1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỪA cân béo PHÌ và các yếu tố LIÊN QUAN ở TRẺ EM tại một số TRƯỜNG mầm NON nội, NGOẠI THÀNH hà nội năm 2015

98 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 609,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thừa cân béo phì cũng là một trong các nguyên nhângóp phần gia tăng các bệnh mạn tính ở người trưởng thành như tăng huyết áp,đái tháo đường, là gánh nặng cho ngành y tế và cho xã hội [7]

Trang 1

VŨ THỊ HẠNH

THỪA CÂN BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở TRẺ EM TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON NỘI,

NGOẠI THÀNH HÀ NỘI NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

VŨ THỊ HẠNH

THỪA CÂN BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở TRẺ EM TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON NỘI,

NGOẠI THÀNH HÀ NỘI NĂM 2015

Chuyên ngành : Dinh dưỡng

Trang 3

Với tất cả sự kính trọng, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, Lãnh đạo Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế cộng cộng, phòng đào tạo sau đại học và Quý Thầy

Cô Bộ môn Dinh dưỡng đã tạo kiều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và hoàn thành luận văn.

- PGS.TS Lê Thị Hương viện trưởng, người thầy trực tiếp hướng dẫn,

tận tâm giảng dạy, giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong học tập và quá trình thực hiện nghiên cứu

- Các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn Viện đào tạo Y học dự

phòng và y tế công cộng, hội đồng thông qua đề cương,những người Thầy đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

- Ban Giám đốc cùng toàn thể anh chị em đồng nghiệp Bệnh Viện

Phục Hồi chức năng đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập.

- Ban giám hiệu, quý Thầy Cô của 4 trường mầm non: Trường Mầm

non Thành Công, Trường Mầm non 20/10; Trường Mầm non xã Kim Sơn và Trường Mầm non xã Đặng Xá, đã giúp đỡ tôi khi đến lấy số liệu.

- Cuối cùng Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Chồng và những người thân trong gia đình đã luôn động viện giúp đỡ tôi trong quá trình học

tập và là chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho tôi Cảm ơn các anh chị em những người bạn thân thiết đã cùng tôi chia sẻ những ngày khó khăn vất vả trong học tập và nghiên cứu.

Trang 4

Tôi là Vũ Thị Hạnh, học viên cao học khoá 23 Trường Đại học Y Hà Nội,chuyên ngành Dinh dưỡng, xin cam đoan:

1 Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiệndưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Thị Hương

2 Công trình này không trùng lặp với bất kì nghiên cứu nào khác đã đượccông bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơinghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2016

Tác giả

Vũ Thị Hạnh

Trang 5

ASEAN : Các nước khu vực Đông Nam ÁBMI : Chỉ số khối cơ thểcân nặng chiều cao

BP : Béo phì

CN/CC : Cân nặng, chiều cao

CNSS : Cân nặng sơ sinh

OECD : Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triểnSDD : Suy dinh dưỡng

TC, BP : Thừa cân, béo phì

TP : Thành phố

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

WHO : Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.1.1 Thừa cân béo phì 3

1.1.2 Phương pháp đánh giá thừa cân béo phì 3

1.1.3 Sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo 5

1.2 Tình hình thừa cân béo phì trên thế giới và tại Việt Nam 5

1.2.1 Trên thế giới 5

1.2.2 Tại Việt Nam 8

1.3 Một số yếu tố liên quan tới thừa cân béo phì 9

1.3.1 Khấu phần dinh dưỡng và thói quen ăn uống 9

1.3.2 Hoạt động thể lực 10

1.3.3 Yếu tố gia đình 13

1.3.4 Yếu tố di truyền 14

1.3.5 Một số yếu tố khác 16

1.4 Cơ chế sinh lý thừa cân béo phì 18

1.5 Tác hại của thừa cân béo phì đối với trẻ 19

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3.1.Thiết kế nghiên cứu 20

2.3.2 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 25

2.3.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ bằng sử dụng chỉ số khối cơ thể (Body mass index – BMI) 28

2.3.4 Các biện pháp khống chế sai số 28

2.3.5 Nhập và xử lý số liệu 28

Trang 7

3.1 Thông tin chung 30

3.2 Tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ 32

3.2.1 Chiều cao, cân nặng trung bình của trẻ 3-5 tuổi .32

3.2.2 Chiều cao trung bình của trẻ 3-5 tuổi .33

3.2.3 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi .34

3.2.4.Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi theo giới 35

3.2.5 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi theo nhóm tuổi 37

3.3 Kiến thức về chăm sóc trẻ và phòng tránh thừa cân béo phì ở trẻ của bà mẹ 37

3.4 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ từ 3 – 5 tuổi tại Hà Nội 40

3.4.1 Kinh tế HGĐ và tỷ lệ thừa cân béo phì 40

3.4.2 Thói quen dinh dưỡng của trẻ .42

3.4.3 Thói quen vận động của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 48

3.4.4 Tiền sử gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 52

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54

4.1 Thực trạng thừa cân béo phì ở trẻ em từ 3 -5 tuổi ở một số trường mầm non tại nội, ngoại thành Hà Nội năm 2015 .54

4.1.1 Chiều cao, cân nặng trung bình .54

4.1.2 Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 55

4.2 Một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì ở trẻ em các trường mầm non trên .57

4.2.1 Giới tính và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì 57

4.2.2 Tuổi và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì 58

4.2.2 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì 59 4.2.3 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì 60 4.2.4 Mối tương quan thừa cân béo phì của trẻ với hoạt động vui chơi của trẻ 60

Trang 8

với trẻ TCBP .624.2.6 Mối liên quan giữa trọng lượng khi sinh với trẻ TCBP 634.2.7 Mối tương quan thừa cân béo phì của trẻ với thói quen ăn uống của

trẻ .644.2.8 Tần suất xuất hiện một số thực phẩm trong thực đơn của trẻ TCBP 65KẾT LUẬN .66KHUYẾN NGHỊ 68TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Bảng 3.1 Phân bố trẻ theo giới, khu vực 30

Bảng 3.2 Phân bố trẻ theo tuổi 31

Bảng 3.3 Số con và thứ tự của trẻ trong hộ gia đình 32

Bảng 3.4 Cân nặng trung bình của trẻ 3-5 tuổi (kg) theo khu vực 32

Bảng 3.5 Cân nặng trung bình của trẻ 3-5 tuổi (kg)theo giới 33

Bảng 3.6 Chiều cao trung bình của trẻ 3-5 tuổi (cm) theo khu vực 33

Bảng 3.7 Chiều cao trung bình của trẻ 3-5 tuổi (cm) theo giới 34

Bảng 3.8 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 3 -5 tuổi 35

Bảng 3.9 Kiến thức về chăm sóc trẻ của bà mẹ 37

Bảng 3.10 Kiến thức đúng về phòng tránh thừa cân béo phì cho trẻ 38

Bảng 3.11 Điều kiện kinh tế hộ gia đình và chi phí mua thức ăn cho trẻ 40

Bảng 3.12 Liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 41

Bảng 3.13 Thói quen ăn uống của trẻ 3-5 tuổi 42

Bảng 3.14 Thói quen ăn vặt của trẻ 3-5 tuổi 43

Bảng 3.15 Liên quan giữa thói quen ăn uống của trẻ và tỷ lệ TCBP 46

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa một số thói quen thích ăn một số loại thực phẩm của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 47

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tần suất ăn thường xuyên một số loại thực phẩm của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 48

Bảng 3.18 Số giờ giải trí của trẻ trong ngày 49

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa thói quen vận động của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 50

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thói quen nghỉ ngơi của trẻ và tỷ lệ TCBP 51

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 52

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh và tỷ lệ thừa cân béo phì 53

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi tại các trường mầm non 35Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi theo giới 36Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi theo nhóm tuổi 37

Biểu đồ 3.6 Cách chế biến thức phẩm trẻ thích ăn 45Biểu đồ 3.7 Tần suất xuất hiện một số loại thực phẩm trong thực đơn của trẻ 46

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nhiều năm trở lại đây tình trạng thừa cân béo phì đang gia tăng

đặc biệt là tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ em đang là một trong những vấn đề quan trọng cho sức khỏe cộng đồng và là một trong những mối quan tâm hàng đầu ở các quốc gia đã và đang phát triển Béo phì ở trẻ em làm ngừng tăng trưởng sớm, dễ dẫn tới những ảnh hưởng nặng nề về tâm lý ở trẻ như tự ti, nhút nhát, kém hòa đồng, học kém Béo phì ở trẻ em có thể

là nguồn gốc thảm họa của sức khỏe trong tương lai [1], [2]

Thừa cân béo phì là đại dịch không chỉ giới hạn ở các nước công nghiệp,

mà đến 115 triệu người thừa cân béo phì là ở các nước đang phát triển, tốc độgia tăng cao tại các thành thị [3], [4] Năm 1997, Ban chuyên gia tư vấn Tổchức Y tế Thế giới nhận định tình hình thừa cân béo phì ở trẻ nhỏ là một vấn

đề sức khỏe phát sinh mới cần được quan tâm [5] Nghiên cứu tại Nhật Bảncho thấy khoảng 1/3 trẻ nhỏ thừa cân béo phì sẽ tiếp tục thừa cân béo phì đếnkhi trưởng thành [6] Thừa cân béo phì cũng là một trong các nguyên nhângóp phần gia tăng các bệnh mạn tính ở người trưởng thành như tăng huyết áp,đái tháo đường, là gánh nặng cho ngành y tế và cho xã hội [7]

Năm 2010, theo tạp chí dinh dưỡng lâm sàng Hoa Kỳ, điều tra ở 144quốc gia cho thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi tăng từ 4,2% năm 1990lên 6,7% năm 2010 và dự báo có thể tăng lên 9,1% vào năm 2020 [8]

Nguyên nhân chủ yếu của thừa cân béo phì là do sử dụng thức ăn quánhiều năng lượng cùng với ít vận động [9] Ngoài ra, một số yếu tố có thể gây

ra thừa cân béo phì như di truyền, bệnh lý, thay đổi môi trường sống [10] Cácyếu tố ảnh hưởng tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ là: khẩu phần ăn, tập quán

ăn uống, yếu tố kinh tế xã hội, tính chất gia đình, nhận thức của cha mẹ họcsinh [11]

Trang 12

Điều trị thừa cân béo phì rất khó khăn, tốn kém mà kết quả không mấy khảquan nhưng lại có thể phòng ngừa được [12] Ước tính thừa cân béo phì và cáchậu quả của nó làm tiêu tốn khoảng 2% đến 7% tổng chi tiêu y tế [13].

Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thừa cân béo phì và một

số yếu tố liên quan ở trẻ em tại một số trường mầm non nội, ngoại thành

Hà Nội năm 2015”

Mục tiêu nghiên cứu.

1 Xác định tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em ở một số trường mầm non tại nội, ngoại thành Hà Nội năm 2015.

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì ở trẻ em các trường mầm non trên.

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

Tổ chức WHO định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức vàkhông bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tớisức khỏe

Bệnh béo phì là hậu quả của việc mô mỡ xuất hiện và tích tụ quá nhiều,tùy theo mức độ mà có thể là béo phì cục bộ hoặc toàn cơ thể Béo phì là tìnhtrạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Béo phì gây ra nhiều tác hại đến

sức khỏe, cũng như ảnh hưởng xấu đến ngoại hình Người bị béo phì ngoàithân hình phì, nặng nề, khó coi, còn có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc làyếu tố thuận lợi hoặc là cả hai của nhiều bệnh như rối loạn lipit máu, tănghuyết áp, sỏi mật, đái tháo đường, xương khớp, và thậm chí là ung thư

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Thừa cân béo phì

Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều

cao [15 ].

Béo phì là một tình trạng bệnh lý mà nguyên nhân là do cơ thể tích

tụ một lượng chất béo dư thừa đến mức nó có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như: tim mạch, tiểu đường, ngưng thở khi ngủ, viêm khớp [16]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thừa cân béo phì là tình trạng tích tụ mỡ cao hoặc bất thường trong cơ thể có khả năng gây ảnh hưởng sức khoẻ.

1.1.2 Phương pháp đánh giá thừa cân / béo phì

Trang 14

Sự phát triển cơ thể thay đổi theo tuổi, vì vậy không thể áp dụng mộtchuẩn chung để đánh giá tình trạng thừa cân béo phì cho mọi lứa tuổi, nhất là

ở trẻ em lứa tuổi tiền học đường [18], [19] Tổ chức Y tế Thế giới chia 4nhóm tuổi để đánh giá tình trạng dinh dưỡng: dưới 5 tuổi, từ 5-9 tuổi, từ 10-

19 tuổi, trên 19 tuổi [19], [20]

- Cân nặng theo tuổi: Cân nặng theo tuổi cao phản ánh tình trạng thừacân nói chung, chỉ tiêu cân nặng theo tuổi phản ánh tốc độ phát triểncủa đứa trẻ

- Chiều cao theo tuổi: Chỉ số chiều cao theo tuổi phản ánh tình trạng dinhdưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ

- Cân nặng theo chiều cao: Cân nặng theo chiều cao cao phản ánh tìnhtrạng dinh dưỡng ở thời kỳ hiện tại, gần đây, làm cho đứa trẻ thừa cânhoặc béo phì Chính vì vậy thừa cân, béo phì đươc đánh giá theo cânnặng theo chiều cao là chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tình trạngdinh dưỡng trẻ em

Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index: BMI) theo tuổi và giới được sửdụng để đánh giá thừa cân béo phì theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thếgiới với quần thể tham khảo từ 6 quốc gia: Brazil, Ghana, Ấn Độ, Na Uy,Oman và Mỹ

BMI được tính theo công thức sau: [21]

Trang 15

Z-nếu là trẻ em dưới 2 tuổi) BMI theo tuổi với chỉ số BMI theo tuổi ở lứa tuổidưới 5, nếu Z-Score>2 thì trẻ thừa cân, Z-Score >3 thì trẻ béo phì [23]

1.1.3 Sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo

1.1.3.1 Đặc điểm sinh lý vận động

Sự phát triển ở trẻ em có tính chất toàn diện về thể chất, tâm thần và vậnđộng Các giai đoạn phát triển này thường được chia thành sáu thời kỳ: bàothai, sơ sinh, nhũ nhi, răng sữa, thiếu niên, dậy thì Giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi(thời kỳ răng sữa) được chia làm hai thời kỳ: lứa tuổi nhà trẻ từ 1-3 tuổi vàmẫu giáo từ 4-6 tuổi Giai đoạn mẫu giáo có đặc điểm là tốc độ lớn của trẻchậm dần, trẻ mất dạng mập tròn mà thon dần Về cân nặng, mỗi năm trẻ tăngtrung bình 2000 gam Chiều cao lúc 4 tuổi là 1m gấp đôi so với lúc mới sinh

Tổ chức não đạt mức 100% trưởng thành lúc trẻ 6 tuổi

1.1.3.2 Đặc điểm tâm lý

Trẻ ham thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích bạn bè, nói rành rọt,biết hát, đếm số, học vẽ Trẻ điều khiển được một số động tác, trở nên khéo léo.Vào cuối giai đoạn mẫu giáo trẻ bắt đầu thích ăn một số thức ăn cứng và chánthức ăn mềm Ở giai đoạn này trò chơi là hoạt động giúp trẻ hình thành trítưởng tượng, nhân cách và tư duy [14]

1.2 Tình hình thừa cân béo phì trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Theo tài liệu của tổ chức y tế thế giới WHO công bố, số người thừa cânbéo phì đã tăng lên gấp đôi so với năm 1980 Trong năm 2014, hơn 1,9 tỷngười, từ 18 tuổi trở lên, bị thừa cân, trong số này có hơn 600 triệu người béophì Trong năm 2013 có khoảng 43 triệu trẻ em bị thừa cân béo phì Không chỉgia tăng ở các quốc gia phát triển mà ở các quốc gia đang phát triển và chậmphát triển tỷ lệ thừa cân béo phì cũng gia tăng đặc biệt ở các thành phố [17]

Trang 16

Thừa cân béo phì ở trẻ em đã tới mức đáng báo động trong thế kỷ 21, với

tỷ lệ tăng ở cả các nước phát triển và đang phát triển [54]

Theo WHO, xu hướng tới thừa cân béo phì sẽ thay thế tình trạng suydinh dưỡng, các bệnh truyền nhiễm trong các mối quan ngại chủ yếu do tínhphổ biến, chi phí điều trị và ảnh hưởng đến sức khỏe [55], [56]

Trong giai đoạn nền kinh tế tư bản phát triển bùng nổ, thừa cân béo phìảnh hưởng ngày càng lớn đến sức khỏe của người dân [86] Năm 1997, WHOchính thức cho rằng thừa cân béo phì như một đại dịch toàn cầu [57]

Tại các nước đã phát triển, thừa cân béo phì đang gia tăng đến mức báođộng và là một nạn dịch [58], [59], [60] Tại Mỹ, giai đoạn 1986-1998 có sựgia tăng 50% tỷ lệ trẻ em thừa cân béo phì trong một thập niên và đạt đến tỷ

lệ 21,5% ở trẻ em da đen tại Mỹ [61] Đến năm 2002, một khảo sát ở trẻ 6 đến

19 tuổi tại Mỹ cho tỷ lệ thừa cân béo phì là 31%, trong đó béo phì là 16%[62] Trong năm 2003-2004 tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ 2-5 tuổi tại Mỹ là26,2% [63] Trong giai đọan 1999 đến 2006 tỷ lệ này không gia tăng nhiều,điều tra năm 2007-2008 tại Mỹ các trẻ từ 2 đến 19 tuổi có tỷ lệ thừa cân béophì là 31,7% [64] Thừa cân béo phì trẻ em hiện nay đang là vấn đề y tế côngcộng tại Mỹ Tại Anh, con số tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em nước này tăngnhanh Trong một thập kỷ từ 1989 đến 1998 số trẻ em thừa cân béo phì ở 3 - 4tuổi tăng 60% và 70% Tại Pháp, số trẻ em béo phì tăng gấp đôi trong 15năm, đạt mức 10-12% trẻ Pháp bị thừa cân béo phì Tại Nhật, trẻ 6-14 tuổiNhật có tỷ lệ béo phì là 5-11% [65] Tỷ lệ thừa cân béo phì ở người lớn Nhậtnăm 2005 là 18,1% ở nữ, và 27,0% ở nam Dự báo đến năm 2015, tỷ lệ thừacân béo phì của Nhật ở nam và nữ trưởng thành (trên 15 tuổi) như sau: nữ24,4%, nam 32,7% [66] Theo dõi thừa cân béo phì tại Nhật trong 22 năm(1974-1995) cho kết quả 32% trẻ trai béo phì và 41% trẻ gái béo phì tiếp tụcbéo phì khi đã trưởng thành [6]

Trang 17

Trong báo cáo của Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), cómột tỷ lệ không nhỏ 18% dân số thuộc các nước OECD bị béo phì, cứ 5 đứatrẻ thì có 1 bị béo phì, tỷ lệ thừa cân béo phì trong vòng 5 năm tính đến tháng6/2014 tăng mạnh [67].

Tại châu Á, tỷ lệ TC, BP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng.Tại Trung Quốc, các cuộc điều tra theo 4 giai đoạn khác nhau trong khoảng từnăm 1989 và 1997 thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em từ 2 đến 6 tuổi tăng rất nhanh

từ 15% lên 29%, đặc biệt ở các vùng đô thị [28] Ở Thái Lan, trong nhữngnăm 1990, tỷ lệ BP ở trẻ từ 6 – 12 tuổi tăng từ 12% lên 16% chỉ trong vòng 2năm [68] Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứhai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là mộttrong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế [69], một số nước

có tỷ lệ thừa cân béo phì rất cao như Brunei 63,2% ở nữ và 56,4% ở nam.Việt Nam và Cambodia có tỷ lệ thừa cân béo phì ban đầu thấp nhưng sau 10năm (2005-2015) tỷ lệ này sẽ tăng lên đáng kể Tỷ lệ thừa cân béo phì ở phụ

nữ Lào khá cao do theo văn hóa Lào hình ảnh phụ nữ mập mạp là biểu hiệncủa sức khỏe và sự sung túc Dự báo các nước khác trong khối ASEAN cóhiện tượng nữ giới gia tăng tỷ lệ thừa cân béo phì nhanh hơn nam giới.Philippine, Thái Lan, Indonesia, Malaysia tỷ lệ thừa cân béo phì ở nam giớikhông tăng nhiều nhưng ở nữ giới lại tăng từ 28,5% lên 38,8%, 35,2% lên44,7%; 22,7% lên 31,8%, 37,2% lên 47,2%, tương ứng [70], [71] Trong 2thập kỷ qua, tỷ lệ TC, BP dường như đã không tăng ở Châu Mỹ La tinh (ướctính khoảng 4 triệu trẻ bị mắc TC, BP vào năm 1990, 2000 và 2010) Trongkhi đó tỷ lệ này tăng rất cao ở Châu Phi (từ 4% năm 1990, lên 5,7% năm 2000

và 8,5% năm 2010), số lượng trẻ em bị mắc TC, BP tăng từ 4 triệu trẻ lên 13triệu trẻ vào năm 2010 Ở Châu Á, tuy tỷ lệ TC, BP không cao như Châu Phi,

Trang 18

nhưng số lượng trẻ bị TC, BP thì rất cao (tăng từ 13 triệu trẻ em năm 1990 lên

18 triệu năm 2010), cao nhất trong 3 Châu lục [72], [73].

Trang 19

1.2.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, trước năm 1995, không có một công bố dịch tễ học nàonhắc đến vấn đề béo phì ở người Việt, tỷ lệ người thừa cân rất ít Nhưng đếnnăm 2000, theo kết quả tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc thì tỷ lệ thừa câncủa phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ từ 15 – 49 tuổi là 9,2% (ở thành phố) và 3,0% (ởnông thôn) [74]

Ở trẻ nhỏ: Theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại các thành phố lớnnhư Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nha Trang các nghiên cứu đều cho thấykhuynh hướng gia tăng tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo, họcsinh tiểu học Năm 2000 trẻ em ở tuổi 6 – 14 có tỷ lệ thừa cân là 6,6% (ởthành phố) và 1,2% (ở nông thôn) [74] Đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi tỷ lệthừa cân béo phì gia tăng nhanh, năm 2011 tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cânbéo phì là 4,8% gia tăng gấp 6 lần so với số liệu năm 2000 [75]

Một số khảo sát gần đây tại các thành phố lớn ở Việt Nam như Hà Nội, TP.HCM… đều cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em có hiện tượng gia tăng.Tại Hà Nội, năm 2000 tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ là 5,6% [11], Năm

2003, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em từ 7 – 12 tuổi ở nội thành TP Hà Nội là 7,9%(nam: 8,5%, nữ: 7,2%) và đã có rối loạn lipit máu ở trẻ bị TC, BP: 66,7% tăngTriglyxerit máu, 10,5% tăng Cholesterol toàn phần và 5,7% tăng LDL – C[76], đến năm 2012, tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì của trẻ từ 6 – 14 tuổi Hà Nội là10,7% trong đó béo phì là 3% [77]

Tại TP HCM, năm 2000, tỷ lệ trẻ 4-5 tuổi thừa cân béo phì là 3,1%, điềutra năm 2006 trên 670 trẻ 4-5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh của Huỳnh ThịThu Diệu cho thấy ở lứa tuổi tiền học đường tỷ lệ thừa cân là 20,5% và béophì là 16,3% [78], năm 2008, tỷ lệ trẻ 4 -5 tuổi tại Q 5 TP HCM thừa cân béophì là 21,2% [79] Năm 2000, tỷ lệ TC, BP ở học sinh từ 6 -11 tuổi tại quận

Trang 20

Hồng Bàng, TP Hải Phòng là 10,4% [38], tại Nha Trang, theo dõi diễn biếnthừa cân béo phì ở trẻ em tiểu học thành phố Nha Trang, Bùi Văn Bảo vàcộng sự thấy tỷ lệ thừa cân béo phì tăng nhanh từ 2,7% năm 1997 lên 5,9%năm 2001 [80], nghiên cứu tại TP Buôn Ma Thuật, tỷnh Đắc Lắc năm 2004thấy tỷ lệ TC, BP ở trẻ em tiểu học từ 6 – 11 tuổi là 10,4%, trong đó tỷ lệ TC,

BP ở trẻ trai là 11,1% và trẻ gái là 9,5% [81], nghiên cứu tại TP Huế năm

2007 ở trẻ từ 6 – 10 tuổi thấy tỷ lệ TC, BP là 7,98%, trong đó BP là 1,51%[82], tỷ lệ TC, BP ở trẻ từ 11 – 15 tuổi là 8,3% [83], nghiên cứu tại Đà Nẵng

ở học sinh tiểu học năm 2006 – 2007 thấy tỷ lệ TC là 4,9% và nguy cơ TC là8,7% [84]

1.3 Một số yếu tố liên quan tới thừa cân béo phì

1.3.1 Khấu phần dinh dưỡng và thói quen ăn uống

Cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân bằng giữa nănglượng do thức ăn cung cấp và năng lượng tiêu hao cho lao động và các hoạtđộng khác của cơ thể Cân nặng cơ thể tăng lên có thể do chế độ ăn dư thừavượt quá nhu cầu hoặc do nếp sống làm việc tĩnh tại ít tiêu hao năng lượng.Người ta nhận thấy 60% - 80% trường hợp béo phì là do nguyên nhân dinhdưỡng, bên cạnh đó còn có thể do các rối loạn chuyển hóa trong cơ thể thôngqua vai trò điều tiết của hệ thống thần kinh và các tuyến nội tiết như tuyếnyên, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng và tuyến tụy

Khi vào cơ thể, các chất protein, lipit, gluxit đều có thể chuyển hóa thànhchất béo dự trữ Vì vậy không nên coi ăn nhiều thịt, nhiều mỡ mới gây béo

mà ăn quá thừa chất bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo Các hành vi ănuống có liên quan tới thừa cân và béo phì bao gồm tần suất ăn/ăn vặt, khẩuphần ăn quá dư thừa, ăn thức ăn nhanh ở bên ngoài và vấn đề bú sữa mẹ hoàntoàn Các yếu tố dinh dưỡng bao gồm chất béo, các loại carbohydrat (bao gồm

Trang 21

các loại carbohydrat tinh chế như đường), chỉ số đường huyết của thực phẩm

và chất xơ [24]

Qua nhiều thập kỉ nghiên cứu, người ta đã phát hiện ra mối liên quan giữachế độ ăn và tỷ lệ TC, BP ở trẻ em Theo Grund A và cs nghiên cứu thuần tập ởtrẻ từ 3 - 5 tuổi cho thấy tăng % mỡ ăn vào làm tăng chỉ số BMI, ngược lạiLobstein T quan sát thấy trẻ thừa cân ăn ít năng lượng hơn trẻ bình thường[33], [34] Nghiên cứu của Shaw ở trẻ 3 -7 tuổi thấy những trẻ mà cơ thể cónhiều mỡ thì tiêu thụ nhiều chất béo, nhiều năng lượng từ lipit hơn [35]

Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy thực phẩm chế biến ngoài gia đình chứanăng lượng, chất béo toàn phần, chất béo no, cholesterol và natri cao hơn mộtcách có ý nghĩa so với thức ăn được chuẩn bị ở nhà Người dân Mỹ thường ăn

ở nhà hàng có xu hướng BMI cao hơn những người ăn ở nhà và có tới 30 70% số trẻ em Mỹ có sử dụng thức ăn nhanh tại các nhà hàng và những trẻ

-em này tiêu thụ nhiều hơn 187 kcal/ngày, 228g chất ngọt so với trẻ không sửdụng thức ăn nhanh Những người thường ăn ở ngoài nhiều thường tiêu thụthức ăn có mức năng lượng cao nhiều hơn khi ăn ở nhà [36] Tại Mỹ, trongsuốt 2 thập kỷ qua, tỷ lệ hộ gia đình ăn ở ngoài và ăn các thức chế biến sẵn cónhiều chất béo tăng từ 16% (năm 1977) đến 27% (năm 1995) Trẻ em từ 6 - 19tuổi tiêu thụ thức ăn ngoài gia đình tăng từ 55% (năm 1977) lên 66% (năm1994) [37] Một số nghiên cứu ở Việt Nam lứa tuổi học đường cho thấy nhữngtrẻ hay ăn bữa phụ, nhất là vào buổi tối dễ mắc béo phì [11], [38], [39], [40]

1.3.2 Hoạt động thể lực

Hoạt động thể lực và chỉ số khối cơ thể:

Cân bằng năng lượng phụ thuộc vào năng lượng ăn vào và năng lượngtiêu hao Ngày nay, sự gia tăng tiêu thụ các thực phẩm giầu năng lượng cùngvới giảm hoạt động thể lực của người dân thành thị đang làm gia tăng tình

Trang 22

trạng TC, BP Để giảm cân cần phải kết hợp đồng thời giữa việc giảm nănglượng ăn vào và tăng hoạt động thể lực

Sahota P và cộng sự đã định nghĩa “sự duy trì cân nặng” là mức độ thayđổi của cân nặng không quá 3% trọng lượng cơ thể Khi mức độ này dao động

từ 3% - 5% được gọi là có sự thay đổi cân nặng nhẹ Khi mức độ thay đổi nàyđạt mức từ 5% trở lên được gọi là có sự thay đổi cân nặng rõ rệt [41]

Các nghiên cứu cho thấy hoạt động thể lực từ 13 - 26 MET một tuần cótác dụng giảm từ 1-3% cân nặng và duy trì cân nặng ổn định 13 MET tươngđương với khoảng đi bộ 150 phút với tốc độ 6,4 km/giờ hoặc chạy bộ 75 phútvới tốc độ 9,6 km/giờ Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng liệu pháp “hoạt độngthể lực” hoặc “chế độ ăn” đơn thuần chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong điều trị béophì Muốn giảm cân từ 5% trở lên thì phải kết hợp giữa hoạt động thể lực vàkiểm soát chế độ ăn hàng ngày

Grund A và cộng sự khi nghiên cứu mối tương quan giữa hoạt động thểlực và BMI thấy rằng ở các mức hoạt động thể lực 0.9, 4.8, 11.3, 22.6, 46.8MET/một tuần tương ứng với các mức BMI 25.4, 25.3, 25.1, 24.7 và 24.4 kg/

m2 [34] Nghiên cứu của Kimm SY và cộng sự cũng chỉ rằng những người cóhoạt động thể lực trung bình ít nhất 30 phút/một ngày trong 5 ngày 1 tuần cóBMI thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với những người ít hoạt độngthể lực [42]

Hoạt động thể lực và béo phì:

Béo phì là hậu quả trực tiếp của những thay đổi môi trường sống củacon người có liên quan tới việc dễ dàng tiếp cận với các phương tiện giaothông hiện đại, phương tiện và dụng cụ lao động không tốn nhân lực, phươngtiện giải trí sẵn có tại nhà và thực phẩm cao năng lượng Tỷ lệ mới mắc BPtrong vòng 20 năm qua đã tăng tới 20 - 25% ở Mỹ và đang trở thành đại dịch

ở các nước đang phát triển [43] Các bằng chứng khoa học cho thấy giảm hoạt

Trang 23

động thể lực là yếu tố chủ yếu và có tính quyết định hơn so với tăng khẩuphần năng lượng đối với BP Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích củalối sống tích cực và tăng cường hoạt động thể lực trong phòng chống béo phì.Hoạt động làm giảm đi mức tăng cân của lứa tuổi trung niên Luyện tập có tácđộng ở mức giảm cân trung bình với người TC, BP và có tác dụng giảm cân

bổ sung với người có chế độ ăn giảm năng lượng Hoạt động thể lực giúpgiảm một cách có hiệu quả mỡ bụng và mỡ nội tạng Người có hoạt độngluyện tập thường xuyên thường duy trì mức giảm cân trong một thời gian dàihơn mức giảm cân của người chỉ phụ thuộc vào việc kiểm soát khẩu phần ănđơn thuần [44], [45]

Những thay đổi trong mô hình ăn uống cả ở trẻ em và người lớn luônsong hành với những thay đổi trong mô hình hoạt động thể lực Tình trạngthừa năng lượng của trẻ không chỉ do khẩu phần ăn quá nhiều mà còn do tìnhtrạng không tham gia các hoạt động thể lực, thời gian xem vô tuyến nhiều đãlàm giảm tiêu hao năng lượng ở trẻ và tăng nguy cơ mắc TC, BP ở lứa tuổinày [46]

Hoạt động thể lực bao gồm những hoạt động hàng ngày, các công việcliên quan với hoạt động thể lực và luyện tập thể dục thể thao Trẻ em hoạtđộng thể lực nhiều thì càng có cơ thể khoẻ mạnh, và sẽ ít liên quan đến tănghuyết áp nhất là trẻ dưới 5 tuổi và càng có ít nguy cơ trở thành béo phì khilớn Hoạt động thể thao có vai trò trong giảm tích mỡ, tăng khối nạc, tuynhiên sau khi ngừng tập luyện quá trình này đảo lại Thay đổi giữa khối mỡ

và nạc có thể xảy ra mà không thay đổi về cân nặng, nhưng nếu hoạt động thểlực được duy trì thường xuyên trong suốt cuộc đời thì việc tăng khối mỡ cóthể bị ngăn chặn [31]

Ngày nay xã hội càng phát triển, chương trình vô tuyến dành cho trẻ emcàng đa dạng và hấp dẫn, số giờ phát sóng lại liên tục trong ngày do đó trẻ

Trang 24

càng có nhiều cơ hội tiếp cận với vô tuyến Xem vô tuyến làm giảm hoạt độngthể lực, giảm chuyển hoá cơ bản, tăng ăn vặt đặc biệt là thức ăn giàu béo(Snack) Có tới 54,2% trẻ em 10 tuổi ở Singapore ăn ở các quán bán rongngoài đường, 65% trẻ tiêu thụ 2 - 3 lần thức ăn giàu béo trong một ngày như

mì tôm, nước ngọt, bánh ngọt, thức ăn rán [47] Việc tiếp xúc nhiều với quảngcáo thực phẩm trên vô tuyến làm tăng sở thích của trẻ đối với thức ăn nhưđường ngọt, bánh kẹo dẫn đến tăng tiêu thụ các sản phẩm này và là những yếu

tố nguy cơ dễ gây TC, BP [48]

Việc tập luyện nên bắt đầu từ nhỏ, nếu đi kèm với dinh dưỡng thích hợp

sẽ tạo ra lợi ích sức khoẻ tốt nhất, tập luyện lúc nhỏ tuổi còn ngăn chặn được

BP đặc biệt trong giai đoạn trẻ phát triển nhanh Người ta còn thấy những trẻhay hoạt động thể lực có điểm thể dục cao hơn trẻ ít hoạt động thể lực Nhữngtrẻ em béo phì thường ít hoạt động hơn những trẻ cùng lứa tuổi, chúng kémnhanh nhẹn và đôi khi còn xấu hổ hoặc gặp khó khăn khi tham gia các hoạtđộng thể thao [49]

1.3.3 Yếu tố gia đình

Một số nghiên cứu đã cho thấy thừa cân béo phì có tính gia đình: Càngnhiều cá nhân trong gia đình bị TC thì nguy cơ TC của các thành viên khác tronggia đình càng cao Hiện nay đã có những bằng chứng kết luận rằng BP thường

do yếu tố môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền[25], [26], [27]

Kết quả nghiên cứu trong nước cho thấy tiền sử gia đình có BP là yếu tốnổi bật trong các yếu tố nguy cơ của BP trẻ em Nghiên cứu của Lê Thị Hảinăm 1998 ở học sinh tiểu học từ 6 đến 11 tuổi tại TP Hà Nội nhận thấy nếutrẻ có bố và mẹ béo thì nguy cơ BP gấp 4,8 lần, mẹ bị béo thì nguy cơ BP gấp7,5 lần [11] Nghiên cứu của Luo J và cộng sự trên 210 trẻ BP tại TrungQuốc cho thấy những gia đình có bố hoặc mẹ béo thì khả năng con BP cao

Trang 25

gấp 3,7 lần so với gia đình không có bố mẹ BP, nếu cả bố và mẹ cùng béo thìnguy cơ này tăng gấp 5 lần so với gia đình mà bố và mẹ không bị BP [28] Cả

2 yếu tố gen và môi trường đều góp phần thúc đẩy BP, nhiều nghiên cứu cho rằng trẻ em không có cha mẹ BP thì ít hơn 10% cơ hội trở thành BP khi lớn [29], [30]

1.3.4 Yếu tố di truyền

Tương tác giữa các gen nhạy cảm với chế độ ăn và lối sống có thể dẫn đến nguy cơ BP Nhiều nghiên cứu đã xác định vai trò của các yếu tố

di truyền đối với sự phát triển của bệnh BP Nghiên cứu các cặp sinh đôi

và gia đình cho thấy ảnh hưởng của yếu tố di truyền (gen) chiếm từ 40 70% trong bệnh BP Các yếu tố di truyền có thể được phân loại theo cơ chế tác động đối với BP như: nhóm gen kích thích sự ngon miệng (Neuropeptide Y, Leptin receptor, P proopiomelanocortin), nhóm liên quan đến tiêu hao năng lượng (Uncoupling proteins), nhóm điều hòa chuyển hóa (Beta-2 adrenergic receptor, Beta-3 adrenergic receptor), nhóm liên quan đến sự biệt hóa và phát triển tế bào mỡ (Peroxisome proliferator-activated receptor, Vitamin D receptor, Retinoid X receptor) [27], [31

-Một số nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa các chỉ số đánh giá BP(BMI, cân nặng, % mỡ cơ thể, tỷ lệ vùng bụng/vùng mông) với các genUncoupling protein 1 (UCP1), Uncoupling protein 2 (UCP2), Alpha -2B

adrenergic receptor (ADRA2B), Beta -3 adrenergic receptor (ADRB3), Leptin receptor (LEPR), Vitamin D receptor (VDR), và Estrogen receptor 1 (ESR1) ở

phụ nữ sau mãn kinh Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ sau mãn kinh

có genotype TC của gen ESR1 thì có tỷ lệ % mỡ cơ thể cao hơn những phụ nữ mang genotype TT (p = 0.006) Các SNP BsmI và ApaI của gen VDR có liên quan có ý nghĩa thống kê đến TC và BP Sự tương tác gen - gen UCP2-VDR

Trang 26

ApaI làm tăng sự nhạy cảm đối với TC và BP và sự tương tác này đạt tới

69,09% sự chính xác về dự đoán TC và BP (p = 0.001, Sign test) [32], [27]

Trang 27

1.3.5 Một số yếu tố khác

Tuổi:

Một số nghiên cứu cho thấy tuổi xuất hiện TC, BP rất sớm (từ 1- 5 tuổi),tuy nhiên độ tuổi xuất hiện phổ biến là lứa tuổi học đường [27]

Điều kiện kinh tế văn hoá xã hội:

Các yếu tố văn hoá, dân tộc, tầng lớp xã hội, tôn giáo cũng là những yếu

tố môi trường làm ảnh hưởng đến lượng thức ăn đưa vào theo nhiều cách khácnhau Người ta thấy ở những nước đã phát triển, có mối liên quan nghịch giữatình trạng kinh tế xã hội và béo phì còn ở các nước đang phát triển thì xuhướng này có chiều hướng ngược lại

Các nhà tâm lý học nhất trí rằng nhiều cha mẹ nuông chiều và ân cần quámức trong việc ăn uống của trẻ đã sử dụng những thực phẩm không thích hợp

để làm yên lòng những đứa trẻ hiếu động, quấy khóc Chính vì vậy đã tạo chotrẻ thói quen đòi và tìm ăn những thực phẩm này khi buồn chán [29]

Thời gian ngủ:

Ngủ ít cũng được tìm thấy như một yếu tố nguy cơ cao của trẻ thừa cân.Nguyên nhân chưa rõ nhưng theo một số tác giả có thể đây là một kiểu sốnggia đình thiếu điều độ từ ăn tới ngủ hoặc do sự thiếu hoạt động thể lực tạonhững nếp sóng thấp trên điện não đồ khi ngủ của trẻ, cũng có thể do hoạtđộng tiêu mỡ của cơ thể là tối đa về đêm và sự ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nóichung [27], [50].

Cân nặng sơ sinh:

Nghiên cứu về sự liên quan giữa cân nặng sơ sinh (CNSS) cho các kết quả không đồng nhất Nghiên cứu trong 5 năm trên 4062 trẻ ở Úc

Trang 28

cũngthấy CNSS là một yếu tố dự đoán độc lập cho béo phì vừa và nặng [31] Nghiên cứu của Daniels SR chỉ ra rằng CNSS của trẻ béo phì không cao hơn CNSS của trẻ bình thường, nhưng trong nhóm trẻ béo phì thì số trẻ có CNSS trên 4000 gram cao hơn hẳn nhóm trẻ bình thường [25] Giả thuyết “nguồn gốc bào thai” của các bệnh mạn tính đóng vai trò then chốt trong tiếp cận dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời Năm 1986, nghiên cứu của Manios Y đã nhận thấy tỷ lệ chết do bệnh mạch vành cao gấp đôi ở nhóm có CNSS thấp [51] Từ đó tác giả cho rằng “dinh dưỡng kém ở thời kỳ bào thai làm tăng tính nhạy cảm đối với tác dụng của chế

độ ăn dư thừa” Ở người có thể xảy ra 2 chu kỳ như sau:

- Ở những đứa trẻ bị SDD bào thai nếu tiếp tục sống trong môi trường thiếu thốn sẽ bị SDD, còi cọc rồi trở thành những người mẹ thấp

bé, ít tăng cân khi có thai và lại đẻ ra những trẻ sơ sinh có cân nặng thấp theo một vòng luẩn quẩn

- Trong thời kỳ chuyển tiếp, những đứa trẻ sơ sinh có cân nặng thấp sau khi ra đời được sống trong môi trường thực phẩm dồi dào (cân nặng đuổi kịp) dễ trở thành thấp - béo (fat – stunted) và trở thành những người mẹ thấp béo, có các rối loạn chuyển hóa Những người mẹ này có thể sinh ra những đứa trẻ thiếu cân hoặc cũng có thể béo với các khuyết tật của nó [51]

Hậu quả của lập trình bào thai có thể thấy rõ ở các quần thể dân cư, cách đây chưa lâu có tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân cao và sẽ biểu hiện thiên về thừa cân béo phì song song với chuyển tiếp về dinh dưỡng và lối sống tĩnh tại Do đó lập trình bào thai về chuyển tiếp về dinh dưỡng đòi hỏi được quan tâm đồng thời trong các chương trình can thiệp dinh dưỡng Suy dinh dưỡng thể thấp còi:

Trang 29

Có mối quan hệ giữa SDD trước đó với thừa dinh dưỡng về sau và

đó là sự kết hợp đặc biệt nguy hiểm Người ta nhận thấy những đứa trẻ

có cân nặng khi sinh hoặc khi một tuổi thấp thì về sau mỡ có khuynh hướng tập trung ở bụng Một công trình nghiên cứu ở trẻ em 3 – 6 tuổi

và 7 – 9 tuổi ở 4 quốc gia cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng thấp còi (Stunting) và thừa cân (Overweight) (Popkin 1996) Tuy

cơ chế còn chưa rõ ràng nhưng phát hiện này có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng quan trọng Ở các nước nghèo số đông trẻ em bị thấp còi và thiếu cân nhưng khi thu nhập tăng, điều kiện sống thay đổi chúng dễ dàng trở nên béo phì [52], [53]

Nghiên cứu trên trẻ em Nam Phi cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữatiền sử thấp còi và TC, BP ở trẻ vị thành niên Những trẻ có tình trạng thấpcòi sớm trong những năm đầu tiên của cuộc đời (1- 5 tuổi) dễ bị TC, BP ởtuổi vị thành niên (11 - 20 tuổi) [52]

1.4 Cơ chế sinh lý thừa cân béo phì

Theo Tổ chức Y tế Thế giới thừa cân béo phì trải qua 3 giai đoạn: tiềnbéo phì, tăng cân, giữ và duy trì cân nặng [89] Trong giai đoạn tiền béo phì,

do thu nạp năng lượng cân bằng với sử dụng năng lượng nên đối tượng khôngtăng cân Trong giai đoạn tăng cân, có sự mất cân bằng năng lượng, trong mộtthời gian dài do năng lượng cung cấp cao hơn năng lượng tiêu hao nên cóhiện tượng tăng cân [90],[89] Ở giai đoạn giữ và duy trì cân nặng, đối tượnglập lại sự cân bằng năng lượng ở một mức mới cao hơn mức cũ Cơ thể đãquen với trọng lượng cơ thể gia tăng gồm cả mỡ và khối cơ nên sẽ có khuynhhướng duy trì cân nặng mới này [89]

Các lý do khiến mỡ tích tụ trong cơ thể có thể kể như sau Mỡ cung cấpnăng lượng cao hơn về đậm độ so với các loại thực phẩm khác Lượng dự trữ

mỡ trong cơ thể là không giới hạn Lượng mỡ ăn vào có thể được dự trữ trong

Trang 30

các mô mỡ với tỉ lệ có thể lên đến 96% của lượng mỡ ăn vào và việc ăn nhiều

mỡ không làm gia tăng đáng kể ôxy hóa mỡ Cơ chế kiểm soát ăn vào đối với

mỡ rất yếu, có thể thấy cân bằng chất bột đường và cân bằng chất đạm đượcđiều hòa khá tốt trong khi cân bằng mỡ lại không được điều hòa tốt như vậy

và mỡ không chuyển hóa sang nhóm khác [89]

1.5 Tác hại của thừa cân béo phì đối với trẻ

Thừa cân béo phì là yếu tố nguy cơ của các bệnh không lây Nhiều tàiliệu cho biết thừa cân béo phì làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạchnhư tăng huyết áp, đột quị, hội chứng chuyển hóa, tiểu đường týp 2, một sốung thư như túi mật, vú, đại tràng, tiền liệt tuyến và thận [91],[92],[93]

Thừa cân béo phì ảnh hưởng tâm lý trẻ: trẻ bị bạn bè trong lớp trêu chọc,

bị chê cười, bị đặt các biệt danh làm cho trẻ cảm thấy mặc cảm và chịu áp lựctâm lý Nghiên cứu tại Mỹ của Deckelbaum cho thấy trẻ thừa cân béo phì bịmặc cảm, kém tự tin, ngại giao tiếp với bạn, lo lắng, trầm cảm, và thườngxuyên có cảm giác bị bỏ rơi hơn trẻ bình thường [7] Năm 2005, nghiên cứutại Bình Định của Hà Văn Thiệu ở trẻ 6 đến 15 tuổi có 16% trẻ thừa cân béophì bị tổn thương tâm lý [90]

Trẻ thừa cân béo phì và Hội chứng thông khí kém: Trẻ thừa cân béo phì

dễ mắc phải hội chứng thông khí kém do mỡ tập trung trong khoang bụng vàbên ngoài lồng ngực làm cho cử động hô hấp và chuyển động cơ hoành hạnchế Trẻ dễ có cảm giác loạn nhịp thở, thở gấp và rối loạn thông khí khi giatăng vận động Ban ngày trẻ mệt mỏi, ít vận động, ngáp vặt, thở ngắn Ảnhhưởng của thừa cân béo phì lên hô hấp cần được quan tâm, nhất là khả nănggây ngưng thở lúc ngủ Thừa cân béo phì ảnh hưởng đến chức năng hô hấpbằng cách giảm suất đàn hồi của phổi và lồng ngực đưa đến giảm thông khíphế bào và gây hội chứng ngưng thở lúc ngủ Hội chứng ngưng thở lúc ngủđược định nghĩa là sự xuất hiện đột ngột sự dừng thở ít nhất 10 giây và hơn 5

Trang 31

lần mỗi giờ Hội chứng này đưa đến thiếu khí về đêm và thường xảy ra ởngười béo phì có BMI > 35 Tuy nhiên, hội chứng này không đặc hiệu chothừa cân béo phì [13]

Trang 32

CHƯƠNG 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em từ 36 tháng đến dưới 726 tháng đang học tại trường mầm non

20 tháng 10, trường mầm non Thành Công và 2 trường mầm non Đặng Xá vàtrường mầm non Kim Sơn thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Phỏng vẩn trực tiếp mẹ hoặc người chăm sóc nuôi dưỡng trẻ

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Trẻ trong độ tuổi từ 36 tháng dưới 72 tháng không bị mắc các bệnhbẩm sinh, các bệnh mạn tính, hiện tại không mắc các bệnh cấp tính đang học

- Bà mẹ/người chăm sóc trẻ: là mẹ/người chăm sóc của các trẻ được lựachọn, không bị tâm thần, không bị rối loạn trí nhớ và hợp tác

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Trẻ ngoài độ tuổi trên Trẻ: Mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tínhhoặc đang mắc bệnh cấp tính

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Từ tháng 08 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015

- Địa điểm: Nghiên cứu tại trường mầm non 20 tháng 10, trường mầmnon Thành Công và 2 trường mầm non Đặng Xá và trường mầm non KimSơn thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1.Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh

Trang 34

n: Cỡ mẫu (số trẻ em từ 36 tháng đến 60 tháng cần điều tra)

Z : Độ tin cậy đòi hỏi Với độ tin cậy 95% thì z = 1,96

p : Tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì theo mẫu 15% [88]

d : Sai số cho phép = 0,03

Thay số ta được n= 405 544 cộng thêm 10% bỏ cuộc và làm tròn số thì

cỡ mẫu cho 2 trường nội thành và 2 trường ngoại thành là 440 600mẫu Tổng

số mẫu điều tra là 1200 trẻ trên 4 trường

2.3.1.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu nhiên giai đoạn:

Giai đoạn 1: Chọn chủ đích 2 trường mầm non nội thành và 2 trườngmầm non ngoại thành

Giai đoạn 2: Chọn chủ đích trường 20 tháng 10, trường mầm non ThànhCông thuộc trường nội thành Còn 2 trường mầm non Đặng Xá và trườngmầm non Kim Sơn của huyện Gia Lâm thuộc trường ngoại thành Hà

Giai đoạn 3: Tại mỗi trường lấy toàn bộ số học sinh trong trường có độ tuổi

từ 36 tháng- dưới 72 tháng, loại bỏ học sinh không đủ tiêu chẩn,lập danh sách

Trang 35

trẻ và chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống để đạt được cỡ mẫu là

300 trẻ cho một trường mầm non nội thành trường mầm non ngoại thành

Trang 36

2.3.1.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu

Mục tiêu Biến số/chỉ số Định nghĩa / cách tính

Phương pháp thu thập

gia đình Số con còn sống hiện có trong gia đình

BMI được tính theo CT:

BMI= Cân nặng kg/ chiều cao2 (m2)chiều cao tính bằng mét.Với chỉ sốBMI theo lứa tuổi dưới 5, nếu Z-Score >2 thì trẻ bị thừa cân, Z- Score

>3 thì trẻ béo phì

Cân nặng

và đo chiều cao trực tiếp cho trẻ

BMI Cân nặng kg/ chiều cao 2 (m 2 )

Trang 37

CóKhông

Trang 38

trẻ ngủ trẻ

Kiến thức, thái

độ của bà mẹ

Đồng ýKhông đồng ý

2.3.2 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin

2.3.2.1.Thu thập các chỉ số nhân trắc bằng phương pháp cân đo

Ở trẻ em, đánh giá tình trạng thừa cân béo phì thường được thực hiệnbằng cách cân đo các chỉ số nhân trắc: cân nặng, chiều cao, vòng eo, vòng

- Đo chiều cao:

+ Dụng cụ: thước đo chiều cao loại microtoise

+ Kỹ thuật đo cần hai người, một người đo chính và một người trợ giúp:+ Để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang+ Bỏ tất cả dày dép, mũ của trẻ;

+ Để trẻ đứng quay lưng vào thước đo, đảm bảo 5 điểm chạm, trục của

+ Một người giữ đầu trẻ sao cho mắt trẻ hướng thẳng ra phía trước, haitay để xuôi xuống 2 bên mình

+ Người thứ 2 giữ thẳng 2 đầu gối của trẻ, đặt cho 2 gót rộng bằng vai

chân song songchạm nhau, tay kia đẩy êke di động áp sát vào đỉnhđầu, vuông góc với mặt thước

+ Đọc kết quả theo đơn vị là cm với 1 số thập phân

Cân trẻ:

Trang 39

- Dụng cụ cân: sử dụng cân talita có độ chính xác tới 100g

- Vị trí đặt cân: nơi bằng phẳng, thuận tiện để cân

- Chỉnh cân: chỉnh cân về số 0 trước khi cân, kiểm tra độ nhạy của cân.Thường xuyên kiểm tra độ chính xác của cân sau 20 lượt cân

Trang 40

+ Người cân trẻ ngồi đối diện chính giữa mặt cân, khi cân thăng bằngđọc kết quả theo đơn vị kg với một số thập phân.

2.3.2.2 Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Theo phụ lục 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn điều tra tình trạng dinh dưỡng củatrẻ và một số vấn đề liên quan

Ngày đăng: 23/08/2019, 17:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Lê Thị Hải và cs, “Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ bệnh béo phì ở học sinh 6 - 11 tuổi tại hai trường tiểu học nội thành Hà Nội,” trong Hội nghị khoa học thừa cân và béo phì với sức khoẻ cộng đồng, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ bệnh béo phì ở họcsinh 6 - 11 tuổi tại hai trường tiểu học nội thành Hà Nội,” trong "Hội nghịkhoa học thừa cân và béo phì với sức khoẻ cộng đồng
12. Wing RR, Phelan S, “Long-term weight loss maintenance”The American Journal of Clinical Nutrition (Review) 82 (1 Suppl), trang. 222–225, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long-term weight loss maintenance”"The AmericanJournal of Clinical Nutrition (Review) 82 (1 Suppl)
13. Nguyễn Thị Kim Hưng, “Mập phì-nạn dịch toàn cầu” trong Chuyên đề Mập phì nạn dịch toàn cầu, Hội Y dược học thành phố Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh, 2000, trang. 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mập phì-nạn dịch toàn cầu” trong "Chuyên đềMập phì nạn dịch toàn cầu
14. Đại học Y dược TP. HCM, Nhi Khoa., Nhà xuất bản Y học. TP. Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Y học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học". TP. Hồ ChíMinh
15. WHO, “Diet, nutrition and the prevention of chronic diseases,” Geneva, Seri 916, trang. 85 - 214, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diet, nutrition and the prevention of chronic diseases,” "Geneva,Seri 916
18. Mast M. et al., “Use of BMI as a measure of overweight and obesityin a field study on 5-7 year old children”European journal of Nutrition.No.41, trang. 61-67, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of BMI as a measure of overweight and obesityin afield study on 5-7 year old children”"European journal of Nutrition."No.41
19. Tim J.C. et al, “Establishing a standard definition for child overweight and obesity wolrdwide: international survey”British medical journal.Vol. 320, trang. 1240-1243, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Establishing a standard definition for child overweightand obesity wolrdwide: international survey”"British medical journal."Vol. 320
21. WHO, “Training course on child growth assessment - WHO chil dgrowth standards,” Geneva. Printed in China, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Training course on child growth assessment - WHO childgrowth standards,” "Geneva. Printed in China
22. Hà Huy Khôi , “Phương pháp dịch tễ học dinh dưỡng” Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, trang. 32 - 48, 75 – 84, 96 - 154, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dịch tễ học dinh dưỡng” "Nhà xuất bản Yhọc, Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Yhọc
24. Hà Huy Khôi, “Dinh dưỡng dự phòng các bệnh mạn tính,” Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2002, trang. 125 - 138, 178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng dự phòng các bệnh mạn tính,” "Nhà xuất bảnY học
Nhà XB: Nhà xuất bảnY học
25. Daniels SR, Arnett DK, Eckel RH, Gidding SS, Hayman LL, Kumanyika S, Robinson TN, Scott BJ, St Jeor S, Williams CL, “Overweight in children and adolescents: pathophysiology, consequences, prevention, and treatment” 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overweight inchildren and adolescents: pathophysiology, consequences, prevention,and treatment
26. Dietz WH, “Health consequences of obesity in youth: childhood predictors of adult disease”Pediatrics, 101, trang. 518 - 525, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health consequences of obesity in youth: childhoodpredictors of adult disease”"Pediatrics, 101
27. Grundy SM, “Multifactorial causation of obesity: implications for prevention”Am J Clin Nutr, 67, trang. 563 - 572, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multifactorial causation of obesity: implications forprevention”"Am J Clin Nutr, 67
28. Luo J, Hu F. B, "Time trends of childhood Obesity in China from 1989 to 1997," Harvard School of public health, Boston, trang. 1- 16, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Time trends of childhood Obesity in China from 1989to 1997
29. Strauss R. S, Knight J, “Influence of the home environment on the development of obesity in children”PEDIATRICS, 103(6), trang. 1 - 8, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of the home environment on thedevelopment of obesity in children”"PEDIATRICS, 103(6)
17. WHO, 2006. [Trực tuyến]. Available: http://www.who.int/mediacenter/factsheets/fs311/en/print.html. [Đã truy cập 5 2015] Link
23. Viện Dinh Dưỡng, Viện Dinh Dưỡng, 2014. [Trực tuyến]. Available:http://viendinhduong.vn/news/vi/603/61/a/cach-phan-loai-va-danh-gia-tinh-trang-dinh-duong-dua-vao-z-score.aspx. [Đã truy cập 4 2015] Link
66. WHO, 2007. [Trực tuyến]. Available: http://www.who.int/infobase/report.aspx. [Đã truy cập 05 2015] Link
67. OECD, 2014. [Trực tuyến]. Available: http://www.oecd.org/els/health-systems/Obesity-Update-2014.pdf. [Đã truy cập 5 2015] Link
70. WHO, 2006. [Trực tuyến]. Available: http://www.who.int/whr/2006/annex/06_annex3_en.pdf. [Đã truy cập 05 2015] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w