Dịch vụ y tế là một loạihình dịch vụ rất đặc thù, người sử dụng dịch vụ sẽ biết ít thông tin về dịch vụ mà mình được cung cấp mà bị lệ thuộc hoàn toàn vào người cung cấp dịch vụ.Người bệ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch vụ y tế là dịch vụ đặc biệt bao gồm các hoạt động của nhân viên y
tế như khám , chữa bệnh phuc vụ người bệnh và gia đình Trong dịch vụ nàythì người sử dụng dịch vụ ( người bệnh) sẽ ít có khả năng đánh giá chấtlượng dịch vụ một cách chính xác mà họ chỉ đánh giá qua sự chăm sóc củanhân viên y tế, qua trang thiết bị và cơ sở vật chất Dịch vụ y tế là một loạihình dịch vụ rất đặc thù, người sử dụng dịch vụ sẽ biết ít thông tin về dịch vụ
mà mình được cung cấp mà bị lệ thuộc hoàn toàn vào người cung cấp dịch vụ.Người bệnh phải thực hiện đầy đủ những yêu cầu của bác sĩ về phương phápđiều trị, thời gian điều trị và họ chỉ được lựa chọn nơi điều trị
Ở Việt Nam hiện nay, tình trạng quá tải ở các cơ sở y tế đặc biệt là cácbệnh viện đầu ngành đang trở nên rất phổ biến Theo báo cáo của viện chiếnlược và chính sách y tế,TLSD giường thường xuyên trên 100% và dao động
từ 120% đến 150%, thậm chí tới 200% ở một số bệnh viện lớn như BV BạchMai, BV K và BV Ung bướu TP Hồ Chí Minh[1] Dựa trên số liệu khảo sát,tình trạng quá đông người bệnh xuất hiện cả ở khu vực phòng khám lẫn khuvực điều trị nội trú: 2-3 người bệnh/1 giường, 1 bác sỹ phòng khám phảikhám 60 - 100 người bệnh/ngày là phổ biến Báo cáo đã chỉ ra rằng mộttrong những nguyên nhân chính gây ra quá tải là do nhu cầu chữa bệnh củangười bệnh ngày càng tăng trong khi số giường bệnh và bác sĩ không tănghoặc tăng ít không đáp ứng đủ nhu cầu của người bệnh Hậu quả của quá tảitrong các cơ sở y tế là không đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnhcũng như sự an toàn của người bệnh đặc biệt với các người bệnh là trẻ em,người già, phụ nữ có thai Rất nhiều các trường hợp lây nhiễm chéo, nhiễmtrùng bệnh viện đã xảy ra do sự quá tải này Không những thế, do số lượngngười bệnh quá đông nên thời gian khám cho từng người bệnh ở khoa khámbệnh không được đảm bảo Trước tình trạng này, Bộ Y tế đã đưa ra một số
Trang 2giải pháp chống quá tải bệnh viện, trong đó có việc khuyến khích các cơ sở y
tế làm việc vào ngày thứ 7, chủ nhật trong tuần và ngoài giờ hành chính[2].Nhiều bệnh viện đã bố trí thêm ca trực, làm ngoài giờ để đáp ứng nhu cầu củangười bệnh làm ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế và chất lượngdịch vụ
Bệnh viện Phổi Trung Ương là một bệnh viện đầu ngành về chuyênkhoa hô hấp Theo kết quả báo cáo hoạt động của bệnh viện trong 6 tháng đầunăm 2013, quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013 là 500 giường.Côngsuất sử dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là 108,9% [3] Các dịch vụchăm sóc sức khỏe theo yêu cầu sẽ giúp giảm bớt sự quá tải cho bệnh viện,tăng chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh, đảm bảo quyền và lợi ích chongười bệnh, mang đến cho người bệnh nhiều sự lựa chọn hơn trong việc khámchữa bệnh Nghiên cứu này nhằm cung cấp những bằng chứng giúp cho Ban Lãnhđạo và quản lý của Bệnh viện Phổi Trung Ươ ng lập kế hoạch và triển khai cungcấp các loại hình dịch vụ theo yêu cầu này.Để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của người bệnh, chúng tôi thực hiện nghiên cứu : “ Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương năm 2015” với 2 Mục Tiêu
1 Mô tả mức độ nhu cầu sử dụng các dịch vụ theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương
2 Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viên phổi trung ương
Trang 3Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU CHƯƠNG 1 Khái quát về dịch vụ y tế theo yêu cầu
CHƯƠNG 2 Khái niệm và tính chất của dịch vụ y tế theo yêu cầu
Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sảnphẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việcchuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đờisống sinh hoạt của con người C Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nềnkinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏimột sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngàycàng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển"[5]
hóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình
và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là nhữngsản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa-dịch vu[4]
Dịch vụ y tế theo yêu cầu cũng là một loại dịch vụ Đây là một trongnhững loại dịch vụ phổ biến nhất trong xã hội nhằm cung cấp nhu cầu vềchăm sóc sức khỏe cho người dân nhưng nó cũng sẽ có một số điểm khác biệt
so với dịch vụ y tê vì dịch vụ y tế theo yêu cầu sẽ phục vụ một bộ phận ngườibệnh và người nhà có yêu cầu được chăm sóc sức khỏe cao hơn so với bìnhthường Họ muốn được sử dụng trang thiết bị, thuốc men với chất lượng cao,muốn được khám và chữa bệnh bởi những bác sĩ mà họ được chọn lựa vớithời gian khám được họ lựa chọn … Đây là dẫn chứng của một số dịch vụ y tếtheo yêu cầu phổ biến
Dịch vụ y tế theo yêu cầu có một số tính chất sau
a, Tính không mất đi:
Sau khi cung ứng dịch vụ thì kĩ năng dịch vụ sẽ không bị mất đi Ví dụnhư là sau khi thực hiện xong một ca phẫu thuật thành công thì bác sĩ sẽ
Trang 4không bị mất đi khả năng của mình Đây là một tính chất quan trọng thể hiệntính lâu dài và liên tục của dịch vụ y tế
b, Tính vô hình và phi vật chất :
Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ takhông thể "sờ mó" sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lườngđược bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượnggiống như người bệnh không thể biết trước kết quả khám bệnh trước khi đikhám bệnh
c, Tính không thể phân chia :
Qúa trình tiêu thụ và sản xuất ra dịch vụ diễn ra đồng thời Trong dịch
vụ y tế, phải luôn có sự đồng hành giữa người bệnh và người cung cấp dịch
vụ Hai nhóm này phải gắn bó tạo thành một khối thống nhất Người cungcấp phải luôn lắng nghe ý kiến của người bệnh để có thể hoàn thiện dịch vụcủa mình Người bệnh và gia đình phải tôn trọng và tuyệt đôi tuân thủ nhữngyêu cầu của người cung cấp dịch vụ vì dịch vụ y tế là một loại hình dịch vụđặc biệt có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Khác với sản xuấtvật chất, sản xuất dịch vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó mới đem tiêuthụ đặc biệt là dịch vụ y tế Đây là loại hình dịch vụ thiết yếu cần đảm bảotính liên tục và liên tục được cải tiến qua từng ngày
Dịch vụ y tế luôn phải được gắn bó với nguồn gốc của nó Ở đâynguồn gốc chính là người cung cấp dịch vụ có thể là bệnh viện hoặc một tổchức hợp pháp nào đó hoạt động trong ngành y tế Người cung cấp khôngchỉ cung cấp dịch vụ mà còn phải bảo đảm chất lượng dịch vụ phải tuân thủcác quy định của Bộ Y Tế cũng như thực thi đúng pháp luật Không nhữngthế, nước ta đang hòa nhập cùng với bạn bè quốc tế, các nhà cung cấp dịch
vụ còn phải luôn nâng cấp chất lượng dịch vụ, áp dụng những thành tựukhoa học mới nhất vào thực tiễn
d, Tính không ổn định và khó xác định chất lượng
Trang 5Chất lượng dịch vụ thường dao động trong một biên độ rất rộng, tùythuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (ví dụ, người cung ứng, thời gian, địađiểm cung ứng phục vụ) Đây là một tính chất đặc thù của dịch vụ y tế.Người bệnh biết rất ít thông tin liên quan đến dịch vụ y tế phục vụ cho chínhbản thân họ Họ lựa chọn nơi để điều trị dựa trên rất nhiều nguồn thông tinkhác nhau như là theo danh tiếng của bệnh viện, theo lời khuyên của ngườibệnh khác hay người quen, thậm chí một số người bệnh hoàn cảnh khó khăncòn phải lựa chọn nơi điều trị theo mức viện phí mà họ có thể chi trả Ở một
số nơi hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhiều người bệnh sử dụng các dịch vụ y
tế tại địa phương mặc dù những nơi khám chữa bệnh cho họ có trang thiết bịnghèo nàn, tay nghề bác sĩ chưa cao dẫn đến nhiều trường hợp người bệnhđiều trị chưa dứt điểm được bệnh, đến lúc đưa lên tuyến trên thì bệnh đã cónhiều biến chứng Nhiều nơi có trình độ văn hóa lạc hậu, vùng đồi núi cáchbệnh viện hay trạm xá đến mấy quả đồi, nhiều người đã không đến bệnhviện hay trạm xá mà lại tin tưởng các thầy cúng dẫn để chữa bệnh mang lạinhững ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người bệnh Các thí dụ trên chothấy hoàn cảnh tạo ra dịch vụ y tế đóng vai trò thiết yếu đến chất lượng dịchvụ
e, Dịch vụ không thể lưu giữ được
Cũng giống như các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế không thể lưu giữđược Chúng ta không thể mua các dịch vụ y tế như khám chữa bệnh rồi đểdành lúc nào cần thì dùng Đặc điểm này không phải là vấn đề quá lớn nếunhu cầu là ổn định và có thể dự báo trước như là vào mùa nóng thì các bệnhtruyền nhiễm như sốt rét, sốt siêu vi trùng … tăng đột biến nên nhu cầu vềthuốc và dịch vụ y tế liên quan đến các bệnh này sẽ tăng rõ rệt Nhưng thựctiễn nhu cầu dịch vụ y tế thường không ổn định, luôn dao động nên nhà cungứng dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trở ngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ
sở vật chất kỹ thuật Do vậy nhà cung cấp dịch vụ y tế cần phải nghiên cứu
Trang 6thật cẩn thận nhu cầu về dịch vụ để cân đối được vấn đề sử dụng các nguồnlực sao cho hợp lí, tránh lãng phí.
f, Dịch vụ y tế cần đến hàm lượng chất xám rất lớn
Đây là lợi thế cũng như trở ngại lớn nhất cho những người làm trongngành y tế Do là một công việc đặc thù liên quan đến sức khỏe con ngườinên việc tuyển chọn nhân lực rất khắt khe Không chỉ phải có năng lựcchuyên môn, những người làm nghề y cần có lòng thương người như Bác Hồ
đã có lời tuyên dương với ngành y : “Lương y như từ mẫu “ Ngành Y làngành rất vinh quang nhưng đi kèm với nó là trách nhiệm Trách nhiệm vớisức khỏe người bệnh, trách nhiệm với xã hội, hơn thế nữa là trách nhiệm vớilương tâm của người thầy thuốc Tuy nhiên để thu hút những cá nhân ưu tútham gia vào sự nghiệp cứu người thì các nhà cung cấp dịch vụ y tế cần cóchế độ đãi ngộ hợp lí để những người thầy thuốc có thể an tâm hành nghề
1.1.2 Nguồn gôc, phân loại và lợi ích của các dịch vụ y tế theo yêu cầu :
Trong những năm qua do có chính sách mở cửa và cải cách đến từngành y tế, nền y tế Việt Nam ngày càng phát triển Sau đây là một số biếnđổi rõ nét
+ Phân hóa trong thu nhập, khiến nhu cầu về dịch vụ y tế cũng phânhóa Thu nhập bình quân tăng, khiến yêu cầu về chất lượng dịch vụ y tế, đặcbiệt là chất lượng của cơ sở vật chất nâng cao Người bệnh mong muốn khôngchỉ thầy thuốc giỏi mà họ còn muốn được sử dụng những trang thiết bị, cáctiện nghi khác như điều hòa nhiệt đồ, ti vi, tủ lạnh …
+ Bệnh viện công lập chuyển từ không thu viện phí sang thu một phầnhoặc thu đủ viện phí rồi một số nơi có khuynh hướng tiến đến tự chủ hoàntoàn về kinh tế để đảm bảo nguồn ngân sách ổn định cho bệnh viện Do khôngcòn là dịch vụ miễn phí nên yêu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ y tếcũng tăng lên, người bệnh chấp nhân trả tiền viện phí nên họ có quyền đượchưởng dịch vụ có chất lượng tốt nhất Việc tự chủ về kinh tế giúp giảm lệ
Trang 7thuộc vào ngân sách cùa nhà nước nhưng cũng là thử thách rất lớn cho cácbệnh viện Bệnh nhân là người sử dụng các dịch vụ y tế, họ có quyền lựachọn và sử dụng dịch vụ ở những nơi mà họ cho là có chất lượng tốt nhất, phùhợp với hoàn cảnh cũng như điều kiện kinh tế của họ Nếu các bệnh việnkhông thường xuyên nâng cao tay nghề bác sĩ cũng như nâng cấp cơ sở vậtchất thì có thể xảy ra hiện tượng mất cân bằng thu- chi trong bệnh viện
+ Cơ sở y tế tư nhân ngày càng phát triển, các bệnh viện tư xuất hiệncàng nhiều Các bệnh viện tư với lợi thế về cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộtốt đã thu hút được rất nhiều bác sĩ có tay nghề cao Hơn thế nữa, khi dân sốtăng lên nên nhu cầu về dịch vụ y tế ngày càng lớn mà các cơ sở y tế của nhànước không phát triển đáp ứng đủ nhu cầu này dẫn đến thực trạng quá tải chocác cơ sở y tế công lập đặc biệt là tuyến trung ương Các cơ sở y tế tư nhân đãxuất hiện và giải quyết một phần bài toán này Một số người bệnh có điềukiện đã lựa chọn khám chữa bệnh ở nước ngoài Điều này cho thấy ngườibệnh ngày càng có nhiều sự lựa chọn Họ có quyền lựa chọn nhũng dịch vutốt và phù hợp nhất vói họ
Trên thực tế hiện nay có rất nhiều dịch vụ y tế theo yêu cầu đã đượcthực hiện và đã có những kết quả đáng kể Sau đây em xin giới thiệu mộtvài dịch vụ y tế theo yêu cầu Đó là dịch vụ chữa bệnh và dịch vụ ngườichăm sóc hộ của người bệnh
A, Dịch vụ chữa bệnh của người bệnh
Cũng như các bệnh viện tuyến trung ương khác, hàng năm bệnh việnPhổi trung ương có hàng ngàn lượt người bệnh đến khám và điều trị Dovậy, tình trạng quá tải đã xảy ra thường xuyên ở khu vực khám bệnh cũngnhư khu vực nội trú, việc 2-3 người bệnh/1 giường bệnh đã trở nên phổ biếntại bệnh viện Nguyên nhân của tình trạng này là do sự tin tưởng của ngườibệnh vào uy tín và chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện Không chỉngười bệnh ở Hà Nội mà người bệnh ở các khu vực phía Bắc cũng lặn lội
Trang 8đến bệnh viện để khám và điều trị Nhu cầu của người bệnh ngày càng lớntrong khi số giường bệnh và bác sĩ tăng ít dẫn đến không đáp ứng đủ nhucầu của người bệnh Điều này dẫn đến rất nhiều hệ quả không tốt cho ngườibệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện Việc quá tải khiến cho chấtlượng dịch vụ khám chữa bệnh không được đảm bảo do có quá đông ngườibệnh nên thời gian khám của từng người bệnh sẽ rút ngắn lại Do đặc thù củacác bệnh liên quan đến đường hô hấp, nếu tập trung nhiều người bệnh tạimột địa điểm thì việc lây nhiễm chéo là hoàn toàn có thể xảy ra ảnh hưởngtiêu cực đến sức khỏe của người bệnh đặc biệt là người già, trẻ em, ngườitàn tật và phụ nữ có thai Nhu cầu của người bệnh quá lớn nên bệnh việnphải bố trí thêm ca trực, làm ngoài giờ ảnh hưởng đến sức khỏe của nhânviên y tế Không những thế, việc đứng xếp hàng quá lâu của người bệnh haylàm việc dưới áp lực cao của bác sĩ khiến cho cả người bệnh và bác sĩ đềumệt mỏi và căng thẳng.
Ngày nay, nước ta đang hòa nhập và mở cửa với thế giới, ngành y tếcũng không ngoại lệ Bệnh viện tư xuất hiện càng nhiều, một số người bệnhcòn lựa chọn ra nước ngoài để khám chữa bệnh Người bệnh càng ngày càng cónhiều sự lựa chọn để sử dụng các dịch vụ y tế Tiêu chí để lựa chon của ngườibệnh không chỉ là năng lực điều trị của bác sĩ mà còn ở trang thiết bị, cơ sở vậtchất của cơ sở y tế Nhu cầu này đặc biệt rõ rệt ở các người bệnh- những ngườiphải ở tại bệnh viện lâu dài Dịch vụ chữa bệnh theo yêu cầu sẽ giải quyết mộtphần cho nhu cầu này
Dịch vụ chữa bệnh theo yều cầu bao gồm dịch vụ lựa chọn bác sĩ, lựachọn thời gian chữa bệnh và làm các thủ thuật, lựa chon kĩ thuật công nghệcao , lựa chọn thuốc và vật tư tiêu hao chất lượng cao
a Dịch vụ lựa chọn bác sĩ :
Dịch vụ này như tên gọi mang đến cho người bệnh nhiều sự lựa chọn
về bac sĩ sẽ điều trị cho họ Người bệnh hoàn toàn có thể dựa trên học vị hay
Trang 9sự giới thiệu của người quen để lựa chọn bác sĩ mà họ tin tưởng Dịch vụnày thể hiện sự dân chủ và khách quan trong quá trình khám chữa bệnh vớiphương châm lấy người bệnh làm trung tâm Đây là dịch vụ đã được ápdụng vào thực tế tại rất nhiều bệnh viện lớn và đã được nhiều kết quả mangtính khả quan.
b Dịch vụ lựa chọn thời gian chữa bệnh và tiến hành thủ thuật:
Trong thời buổi kinh tế thị trường, thời gian là vàng bạc Trên thực tế,
để được khám và tiến hành thủ thuật,người bệnh sẽ phải đứng xếp hàng rấtlâu Sự quá tải của bệnh viện đã khiến cho người bệnh mất rất nhiều thờigian để chờ đợi Điều này gây thiệt hại rất lớn cho người bệnh về tiền bac,sức khỏe và cả tâm lí Dịch vụ lựa chon thời gian sẽ giúp giải quyết mộtphần sự quá tải đó Người bệnh có thể chủ động đặt lịch hẹn khám và tiếnhành thủ thuật với bác sĩ và đến đúng thời gian hẹn thì người bệnh đến khám
và thực hiện thủ thuật Dịch vụ này giúp giảm các tiêu cực trong bệnh viện
và sẽ giúp người bệnhthoải mái về tâm lí, giảm thiệt hại về thời gian, côngviệc …
c Dịch vụ lựa chọn kĩ thuật công nghệ cao, lựa chọn thuốc và vật
tư chất lượng cao
Y tế là một trong những ngành được chính phủ và nhà nước quan tâmđặc biệt Do đó ngành y tế trong những năm vừa qua đã có những bước tiếnvượt bậc, tiếp thu được rất nhiều thành tựu công nghệ tiên tiến nhất từ bạn
bè quốc tế Những người được hưởng lợi nhiều nhất từ những thành quả đóchính là người bệnh Họ càng ngày càng có nhiều sự lựa chọn Trong số đó,dịch vụ lựa chon kĩ thuật công nghệ cao cũng như thuốc và vật tư chất lượngcao giúp người bệnh tùy vào hoàn cảnh có thế lựa chọn cho họ những kĩthuật, thuốc và vật tư phù hợp nhất Hiện nay trên thị trường trôi nổi rấtnhiều thuốc và vật tư được quảng cáo đến từ nước ngoài nhưng thực chất
Trang 10chúng không rõ xuất xứ với chất lượng rất kém Dịch vụ này sẽ giúp ngườibệnh an tâm về chất lượng và giá cả của thuốc và vật tư chất lượng cao.
B Dịch vụ người chăm sóc hộ đối với người bệnh
Xã hội ngày nay bận rộn hơn bao giờ hết Khi trong gia đình có mộtngười thân phải điều trị trong bệnh viện, thì tất cả các thành viên trong giađình đều phải có trách nhiệm chăm sóc người ốm Họ phải chia nhau thờigian để trông nom, chăm sóc người ốm Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thờigian, công việc, sức khỏe của người nhà người bệnh Dịch vụ người chămsóc hộ đối với người bệnh sẽ giúp giải quyết một phần vấn đề này Dịch vụnày sẽ cung cấp cho người nhà người bệnh nhiều sự lựa chọn về nguồn gốcngười chăm sóc, tuổi của người chăm sóc, trình độ của người chăm sóc.Không những thế, bạn có thể lựa chọn thời gian của người chăm sóc, có thểchăm sóc bán thời gian hoặc cả ngày, cách ngày hoặc cả tuần Những ngườichăm sóc hộ sẽ giúp chăm sóc người bệnh những công việc hàng ngày như
ăn uống, tắm rửa, vệ sinh sạch sẽ, giúp đỡ người bệnh đi lại
CHƯƠNG 3 Một số nghiên cứu về dịch vụ y tế trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài :
- Shipman C & Dale J (1996) nghiên cứu về sự đánh giá của bác sỹđối với nhu cầu khám chữa bệnh ngoài giờ theo các nhu cầu về thể chất, tâmsinh lý và xã hội ở một vùng của Vương quốc Anh 66% các yêu cầu khámbệnh ngoài giờ có liên quan đến các yêu cầu về thể chất, tâm sinh lý và xãhội và 10.7% các trường hợp là không xác định được mối liên quan [6],
- Salisbury (2002) xem xét các nghiên cứu nhu cầu về dịch vụ khámbệnh ngoài giờ của bác sỹ ở nước Anh cho thấy tất cả các dịch vụ ngoài giờđều tính thêm chi phí gia tăng ( night visit fees), mức tăng tùy thuộc vào từngkhu vực, trình độ của bác sĩ [7],
Trang 11- Kajal & Guibo (2003) tiến hành nghiên cứu phân tích nhu cầu dịch vụchăm sóc sức khỏe ngoại viện của các cựu chiến binh được hỗ trợ bởiMedicare phát hiện rằng số tiền chênh lệch sau khi được Medicare hỗ trợ vàkhoảng cách từ nhà đến bệnh viện làm giảm khả năng lựa chọn dịch vụ chămsóc ngoại viện Một số yếu tố khác như thu nhập, tình trạng bảo hiểm, phươngtiện đi lại, công việc, sức khỏe và tình trạng các chẩn đoán cũng ảnh hưởngđến quyết định lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại viện [8]
- Eric và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám, chămsóc và điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấyrằng bác sỹ tiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấpcứu chỉ phải tiếp nhận 12% các dịch vụ này Phần lớn các nhu cầu khámngoài giờ của các đối tượng nam giới trưởng thành là các chấn thương, trong
đó có 19% là các chấn thương gẫy xương [9]
1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
- Trần Thanh Long ( 2011) đã tiến hành khảo sát nhu cầu về dịch
vụ chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tạiBệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đã từng khám tạibệnh viện chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm người đến khám bệnh (57,5%) và thấpnhất ở nhóm người bệnh ngoại trú (14,5%) Phần lớn người bệnh đều chorằng bệnh viện nên và rất nên triển khai dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà,trong đó khám ngày Thứ 7 & Chủ nhật và ngoài giờ ngày thường có tỷ lệ caonhất (72,9% & 18,5% và 72,9% & 14,7%) Đối với người bệnh ngoại trú, hầuhết người bệnh ngoại trú đều cho rằng bệnh viện nên triển khai dịch vụ CSSKngoài giờ và tại nhà, trong đó khám ngoài giờ ngày thường và buổi chiềungày thường có tỷ lệ cao nhất (62,1% & 9,9% và 62,7% & 12,5%).[10]
- Hoàng Văn Minh và Kim Bảo Giang nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc,
mô hình sử dụng dịch vụ y tế và chi phí điều trị một số bệnh mạn tính củangười dân Thành phố Hà Đông, Hà Nội năm 2009 Kết quả cho thấy tỉ lệ hiện
Trang 12mắc của bệnh mãn tính rất cao là 28.7% Trong lần gần đây nhất có nhu cầuchăm sóc, điều trị, phần lớn (57,8%) những người mắc bệnh mạn tính đã tựđiều trị tại nhà, 17.8 % người bệnh đến bệnh viện tỉnh, 11,4 % người bệnhđến bệnh viện tuyến TƯ [11]
- Theo Báo Cáo về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tếtuyến xã tại tỉnh Điện Biên của UNICEF, Tỷ lệ người được hỏi đánh giá thái
độ của cán bộ y tế xã ở mức quan tâm chu đáo khi cung cấp dịch vụ KCBchiếm 74,0% Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đánh giá nhân viên y tế có thái độquan tâm chu đáo khi cung cấp dịch vụ khám thai chiếm 73,8%; khi cung cấpdịch vụ CSBMTE trong và sau sinh chiếm 68,5%; khi cung cấp dịch vụ tiêmchủng chiếm 73,5% Phần lớn người sử dụng dịch vụ đánh giá chất lượng của
5 dịch vụ cung cấp bởi trạm y tế ở mức khá và tốt Có rất ít người đánh giáchất lượng dịch vụ ở mức kém hoặc trung bình Tỷ lệ người sử dụng dịch vụđánh giá chất lượng dịch vụ ở mức tốt đối với dịch vụ KCB chiếm 65,0%; đốivới dịch vụ khám thai chiếm 70,8%; đối với dịch vụ CSSKBMTE trong vàsau sinh chiếm 57,3%, đối với dịch vụ tiêm chủng chiếm 72,6% [12]
- Bùi Thùy Dương (2010) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu nhucầu chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người bệnh và người nhàngười bệnh tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy người bệnh vàngười nhà người bệnh đều có nhu cầu cao sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ
và tại nhà (53.3% - 90.3%), nhất là dịch vụ khám vào ngày thứ 7 và chủ nhật[13]
CHƯƠNG 4 Thông tin về Bệnh viện Phổi Trung Ương
CHƯƠNG 5 Thông tin chung về bệnh viện
Bệnh viện Phổi Trung ương tiền thân là Viện Chống Lao Trung ương,được thành lập ngày 26/4/1957 theo Nghị định số 273/TTg của Thủ tướngChính phủ Đây là một trong những viện nghiên cứu được thành lập sớm nhấtcủa ngành Y tế Viện có nhiệm vụ nghiên cứu về bệnh lao, chữa cho người
Trang 13bệnh lao tại Viện và điều trị ngoại trú, tổ chức an dưỡng cho người bệnh lao,phát hiện bệnh lao trong cộng đồng, giáo dục ý thức về phòng lao và đào tạocán bộ chuyên khoa
Từ khi thành lập tới nay Viện đã có 3 lần đổi tên phù hợp với chứcnăng nhiệm vụ theo từng giai đoạn Năm 1985, Viện được đổi tên thành ViệnLao và Bệnh Phổi đảm nhận nhiệm vụ rộng hơn, là Viện chuyên khoa đầungành về Lao và Bệnh phổi
Năm 2003, Viện đổi tên lại là Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trungương Cơ chế hoạt động đã chuyển từ Viện nghiên cứu có giường bệnh sangbệnh viện chuyên khoa cao nhất của cả nước về Lao và Bệnh phổi
Năm 2009, để phù hợp với nhiệm vụ mới với mục đích tập trung nghiêncứu sâu hơn và toàn diện hơn về các bệnh phổi, bệnh viện đổi tên thành Bệnh việnPhổi Trung ương, là bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế theo quyếtđịnh số 4449/QĐ-BYT ngày 13/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế Bệnh viện PhổiTrung ương là bệnh viện chuyên khoa tuyến cao nhất về Lao và Bệnh phổi Bệnhviện là đơn vị thường trực điều hành và là đầu mối hợp tác quốc tế của Dự ánphòng chống lao, Chương trình chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em, và là
cơ sở thực hành đào tạo đại học và sau đại học trong lĩnh vực chuyên khoa [15]
1.3.2 Mục tiêu của bệnh viện
1 Tăng cường các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng: Ápdụng các kỹ thuật phát hiện sớm bệnh lao, quản lý tốt và điều trị ngoại trú cóhiệu quả, phát hiện sớm các bệnh phổi như ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽnmãn tính, bệnh hen phế quản Xây dựng đường lối chiến lược hướng dẫn,chẩn đoán và điều trị phòng bệnh thống nhất trên toàn quốc những bệnh lao
và bệnh phổi ngoài lao
2 Triển khai các kỹ thuật mũi nhọn về chẩn đoán, điều trị và phụchồi chức năng
Trang 143 Quản lý theo dõi sức khoẻ thực hiện các kỹ thuật phục hồi chức năng
cho người bệnh sau điều trị nội ngoại khoa trong bệnh viện [18]
CHƯƠNG 6 Sơ lược về quá trình khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương
Theo kết quả báo cáo hoạt động của bệnh viện trong 6 tháng đầu năm
2013, hoạt động khám, chữa bệnh của bệnh viện vẫn được duy trì với chất lượngcao mặc dù số người bệnh điều trị nội trú nhiều, công suất sử dụng giường bệnh
ở mức cao Đặc biệt là ở một số khoa tình trạng quá tải cũng thường xuyênxảy ra tại khu vực điều trị như: khoa Lao, Bệnh Màng phổi, khoa Ung bướuvới tỉ lệ quá tải từ 130 – 150% Quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013
là 500 giường, công suất sử dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là108,9% tăng 2,1% so với 6 tháng đầu năm 2012 So sánh với số liệu của 6tháng đầu năm 2012 cho thấy hoạt động khám bệnh nói chung của bệnh viện khátốt với số lần khám bệnh tăng 2,5%; Số người khám bệnh tăng 4,5%; Số xétnghiệm theo dõi chức năng hô hấp giảm -6,6 %; Số XN Sinh hóa -1,4%; Số XNchụp phim thường quy giảm -5,1%; Số XN Siêu âm giảm -6,0% Nguyên nhâncủa vấn đề này có thể là do nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càngcao, khả năng tiếp cận các dịch vụ ở tuyến trên dễ dàng hơn (do giao thôngđược cải thiện, mức thu nhập tăng, số người có thu nhập cao tăng lên), ngoài
ra mức viện phí giữa bệnh viện các tuyến chênh nhau không nhiều nên ngườidân dồn vào các tuyến trên [14]
Hoạt động khám bệnh là một chuỗi các công việc diễn ra tại khoaKhám bệnh và có liên quan đến nhiều đơn vị trong bệnh viện như bộ phận thuviện phí, các phòng XN và bộ phận đón tiếp người bệnh nhập viện Khoakhám bệnh có nhiệm vụ tiếp nhận người bệnh, khám bệnh, làm các thủ tụcnhập viện, điều trị ngoại trú Đây là nơi đầu tiên người bệnh tiếp cận với bệnhviện, cũng là nơi có ảnh hưởng nhiều nhất đến tâm lý của người bệnh, góp
Trang 15phần quan trọng tác động đến chất lượng điều trị, chăm sóc, chẩn đoán đúng,sát bệnh Nếu chỉ định xét nghiệm đúng sẽ tiết kiệm chi phí cho người bệnh.Nếu khám bệnh đúng thì sẽ tiết kiệm thời gian cho người bệnh Về nhân lựcphục vụ cho hoạt động khám bệnh, trong 6 tháng đầu năm 2013, bệnh việnvẫn duy trì 06 phòng khám chuyên khoa với 05 bác sĩ, 14 điều dưỡng Bộphận thu viện phí có 09 nhân viên làm việc tại 12 cửa phục vụ Các cửa đượcphân chia rõ ràng từ cửa số 1 đến cửa số 3 phục vụ người bệnh có BHYT, từcửa số 4 đến cửa số 6 phục vụ người bệnh đến khám tự nguyện, từ cửa số 7đến cửa số 9 phục vụ người bệnh nhập viện, từ cửa số 10 đến cửa số 12 phục
vụ người bệnh thanh toán ra viện, đóng dấu XN
Trang 16CHƯƠNG 7 Các văn bản pháp luật liên quan tới chăm sóc sức khỏe
Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Luật số 40/2009/QH12) đã được Quốchội khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 Luật nàygồm 9 chương và 91 điều Đây là đạo luật đầu tiên về khám bệnh, chữa bệnhbảo đảm, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người bệnh; Nâng cao chấtlượng khám bệnh, chữa bệnh; Giảm phiền hà cho người bệnh; Xác định nềntảng cho sự phát triển y học thực chứng vì quyền lợi của người bệnh, và là cơ
sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người bệnh với người hành nghề và
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Điều 43 về điều kiện cấp giấy phép hoạt độngđối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với phòng khám chuyên khoa hoặcbác sỹ gia đình thì phải đủ các điều kiện sau:
• Đáp ứng các quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
• Có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn
• Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh,chữa bệnh phải có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 36tháng
• Và có chuyên môn phù hợp với loại hình hành nghề [16]
Thông tư số 30/TT-BYT, ngày 23/12/1987 quy định về tổ chức khámbệnh ngoài giờ có quản lý đã đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh củanhân dân, giảm bớt số người bệnh nằm viện, mở rộng việc chữa bệnh ngoạitrú, giảm số người bệnh phải chờ đợi ở phòng khám, những người có khảnăng mua thuốc theo đơn thầy thuốc tự trả tiền và cải thiện một cách chínhđáng, hợp lý cho cán bộ ngành y tế với các nội dung sau:
- Khám và chữa tất cả các chuyên khoa
- Phẫu thuật thì hạn chế trong mức độ tiểu phẫu thuật
- Các dịch vụ kỹ thuật khác (như nạo thai, hút điều hoà kinh nguyệt, đặtvòng, truyền dịch) hoặc các phẫu thuật khác như nạo V.A, cắt Amiđan kể cả
Trang 17các phẫu thuật cao hơn cũng có thể làm nhưng phải có giấy phép đặc biệt của
Sở Y tế và ý kiến chủ nhiệm khoa bệnh viện tỉnh thuộc chuyên khoa đó củađịa phương đồng ý Mục đích là để phát triển chữa ngoại trú nhưng phải bảođảm điều kiện chất lượng về cán bộ cũng như cơ sở vật chất
- Các dịch vụ thuộc chức năng điều dưỡng, kỹ thuật viên được khuyếnkhích thực hiện tại nhà và ngay cả trong bệnh viện nhưng đều có quản lý và
có quy định theo hợp đồng cụ thể với nhân dân Ví dụ: Đo huyết áp tại nhà,tiêm tại nhà, xoa bóp bấm huyệt tại nhà, thay băng, săn sóc bổ sung tại bệnhviện ngoài giờ, hướng dẫn tập luyện tại nhà v.v
- Các hợp đồng quản lý sức khoẻ có thù lao theo chế độ thầy thuốcriêng, điều dưỡng riêng cũng được khuyến khích
Không được phép làm các dịch vụ ngoài 5 điều quy định trên đây [17]
Trang 18Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địađiểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong tháng 05/2015 tại Bệnh viện PhổiTrung Ương
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3 Đối tượng nghiên cứu
2.3.1.Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh đang điều trị tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương Nếungười bệnh sức khỏe yếu, không có khả năng trả lời câu hỏi thì người nhàngười bệnh sẽ trả lời thay người bệnh
2.3.2.Tiêu chuẩn loại trừ
- Những người không đồng ý tham gia vào nghiên cứu sau khi đượcgiải thích rõ mục đích và mục tiêu của nghiên cứu
α :Mứcý nghĩa thống kê (Chọna = 0,05 à Z1-a/2 = 1,96)
p:Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu về dịch vụ theo yêu cầu.
: Độ chính xác tương đối
n: cỡ mẫu.
Trang 19Cỡ mẫu thực tế cho đối tượng người bệnh là 397.
Cách chọn mẫu: Chon toàn bộ người bệnh đang điều trị nội trú tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương trong tháng 05/2015.
2.5.Biến số và chỉ số
thu thập Kỹ thuật thu thập
Loại biến Mục tiêu 1: Xác định nhu cầu về dịch vụ y tế theo nhu cầu của
người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương
Nhu cầu về lựa chọn bác sĩ Bộ câu
hỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Nhịphân
Các khâu để lựa chọn bác sĩ Bộ câu
hỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Danhmục
Cơ sở để lựa chọn bác sĩ Bộ câu
hỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Danhmục
Nhu cầu về lựa chọn thời gian
chữa bệnh
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Nhịphân
Nhu cầu về sử dụng kĩ thuật cao
hơn so với quy định
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Nhịphân
Nhu cầu về sử dụng thuốc chất
lượng cao
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Nhịphân
Nhu cầu về vật tư tiêu hao chất
lượng cao
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Nhịphân
Nhu cầu về người chăm sóc hộ Bộ câu
hỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
NhịphânYêu cầu về trình độ người chăm Bộ câu Phỏng vấn gián Thứ
Trang 20Biến số Công cụ
thu thập Kỹ thuật thu thập
Loại biến
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Thứhạng
Yêu cầu về giới tính người chăm
soc hộ
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Danhmục
Yêu cầu về công việc của người
chăm sóc hộ
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Danhmục
Yêu cầu về thời gian chăm sóc
hàng ngày
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Thứhạng
Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm
sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người bệnh tại Bệnh Viện
Phổi Trung Ương
* Một số thông tin chung về người sử dụng dịch vụ
hỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Nhịphân
hỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Thứhạng
hỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Danhmục
Thu nhập bình quân đầu người
của gia đình
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
Thứhạng
Trang 21Biến số Công cụ
thu thập Kỹ thuật thu thập
Loại biến
tự trả lờiKhoảng cách từ nhà đến Bệnh
viện
Bộ câuhỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Thứhạng
hỏi
Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu hỏi
tự trả lời
Nhịphân
2.6.Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu
Số liệu sẽ được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn gián tiếp qua bộcâu hỏi tự trả lời
2.7 Quy trình thu thập số liệu
- Bộ câu hỏi tự điền được soạn thảo và góp ý trực tiếp từ thầy Lê Văn Hợi.Sau khi được sự đồng ý của Ban Giám Đốc Bệnh Viện Phổi Trung Ương, bộcâu hỏi sẽ được chuyển đến các khoa lâm sang và được phát tận tay đến ngườibệnh Cuối cùng, các phiếu trả lời sẽ được tập hợp lại, làm sạch và xử lí số
liệu
2.8 Sai số và cách khống chế sai số
Nhằm tránh một số sai số có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu: sai
số nhớ lại, sai số thu thập thông tin, sai số không trả lời ta tiến hành một sốbiện pháp sau:
- Sai số nhớ lại: Thiết kế bộ câu hỏi chuẩn và giám sát hoạt động
trong suốt quá trình điều tra phiếu
- Sai số thu thập thông tin: Phỏng vấn thử và hoàn thiện bộ câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu
- Sai số không trả lời: Hướng dẫn cho người được phỏng vấn mục đích nghiên cứu, động viên đối tượng hợp tác nghiên cứu
Trang 222.9.Quản lý, xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được làm sạch và nhập vào máy tínhbằng phần mềm Epidata 2.1 Phần mềm thống kê Stata 10 sẽ được sử dụngtrong phân tích số liệu Cả thống kê mô tả và suy luận sẽ được thực hiện Mức
ý nghĩa thống kê α=0,05 sẽ được sử dụng trong thống kê suy luận
2.10.Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu
- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
- Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi được Ban Giám Đốc Bệnh viện Phổi Trung ương thông qua
Trang 233.1 Đặc điểm của người bệnh tại tại Bệnh viện Phổi Trung Ương
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
.Biểu đồ 3.1 Sự phân bố người bệnh theo nhóm tuổi
Nhận xét :
-Người bệnh trên 55 tuổi (38,75%) chiếm tỉ lệ lớn nhất và người bệnhdưới 30 tuổi (14,61%) chiếm tỉ lệ ít nhất
Trang 2451.15 48.85
Nam Nữ
Biểu đồ 3.2 Sự phân bố của người bệnh theo giới
Thu nhập
<5 triệu/tháng 158 40,5 0,311-0,4075-10 triệu/tháng 123 31,5 0,272-0,364
>10-15 triệu/tháng 81 20,8 0,189-0,273
>15 triệu/tháng 34 7,3 0,063-0,121Nhận xét :
Trang 25- 28,4% người bệnh là công nhân và nông dân chiếm tỉ lệ lớn nhất.Ngược lại, chỉ có 16,5% người bệnh là học sinh, sinh viên
- Đa số người bệnh có thu nhập dưới 5 triệu/tháng (40,5%)
Biểu đồ 3.3 Khoảng cách từ nhà người bệnh đến bệnh viện
Nhận xét:
- Phần lớn người bệnh có nhà cách bệnh viện trên 15 km (67,45%)
Trang 2616.58
Có sử dụng Chưa sử dụng
Biểu đồ 3.4 Nhu cầu sử dụng bảo hiểm y tế của người bệnh
Nhận xét:
- Có đến 83,42% người bệnh sử dụng bảo hiểm y tế và chỉ có 16.58 %không sử dụng bảo hiểm y tế
3.2.Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ theo yêu cầu
3.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh
87.57
12.43
Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh
Có nhu cầu Chua có nhu cầu
Biểu đồ 3.5 Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh của người bệnhNhận xét:
- Đa số người bệnh có nhu cầu sử dụng (87,57%) dịch vụ lựa chọn bácsĩ
Trang 27Tiến hành phẫuthuật hoặc thủthuật
Cơ sở để lựa
chọn bác sĩ
Theo trình độ (Phógiáo sư, tiến sĩ,thạc sĩ, bác sĩ
Trang 286.04
Nhu cầu lựa chọn thời gian thực hiện phẫu thuật/ thủ thuật sớm hơn thông thường
Có nhu cầu Chưa có nhu cầu
Biểu đồ 3.6 Nhu cầu lựa chọn thời gian thực hiện phẫu thuật/ thủ thuậtsớm hơn thông thường
Trang 29Đặc điểm Người bệnh
n % 95%CINhu cầu lựa chọn thời
gian
Có nhu cầu 358 93,96 0,915-0,936Chưa có nhu cầu 23 6,04 0,036-0,084Nhu cầu chọn kĩ thuật cao Có nhu cầu 346 90,81 0,879-0,937
Chưa có nhu cầu 35 9,19 0,063-0,121Nhu cầu lựa chọn thuốc Có nhu cầu 354 92,19 0,895-0,949
Chưa có nhu cầu 30 7,81 0,051-0,105Nhu cầu lựa chọn vật tư Có nhu cầu 309 81,1 0,701-0,851
Chưa có nhu cầu 72 18,9 0,149-0,228Nhận xét :
- Đa số người bệnh có nhu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc,vật tư có chất lượng cao hơn so với mức thông thường ( 90,81% với kĩ thuậtcao, 92,19% với lựa chọn thuốc, 81,1% với vật tư )
3.3.4 Nhu cầu về người chăm sóc hộ thay người nhà
35.71
64.29
Nhu cầu về người chăm sóc hộ thay người nhà
Có nhu cầu Chưa có nhu cầu
Biểu đồ 3.7 Nhu cầu về người chăm sóc hộ thay người nhà của người bệnh
Nhận xét :
- Hơn 1/3 người bệnh (35.71%) có nhu cầu về người chăm sóc hộ thayngười nhà
Trang 30Lao động đã được đào tạo các
kĩ năng về chăm sóc ngườibệnh
59
34,71
0,275-0,419
Điều dưỡng trung cấp 23 13,53 0,083-0,187Tùy theo bệnh viện phân công 81 47,65 0,401-0,552Nhận xét:
- Đa số người nhà người bệnh ( 45,24% với tuổi tác, 68,45% với giới,47,65% với trình độ) không có yêu cầu đặc biệt về tuổi tác, giới, trình độ Họchấp nhận sự phân công của bệnh viện
Trang 31Bảng 3.6 Yêu cầu của người bệnh đối với người chăm sóc hộ về
thời gian chăm sóc hàng ngày
Trang 323.4.1 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu dịch vụy tế theo yêu cầu
Các đặc điểm của người bệnh được được đưa vào mô hình phân tíchhồi quy đa biến logistic để tìm mối liên quan với nhu cầu về dịch vụ y tế theoyêu cầu bao gồm các các yếu tố nhân khẩu học (giới, trình độ, nghềnghiệp….), nơi sinh sống, sử dụng bảo hiểm y tế
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với
nhu cầu về dịch vụ lựa chọn bác sĩ theo yêu cầu
Đặc điểm
% OR thô OR chuẩn hóa
Có nhucầu
Chưa
có nhucầu
Trình độ
học vấn
Cấp 3 85,27 14,73 0,919 0,817 0,829 0,619Cao đẳng và
Trang 33- Sau khi phân tích logistic đơn biến và đa biến, ta thấy không có yếu
tố nào có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về dịch vụ lựa chọn thời gian thực hiện thủ thuật
Đặc điểm
% OR thô OR chuẩn hóa
Có nhu Chư OR P OR P