BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI LÊ THỊ THÙY NGHIÊN CỨU LỆCH LẠC RĂNG THEO CHIỀU DỌC VÀ CẢM NHẬN VỀ ẢNH HƯỞNG THẪM MỸ ĐỐI VỚI LỆCH ĐƯỜNG GIỮA KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP BÁ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LÊ THỊ THÙY
NGHIÊN CỨU LỆCH LẠC RĂNG THEO CHIỀU DỌC VÀ CẢM NHẬN VỀ ẢNH HƯỞNG
THẪM MỸ ĐỐI VỚI LỆCH ĐƯỜNG GIỮA
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ RĂNG HÀM MẶT
KHOÁ 2010 – 2016
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S.Nguyễn Thị Bích Ngọc
HÀ NỘI - 2015 DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 2R : Răng
RHL : Răng hàm lớn
RHN : Răng hàm nhỏ
MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Lệch lạc răng chiếm một tỉ lệ khá cao trong cộng đồng, nó ảnh hưởngtiêu cực đến cuộc sống vì gây ra các vấn đề về tâm lý, nguy cơ chấn thươngrăng, giảm chức năng ăn nhai và tạo điều kiện cho một số bệnh răng miệng[1] Theo một số vấn đề nghiên cứu cho rằng lệch lạc khớp cắn chiếm tỷ lệkhá cao và ở mọi lứa tuổi cụ thể; theo nghiên cứu của Hoàng Thị Bạch Dươngnăm 2000 tỷ lệ lệch lạc răng hàm của học sinh lớp 6 tại một trường ở Hà Nội
là 91% [2] Theo Đống Khắc Thẩm và Hoàng Tử Hùng năm 2000 tỷ lệ saikhớp cắn của người Việt Nam trong độ tuổi 17 – 27 tuổi là 83,2% [3].Con sốnày trên thế giới cũng khá cao: tại Trung Quốc tỉ lệ sai khớp cắn ở tuổi 12 -
14 là 92,9% Tại Canada có 61% sai khớp cắn ở tuổi 10-15 Tại Mỹ thống kênăm 1930-1965 là 30% đến 95% Ước tính có 70% trẻ em và thanh niên Mỹ
có khớp cắn sai
Trên lâm sàng các hình thái lệch lạc khớp cắn rất đa dạng và phong phú.Lệch lạc khớp cắn được chia thành nhiều loại dựa trên các tiêu chuẩn khácnhau bởi các tác giả khác nhau và thường được đánh giá theo ba chiều khônggian: trước sau, chiều ngang,chiều dọc hay chiều đứng Trong đó lệch lạc răngtheo chiều dọc bao gồm: lệch lạc đường giữa và tăng giảm độ cắn trùm [5].Lệch đường giữa có hai dạng là lệch đường giữa song song và lệch đườnggiữa không song song [6] Độ cắn trùm thay đổi tùy theo dân tộc, bình thường
từ 2 - 4mm khi sai sẽ tạo nên khớp cắn hở hoặc khớp cắn sâu [7] Cùng với sựphát triển kinh tế nhu cầu về chăm sóc và thẫm mỹ về răng miệng đòi hỏi caohơn 75% lý do chủ yếu để bệnh nhân đến khám và điều trị là thẩm mỹ[8].Các dạng lệch lạc răng theo chiều dọc liên quan tới chức năng và đặc biệt
có ảnh hưởng trực tiếp tới thẫm mỹ nụ cười Theo Proffit and Fields năm
Trang 71993sự trùng khít đường giữa của răng hàm trên và đường giữa mặt là mộtmục tiêu quan trọng và lâu dài trong điều trị chỉnh nha Là một phần quantrọng trong khớp cắn chức năng và cung cấp một sự hướng dẫn có ích cho cácbác sĩ trong việc thiết lập sự lồng múi tốt cho các răng sau và đặc biệt có ýnghĩa quan trọng việc quyết định thẫm mỹ nụ cười [13] Các nghiên cứu khácnhau trên thế giới cho rằng mục tiêu chỉnh hình nên là chỉnh sự khác biệt giữarăng không quá 2mm so với đường giữa mặt đối với lệch đường giữa songsong và 10° là ngưỡng ảnh hưởng thẫm mỹ của những người tham gia nghiêncứu cho rằng họ cảm thấy không hài lòng ở mức độ lệch đường giữa khôngsong song tuy nhiên đây cũng chỉ là những nghiên cứu cảm nhận khác nhaucủa từng tác giả khác nhau.
Vậy ở Việt Nam mức độ lệch lạch răng theo chiều dọc chiếm tỷ lệ nhưthế nào trong các lệch lạc răng hàm?Đường giữa răng có thể lệch tới baonhiêu thì bị chú ý hay phát hiện bởi chính bản thân những người không cóchuyên môn này? Qua tham khảo y văn trong nước, tôi chưa thấy có côngtrình nghiên cứu nào được công bố về vấn đề này vì vậy tôi thực hiện đề
tài:“Nghiên cứu lệch lạc răng theo chiều dọc và cảm nhận về ảnh hưởng
thẫm mỹ đối với lệch đường giữa” với hai mục tiêu ;
1 Nhận xét tình trạng lệch lạc răng theo chiều dọc.
2.Đánh giá cảm nhận ảnh hưởng thẫm mỹ đối với lệch đường giữa
Trang 8Chương 1TỔNG QUAN
1.1 KHỚP CẮN VÀ CÁC QUAN NIỆM VỀ KHỚP CẮN
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu khớp cắn.
Vào những năm 1850 - 1930 là thời kỳ hình thành những khái niệm cơbản về khớp cắn Các quan niệm thô sơ về khớp cắn xuất hiện, những nghiêncứu đầu tiên về hình thái và động học khớp cắn ra đời Trong giai đoạn này,các quan niệm về khớp cắn chủ yếu mang nặng tính chất cơ học - hình tháihọc Tuy những cố gắng nghiên cứu trong thời kỳ này chủ yếu là về quan hệgiữa hai hàm, những quan niệm đầu tiên về sinh lý khớp cắn đã xuất hiện Năm 50 của thế kỷ XIX, W.G Bollwill đã phát hiện ra tam giác đều cóchiều dài 10cm từ mỗi tâm lồi cầu đến điểm răng cửa
Năm 1886, F.H Balkwill đã chứng minh rằng xương hàm dưới quayquanh một trục qua hai lồi cầu trong các vận động mở và đóng hàm dưới, cáclồi cầu dịch chuyển ra trước và xuống dưới trong vận động ra trước và toàn bộhàm dưới di chuyển trong vận động sang bên
Năm 1890, F.G Von Spee mô tả chuyển động trượt của hàm dưới vàđường cong Spee
Giai đoạn 1930 - 1980 là thời kỳ phát triển rực rỡ về lý luận và phươngpháp thực hành khớp cắn Trong giai đoạn này, phát hiện hai trường phái quantrọng còn ảnh hưởng đến khớp cắn ngày nay, đó là quan niệm về khớp cắn lýtưởng và khớp cắn tối ưu Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cắn khớp học có
sự phát triển vượt bậc Nhiều vấn đề về phương pháp nghiên cứu đã được giảiquyết: Posselt (1957) nghiên cứu vận động biên của điểm răng cửa trên mặtphẳng dọc giữa Giai đoạn 1980 đến nay là giai đoạn nhận thức lại và đánh
Trang 9giá lại các quan niệm về khớp cắn, mà quan điểm thắng thế là khớp cắn phùhợp với chức năng, tôn trọng các đặc trưng cá thể trong quá trình chẩn đoán,điều trị, theo dõi khớp cắn.
1.1.2 Định nghĩa khớp cắn.
Khớp cắn là để chỉ đồng thời động tác khép hàm và trạng thái khi haihàm khép lại Động tác khép hai hàm trong nha khoa là nói đến giai đoạn cuốicủa chuyển động nâng hàm dưới lên để dẫn đến sự tiếp xúc mật thiết giữa haihàm đối diện.Trạng thái khi hai hàm khép lại là nói đến liên quan của các mặtnhai các răng đối diện khi cắn khít nhau Như vậy, khớp cắn có nghĩa lànhững quan hệ chức năng và rối loạn chức năng giữa hệ thống răng, cấu trúcgiữ răng, khớp thái dương hàm và yếu tố thần kinh cơ
1.1.3 Khớp cắn trung tâm
Khớp cắn trung tâm là một vị trí có tiếp xúc giữa các răng của hai hàm(là một vị trí tương quan răng-răng), trong đó, các răng có sự tiếp xúc nhiềunhất, hai hàm ở vị trí đóng khít nhất và hàm dưới đạt được sự ổn định Khớpcắn trung tâm còn được gọi là lồng múi tối đa
1.2 CÁC NGUYÊN NHÂN SAI LỆCH KHỚP CẮN.
Sai khớp cắn là tình trạng thuộc về sự phát triển Đa số trường hợp,nguyên nhân của sai khớp cắn và sự lệch lạc răng mặt không phải là một yếu
tố bệnh lý nào đó, mà là do sự biến đổi vừa phải của phát triển bình thường.Đôi khi có thể xác định được nguyên nhân rõ ràng nhưng thông thường saikhớp cắn là sự tương tác giữa rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng
và phát triển Được chia làm ba nhóm chính [19]:
Nguyên nhân đặc thù
Yếu tố môi trường
Yếu tố di truyền
1.2.1 Các nguyên nhân đặc thù.
Trang 10-Rối loạn trong sự phát triển phôi thai: Có 1% trẻ em có nhu cầu điều trịchỉnh hình răng mặt là có bệnh sử liên quan đến rối loạn trong sự phát triểnphôi thai [9].
Những rối loạn gen, ảnh hưởng môi trường, các chất hóa học, hay thuốc
sử dụng trong thai kỳ ở liều nhẹ gây khiếm khuyết đặc biệt còn ở liều cao gây
tử vong : vitamin A liều cao gây dị dạng mặt, corticoid nếu dùng kéo dài gây
hở môi, khe vòm miệng, aspirin,khói thuốc lá, diazepam…gây hở môi vàkhẩu cái
-Rối loạn sự tăng trưởng của xương:
Sự đè ép xảy ra trong bào thai là do áp lực nào đó đè lên khuôn mặt đangphát triển của bào thai làm cho méo mó những vùng đang tăng trưởng, cánhtay vắt ngang qua mặt, đầu phôi thai cong gập sát chặt vào ngực hoặc do chấnthương ở hàm dưới khi sinh: có thể do sử dụng forcep trong trường hợp người
mẹ sinh khó, tuy nhiên điều này chưa rõ ràng
Gãy xương hàm dưới khi trẻ còn nhỏ: ở hàm dưới thường xảy ra gãy cổlồi cầu nếu có biến chứng thì là sự phát triển không cân xứng của hàm dưới,bên bị tổn thương sẽ phát triển chậm hơn so với bên bình thường
-Loạn chức năng cơ: hệ cơ mặt có ảnh hưởng tới sự tăng trưởng củaxương hàm theo hai cách: thứ nhất sự thành lập xương ở điểm bám cơ tùythuộc vào hoạt động của cơ thứ hai hệ cơ là một thành phần quan trọng củatoàn bộ khuôn mô mềm mà sự tăng trưởng của nó làm xương hàm dướixuống phía dưới và ra trước, mất một phần hệ cơ mặt sẽ làm cho một phần ặtphát triển
-Bệnh to cực và phì đại nửa hàm dưới
Bệnh to cưc do bướu phần trước tuyến yên gây tiết nhiều nội tiết tố.Thỉnh thoảng sự tăng trưởng quá mức ở bên xương hàm dưới không rõnguyên nhân và có thể tự chấm dứt
-Rối loạn trong sự phát triển của răng
Trang 11Thiếu răng bẩm sịnh là rối loạn trong giai đoạn khởi đầu của sự pháttriển răng hay lá răng: anodontia thiếu tất cả các răng, oligodontia thiếu nhiềurăng, hypodontia thiếu một vài răng Anodontia và oligodontia thường kết hợploạn sản ngoại bì, hypodontia thường gặp nhất và thường theo nguyên tắc làthiếu răng phía xa nhất của từng loại răng.
Răng di dạng và răng dư trong đó răng dị dạng là hậu quả của sự rối loạnxảy ra trong thời kỳ biệt hóa về hương diện mô học và hoặc hình thể thườngxảy ra ở răng của bên và răng cối nhỏ thứ hai Răng dư là hậu quả của sự rốiloạn xảy ra trong giai đoạn khởi đầu của phát triển răng, thường xảy ra nhất ở
vị trí đường giữa, gặp nhiều trong hội chứng loạn sản đòn sọ
Cản trở mọc răng: do răng dư, xương hoại tử, lớp nướu dày… hoạc dohội chứng loạn sản đòn sọ
Răng mọc sai vị trí: do mầm răng vĩnh viễn ở sai vị trí có thể làm răngvĩnh viễn này mọc sai ví trí, hay xảy ra ở răng cối lớn thứ nhất hàm trên.Mất răng sữa sớm: mất khoảng trống do hiện tượng di gần xảy ra ở răngcối vĩnh viễn, răng cối lớn thứ nhất di gần khi răng cối sữa thứ hai mất sớmlàm chen chúc vùng răng cối nhỏ vĩnh viễn.khi răng cối sữa thứ nhất hoặcrăng nanh mất sớm sự co rút chủ động của những dây chằng ngang xương ổrăng và áp lực môi má làm cho các răng của vĩnh viễn có khuynh hướng di xalàm mất cân xứng khớp cắn lệch hở đường giữa
Răng di chuyển do chấn thương: chấn thương răng làm sai khớp cắnbằng ba cách, thứ nhất làm tổn thương mầm răng vĩnh viễn do chấn thươngrăng sữa thứ hai răng vĩnh viễn di chuyển do mất răng sữa sớm thứ ba chấnthương trực tiếp vào răng vĩnh viễn Trong đó chấn thương răng sữa làm dichuyển mần răng vĩnh viễn bên dưới bằng hai cách là tạo men răng bị rối loạn
có khiếm khuyết ở thân răng nếu chấn thương xảy ra ở giai đoạn thân răngvĩnh viễn được thành lập tạo góc giữa thân và chân răng trong trường hợpchấn thương xảy ra sau khi răng đã hoàn tất
Trang 12- Dinh dưỡng và các bệnh tại chỗ cũng là các yếu tố liên quan tới lệchlạc răng.
1.2.2 Ảnh hưởng của môi trường.
- Các ảnh hưởng của chức năng với sự phát triển của cấu trúc xương mặt:ảnh hưởng của sự cân bằng trên bộ răng được biểu rõ hơn khi quan sát ảnhhưởng của những loại áp lực khác nhau Do sự đáp ứng sinh học, thới gian tácdụng của lực quan trọng hơn cường độ lực
Khi đặt một lực nhai mạnh trên răng, dây chằng nha chu vốn thấm đầydịch sẽ hoạt đồng như một “lò xo” chống shock, giữ răng trong một chốc láttrong khi xương ổ răng uốn cong và răng bị dịch chuyển một đoạn ngắn cùngvới xương Nếu lực nhai mạnh kéo dài hơn vài giây, sẽ cảm thấy đau, và do
đó lực nhai sẽ ngừng lại nhanh chóng Loại lực mạnh, ngắt quãng từng cơn sẽkhông có ảnh hưởng trên vị trí lâu dài của răng
Những ảnh hưởng của sự cân bằng có thể xảy ra: cường độ và thời giancủa lực tác động trên răng [20]
Trang 13Bảng1.1: Những ảnh hưởng của sự cân bằng có thể xảy ra: cường độ và
thời gian của lực tác động lên răng [20].
Những ảnh hưởng của sự lực cân
bằng có thể xảy ra
Cường độ của lực
Thời gian tác động của lực
Sự tiếp xúc của các răng
Vừa phảiNhẹRất nhẹ
Vừa phảiVừa phải
NhẹThay đổi
Rất ngắnRất ngắn
NgắnRất ngằnKéo dài
Thay đổiThay đổi
Kéo dàiKéo dài
- Các thói quen xấu:
Thói quen mút ngón tay: khi mút ngón tay trong thời gian dài, lực mútcủa các cơ môi má và lực đẩy của ngón tay vào các răng cửa làm cho răng cửahàm trên nghiêng ra ngoài, răng cửa hàm dưới ngả vào lưỡi dẫn đến cắn hởvùng răng cửa, hẹp cung hàm trên và khẩu cái sâu bất thường, cắn chéo cácrăng phía sau Đây là hậu quả của áp lực đặt trực tiếp lên răng kết hợp với sựbiến đổi tư thế nghỉ của má môi
Đẩy lưỡi: đẩy lưỡi bao gồm đẩy lưỡi tiên phát (do trẻ không thay đổiphản xạ nuốt sau khi đã mọc răng) và đẩy lưỡi thứ phát do các thói quen xấunhư thở miệng, mút ngón tay Đẩy lưỡi có thể đơn giản (không phối hợp vớicác thói quen xấu khác), hoặc phức hợp (khi phối hợp với các thói quen xấukhác) Khi đẩy lưỡi, lực mà lưỡi tác động lên các răng khác nhau dẫn đến tìnhtrạng ít cắn khớp và cắn hở [21]
Trang 14Theo quan điểm mới hiện nay, hiển tương đẩy lưỡi khi nuốt thường gặptrong hai trường hợp: ở trẻ nhỏ có khớp cắn bình thường, đẩy lưỡi biểu hiệnchỉ như là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự trưởng thành sinh lý bìnhthường; và ở cá nhân trong bất kỳ tuổi nào có răng cửa di chuyển, đẩy lưỡi là
sự thích ứng đối với khe hở giữa các răng
Thói quen mút môi: có thể là mút môi trên hoặc mút môi dưới Mút môidưới có thể gây cắn hở như mút ngón tay nhưng mức độ nhẹ hơn Mút môi trên
có thể gây ra cắn ngược vùng răng cửa Lực của môi, má, và lưỡi nhẹ hơn lựcnhai rất nhiều, nhưng lại kéo dài hơn Thử nghiệm cho thấy ngay cả lực rất nhẹcũng có thể làm răng di chuyển Nếu thời gian tác dụng của lực vừa đủ
Các thói quen khác: Klein [22] báo cáo thói quen chống tay vào cằm khingồi có thể dẫn đến cắn sâu, một số nhạc cụ thổi bằng miệng gây đè nén vàorăng hoặc mặt, hàm nếu sử dụng thường xuyên và lâu dài có thể gây lệch lạckhớp cắn
1.2.3 Ảnh hưởng di truyền.
Nguyên nhân của sai khớp cắn có thể do những được tính di truyền.Thứ nhất, thừa hưởng sự không hài hòa giữa kích thước của răng và kíchthước của hàm, có thể dẫn đến hiện tượng răng mọc chen chúc hoặc thưa kẽ.Thứ nhì, thừa hưởng sự không cân xứng giữa kích thước và hình dạng củaxương hàm trên và xương hàm dưới, có thể đưa đến tương quan cắn khớpkhông đúng
Sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền thể hiện rất rõ trong nhô hàm dưới.Một nghiên cứu ở nhóm trẻ có sai khớp cắn loại ba nặng cho thấy rằng 1/3nhóm trẻ này có cha hoặc mẹ có sai khớp cắn loại ba , và 1/6 nhóm trẻ thì cóanh,chị hoặc em cũng có biểu hiện sai khớp cắn Dị dạng mặt kiểu mặt dàiđứng loại thứ hai về những dị dạng di truyền trong gia đình Nói chung, anh,chị, em trong gia đình thường cùng có lệch lạc khớp cắn nặng, có thể vì sự
Trang 15thừa hưởng giống nhau về đặc tính và kiểu tăng trường đưa đến cùng cónhững đáp ứng giống nhau đối với yếu tố môi trường [20].
1.3 PHÂN LOẠI SAI LỆCH LẠC KHỚP CẮN THEO TƯƠNG QUAN BA CHIỀU.
Loại sai khớp cắn này có đặc điểm là tương quan bất thường giữa cácrăng hoặc các nhóm răng của một cung răng so với cung răng kia Những sailệch liên cung răng này có thể xảy ra trên cả ba chiều: chiều trước sau, chiềungang và chiều đứng
1.3.1 Sai khớp cắn theo chiều trước sau.
- Khớp cắn lệch gần: cung răng hàm dưới nằm về phía gần hơn khi haihàm răng cắn khít ở tư thế trung tâm
- Khớp cắn lệch xa: cung răng hàm dưới nằm về phía xa hơn khi hai hàmrăng cắn khít ở tư thế khớp cắn trung tâm
1.3.2 Sai khớp cắn theo chiều ngang
Bao gồm các loại cắn chéo Bình thường, các răng hàm trên ở phía ngoàicác răng hàm dưới Nhưng doi khi do sự co hẹp của các răng hoặc một số lý
do khác, mối tương quan bình thường này bị rối loạn Các trường hợp chéonày khác nhau về mức độ, vị trí và số lượng răng liên quan
1.3.3 Sai khớp cắn theo chiều dọc hay chiều đứng
Tùy theo độ cắn trùm của các răng ở hai hàm có hai loại:
- Cắn sâu: cắn phủ theo chiều đứng của hàm trên và hàm dưới vượt quá mứcbình thường
- Cắn hở: không có độ cắn trùm mà có khoảng hở tồn tại giữa các răng hàmtrên và các răng hàm dưới khi cắn khít ở tư thế trung tâm, có thể ở vung răngtrước và răng sau
Trang 161.4 ĐÁNH GIÁ KHỚP CẮN THEO CHIỀU DỌC
1.4.1 Độ cắn trùm hay còn gọi cắn phủ:
Là sự hài hòa giữa răng và hàm theo chiều đứng được đánh giá làkhoảng cách giữa bờ cắn răng cửa trên và dưới theo chiều đứng khi hai hàmcắn khít.(Hàm răng trên tiếp xúc vừa khít với hàm răng dưới ở vùng răng hàmnhỏ và răng hàm lớn trung bình độ cắn trùm bằng 1/3 chiều cao thân răng củadưới, răng cửa bên phủ ít hơn răng cửa giữa 1 mm Độ cắn phủ thay đổi ở cácdân tộc khác nhau Trung bình ở Việt Nam là 2,89mm (±1,45) [9] Độ cắn phủrăng cửa trung bình khoảng 3-4mm và độ cắn chìa trung bình khoảng 2-3mmtrong dân số hiện tại (Okeson, 1998)
Cắn hở và cắn sâu là thuật ngữ mô tả sai lệch khớp cắn theo chiều dọc
Hình 1.1 a: độ cắn phủ; b: cắn sâu; c và d: cắn hở [9].
Cắn hở là tình trạng có một khoảng hở giữa mặt nhai hay bờ cắn của mộthay nhiều răng giữa hai cung răng (các răng này không chạm răng đối diện)khi hàm giưới ở tư thế cắn khít trung tâm Cắn hở thường ở các răng trướcnhưng cũng có thể xảy ra ở răng sau [9]
Phân loại: khớp cắn hở do răng và do xương hàm
Do răng gây ra bởi: các thói quen xấu như mút ngón tay, đẩy lưỡi, cắn
má, bệnh trở ngại đường thở mũi như thở miệng do viêm amiđan, do VA, do
Trang 17thói quen và do các bệnh lý khác…Các cản trở mọc răng: do cứng khớp, răngkhông mọc đủ chiều cao thân răng.
Loại cắn hở do xương hàm: do sự phát triển bất thường của xương hàmtrên, bất thường của xương hàm dưới, sự phát triển bất thường của cả xươnghàm trên và xương hàm dưới
Cắn sâu là tình trạng khớp cắn có độ cắn trùm tăng, bờ cắn răng của dướicắn chạm cổ răng cửa trên hay chạm nưới mặt trong răng cửa trên khi hàmdưới ở tư thế cắn khít trung tâm[4]
sự mất cân xứng có thể gây ảnh hưởng xấu tới thẩm mỹ của răng (Bishara etal., 1994)[13]
Tương quan giữa răng cửa trên và đường giữa mặt theo mặt phẳng dọcgiữa được phận loại như sau [6]
Hình 1.2.Tương quan đường giữa răng của trên và đường giữa mặt, (1) Đường giữa hai răng cửa thẳng và trùng đường giữa mặt (2) Đường giữa
Trang 18hai răng cửa thẳng nhưng không trùng đường giữa mặt (3) Đường giữa
hai răng cửa nằm chéo so với đường giữa mặt [6].
Đường giữa hai răng cửa thẳng: hay còn gọi là lệch đường giữa khôngsong song có thể lệch về bên trái hoạc bên phải nhưng đường tiếp xức giữahai răng cửa giữa lại vuông góc với mặt phẳng răng cửa và song song với trụcdọc của khuôn mặt
Đường giữa hai răng cửa chéo so với đường giữa mặt là sự nghiêng củađường tiếp xúc hai răng cửa giữa mặc dù đường giữa hai răng cửa không bịlệch đáng kể có thể lệch trái hoặc lệch phải Có nghiên cứu cho rằng điểmtham chiếu tốt nhất cho đường giữa khuôn mặt đối với phần lớn mọi người làtrung tâm của môi trên, thường được gọi là “đỉnh cung cupid” (Kokich,1993) Tham chiếu tốt nhất cho đường giữa của răng hay trung tâm của răngcửa giữa hàm trên là nhú lợi giữa hai răng này (Kokich, 1993) Nếu nhú lợitrùng khớp với “đỉnh cung của thần cupid” và đường tiếp xúc hai răng cửa bịlệch thì vấn đề không phải là ở đường giữa, mà là do nghiêng răng cửa theochiều ngang[12]
Các trường hợp lệch đường giữa răng cửa sẽ dẫn tới sự khác biệt giữakhớp cắn bên phải và bên trái, đưa tới nguy cơ không ổn định khớp và có thểảnh hưởng nghiêm trọng tới thẩm mỹ trong một số trường hợp
Nguyên nhân rất đa dạng và việc điều trị cần phù hợp cho từng trườnghợp.Sự khác biệt của lệch đường giữa răng cửa có thể đến từ bốn nguyênnhân: lệch xương hàm dưới chức năng, lệch cấu trúc xương hàm dưới lệch vịtrí (tư thế) xương hàm dưới, lệch vị trí răng (nhất là trong trường hợp mấtrăng nanh sữa không đối xứng) Việc xác định nguyên nhân và chuẩn đoánchính xác trong từng loại lệch đường giữa có ý nghĩa trong sự lựa chọn điềutrị có thể thực hiện được: phẫu thuật hàm mặt, chỉnh nha hay nha khoa phụchồi Đặc biệt sự đánh giá chính xác vấn đề này là điều quan trọng sống còn
Trang 19đối với bác sĩ chỉnh nha, bởi vì thường thì rìa cắn răng cửa và đường tiếp xúc
2 răng cửa sẽ không đồng dạng với nhau nhất là mòn răng của không đều
1.5 CÁC NGHIÊN CỨU LỆCH LẠC RĂNG THEO CHIỀU DỌC.
1.5.1 Các nghiên cứu cắn trùm:
Các nghiên cứu cắn trùm trên thế giới theo nghiên cứu thực trạng lệchlạc khớp cắn ở sinh viên trường Đại học Khartoum bởi Gamar AhmedSulcimen Ali, 2005[14]trong đó có xác định tỉ lệ lệch lạc khớp cắn theo chiềudọc đối tượng gồm 2550 sinh viên đại học (gồm 1305 nữ và 1245 nam), tuổi
từ 18 – 22( p<0.05) trong nghiên cứu này người ta chia độ cắn trùm như sau:
Độ 1: Răng hàm trên bên phải bao phủ 0 – 2,9mm răng hàm dưới bênphải theo chiều dọc
116389,1%
111289,3%
227589,2%Nhóm 2
(3 – 4,9mm)
624,8%
514,1%
1134,4%Nhóm 3
(≥ 5mm)
120,9%
161,3%
281,1%
Độ cắn hở
răng trước
Nhóm 1(0 – 1,9mm)
423,2%
453,6%
873,4%Nhóm 2
(≥ 2mm)
262%
211,7%
471,8%
- Độ cắn trùm độ 1 ở 2 giới là gần như nhau