LƯƠNG MAI HƯƠNGNHẬN THỨC VAI TRÒ CỦA YOGA ĐỐI VỚI SỨC KHỎE VÀ THỰC HÀNH YOGA CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2018 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA KHÓA 2012 - 2018 NGƯỜI HƯỚNG DẪN
Trang 1LƯƠNG MAI HƯƠNG
NHẬN THỨC VAI TRÒ CỦA YOGA ĐỐI VỚI SỨC KHỎE VÀ THỰC HÀNH YOGA CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NĂM 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2012 - 2018
HÀ NỘI – 2018
Trang 2LƯƠNG MAI HƯƠNG
NHẬN THỨC VAI TRÒ CỦA YOGA
ĐỐI VỚI SỨC KHỎE VÀ THỰC HÀNH YOGA CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NĂM 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2012 - 2018
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS KIM BẢO GIANG
HÀ NỘI – 2018
Trang 3Y Hà Nội và đặc biệt là Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng đã dìu dắt em suốt 6 năm học qua, cho em những kiến thức bổ ích, những bài học chuyên ngành ý nghĩa và đầy hấp dẫn
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Giáo dục sức khỏe vì những kiến thức quí báu trong suốt thời gian học tập vừa qua, cũng như sự giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình làm khóa luận tốt nghiệp của em.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô PGS TS Kim Bảo Giang đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, không chỉ là kiến thức mà còn là những lời khuyên chân thành về cuộc sống và công việc
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người bạn đồng môn đã giúp đỡ, động viên và hỗ trợ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới hai người bạn cộng tác cùng Câu lạc bộ Tổ chức sự kiện EOC đã cho tôi sự hỗ trợ và nhiều kinh nghiệm quý giá khi thực hiện nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng biết ơn tha thiết và sâu sắc nhất tới gia đình thân yêu cùng những người bạn trong lớp đã luôn luôn sát cánh, ủng hộ
và khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập
Hà Nội, ngày 08 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lương Mai Hương
Trang 4Tôi xin cam đoan toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu thu được trong khóa luận này là trung thực, chưa từng công bố trong bất kì một tài liệu nào khác Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về tính chính xác của những thông tin và
số liệu đưa ra
Hà Nội, ngày 08 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lương Mai Hương
Trang 5BMI : Chỉ số khối cơ thể
CAM : Thuốc bổ sung và thay thế
ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Yoga và lịch sử phát triển của Yoga 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Lịch sử phát triển của Yoga 3
1.1.3 Một số quan niệm sai lầm về Yoga và phương pháp tập luyện Yoga 5
1.2 Một số nghiên cứu khoa học về vai trò của Yoga đối với sức khỏe và các yếu tố liên quan: 5
1.2.1 Lợi ích của Yoga đối với sức khỏe thể chất con người: 6
1.2.2 Lợi ích của Yoga đối với sức khỏe tinh thần con người: 7
1.2.3 Lợi ích của Yoga trong việc thay đổi thói quen tích cực và cải thiện quan hệ xã hội: 8
1.3 Thực trạng sức khỏe sinh viên Y khoa và một số nghiên cứu về vai trò của Yoga đối với sức khỏe trên sinh viên Y : 9
1.4 Một số mô hình hành vi sức khỏe 11
1.4.1 Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM) 11
1.4.2 Mô hình các giai đoạn của sự thay đổi hành vi sức khỏe 13
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Địa điểm nghiên cứu 16
2.2 Thời gian nghiên cứu 16
2.3 Các đối tượng nghiên cứu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 16
2.4.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 16
2.4.3 Phương pháp chọn mẫu 16
2.4.4 Phát triển công cụ thu thập số liệu 17
2.4.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu 18
2.4.6 Xử lý và phân tích số liệu 20
2.4.7 Sai số và cách khống chế sai số 20
Trang 73.1 Đặc điểm chung nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu: 22
3.2 Nhận thức về vai trò đối với sức khỏe của Yoga của sinh viên Y Hà Nội 23
3.3 Các yếu tố thúc đẩy và cản trở thực hành Yoga của sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội 31
3.4 Các yếu tố liên quan đến thực trạng thực hành Yoga của sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội 37
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 40
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 40
4.2 Nhận thức về lợi ích đối với sức khỏe của Yoga của sinh viên Y Hà Nội: 40
4.3 Những yếu tố thúc đẩy và cản trở hành vi thực hành yoga và một số yếu tố liên quan của sinh viên Đại học Y Hà Nội 41
4.3.1 Thực trạng hành vi thực hành Yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội 41
4.3.2 Những yếu tố thúc đẩy và cản trở hành vi thực hành yoga và một số yếu
tố liên quan của sinh viên Đại học Y Hà Nội 42
4.4 Một số hạn chế của nghiên cứu: 45
KẾT LUẬN 46
KIẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 2.1: Biến số/ Chỉ số chung 18
Bảng 2.2: Biến số/Chỉ số cho mục tiêu 1 19
Bảng 2.3: Biến số/Chỉ số cho mục tiêu 2 19
Bảng 3.1: Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 22
Bảng 3.2: Nhận thức về định nghĩa yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội 23
Bảng 3.3: Nhận thức về phương pháp tập yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội 24
Bảng 3.4: Nhận thức về thời gian phù hợp để tập yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội .24
Bảng 3.5: Nhận thức về thời gian hiệu quả nhất cho mỗi lần tập yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội 25
Bảng 3.6: Nhận thức về không gian phù hợp tập yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội .26
Bảng 3.7: Nhận thức về lợi ích của Yoga đối với sức khỏe thể chất của sinh viên Đại học Y Hà Nội 27
Bảng 3.8: Nhận thức về lợi ích của Yoga đối với sức khỏe tinh thần của sinh viên Đại học Y Hà Nội 28
Bảng 3.9: Nhận thức về lợi ích của Yoga đối với các mối quan hệ xã hội của sinh viên Đại học Y Hà Nội 29
Bảng 3.10: Nhận thức về Yoga của 240 sinh viên Đại học Y Hà Nội 30
Bảng 3.11: Những nhóm lý do dẫn đến việc không tập hoặc bỏ tập Yoga của 168 sinh viên không tập hoặc từ bỏ tập của trường Đại học Y Hà Nội 32
Bảng 3.12: Những lý do dẫn đến việc không tập hoặc bỏ tập Yoga của 168 sinh viên Đại học Y Hà Nội 33
Bảng 3.13: Những nhóm lý do dẫn đến việc nên tập Yoga của 72 sinh viên Đại học Y Hà Nội 35
Bảng 3.14: Lý do dẫn đến việc nên tập Yoga của 72 sinh viên Đại học Y Hà Nội .36 Bảng 3.15: Các yếu tố liên quan đến thực trạng thực hành Yoga 37
Trang 9Biểu đồ 3.1: Thực trạng thực hành Yoga của sinh viên Y Hà Nội 31
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bắt nguồn từ nền văn hóa cổ truyền 5000 năm từ phương Đông, Yoga cũng nhưcác môn tập thiền định khác như: khí công, thái cực quyền từ xa xưa đã được biết đếnnhư là một phương pháp luyện tập giúp con người đạt được trạng thái sức khỏe và nộitâm cân bằng Đến thời kì cận đại, Yoga được con người tìm hiểu và sử dụng như mộtcan thiệp trị liệu và thực hành bảo vệ sức khỏe rộng rãi trong cộng đồng
Ngày nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới, Yoga được xem như là phươngpháp trị liệu bổ sung và thay thế thuốc nhằm cải thiện sức khỏe và nâng cao chấtlượng cuộc sống Trong năm 2002 và 2007, Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia(NCHS) tại Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra phỏng vấn sức khoẻ quốc gia (NHIS), baogồm bổ sung thuốc bổ sung và thay thế (CAM) Báo cáo của NHIS cho thấy Yoga
là một trong 10 loại “thuốc” được sử dụng phổ biến nhất và được thử nghiệm bởihơn 13 triệu người trưởng thành ở Hoa Kỳ Hơn nữa, dữ liệu của NHIS năm 2007cho thấy việc sử dụng yoga đã có một trong những sự gia tăng lớn nhất trong cácliệu pháp CAM từ năm 2002 (5,1 %) đến năm 2007 (6,1%)[1] Nghiên cứu tương tựtại Úc vào năm 2005 cho thấy sự tham gia vào yoga như là một liệu pháp điều trịbằng CAM là 6,8% người trưởng thành và 12,0% trong số đó sử dụng yoga baogồm thực hành tại nhà và đến các lớp hướng dẫn [2] Các công trình nghiên cứu ảnhhưởng của Yoga trong việc cải thiện sức khỏe qua các thử nghiệm lâm sàng đem lạikết quả hứa hẹn về thể chất và tinh thần cũng như tạo lối sống lành mạnh cho ngườitập Những lợi ích sức khỏe của yoga được kể đến như: giảm đau lưng mạn tính [3],giảm mệt mỏi và rối loạn giấc ngủ [4], góp phần vào chế độ giảm cân vàcholesteron máu [5][6] tăng cường chức năng hô hấp, bỏ hút thuốc lá và rượu bia,thay đổi chế độ ăn lành mạnh nhờ tập luyện Yoga [7][8]
Những năm trở lại đây, Yoga ngày càng được quan tâm và phổ biến khôngchỉ ở các nước phương Đông mà còn lan cả trong người phương Tây như: Ấn Độ,
Mỹ, Úc, Canada và Việt Nam Thống kê gần đây nhất của Yoga Journal cho thấy,
số học viên yoga người Mỹ đã tăng lên hơn 36 triệu vào năm 2016, tăng 76% so với
Trang 1120,4 triệu trong năm 2012 [5] Tại Úc, các nghiên cứu khảo sát sự tham gia vào cáchoạt động thể dục thể thao báo cáo mức độ tham gia tập luyện yoga tăng từ 1,7%đến 2,9% dân số trưởng thành trong giai đoạn 2005-2006 [2] Tại Việt Nam, mặc dùchưa có số liệu thống kê quốc gia về thực hành yoga, tuy nhiên trong một khảo sát
“Nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của người dân ở các thành phố lớn” năm 2012của Vinaresearch cho thấy Yoga là một trong bốn loại hình tập luyện thể thao phổbiến nhất (chiếm 26,2%) tại các cơ sở và phòng tập [6]
Ngành Y là một ngành nghề đặc thù với nhiều áp lực trong thực hành chuyênmôn và áp lực từ dư luận xã hội Và sinh viên Y khoa ngay từ khi còn ngồi trên ghếnhà trường cũng đang phải đối mặt với tình trạng sức khỏe của bản thân dưới áp lựchọc tập với sự cảnh báo về: tình trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm, kiệt sức và ýđịnh hành vi tự sát [7] [8] Câu hỏi được đặt ra là phương pháp nào có thể giúp cảithiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe tinh thần của sinh viên y khoa Thực hànhYoga được cho là có tác dụng đáng kể trong việc giúp sinh viên thư giãn và giảmmức độ căng thẳng, giúp kiểm soát cảm xúc tốt hơn và giúp các bạn sinh viên cảmthấy tự tin và cân bằng hơn [9] Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam chưa có nghiêncứu khoa học nào tìm hiểu nhận thức về Yoga và lợi ích sức khỏe của Yoga trên đốitượng học sinh sinh viên cũng như những yếu tố thúc đẩy hay cản trở họ thực hànhYoga trong chăm sóc sức khoẻ Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với haimục tiêu sau:
1 Mô tả nhận thức về vai trò của yoga đối với sức khỏe của sinh viên Đại học Y Hà Nội.
2 Mô tả những yếu tố thúc đẩy và cản trở hành vi thực hành yoga và một
số yếu tố liên quan của sinh viên Đại học Y Hà Nội.
Trang 12CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Yoga và lịch sử phát triển của Yoga
1.1.1 Khái niệm
Có nhiều khái niệm về yoga được các tác giả đưa ra trên các trang ấn phẩm
khác nhau Theo tác giả Ishwar V Basavaraddi “Yoga thực chất là một môn rèn
luyện tinh thần mang tính khoa học vô cùng tinh tế, tập trung vào việc mang lại sự hài hòa giữa tâm trí và cơ thể Từ “Yoga” có nguồn gốc từ tiếng Phạn 'Yuj', có nghĩa là 'tham gia' hoặc 'hợp nhất' Theo thánh thư Yogic, thực hành Yoga tạo nên
sự kết hợp giữa ý thức cá nhân với ý thức chung, cho thấy sự hòa hợp hoàn hảo giữa tâm trí và thân thể, giữa con người và thiên nhiên Sống với tự do trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, sức khoẻ và sự hài hòa là những mục tiêu chính của thực hành Yoga” [10]
Theo kết quả của một nhóm nghiên cứu khác của Trung tâm quốc gia về sứckhỏe bổ sung và tích hợp Hoa Kỳ, các tác giả đã đưa ra nhận định về khái niệm
Yoga: là “sự kết hợp của các tư thế thể dục, tập thở, thiền, và những triết lý tinh
thần khác biệt” Nhóm này cũng kể đến rất nhiều kiểu yoga khác nhau Trong đó,
Hatha yoga thường được thực hành phổ biến ở Hoa Kỳ và Châu Âu, nhấn mạnh các
tư thế asanas, bài tập thở và thiền định Các kiểu yoga Hatha bao gồm Ananda,Anusara, Ashtanga, Bikram, Iyengar, Kripalu, Kundalini, Viniyoga.[11]
1.1.2 Lịch sử phát triển của Yoga
Về quá trình phát triển Yoga, chuyên gia Yoga - Dr Ishwar V Basavaraddicho rằng: Lịch sử Yoga đã bắt đầu cùng lúc với nền văn minh của nhân loại Khoahọc về yoga có nguồn gốc từ hàng ngàn năm trước, rất lâu trước khi các tôn giáođầu tiên hay hệ thống niềm tin ra đời Trong truyền thuyết yoga, Shiva được xem làyogi hoặc Adiyogi, và Guru hoặc Adi Guru đầu tiên Các nhân vật này đã mang
Trang 13khoa học yogic tới các khu vực khác nhau trên thế giới, bao gồm Châu Á, ĐôngPhi, Nam Phi, Bắc Phi và Nam Mỹ vv Tuy nhiên, hệ thống yoga đã được pháthiện một cách đầy đủ nhất tại Ấn Độ.
Một số dấu tích và hóa thạch của nền văn minh thung lũng Indus Saraswativới động cơ Yogic và các con số Yoga Sadhana tìm được đã cho thấy sự xuất diệncủa Yoga ở Ấn Độ cổ đại Khoảng thời gian từ năm 500 TCN đến 800 TCN đượccoi là giai đoạn cổ điển, đây là giai đoạn thịnh vượng và nổi bật nhất trong lịch sửphát triển của Yoga Khoảng thời gian từ năm 1700 đến 1900 được coi là thời kỳhiện đại mà trong đó Yogacharyas-Ramana Maharshi, Ramakrishna Paramhansa,Paramhansa Yogananda, Vivekananda vv đã đóng góp cho sự phát triển của RajaYoga Đây cũng là thời kỳ Vedanta, Bhakti yoga, Nathayoga hay Hatha-yoga pháttriển [10] Đến thời kì cận đại, Yoga bắt đầu phổ biến ở phương Tây vào cuối thế
kỷ 19 với sự bùng nổ số lượng người quan tâm đến các tư thế yoga vào những năm
1920 và 1930, yoga xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và sau đó lan sang các nước phươngTây Trong những năm 1980, yoga đã trở nên phổ biến như là một hệ thống thể dụcthể thao trên khắp khu vực châu Âu Theo Wikipedia, ngày 1 tháng 12 năm 2016,Yoga được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật và nâng cao dân trí, Yoga đượcxem như là phương pháp trị liệu bổ sung và thay thế thuốc nhằm cải thiện sức khỏe
và nâng cao chất lượng cuộc sống Trong năm 2002 và 2007, Trung tâm Thống kê
Y tế Quốc gia (NCHS) tại Mỹ đã tiến hành điều tra phỏng vấn sức khoẻ quốc gia(NHIS), bao gồm các loại thuốc bổ sung và thay thế (CAM) Báo cáo của NHIS chothấy Yoga là một trong 10 loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất được thử nghiệmbởi hơn 13 triệu người trưởng thành ở Hoa Kỳ Dữ liệu của NHIS năm 2007 chothấy việc sử dụng yoga đã có một trong những sự gia tăng lớn nhất trong các liệupháp CAM từ năm 2002 (5,1 %) đến năm 2007 (6,1%) [1] Nghiên cứu tương tự tại
Úc vào năm 2005 cho thấy sự tham gia vào yoga như là một liệu pháp điều trị bằngCAM là 6,8% người trưởng thành tham gia thực hành (ví dụ tham gia lớp yoga) và12,0% trong số đó thực hành yoga tại nhà và đến các lớp hướng dẫn [2]
Trang 14Trong 10 năm trở lại đây, yoga ngày càng được quan tâm và phổ biến khôngchỉ ở các nước phương Đông mà còn lan cả trong người phương Tây như: Ấn Độ,
Mỹ, Úc, Châu Âu và Việt Nam Thống kê gần đây nhất của tạp chí Yoga Journal
cho thấy, số học viên yoga người Mỹ đã tăng lên hơn 36 triệu vào năm 2016, tăng76% so với 20,4 triệu trong năm 2012 [5] Tại Úc, các nghiên cứu khảo sát sự thamgia các hoạt động thể dục thể thao báo cáo mức độ tham gia tập luyện yoga tăng từ1,7% đến 2,9% dân số trưởng thành trong giai đoạn 2005-2006[12] Tại Việt Nam,mặc dù chưa có số liệu thống kê quốc gia về thực hành yoga, tuy nhiên trong mộtkhảo sát “Nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của người dân ở các thành phố lớn”
năm 2012 của Vinaresearch cho thấy yoga là một trong bốn loại hình tập luyện thể
thao phổ biến nhất (chiếm 26,2%) tại các cơ sở và phòng tập [6]
1.1.3 Một số quan niệm sai lầm về Yoga và phương pháp tập luyện Yoga
Trong thực tế, có rất nhiều người chưa hiểu hết và hiểu đúng về yoga vàphương pháp tập luyện yoga Sai lầm phổ biến thứ nhất là yoga chỉ giới hạn trongvấn đề rèn luyện thể chất, tập trung vào các tư thế Nhưng thực chất quá trình luyệntập lại tập trung vào cảm nhận cơ thể, hơi thở và tâm trí [10]
Sai lầm phổ biến thứ hai đó là yoga gắn liền với một dạng tín ngưỡng hay tôngiáo Nhưng thực tế, yoga không tuân theo bất cứ tôn giáo, hệ thống tín ngưỡng haycộng đồng nào Bất cứ ai thực hành yoga đúng cách đều có thể thu được những lợiích của nó, bất kể đức tin, sắc tộc hay văn hoá của mình Có nhiều trường phái Yogatruyền thống khác nhau như: Jnana-yoga, Bhakti-yoga, Karma-yoga, Dhyana-yoga,Patanjala-yoga, Kundalini-yoga, Hatha-yoga, Mantra-yoga, Laya-yoga, Raja-yoga,Jain-yoga, Bouddha-yoga vv Mỗi trường phái có các nguyên tắc và thực hànhriêng của mình để đạt tới mục tiêu của yoga [10]
1.2 Một số nghiên cứu khoa học về vai trò của Yoga đối với sức khỏe và các yếu tố liên quan:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khái niệm “sức khỏe” là “trạng thái thoải mái
toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật” Việc thực hành yoga cũng được xem như có thể
Trang 15đáp ứng được ba khía cạnh của việc đảm bảo sức khỏe con người bao gồm: sứckhỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và cải thiện các mối quan hệ xã hội Ngày nay,thực hành yoga càng được các nhà khoa học quan tâm như là một hành vi có lợi chosức khỏe để khuyến khích sử dụng rộng rãi trong cộng đồng.
1.2.1 Lợi ích của Yoga đối với sức khỏe thể chất con người:
Yoga giúp con người cải thiện sức khỏe thể chất đã được nhiều nghiên cứukhoa học chứng minh Một khảo sát quốc gia được tiến hành trên 1045 người tậpyoga tại 15 cơ sở thực hành Yoga tại Mỹ của tác giả Alyson Ross và cộng sự chothấy hơn 60% có báo cáo đang có ít nhất một vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe hoặcmắc các bệnh mãn tính nhưng phần lớn báo cáo cho rằng tình trạng sức khỏe chungcủa họ rất tốt (46,3%) hoặc tuyệt vời (38,8%) Bên cạnh đó, tỉ lệ người tập yogađồng ý rằng yoga đã cải thiện cân nặng chiếm 57,3% và năng lượng tích cực chiếm84,5% [13]
Một nghiên cứu khác của tác giả Shirley Telles được tiến hành trên mộtnhóm người bị thừa cân béo phì Các chỉ số cơ thể được đánh giá trước và sau khitham gia chương trình tập luyện yoga và thay đổi chế độ ăn kiêng trong vòng 6ngày Kết quả cho thấy chỉ số khối cơ thể (BMI) giảm, chu vi vòng eo và hônggiảm, sự ổn định tư thế và sức mạnh của tay nắm tốt hơn, đồng thời nồng độ leptinhuyết thanh và tổng lượng cholesteron trong máu giảm [14] Nghiên cứu tương tựcủa tác giả Neumark-Sztainer D năm 2017 cũng chỉ ra lợi ích của yoga trong việckiểm soát cân nặng một cách lành mạnh trên đối tượng người trẻ tuổi qua việc đánhgiá sự thay đổi chỉ số BMI qua 5 năm theo dõi [15]
Bên cạnh đó, yoga cũng được khuyến cáo như một phương pháp trị liệu bổ
sung dành cho các căn bệnh mạn tính Theo P.Tekur và cộng sự, một chương trình
yoga chuyên sâu trong vòng 7 ngày có tác dụng giảm đau và cải thiện tầm vận độngcột sống trên các bệnh nhân đau lưng mạn tính, nghiên cứu so sánh với nhóm bệnhnhân thực hiện các phương pháp tập luyện thể dục thông thường cho thấy tập luyệnyoga cũng cho hiệu quả trị liệu tốt hơn [3] Một nghiên cứu khác của tác giả
V.Venugopal và cộng sự cho rằng yoga là một công cụ hiệu quả trong việc kiểm
Trang 16soát bệnh đái tháo đường typ 2 và tiền đái tháo đường Kết quả nghiên cứu trên 896bệnh nhân cho thấy chỉ số FPG (nồng độ glucose trong máu khi đói) giảm một cáchđáng kể chỉ trong 10 ngày thực hiện chương trình yoga ngắn hạn [16].
Trên hệ miễn dịch, một nghiên cứu tổng quan hệ thống do R I Falkenberg
và cộng sự công bố vào đầu năm 2018 đã kết luận với những bằng chứng cận lâmsàng cho thấy tập luyện yoga có tác dụng giảm thiểu sự hoạt hóa các cytokines gâyviêm, do đó có khả năng điều trị bổ sung và phòng ngừa các bệnh liên quan đếnviêm [17]
1.2.2 Lợi ích của Yoga đối với sức khỏe tinh thần con người:
Một nghiên cứu tổng quan hệ thống do hai nhà nghiên cứu M S Reddy và
M Starlin Vijay tiến hành năm 2016 đã kết luận rằng liệu pháp tập luyện yoga cókhả năng điều trị các bệnh tâm lý như: trầm cảm và lo âu, rối loạn ăn uống, tâm thầnphân liệt và cải thiệy được các nhà nghiên cứu đánh giá chính là khả năng cân bằngcảm xúc, giảm thiểu sự căng thẳng, lo âu và trầm cảm trên các lứa tuổi khác nhaubao gồm: trẻ em và thanh thiếu niên [18], người trưởng thành [19] và người cao tuổi[20] Sự căng thẳng, lo âu và trầm cảm cũng góp một phần ảnh hưởng không nhỏđến nhiều bệnh mạn tính và làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh ngay cảkhi điều trị thuốc Các nỗ lực đang được tiến hành để tìm ra các liệu pháp khôngdùng thuốc làm giảm căng thẳng và lo lắng cho người bệnh, và yoga là một lựa chọn
mà kết quả được cho là đầy hứa hẹn, đặc biệt là ở các nhóm đối tượng có nguy cơ trầmcảm cao như: phụ nữ đang mang thai [21] và bệnh nhân ung thư [22]
Một nghiên cứu của Elizabeth Visceglia và Stephen Lewis chỉ ra rằng liệu
pháp Yoga được coi như là một phương pháp hỗ trợ điều trị bệnh tâm thần phân liệt.Những người tham gia chương trình yoga điều trị kéo dài 8 tuần có sự cải thiện đáng
kể về bệnh tâm thần và chất lượng cuộc sống so với nhóm không tập Các triệu chứngdương tính và âm tính của tâm thần phân liệt, bao gồm điểm số của PANSS trên cáchội chứng dương tính (t = - 2,64, p = 0,02), hội chứng âm tính (t = - 3,04, p <0,01) (t =
- 3,74, p <0,00), bệnh hoang tưởng (t = - 2,89, p <0,01) và trầm cảm (t = - 2,62, p
<0,02) Tổng số điểm của PANSS cũng giảm đối với nhóm thử nghiệm yoga (t =
Trang 17-4,54, p <0,00) Yoga đã cải thiện được chất lượng cuộc sống ở thể chất (t = 2.38, p
<0.04) và các lĩnh vực tâm lý (t = 2.88, p <0.01) trên bệnh nhân tâm thần phân liệt [23]
Yoga cũng đóng góp những cải thiện tích cực trong đời sống tinh thần củacon người Cũng theo tác giả Alyson Ross, PhD, 86,5% số người tham gia nghiên
cứu đồng ý rằng tập yoga khiến họ cảm thấy hạnh phúc hơn [13] Bên cạnh đó, một
khảo sát toàn diện về yoga và học viên yoga tại Mỹ năm 2016 của tạp chí Yoga
Journal và Yoga Alliance đã báo cáo rằng: Các học viên yoga có một cái nhìn tích
cực về khả năng của họ hơn so với người không tập 80% học viên tự báo cáo rằng
họ có sự cân bằng cảm xúc tốt hơn so với 64% không phải là học viên Các học viênđều cảm thấy mình có trí tuệ minh mẫn hơn, 86% học viên báo cáo có ý thức rõràng về sự rõ ràng về tinh thần so với 77% người không tập yoga [5]
Một nghiên cứu của Sethi.JK và cộng sự tiến hành trên 60 nữ sinh có hoàncảnh khó khăn trong độ tuổi 15 Sau 5 ngày tham gia một chương trình yoga tíchhợp (IYM), các chỉ số đánh giá cho thấy tác dụng cải thiện rõ rệt vào sự tập trung và
sự tự tin vào bản thân của những học sinh này Yoga có thể giúp họ nâng cao sứckhỏe tinh thần và hứa hẹn những cải thiện trong thành tích học tập [24] Lợi ích củayoga trong việc đề cao sự tập trung và chú ý của sinh viên cũng được chỉ ra trong 1
nghiên cứu của tác giả Sheela và cộng sự trên 66 sinh viên đại học trong độ tuổi từ
18 – 37 với sự tham gia của một chương trình Yoga tích hợp (IYM) trong vòng 21ngày [25]
1.2.3 Lợi ích của Yoga trong việc thay đổi thói quen tích cực và cải thiện quan hệ xã hội:
Những nghiên cứu gần đây nhất đã phát hiện và chứng minh tác dụng củayoga trong việc vận động những thói quen tích cực và thúc đẩy các mối quan hệ xã
hội Khảo sát của tạp chí Yoga Journal và Yoga Alliance cho thấy yoga có mối
tương quan chặt chẽ với việc tạo dựng hình ảnh tích cực cho bản thân người tập.Các học viên rất quan tâm đến sức khoẻ, môi trường và cộng đồng Một nửa số họcviên nói rằng họ sống “xanh”, ăn uống khoa học và dành nhiều thời gian cho cộngđồng của họ 79% các học viên yoga báo cáo rằng họ hòa nhập trở lại với cộng đồngtốt hơn so với 59% những người không tập yoga [5] Một cuộc điều tra quốc gia vềthực hành yoga tại Úc năm 2012 được tiến hành với hơn 3892 người tập yoga thamgia khảo sát Kết quả cho thấy Yoga có tác động đáng kể trong việc thay đổi những
Trang 18thói quen tích cực có lợi cho sức khỏe Đa số người tập yoga có xu hướng tham giathêm các hoạt động thể chất khác Trong số năm hoạt động thể dục hàng đầu ở Úc,những người tập yoga được khảo sát có khả năng đi bộ (92%), bơi lội, đi xe đạp vàchạy bộ gấp ba lần so với dân số khác nói chung Về lựa chọn chế độ ăn uống và lốisống tích cực, những người tập yoga đã lựa chọn ăn chay (22,6%), không hút thuốc
lá (83,5%) và ăn các thực phẩm hữu cơ (50%) trong số những lựa chọn lối sốnglành mạnh khác Một số báo cáo rằng thực hành yoga đã ảnh hưởng đến sự lựa chọncủa họ Cụ thể, gần một phần ba người trả lời về ăn chay cho biết rằng quyết định
ăn chay của họ đã bị ảnh hưởng bởi thực hành yoga Trong số 83,5% tỉ lệ người tậpyoga không hút thuốc, cứ 9 người không hút thuốc thì có 1 người nói rằng yoga đãảnh hưởng đến quyết định của họ Tương tự, trong khoảng 24% người tham giakhảo sát không uống rượu có đến 20% nói rằng quyết định không uống rượu của họ
là nhờ tập luyện yoga [12]
Theo một số tác giả, yoga đang ngày càng đóng một vai trò như một canthiệp có lợi cho sự thúc đẩy lối sống lành mạnh hơn trong giới trẻ Một báo cáo
khoa học của tác giả Georgine R Berent và cộng sự được thực hiện ở hai trường đại
học tại Central Illinois, Hoa Kỳ – nơi có tình trạng sử dụng và lạm dụng chất gâynghiện phổ biến Các khóa học yoga được giới thiệu và đưa vào chương trình giảngdạy chính quy cho sinh viên Các phản hồi tích cực từ nhóm sinh viên tham gia thửnghiệm cho thấy hiệu quả tích cực của yoga trong việc kiểm soát hành vi sử dụng
và lạm dụng chất gây nghiện cũng giúp những sinh viên này tự tin hơn trong việcđối mặt với khủng hoảng tâm lý và tận hưởng cuộc sống tốt hơn [26]
1.3 Thực trạng sức khỏe sinh viên Y khoa và một số nghiên cứu về vai trò của Yoga đối với sức khỏe trên sinh viên Y :
Ngành Y là một ngành nghề đặc thù với nhiều áp lực trong thực hành chuyênmôn và áp lực từ dư luận xã hội Vì vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường,các sinh viên y khoa đã phải tự thích nghi với những áp lực từ học tập và kì vọngcủa gia đình xã hội đối với nghề nghiệp của bản thân Mặc dù là người hiểu rõ vềbệnh tật nhưng chính sinh viên y khoa cũng đang phải đối diện với các vấn đề sứckhỏe của bản thân mình
Trang 19Một nghiên cứu tổng quan hệ thống về sức khỏe toàn diện của sinh viên Ynăm 2008 tại Mỹ đã cảnh báo: tình trạng sức khỏe của sinh viên Y có thể bị ảnhhưởng bởi sự căng thẳng, trầm cảm, kiệt sức, lạm dụng các chất kích thích và ý địnhhành vi tự sát Các vấn đề sức khỏe tâm thần này của sinh viên Y biểu hiện trongsuốt quá trình học tập đại học và kể cả sau đại học của họ [27] Một nghiên cứukhác nhằm kiểm tra mối liên quan giữa trầm cảm và các triệu chứng thể chất củacác sinh viên y khoa ở Bahrain năm 2017 cho thấy: gần 19% những người tham gia
có trầm cảm vừa đến nặng, và 42,2% có triệu chứng thể chất vừa đến nặng Nhữngngười tham gia báo cáo các triệu chứng thể chất khác nhau với các vấn đề về giấcngủ chiếm 40%; thờ ơ chiếm 31,9%; và đau đầu chiếm 23,8% Sự liên quan giữatrầm cảm và các triệu chứng thể chất là cao đáng kể giữa các sinh viên y khoa ởBahrain [28]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về sức khỏe toàn diện trên đối tượng sinh viên
Y đặc biệt là sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm và tiến hành Năm 2013
có 19% sinh viên Đại học Y dược Cần Thơ có nguy cơ trầm cảm, 7% sinh viên trầmcảm nhẹ và 19% sinh viên trầm cảm thực sự theo thang đo CES-D Nghiên cứu này
đã chỉ ra hơn một phần tư số sinh viên trầm cảm, tỷ lệ trầm cảm phân bố không đềutheo ngành và thời gian học Một số yếu tố làm tăng nguy cơ trầm cảm bao gồm:các ngành học y khoa, áp lực học tập cao, hoàn cảnh gia đình nghèo, mồ côi cha mẹ
và làm thêm ngoài giờ [7] Nghiên cứu tương tự tại Trường đại học Y Hải Phòngcũng cho kết quả hết sức báo động Tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc và cộng sự báocáo rằng: tỷ lệ chung sinh viên chuyên khoa hệ 6 năm có dấu hiệu trầm cảm là 46%
Tỷ lệ sinh viên có dấu hiệu trầm cảm thuộc chuyên ngành Y học dự phòng là41,7%, sinh viên Răng Hàm Mặt là 51,3% Tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên
năm thứ 1 và năm thứ 4 cao nhất (52%) [29] Còn tại Trường đại học Y Hà Nội,
nghiên cứu của Vũ Khắc Lương và Phạm Thị Huyền Trang năm 2013 cho thấy: tỉ lệstress ở SV ĐHYHN là 63,6% cao hơn SV ở các trường không phải là Y Tỉ lệ này
ở nhóm SV nữ là 66,5% cao hơn nhóm nam (59,6%) nhưng không có ý nghĩa thống
kê Theo ngành học, SV ngành kỹ thuật y học có tỉ lệ này cao nhất (79%) Theonăm học, SV năm thứ III (Y3) có tỷ lệ stress cao nhất (72,6%)[8]
Trang 20Tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần không ổn định được đánh giá là cómối liên quan có ý nghĩa thống kê với giới tính, ngành học, nơi sống, mối quan hệvới bạn bè, gia đình và áp lực học tập Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để cảithiện chất lượng cuộc sống cho sinh viên và giúp họ sẵn sàng đối mặt với những áplực đó đang được nhiều nhà nghiên cứu nỗ lực tìm kiếm Thực hành yoga được cho
là có tác dụng tích cực cho vấn đề này Bằng chứng từ một nghiên cứu thử nghiệmtại trường đại học McGill University, Canada cho thấy sự cải thiện nhanh chóng vàlâu dài về sức khỏe tổng quát, nhận thức sự căng thẳng và các triệu chứng trầm cảmtrong số các sinh viên y khoa sau lớp học yoga 16 tuần với sự đánh giá trước, trong
và sau khóa học Các học sinh báo cáo sau can thiệp yoga rằng: “Chương trình yogathực sự thư giãn mức độ căng thẳng của tôi” Tôi cảm thấy kiểm soát nhiều hơn vàtôi có nhiều điều thiết thực hơn để đối phó với sự lo lắng và mệt mỏi “; “Tôi cảm
thấy thoải mái hơn, tự tin và cân bằng hơn” [9] Về nhận thức của sinh viên Y đối
với yoga và những lợi ích sức khỏe của yoga, kết quả nghiên cứu của tác giảHedgen SV và cộng sự đăng tải đầu năm 2018 cho thấy 70,5% sinh viên y khoanhận thấy lợi ích sức khoẻ của yoga Gần ba phần tư các đối tượng nghiên cứu đãtừng thực hành yoga; một số lượng sinh viên lớn hơn mong đợi sẽ thực hành yogatrong tương lai Khoảng 95,5% số sinh viên nghiên cứu tiền lâm sàng đã từng thựchành yoga và hiện đã ngưng việc thực hành Nhận thấy những rào cản đối với việcthực hành yoga là thiếu thời gian, thiếu điều kiện vật chất, thiếu người đồng hành vàthiếu sự quan tâm đúng mức [30]
1.4 Một số mô hình hành vi sức khỏe
1.4.1 Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM)
1.4.1.1 Xuất xứ của mô hình:
Theo hai tác giả Elvis E Tarkang và Francis B Zoto tổng hợp qua mộtcông trình nghiên cứu: HBM là một trong những mô hình đầu tiên về hành vi thúcđẩy sức khỏe và đến nay đây vẫn là một trong những khung khái niệm được côngnhận rộng rãi nhất về hành vi sức khỏe HBM giải thích và dự kiến các hành vi sức
Trang 21khỏe từ quan điểm của các nhà tâm lý xã hội, sử dụng lý thuyết về giá trị kì vọng(đối với những lợi ích của việc thay đổi hành vi) và tự quyết định (có hành động haykhông) HBM được phát triển lần đầu tiên vào đầu những năm 1950 ở Mỹ (Mỹ) bởicác nhà tâm lý học Godfrey Hochbaum, Irwin Rosenstock và Stephen Regels làmviệc trong dịch vụ y tế công cộng của Hoa Kỳ Mô hình này được phát triển để đápứng với sự thất bại của một chương trình sàng lọc chống lao miễn phí Khi có ítngười trưởng thành sử dụng dịch vụ miễn phí, các nhà tổ chức chương trình bắt đầuđiều tra lý do tại sao nhiều người không làm như vậy Tuy nhiên, Hochbaum đã bắtđầu nghiên cứu những gì thúc đẩy họ ít sử dụng dịch vụ sàng lọc sức khỏe miễn phí
đó Ông nhanh chóng biết được rằng nguy cơ mắc bệnh của họ và lợi ích nhận thứccủa hành động là những yếu tố quan trọng thúc đẩy động lực hành vi của họ Từ đó,HBM được biết đến và vận dụng vào các nghiên cứu để khám phá sự khác nhau tronghành vi sức khỏe ngắn hạn và dài hạn, thường gặp nhất là các hành vi tình dục cónguy cơ lây truyền HIV/AIDS [31]
1.4.1.2 Những nội dung chính của mô hình
Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) xác định 6 yếu tố của sự đánh giá này:
Nhận thức được mối đe doạ:
- Nhận thức được sự nhạy cảm của vấn đề sức khỏe (Perceived
Susceptibility)
- Sự trầm trọng trong nhận thức về vấn đề sức khỏe đe dọa.(Perceived severity)
Nhận thức được lợi ích: niềm tin về các chiến lược được thiết kế làm giảmnguy cơ (Perceived Benefits)
Nhận biết các rào cản: một số hành vi tác động đến thể lực, tâm lý, tàichính (Perceived Barriers)
Các tín hiệu cho hành động: triệu chứng bệnh, thông tin từ các phươngtiện thông tin (Cues to action)
Yếu tố khác (tâm lý, địa lý, cấu trúc xã hội) có ảnh hưởng đến nhận thứctác động đến hành vi ( Other Factor)
Trang 22 Tin vào khả năng của cá nhân: niềm tin vào sự thành công khi thực hiệnhành vi là tiền đề cho thành công (Self-efficacy) [32]
1.4.1.3 Vận dụng mô hình niềm tin sức khỏe trong nghiên cứu hành vi sức khỏe
Nghiên cứu mô hình HBM được sử dụng để khám phá những khía cạnh khácnhau của hành vi sức khỏe trong các cộng dồng dân cư khác nhau Ví dụ, các nhànghiên cứu đã áp dụng mô hình HBM để nghiên cứu và cố gắng giải thích cũng như
dự kiến sự tham gia của cá nhân trong chương trình nghiên cứu giai đoạn ủ bệnhcủa bệnh cúm, sàng lọc bệnh cao huyết áp, hút thuốc lá, sử dụng dây bảo hiểm antoàn, tập thể dục, dinh dưỡng và tự thăm khám vú phát hiện ung thư sớm [32]
Với các nghiên cứu về HIV/AIDS, HBM là một lý thuyết thích hợp được sửdụng trong nghiên cứu phòng chống HIV/AIDS và nghiên cứu sức khỏe cộng đồng.Trong nghiên cứu của tác giả Elvis E Tarkang và cộng sự đã sử dụng HBM làmkhuôn khổ cho nghiên cứu để khám phá các yếu tố liên quan đến việc sử dụng baocao su phù hợp để phòng ngừa HIV/AIDS trong số những học sinh nữ cấp 2 phânvùng Mbonge ở nông thôn Cameroon Sáu cấu trúc của HBM (nhận thức tính nhạycảm với HIV/AIDS, được nhận thức mức độ nghiêm trọng của HIV/AIDS, lợi íchnhận thức của việc sử dụng bao cao su, các rào cản nhận thức khi sử dụng bao cao
su, tín hiệu để sử dụng bao cao su và sử dụng bao cao su tự hiệu quả) và các yếu tốsửa đổi đã được xác định và áp dụng làm khung lý thuyết cho nghiên cứu[31]
1.4.2 Mô hình các giai đoạn của sự thay đổi hành vi sức khỏe
1.4.2.1 Xuất xứ và ý nghĩa của mô hình
Năm 1992, các nhà tâm lý đã phát triển lý thuyết về “Các giai đoạn thay đổi”
để so sánh những người hút thuốc được điều trị và những người tự thay đổi với cáchành vi thay đổi tiếp diễn qua các giai đoạn khác nhau Theo tác giả Elaine M.Murphy tổng hợp: Mô hình " các giai đoạn của quá trình thay đổi " phát sinh từ việccai thuốc lá và điều trị nghiện rượu và thuốc phiện ở Hoa Kỳ, nhưng mô hình này đãđược áp dụng cho nhiều hành vi sức khoẻ khác Giả thuyết cơ bản là thay đổi hành vi
là một quá trình chứ không phải là một sự kiện Người ta thấy các mức độ động cơ,
sự sẵn sàng thay đổi khác nhau ở các cá thể khác nhau Con người tại các điểm khácnhau của quá trình thay đổi có thể được tác động bởi các can thiệp khác nhau, phùhợp với giai đoạn của họ Năm giai đoạn khác nhau được xác định trong mô hình các
Trang 23giai đoạn của thay đổi: tiền suy nghĩ; suy nghĩ; quyết định (chuẩn bị cho hành động);hành động và duy trì Mặc dù các giai đoạn này được liệt kê, nhưng không nhất thiếtphải trải qua theo thứ tự này Đây là một mô hình vòng tròn, không phải đường thẳng.Con người không phải trải qua tất cả các giai đoạn đó, họ có thể bắt đầu và thoát ratại bất kỳ thời điểm nào, và thường quay trở lại vào giai đoạn trước đó [33]
1.4.2.2 Cấu trúc của mô hình các giai đoạn của sự thay đổi hành vi
Theo các tác giả Prochaska, Diclemente và Norcross năm 1992, các giai đoạn
và quá trình diễn ra được trình bày như sau [32]:
Giai đoạn tiền suy nghĩ: Cá nhân có vấn đề (có thể họ nhận ra hoặc khôngnhận ra) và chưa có ý định thay đổi
Giai đoạn suy nghĩ: Các cá nhân nhận ra vấn đề và suy nghĩ nghiem túc vềcác thay đổi
Giai đoạn chuẩn bị cho hành động: Cá nhân nhận ra vấn đề và có ý địnhthay đổi hành vi trong thời gian tới
Giai đoạn hành động: Cá nhân hành động thay đổi hành vi nhất quán trongkhoảng thời gian ít nhất 6 tháng
Giai đoạn duy trì: Cá nhân duy trì hành vi mới trong thời gian 6 tháng hoặclâu dài hơn nữa
1.4.3 Vận dụng hai mô hình hành vi sức khỏe vào nghiên cứu này:
Mặc dù yoga đã xuất hiện tại Việt Nam từ khá lâu, tuy nhiên việc áp dụng thựchành yoga trong chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng học sinh, sinh viên vẫn còn rấtmới mẻ Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với khung lý thuyết dựa trên môhình niềm tin sức khỏe nhằm tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của hành vi thực hànhyoga (bao gồm: nhận thức lợi ích sức khỏe của yoga, các yếu tố thúc đẩy cản trở thựchành yoga) và mô hình các giai đoạn của sự thay đổi hành vi sức khỏe nhằm khảo sátthực trạng tìm hiểu và thực hành yoga trong đối tượng sinh viên y khoa
1.5 Một số đặc điểm về trường Đại học Y Hà Nội (địa điểm nghiên cứu)
Trường Đại học Y Hà Nội luôn được biết đến là một trong những ngôi trườngđào tạo y khoa hàng đầu trong cả nước và khu vực Trường được thành lập năm
1902, là một trường đại học lớn và có bề dày lịch sử lâu đời trong các trường Đạihọc hiện có ở Việt Nam Trong hơn một thế kỷ hình thành và phát triển vừa qua
Trang 24Nhà trường đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực chongành y tế, có nhiều thành tích đáng kể trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, phục vụ
xã hội và phát triển đất nước, cả trong thời bình cũng như trong các cuộc khángchiến của dân tộc Trường Đại học Y Hà Nội luôn là một trong những trường đạihọc y tế hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam với nhiều công trình khoa học đượccông bố và các giải thưởng cao quý được trao tặng Đến nay Nhà trường đã đào tạotrên 17.000 bác sĩ chính qui, khoảng 10 ngàn học viên sau đại học Đây cũng chính
là nguồn nhân lực quan trọng đóng góp cho ngành Y tế của nước nhà
Hằng năm, nhà trường tuyển sinh hơn 1000 sinh viên các ngành đào tạo, tuynhiên tỉ lệ sinh viên hệ Bác sĩ vẫn luôn chiếm một lượng lớn với chương trình đàotạo đại học 6 năm Ngành Y vốn dĩ luôn là một ngành nghề đặc thù với khối lượngcông việc và áp lực nghề nghiệp tương đối lớn Những năm gần đây, sinh viên Yngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường đã và đang được Nhà trường quan tâm,tạo điều kiện để hoàn thiện và phát triển tốt cả về chất lượng học tập cũng như tìnhtrạng sức khỏe toàn diện cho các bạn sinh viên
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trường Đại học Y Hà Nội
2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018
2.3 Các đối tượng nghiên cứu
Sinh viên hệ bác sĩ 3 khối: Y1, Y3 và Y6 năm học 2017 – 2018
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu : Đây là những sinh viên có thể đại diệncho 3 nhóm: nhóm sinh viên mới vào trường, nhóm đã có trải nghiệm về môi trườngsống và học tập và nhóm đã trải nghiệm gần hết thời gian học tập tại trường
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
d : Sai số ước lượng, trong nghiên cứu này chọn d = 0,05
α : Mức ý nghĩa thống kê (Chọn α = 0,05)
Z2(1−α
2)=1,962(Tra theo bảng chuẩn)
Cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 219 Theo nguyên tắc, để giảm sai
số khi lấy mẫu, chúng tôi lấy thêm 10% cỡ mẫu cần thiết Như vậy, tổng số mẫu cần thu thập là 240.
2.4.3 Phương pháp chọn mẫu
Trang 26Nhóm nghiên cứu đã tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên mỗi khối 80 bạn sinhviên theo phương pháp:
- Chọn ngẫu nhiên 8 tổ mỗi khối theo danh sách tổ (trong đó có 5 tổ sinh viên
hệ Bác sĩ Đa khoa, 3 ngành còn lại gồm: Bác sĩ Răng Hàm Mặt, Bác sĩ Y học cổtruyền, Bác sĩ Y học dự phòng, mỗi ngành 1 tổ đại diện)
- Hướng dẫn các tổ trưởng chọn ngẫu nhiên 10 bạn sinh viên trong tổ thamgia trả lời bộ câu hỏi tự điền theo danh sách tổ Người từ chối trả lời bộ câu hỏi sẽlựa chọn người kế tiếp thay thế theo danh sách cho đến khi đủ số liệu
(Thực tế số liệu thu được 79 sinh viên Y1, 84 sinh viên Y3 và 77 sinh viên Y6.Tổng 240 phiếu)
2.4.4 Phát triển công cụ thu thập số liệu
Nội dung thu thập số liệu qua bộ câu hỏi phỏng vấn gồm:
- Thông tin cá nhân (tuổi, giới, ngành học, năm học, nơi ở, thu nhập, chitiêu, làm thêm)
- Nhận thức về yoga (kiến thức chung, phương pháp tập, thời gian, không gian tập)
- Nhận thức lợi ích sức khỏe của yoga (sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần,cải thiện quan hệ xã hội)
- Các giai đoạn của quá trình tìm hiểu và thực hành yoga
- Những nguyên nhân rào cản và thúc đẩy thực hành yoga
- Nhận thức về việc đưa yoga vào chương trình học ngoại khóa
- Khảo sát việc tìm hiểu những môn tập liên quan khác ngoài yoga
Bộ câu hỏi:
Dựa trên những kiến thức tổng hợp về Yoga được các nhà khoa học côngnhận và phổ biến, chúng tôi xây dựng bộ câu hỏi về kiến thức liên quan đến Yoga,
sử dụng thang đo 5 mức độ gồm: Rất không đồng ý, Không đồng ý, Phân vân, Đồng
ý, Rất đồng ý Theo đó, sinh viên có kiến thức đúng về một nội dung khi có lựachọn đồng ý hoặc rất đồng ý với những lựa chọn đúng đồng thời rất không đồng ý,không đồng ý hoặc phân vân với những nội dung không đúng
- Bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên khung lý thuyết của mô hình niềm tin sứckhỏe (với các phần mục liên quan đến nhận thức vai trò sức khỏe của yoga, các lý dothúc đẩy và cản trở) và mô hình các giai đoạn của sự thay đổi hành vi sức khỏe (vớicâu hỏi liên quan đến thực trạng thực hành Yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội)
Trang 27- Phần câu hỏi liên quan đến các lý do thúc đẩy và cản trở thực hành Yoga củađối tượng sinh viên Đại học Y Hà Nội dựa trên một phần bộ câu hỏi có sẵn của mộtkhảo sát được tiến hành tương đồng trên sinh viên y khoa tại Mỹ năm 2015 [34]
Điều tra viên:
- Là tổ trưởng các tổ sinh viên hệ bác sĩ được chọn trong mẫu nghiên cứu
- Các tổ trưởng được hướng dẫn về phương pháp nghiên cứu khoa học vàđược tập huấn trước khi tham gia điều tra
2.4.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Số ĐTNC giới nam/nữ Tổng số ĐTNC ×100 %
3 Ngành học Tỷ lệ ĐTNC thuộc chuyên ngành A bằng:
Số ĐTNC chuyên ngành A Tổng số ĐTNC × 100 %
4 Năm học Tỷ lệ ĐTNC thuộc năm học thứ n bằng:
Trang 28Bảng 2.2: Biến số/Chỉ số cho mục tiêu 1
4 Tương quan giữa các yếu tố (tuổi/giới tính/ngành học/năm học/nơi
ở/làm thêm/thu nhập/chi tiêu hàng tháng) và thực trạng tìm hiểu và tập
Yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội
Tỉ suất chênh OR về thực trạng tìm hiểu và tập yoga với các nhóm thôngtin cá nhân
5 Tương quan giữa các yếu tố (nhận thức về kiến thức yoga/lợi ích của
yoga/các lý do thúc đẩy tập yoga/thực trạng tìm hiểu môn tập khác
Trang 29ngoài yoga) và thực trạng tìm hiểu và tập yoga của sinh viên Đại học Y
Hà Nội
Tỉ suất chênh OR về thực trạng tìm hiểu và tập yoga với các nhóm liênquan đến nhận thức về Yoga
2.4.6 Xử lý và phân tích số liệu
- Thông tin thu thập được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1
- Số liệu được làm sạch và phân tích bằng phần mềm Stata 14
- Thống kê mô tả gồm tính toán các tần số, tỉ lệ được sử dụng để mô tả cácđặc điểm chung, mô tả nhận thức về lợi ích sức khỏe của yoga và thực hành yogacủa đối tượng nghiên cứu
- Thống kê phân tích sử dụng các trắc nghiệm thống kê được sử dụng để tìmmối tương quan giữa các yếu tố liên quan đến thực trạng tìm hiểu và tập Yoga,mong muốn thực hành yoga trong chương trình ngoại khóa của sinh viên Đại học Y
Hà Nội
- Sử dụng phương pháp phân tích phát hiện nhân tố (EFA) để phát hiện cácnhóm nhân tố (nguyên nhân) thúc đẩy hoặc cản trở thực hành yoga của ĐTNC
2.4.7 Sai số và cách khống chế sai số
- Sai số có thể gặp trong nghiên cứu gồm:
• Sai số thông tin do đối tượng không hiểu bộ câu hỏi và sai số trong quátrình nhập
• Sai số chọn do sinh viên không tham gia nghiên cứu tập trung vào nhữngnhóm sinh viên có đặc trưng riêng về thái độ học tập, thái độ và hành vihoạt động thể lực là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến nhận thức vàhành vi thực hành yoga
- Để hạn chế sai số trên, nhóm nghiên cứu đã triển khai những biện pháp sau:
• Thiết kế bộ câu hỏi dễ hiểu, dựa trên các bộ câu hỏi mà các tác giả trướcđây đã sử dụng và điều chỉnh lại Thực hiện thử nghiệm để đảm bảo các câu hỏi dễhiểu, có tính giá trị
Trang 30• Giải thích kĩ cho sinh viên về nghiên cứu và bộ câu hỏi, để đảm bảosinh viên hiểu đúng và có trách nhiệm với các câu trả lời Các phiếu được kiểmtra ngay sau khi điền xong để tránh trường hợp thông tin bị bỏ sót.
• Làm sạch số liệu trước khi nhập vào máy và trước khi phân tích
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu:
- Chỉ tiến hành nghiên cứu khi nhận được sự đồng ý từ bộ môn Giáo DụcSức Khỏe và Viện Đào Tạo Y Học Dự Phòng và Y Tế Công Cộng – Trường Đạihọc Y Hà Nội
- Đối tượng tham gia nghiên cứu được nghe giải thích về mục đích nghiêncứu trước khi tiến hành điền phiếu điều tra/phỏng vấn
- Mọi đối tượng nghiên cứu đều có quyền từ chối không tham gia hoặc có thểdừng/không trả lời khi đối tượng cảm thấy không thoải mái mà không gặp bất kìkhó khăn nào
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 Đặc điểm chung nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu:
Bảng 3.1: Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Chi tiêu trung bình hàng tháng (triệu đồng) 2,3 0,9
Nhận xét:
Nghiên cứu được tiến hành trên 240 đối tượng, trong đó đa số là những sinhviên học ngành Bác sĩ Đa khoa (chiếm 60%) Phần lớn các sinh viên là nữ hiệnđang thuê nhà trọ ở ngoài và chưa đi làm thêm, lần lượt chiếm 57,1%, 45,6% và72,5% Tuổi trung bình của cả mẫu nghiên cứu là 21,3 ± 2,1 tuổi, với chi tiêu trungbình hàng tháng là 2,3 ± 0,9 triệu Việt Nam Đồng
Trang 323.2 Nhận thức về vai trò đối với sức khỏe của Yoga của sinh viên Y Hà Nội
Công cụ để thu thập thông tin về hiểu biết của sinh viên Trường Đại học Y
Hà Nội là thang đo bao gồm năm lựa chọn: Rất không đồng ý, Không đồng ý, Phânvân, Đồng ý và Rất đồng ý Người trả lời đã được điều tra viên hướng dẫn để hiểu
bộ câu hỏi và trả lời khách quan nhất Dưới đây là kết quả nhận thức về Yoga củasinh viên Trường Đại học Y Hà Nội
Bảng 3.2: Nhận thức về định nghĩa yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội
(N =240)
Định nghĩa về yoga
Rất không đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
Phân vân (%)
Đồng ý (%)
Rất đồng ý (%)
Yoga là một môn rèn luyện
thể dục đơn thuần nhằm nâng
cao sức khỏe thể chất
Yoga là một môn nghệ thuật
cổ xưa bắt nguồn Ấn Độ
mang màu sắc tâm linh, kết
nối con người và vũ trụ
Yoga là một bộ phương pháp
rèn luyện thể chất và tinh
thần cổ xưa từ Ấn Độ, đòi hỏi
sự hòa hợp giữa tinh thần và
là 38,3% và 39,6% Định nghĩa “Yoga là một bộ phương pháp rèn luyện thể chất vàtinh thần cổ xưa từ Ấn Độ, đòi hỏi sự hòa hợp giữa tinh thần và thể xác trong cùng
1 thời điểm” được đa số sinh viên lựa chọn Đồng ý (53,8%)
Trang 33Bảng 3.3: Nhận thức về phương pháp tập yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội
(N=240)
Phương pháp tập yoga
Rất không đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
Phân vân (%)
Đồng ý (%)
Rất đồng ý (%)
Bảng 3.4: Nhận thức về thời gian phù hợp để tập yoga của sinh viên Đại học Y Hà Nội
(N=240)
Thời gian phù hợp tập yoga
Rất không đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
Phân vân (%)
Đồng ý (%)
Rất đồng ý (%)
Nhận xét: