8 giờ, thời gian lao động tất yếu

là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 4 giờ,

tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là 100% Nếu ngày lao động không đổi, thời gian lao động tất yếu giảm xuống còn 3 giờ thì tỷ suất

Trang 2

giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 160% Nếu ngày lao động rút ngắn còn 7 giờ, thời gian lao động tất yếu giảm xuống còn 2 giờ thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 250%

Để thu được giá trị thặng dư tương đối, cần rút ngắn thời gian lao động tất yếu Để rút ngắn thời gian lao động tất yếu cần phải

hạ thấp giá trị sức lao động Mà muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải tìm cách hạ giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động thông qua các biện pháp tăng năng suất lao động trong những ngành sản xuất tư liệu sản xuất vật chất

để sản xuất tư liệu sinh hoạt và trong những ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt

Quá trình tăng năng suất lao động diễn ra trong thực tế trước hết ở một hoặc một số doanh nghiệp

Những doanh nghiệp đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mới cải tiến quản lý hay tận dụng được những điều kiện sản xuất thuận lợi sẽ tăng năng suất lao động cá biệt, giảm giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường, từ đó sẽ thu được một

số giá trị thặng dư vượt trội so với các doanh nghiệp khác Phần giá trị thặng dư trội hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch

Đối với từng doanh nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời xuất hiện rồi mất đi Nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch lại là hiện tượng tồn tại thường xuyên nó có thể mất đi chỗ này lúc này nhưng lại xuất hiện chỗ khác lúc khác Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động Hoạt động riêng lẻ đó của từng nhà tư bản

đã dẫn đến kết quả làm tăng năng suất lao động xã hội hình thành giá trị thặng dư tương đối, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Trong thực tiễn lịch sử để thu được giá trị thặng dư tương đối, giai cấp tư bản đã thực hiện ba cuộc cách mạng nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động:

Thứ nhất, cách mạng về tổ chức quản lý lao động thông qua 3 hiệp tác lao động giản đơn tư bản chủ nghĩa ra đời Trong đó hoạt động lao động của một số công nhân làm thuê để sản xuất cùng một loại hàng hóa, diễn ra trong cùng một thời gian, trên cùng một địa điểm, dưới sự điều khiển của cùng một nhà tư bản

Trang 3

Thứ hai, cách mạng về sức lao động thông qua phân công trong công trường thủ công

Thứ ba, cách mạng về công cụ lao động thông qua cách mạng công nghiệp với kết quả là sự hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản nền đại công nghiệp cơ khí

 Ý nghĩa:

Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch có tác dụng mạnh mẽ kích thích các cá nhân và tập thể người lao động ra sức cải tiến kỹ thuật cải tiến quản lý sản xuất, tăng năng suất lao động, lực lượng sản xuất phát triển nhanh

Ngày đăng: 23/08/2019, 17:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w