Chính vì lẽ đó mảnh đất Thanh Trạch đã hình thành nhiều giá trị văn hóa truyền thống vừa mang đặc điểm của văn hóa cư dân Việt, vừa mang nét đặc trưng riêng của cư dân miền Trung - một v
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Cấu trúc của khóa luận: 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ XÃ THANH TRẠCH (HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 10
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 10
1.1.1 Vị trí địa lý 10
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 10
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của xã Thanh Trạch 17
1.3 Tổ chức làng xã và dân cư 21
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA KINH TẾ THANH TRẠCH (HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 30
2.1 Kinh tế nông ngiệp 30
2.1.1 Trồng trọt 30
2.1.2 Khai thác lâm sản 32
2.1.3 Chăn nuôi 33
2.1.4 Nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản 33
2.2 Thủ công nghiệp và thương nghiệp 35
2.2.1 Chế biến thủy hải sản 36
2.2.2 Nghề đóng tàu 37
2.3 Hoạt động trao đổi, buôn bán 38
2.4 Kinh tế biển 39
Trang 22.5 Giao thông vận tải 40
2.6 Vài nét phác thảo bức tranh đời sống kinh tế Thanh Trạch dưới chế độ thực dân phong kiến 41
CHƯƠNG 3 NHỮNG THÀNH TỰU VỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT VÀ VĂN HÓA TINH THẦN CỦA XÃ THANH TRẠCH TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 43
3.1 Văn hóa vật chất 43
3.1.1 Đình làng, chùa làng 43
3.1.1.1 Đình làng 43
3.1.1.2 Chùa làng 44
3.1.2 Miếu điện, đền thờ 47
3.1.3 Văn hóa ẩm thực 47
3.1.4 Văn hóa mặc 48
3.1.5 Nhà ở 49
3.2 Văn hóa tinh thần 49
3.2.1 Lễ hội 49
3.2.1.1 Hội làng 49
3.2.1.2 Lễ hội cầu ngư 50
3.2.2 Hương ước (Lệ làng) 55
3.2.3 Tết 55
3.2.3.1 Phong tục quy định trong ngày tết 55
3.2.3.2 Các trò chơi trong ngày Tết 57
3.2.4 Tang ma 58
3.2.4 Hôn nhân 60
3.2.5 Tôn giáo, tín ngưỡng 60
3.2.6 Văn học 61
3.2.6.1 Truyền thuyết 61
3.2.6.2 Truyền thuyết nàng Tô Thị ở Quảng Bình 62
PHẦN KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu để kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa làng xã truyền thống đã và đang trở thành vấn đề quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý văn hóa Làm thế nào để giữ gìn, kế thừa và phát huy được những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa làng xã? Văn hóa làng
xã là một trong những thành tố quan trọng của nền văn hóa dân tộc, là nền tảng
để xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững Vì vậy việc tìm hiểu cặn kẽ, có
hệ thống về bản sắc văn hóa xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trước Cách mạng tháng Tám 1945 là nhằm góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương và của dân tộc
Những thập kỉ gần đây, việc nghiên cứu tìm hiểu văn hóa làng xã đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 24/1999 - TTtg về xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước văn hóa ở các làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân lao động và làm cơ sở vững chắc cho việc nâng cao đời sống văn hóa ở nông thôn hiện nay phát triển đúng hướng theo Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc
Quảng Bình với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh đã có quá trình hàng trăm năm hình thành và phát triển rất đáng tự hào, mang trong mình những giá trị lịch sử lâu đời, gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của các thê hệ ông cha chúng ta Trải qua những biến chuyển thăng trầm lịch sử, Quảng Bình đã chứng kiến sự thay đổi về cương vực, sự đan xen, giao thoa giữa các nền văn hóa đã từng tồn tại và phát triển, được thể hiện qua những dấu tích lịch sử vẫn còn lưu giữ đến ngày nay
Vùng đất Quảng Bình với bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời ngay từ thời đại
đồ đá, thuộc giai đoạn văn hóa Hòa Bình muộn cách đây gần 1 vạn năm, là nơi giao hội nhiều nền văn hóa lớn của dân tộc, như văn hóa Đông Sơn - Sa Huỳnh, Việt - Mường, Đại Việt - Chămpa, Đàng Trong - Đàng Ngoài, Thăng Long -
Trang 4Phú Xuân và được phát triển tương đối liên tục và phong phú cho đến ngày nay Chính vì vậy, vùng đất này đã và đang chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa vật chất và tinh thần rất độc đáo của dân tộc
Thanh Trạch là một xã thuộc vùng duyên hải của huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, trong lịch sử hình thành và phát triển đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột của vùng biên viễn, biên cương Là nơi gần kề với ranh giới phân tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài hơn hai thế kỉ với dòng “sông Gianh” lịch sử “Xương chất thành núi, máu chảy thành sông” Nơi đây đã chứng kiến nhiều đau thương mất mát Trải qua những thăng trầm đó Thanh Trạch cũng là nơi có sự giao thoa, tiếp biến của các nền văn hóa, vùng văn hóa của Dân tộc Chính vì lẽ đó mảnh đất Thanh Trạch đã hình thành nhiều giá trị văn hóa truyền thống vừa mang đặc điểm của văn hóa cư dân Việt, vừa mang nét đặc trưng riêng của cư dân miền Trung - một vùng đất chịu nhiều biến động trong quá trình lập làng giữ nước Nơi đây không chỉ là nơi khởi nguồn của những giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần nói chung mà còn là môi trường cho các lễ hội dân gian truyền thống tồn tại và phát triển
Là sinh viên chuyên ngành Lịch sử và cũng là một người con của quê hương Quảng Bình, tôi từng ấp ủ mong muốn được đóng góp chút hiểu biết nhỏ
bé của mình vào việc nghiên cứu, tìm hiểu về bẳn sắc văn hóa dân tộc nói chung, quê hương Quảng Bình nói riêng để nâng cao hiểu biết về văn hóa lịch
sử địa phương làm giàu cho hành trang tri thức của mình Vì vậy, tôi đã chọn
vấn đề: “Tìm hiểu văn hóa xã Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 5đến văn hóa làng xã bởi vì Việt Nam vốn là quốc gia nông nghiệp gắn với làng
xã vì thế văn hóa làng xã đã từng được xem là “hồn, cốt của văn hóa dân tộc” Huyện Bố trạch nói chung, xã Thanh Trạch nói riêng tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, chuyên khảo, chuyên sâu về lịch sử
và văn hóa nhưng cũng đã có một số công trình nghiên cứu mang tính khái quát qua một vài biên khảo về lịch sử văn hóa địa phương và làng xã của mình Thanh Trạch là một trong những xã có vị trí địa lý khá quan trọng, có bề dày lịch sử 550 năm với nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp, đã trở thành đề tài nghiên cứu của một số học giả về lịch sử và văn hóa Ở mức độ rất sơ lược, Ban Chấp hành
Đảng bộ huyện Bố Trạch trong Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch tập 1 (1930 -
1954), xuất bản tháng 11 - 1995 ở phần Quê hương Bố Trạch đã trình bày khái
quát sơ lược quá trình đổi thay về địa lý hành chính của vùng đất Bố Trạch trong tiến trình lịch sử từ thời nguyên thủy đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (có Thanh Trạch) Ở trang 10 có nói đến di chỉ văn hóa Bàu Khê (Thanh Trạch) là di chỉ hỗn hợp vừa có hiện vật mang đặc trưng văn hóa Bàu
Tró vừa có hiện vật thuộc văn hóa Đông Sơn Ở trang 20, Lịch sử Đảng bộ
huyện Bố Trạch tập 1 đã viết về núi Lệ Đệ; ở trang 23 có nhắc đến nghề đóng
thuyền ở làng Thanh Hà (Thanh Trạch) Ở sách Lịch sử Đảng bộ huyện Bố
Trạch tập 1 tại chương I, mục I - Tình hình Bố Trạch trước khi thành lập Đảng
trang 31 có đoạn viết: “Chính quyền “Bảo hộ” thiết lập đồn binh ở Thanh Khê bao gồm lính bản xứ đặt dưới sự chỉ huy của sỹ quan Pháp” Trong mục này sách Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch tập 1 có đề cập việc chính quyền thực dân phong kiến cho phép giáo dân xây dựng nhà thờ Thiên chúa giáo tại làng Thanh Bồ (Thanh Trạch) Bên cạnh đó ở phần Quê hương Bố Trạch trong nội dung còn những sai sót, nhầm lẫn nhất định Tại trang 9 từ dòng 4 đến dòng 14
Lịch sử Đảng bộ Huyện tập 1 chép: “Thời kỳ Bắc thuộc nhà nước Âu Lạc bị
chia làm ba quận… Bố Trạch lúc này thuộc huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam…” việc dùng cụm từ “nhà nước Âu Lạc” ở đây là sai vì thời Bắc thuộc nhà
nước Âu Lạc không còn nữa mà đã sụp đổ từ năm 179 TCN khi Triệu Đà đánh bại An Dương Vương rồi Mặt khác, thời Bắc thuộc Bố Trạch không thể thuộc
Trang 6huyện Tượng Lâm vì quận Nhật Nam thời Hán được chia thành 5 huyện gồm: Tây Quyển, Tỷ Cảnh, Chu Ngô, Lô Dung và Tượng Lâm; huyện Tây Quyển là vùng đất từ phía Nam Đèo Ngang đến hết đất huyện Bố Trạch (thời gian nằm trong lãnh thổ Lâm Ấp thì huyện Tây Quyển được đổi thành châu Bố Chinh đến năm 1075, Nhà Lý thực thi chủ quyền ở đây đã đổi tên Bố Chinh thành châu Bố Chính), huyện Tượng Lâm thời Hán là vùng đất từ Quảng Nam đến Bình Định
do đó Bố Trạch (có Thanh Trạch) không thể nằm trong huyện Tượng Lâm được
Ở mức độ đề cập sơ lược đến Thanh Trạch còn có một số bài báo, bài viết trên tạp chí ca ngợi về quê hương con người ở đây dưới dạng văn, thơ, vè như
bài thơ Lũy thép Nam Gianh, Vè làm Đình làng, Bài vè chiến dịch Hòn La…
Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Trạch tập 1 (1945 - 2010), cũng đã giới thiệu
khái lược về văn hóa, sự thay đổi về địa lý hành chính và tập trung giới lịch sử hình thành và phát triển của Đảng bộ xã Thanh Trạch từ năm 1945 đến năm
2000 Bên cạnh đó sách cũng có giới thiệu sơ lược vài nét về quá trình khai canh
thành lập làng xã, xóm thôn ở Thanh Trạch Tuy còn rất sơ lược nhưng Lịch sử
Đảng bộ xã Thanh Trạch tập 1 (1930 - 2000) cũng đã giúp người đọc có những
thông tin sơ lược về một số địa danh lịch sử như tên đất tên làng, một số nhân
vật lịch sử và một vài nét giá trị văn hóa tiêu biểu của xã Thanh Trạch Tuy
nhiên trong phần lịch sử thay đổi địa danh hành chính Lịch sử Đảng bộ xã
Thanh Trạch cũng lặp lại những sai sót nhầm lẫn của Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch như đã nêu ở trên
Ở mức độ chuyên sâu cho đến nay mới có nhà nghiên cứu Nguyễn Tú trong
công trình biên khảo Địa chí xã Thanh Trạch, xuất bản vào năm 1995, là công
trình đầu tiên nghiên cứu khá nhiều khía cạnh của lịch sử văn hóa xã Thanh Trạch từ khi thành lập làng đến năm 1990 Cuốn sách đã giới thiệu một vài nét
về điều kiện tự nhiên và lịch sử khai thiết của xã Thanh Trạch để rồi đi sâu giới thiệu về một số thành tựu về văn hóa vật thể và phi vật thể qua các thời kỳ lịch
sử của Thanh Trạch Điểm hạn chế của Địa chí xã Thanh Trạch là chưa bao quát
được một cách toàn diện các thành tựu văn hóa, chưa đề xuất được các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của xã Thanh Trạch
Trang 7Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hóa xã Thanh Trạch của các học giả cho đến nay vẫn đang còn rất ít và chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và cân đối; đặc biệt là đi sâu phân tích các đặc trưng văn hóa của Thanh Trạch; chưa đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị đó trong xu thế đô thị hóa nông thôn đã và đang diễn ra hiện nay Các công trình nghiên cứu trước đây cũng chưa giới thiệu một cách rành mạch, cụ thể về quá trình hình thành các xã, phường, thôn, xóm trên vùng đất Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945 Mặt khác, ở phần lịch sử về sự đổi thay địa lý hành chính của vùng đất Thanh Trạch cũng có một số sai sót nhầm lẫn Vì vậy trên cơ
sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, cùng với việc điền giả, chúng tôi đã tập hợp, xử lý, giám định để chỉnh lý và lựa chọn, bổ sung các tài liệu về lịch sử và văn hóa của xã Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám
1945 để xác định đề tài, nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài xác định mục đích nghiên cứu là hệ thống hóa lại các thành quả của các công trình nghiên cứu trước đây, xây dựng lại thành một chỉnh thể và cố gắng làm rõ các đặc trưng bản sắc văn hóa làng, xã của Thanh Trạch Trên cơ sở
đó, khóa luận của chúng tôi sẽ góp phần vào việc bảo tồn và phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa - lịch sử để xây dựng và phát triển xã Thanh Trạch nói riêng và công cuộc xây dựng nông thôn mới, xây dựng làng, thôn văn hóa nói chung hiện nay Đây cũng là một việc làm thiết thực góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) của Đảng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, nhiệm vụ của khóa luận là tiến hành nghiên cứu một cách khái quát về địa lý, lịch sử xã Thanh Trạch; đặc biệt
đi sâu nghiên cứu giới thiệu toàn diện các thành tựu văn hóa vật chất, văn hóa
Trang 8tinh thần và làm rõ các đặc điểm đặc trưng văn hóa của xã Thanh Trạch từ khi thành lập làng xã cho đến Cách mạng tháng Tám 1945
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu:
a) Về không gian, khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu văn hóa trong phạm vi xã Thanh Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Có tham chiếu văn hóa các làng lân cận và một số địa chí địa phương các làng xã trên địa bàn Quảng Bình
b) Về thời gian, khóa luận tập trung nghiên cứu văn hóa Thanh Trạch trong thời gian từ khi làng Bồ Khê thành lập đến trước Cách mạng tháng Tám (1472- tháng 8/1945)
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa của xã Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Thực hiện đề tài chúng tôi quán triệt và vận dụng quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nghiên cứu văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả khóa luận sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây: + Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: để thực hiện đề tài chúng tôi
sử dụng phương pháp sưu tầm tài liệu thành văn để tập hợp các tài liệu đã được công bố và sử dụng 2 phương pháp chủ lực là phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong quá trình nghiên cứu kết hợp với một số phương pháp liên ngành như thống kê so sánh để khai thác thông tin phục vụ đề tài
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: để bổ sung và giám định tài liệu, tác giả khóa luận còn tiến hành điền dả dân tộc học tại địa phương để thực địa thu thập tài liệu dân tộc học, điều tra khảo sát, đàm thoại, phỏng vấn nhằm
Trang 9thu thập thêm tài liệu lịch sử, văn hóa địa phương và giám định một số thông tin
mà các tài liệu thành văn trình bày thiếu sự thống nhất
6 Đóng góp của đề tài
Khóa luận có những đóng góp sau đây:
1) Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về địa lý, lịch sử và văn hóa xã Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945 chúng tôi tập hợp được một danh mục tài liệu tham khảo khá đầy đủ cho những ai quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến văn hóa và lịch sử xã Thanh Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình tính đến hiện nay (2019)
2) Khóa luận đã tái hiện lại bức tranh có hệ thống, đa dạng, phong phú và làm rõ những đặc điểm đặc trưng văn hóa truyền thống của xã Thanh Trạch trước cách mạng tháng Tám 1945
3) Khóa luận đã chỉnh lý lại những thông tin thiếu chính xác về lịch sử của Thanh Trạch được trình bày trong một số tài liệu thành văn dựa trên những cơ
sở khoa học và tin cậy
4) Khóa luận mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của xã Thanh Trạch
7 Cấu trúc của khóa luận:
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, thì nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3 chương:
+ Chương 1: Khái quát lịch sử xã Thanh Trạch (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) trước cách mạng tháng Tám 1945
+ Chương 2: Những đặc điểm của kinh tế Thanh Trạch (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) trước Cách mạng tháng Tám 1945
+ Chương 3: Những thành tựu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của Thanh Trạch (huyện Bố trạch, tỉnh Quảng Bình) trước Cách mạng tháng Tám
1945
Trang 10PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT LỊCH SỬ XÃ THANH TRẠCH (HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Thanh Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Xã Thanh Trạch nằm ở tọa độ từ 17064’68’’ đến 17070’30’’vĩ độ Bắc, từ 106047’ đến 106051’ kinh độ Đông Thanh Trạch có diện tích tự nhiên 24,39 km2 Phía Bắc giáp phường Quảng Phúc thuộc thị xã Ba Đồn qua sông Gianh, phía Tây và Tây Bắc giáp xã Bắc Trạch, phía Tây và Tây Nam giáp xã Phú Trạch, phía Nam giáp xã Hải Trạch, phía Đông giáp biển Đông; Thanh Trạch có Quốc lộ 1A chạy qua
Xã Thanh Trạch cách cầu Gianh về phía Nam 5km, cách thành phố Đồng Hới trên 35 km; nơi đây được thiên nhiên ưu đãi một vị trí địa lý hết sức đặc biệt Thật hiếm có một làng xã nào ở Quảng Bình lại có địa hình đa dạng như ở Thanh Trạch: vừa có biển, có sông, có đồng bằng, có núi rừng núi, có gò đồi
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
+ Khí hậu, Thanh Trạch là một xã ven biển vì thế mà khí hậu ở đây cũng mang những đặc điểm của khí hậu các xã duyên hải của tỉnh Quảng Bình
Thanh Trạch có khí hậu nhiệt đới gió mùa, “chịu ảnh hưởng sâu sắc của
hoàn lưu khí quyển nhiệt đới như dải hội tụ nhiệt đới, áp cao cận nhiệt đới, vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, một mùa chịu đặc trưng nhiệt đới phía Nam một mùa chịu đặc trưng rét đậm phía Bắc
Do địa hình hẹp, bị chia cắt mạnh, núi gần sát với biển ở vĩ độ thấp nên diễn biến khí hậu phức tạp, vừa có tính lục địa, vừa ảnh hưởng của khí hậu biển, phản ánh sự giao tranh của khí hậu cả hai chiều Nam - Bắc, Đông - Tây Các yếu tố khí hậu mang tính phân cực lớn Mỗi năm khí hậu chia làm hai kì rõ rệt: mùa nắng nóng và mùa mưa rét, đối lập với một chu kì hạn hán gay gắt là một chu kì độ ẩm rất cao Mùa mưa đi kèm với rét và bão, lụt Mùa nắng đi liền với gió Tây khô nóng (gió Lào) và hạn hán
Trang 11Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình khoảng 29°C, những ngày nắng cao nhiệt độ có thể lên tới 35°C Đây là giới hạn nhiệt
độ có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái
Mùa mưa rét kéo dài từ tháng 9 đến đầu tháng 3 năm sau Thời gian rét đậm khoảng 60 ngày Nhiệt độ trung bình khoảng 20°C trở xuống Giao thời giữa hai mùa là thời kì chuyển tiếp có khí hậu hỗn hợp có xen kẽ mưa, nắng, nóng rét không có quy luật” [20]
Địa hình, vùng đất này rất đa dạng, chia làm ba dạng riêng biệt: rừng - gò
đồi, sông - biển và đồng bằng
+ Vùng rừng - gò đồi, nằm ở phía Nam xã Thanh Trạch, vắt ngang từ Đông sang Tây liền mạch trong núi Lệ Đệ với nhiều dãy nhấp nhô, có sông suối chen vào giữa tạo nên nhiều thung lũng rộng như: Mù U, Ổ Gà, Đồng Đen Các thung lũng này có diện tích khoảng từ 40 đến 100 ha Vùng rừng - gò đồi có núi Lệ Đệ chặn ngang, cắt địa hình vùng Nam sông Gianh thành hai khu vực
Núi Lệ Đệ (còn gọi là núi Bung, núi Lễ Đễ, núi Đệ Thê) với bạt ngàn cây cối “reo vui, dạo nhạc” giữa mây với gió Núi không cao lắm, từ Đông sang Tây liên tiếp có hơn trăm ngọn chắn ngang đường cái quan Ngọn cao nhất chưa tới 250m, nhưng mỗi ngọn núi trong dãy núi này mang những cái tên tượng trưng
cho đạo trung hiếu gia tộc Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn nói: “Cách sông ở
phía Nam, một dãy núi xanh đứng chắn ngang ở bên trời” Dương Văn An trong
Ô Châu cận lục viết: “Núi tên Lễ Đệ như dáng hổ phục tầng tầng”[1; 74] Là
chỉ hình thể của dãy núi ấy mà nói Núi Lệ Đệ vốn đẹp rồi lại còn được người
đời khoác thêm những truyền thuyết, huyền thoại nên càng hấp dẫn và kỳ bí
Dưới chân núi Mái Am là một vùng cư dân xóm Sơn, xóm Cồn, về phía Đông là cánh đồng Con Ruộng có hồ chứa nước cùng tên, như một đường phân cách giữa hai hòn Mái Am và Cha Màn Nhìn từ Tây sang Đông núi Cha Màn
đổ xuống khe nước lấn dần ra biển có cánh đồng nhỏ là đồng Cửa Nghè, phân cách với hòn Cửa Chùa, cũng gọi là Động Cửa Chùa Cạnh động núi Cửa Chùa
về phía Đông Nam là núi Đá Nhảy Nó là một nhánh bắt đầu từ núi Cốt Lầu, tiến
Trang 12dần ra biển, bên trong núi Đá Nhảy liền với núi Chùa Thầy Rộng thuộc xã Phú Trạch [12]
Nằm sâu trong vùng núi Lệ Đệ là một số khe suối có vai trò quan trọng đối với xã Thanh Trạch Khe suối như một hệ thống dẫn nước thiên nhiên tạo ra từ sơn hệ trong dãy Lệ Đệ đổ về các cánh đồng phì nhiêu, vừa cung cấp nguồn nước cung cấp cho việc tưới tiêu ruộng vườn, cây cối Tất cả đều đổ về hướng một con sông nhỏ gọi là Rào Chùa Sỡ dĩ sông được gọi là Rào Chùa, vì trong lưu vực sông có một ngôi Chùa Phật hiện đang là một di tích văn hóa của địa phương
Sơn hệ núi Lệ Đệ này đi đôi với hệ khe suối xen kẽ trong đó, ngày xưa là rừng rậm, nay chỉ là gò đồi Nhiều núi đá lộ thiên, các gò đồi tầng đất mỏng, dễ khai thác và sử dụng Nếu không có con sông Rào Chùa đón nhận dòng chảy của nhiều khe suối rồi đổ vào sông Gianh ở đoạn hạ lưu này thì không những khe suối và núi đồi kia sẽ tách rời hẳn con sông Gianh mà cũng không thể hợp với biển cả thành một hành lang sông nước bao vây lấy ba bề tả hửu và sau lưng
xã Thanh Trạch
+ Vùng lãnh hải và cồn cát ven biển
Hải phận xã Thanh Trạch có bề rộng từ bờ biển ra đến vùng thềm lục địa (theo luật quốc tế và tuyên bố của Việt Nam có chiều rộng từ vùng nội thủy ra đến giáp vùng thềm lục địa trên 224 hải lý) và chiều dài (tính từ cửa sông Gianh)
bắt đầu từ cột Hải Đăng nơi cửa sông Gianh đến mõm Đá Nhảy khoảng 6 km
Vùng biển này không có rạn ngầm như ở Bảo Ninh, đây là vùng biển thoai thoải gần như bằng phẳng
Trên dải đất gần dưới chân cột Hải Đăng là một Hồ Sen hình bầu dục, xưa kia là một thắng cảnh, nơi quần tụ của hồ với đền, chùa, lăng, miếu, cây cối um tùm rậm rạp Địa hình vùng cát này gần như bằng phẳng, cao hơn bãi biển khoảng 3m, không có những đụn cát quá cao như núi hoặc không xuống thấp đột ngột như thung lũng Đây là một đặc trưng về địa lý của vùng cát ven bển Thanh Trạch, khác với những vùng ven biển còn lại tính từ cửa Gianh vào Nam Quảng Bình; bãi cát bằng phẳng không có rạn ngầm, nghiêng the chiều từ tây
Trang 13sang đông khoảng 20 độ, sát biển có rừng phi lao chắn gió cát Đặc biệt ở phần phía Nam vùng cát ven biển xã Thanh Trạch nối với vùng ven biển phía Bắc xã Hải trạch là danh thắng Bãi biển Đá Nhảy Bãi biển Đá Nhảy là một trong những danh lam thắng cảnh làm say đắm lòng người Tính về phía Nam Bãi biển Đá Nhảy cách trung tâm thành phố Đồng Hới khoảng 35km Bãi Đá Nhảy là một quần thể núi đá, nằm ngay dọc bờ biển dưới chân đèo Lý Hòa Dù chỉ cách đường sá xe cộ ồn ào vài bước chân nhưng Bãi Đá Nhảy vẫn giữ nguyên nét đơn
sơ mộc mạc của đá núi bị bào mòn Sự hòa quyện giữa vẻ đẹp của núi đá và biển
cả mênh mông tạo nên ấn tượng khó phai cho những ai đã từng một lần đến và dừng chân nơi đây Núi đá ven biển ở Đá Nhảy trải dài hơn 400m, trong đó nổi bật nhất là hệ thống núi đá dưới chân đèo Lý Hòa Đá ở đây nằm rải rác trên bờ suốt bốn mùa vui đùa cùng sóng đánh Các khối đá nhô mình ra biển với vô vàn khối đá to nhỏ, cao thấp khác nhau, tạo nên trăm vẻ kì thú
Có nhiều truyền thuyết khác nhau về cái tên Đá Nhảy kỳ lạ Có người cho rằng, vùng biển này được gọi là Đá Nhảy bởi sự đa dạng của hàng trăm hòn đá mọc lên trên bờ biển Mỗi khi sóng biển vỗ vào bờ, những hòn đá ở đây cứ như hàng trăm con vật to nhỏ nối nhau nhảy chồm lên sóng, lao ra với biển Cũng có người cho rằng, cái tên Đá Nhảy là hình ảnh người ta nhìn thấy khi đi qua bãi biển này Bãi biển Đá Nhảy, với nhiều tảng đá to nằm rải rác trên bãi biển quanh năm suốt tháng được sóng biển mài dũa, bãi Đá Nhảy nhìn xa như một bức tranh tuyệt đẹp với trùng điệp núi đá xù xì Có tảng đá to đùng xám đen tựa con trâu đang nằm phơi nắng giữa trời Có khối đá giống như voi phục, hổ quỳ, có những hòn đá lô nhô trên bãi biển trông như một bầy cóc nhảy trên đầu ngọn nước Trong vô vàn tảng đá nằm bên chân sóng, có một khối đá rất nổi bật, trụ cao 5 - 6m Phía dưới chân có bệ đá vững chắc, người xưa để lại cho trụ đá những cái tên như Ông Tượng, Cột Đá trụ trời, Cây bút thần Người dân ở đây đã miêu tả rằng trụ đá này chính là “thần giữ biển” và canh giữ vẻ đẹp cho Đá Nhảy trường
tồn với thời gian
+ Vùng đồng bằng
Trang 14Vùng đồng bằng nằm dưới chân núi Lệ Đệ dọc theo bờ Nam sông Gianh và trục giao thông Quốc lộ 1A Vùng đồng bằng của Thanh Trạch tuy diện tích không lớn nhưng lại có một vị trí có tầm chiến lược về kinh tế - xã hội và quân
sự hết sức quan trọng trong tiến trình xây dựng, phát triển và bảo vệ vùng đất Bố Trạch Vùng đồng bằng của Thanh Trạch là vùng sản xuất lúa gạo, hoa màu và
là địa bàn cung cấp lực lượng lao động trong sản xuất và binh lính trong chiến tranh Chính vì vậy, khi có chiến tranh nơi đây thường sớm trở thành chiến địa
ác liệt giữa ta và địch nhằm chiếm lấy bằng được nguồn lực lớn của cải và con người phục vụ cho chiến tranh Đồng ruộng ở xã Thanh Trạch mỗi năm canh tác hai vụ là Đông Xuân và Hè Thu, tuy Thanh Trạch chưa có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh nhưng lại có các khe suối cung cấp nguồn nước phục vụ cho các vụ mùa, cây cối Mặc dù Thanh Trạch có các hồ chứa nước như Mù U, Con Ruộng nhưng lại chưa có hệ thống kênh mương dẫn nước từ các hồ này về tưới cho đồng ruộng nên tiềm năng thủy lợi này vãn chưa phát huy được tác dụng
+ Núi Lệ Đệ (núi Bung) là một dãy núi chạy dọc theo chiều dài của xã, làm thành một xương sống vững chãi, án ngự làm ranh giới ở phía Tây Lệ Đệ được
nhà sử học Lê Qúy Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục Núi bắt nguồn phía
Tây từ dãy Trường Sơn xuống phía Đông của Thanh Trạch khi về đến địa phận
xã này thì chạy thẳng ra biển, nối tiếp với Đá Nhảy Núi Lệ Đệ nằm vắt ngang giữa 2 xã Thanh Trạch và Phú Trạch từ Đông sang Tây và chấm dứt bởi hòn Động Gioi Núi như một bức tranh khổng lồ có những địa danh đến kì lạ: Cha Màn, Con Ruộng, Mạ Ca, O Mò, Chú Se
+ Sông Gianh
Có một dòng chảy do đất trời sinh tạo từ mấy trăm triệu năm về trước, thuở
sơ khai chưa có bóng người vẫn còn dài rộng, sung mãn đến hôm nay Bắt đầu
từ một nét đứt gãy địa chất ở vùng đất phía Bắc tỉnh Quảng Bình bây giờ, một địa hào đã được tạo nên để trên bản đồ Tổ quốc, nơi eo thắt nhất của miền Trung nắng gió bão lũ giữ dằn có đường nét quanh co của sông Gianh Nằm thắt thẻo van vát ở phía Nam đèo Ngang tựa như sông Cái giữa châu thổ Hồng Hà mênh mang trù phú vậy Sông Gianh nối hai phương mặt trời lặn, mọc có nguồn chính
Trang 15khởi thủy từ núi Cô Pi cao 2017 mét trong vạn lý Trường Sơn trùng trùng điệp điệp ở miền Tây Quảng Bình, khi thao thác, khi thong dong chảy qua các huyện thị Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Ba Đồn, Bố Trạch để cuối cùng hòa nhập với biển Việt mênh mang ở phía Đông qua cửa Gianh thuộc xã Thanh Trạch (bờ Nam) Con sông dài chừng 160 cây số, uốn khúc quanh co nằm gần trọn trong vùng đất phía Bắc của tỉnh Quảng Bình
Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1471, vua Lê Thánh Tông dẫn quân đi
đánh Chiêm Thành, khi ghé qua cửa biển này đã làm bài thơ “Linh Giang hải tấn” Thơ còn lưu lại đến mai sau Phiên âm từ chữ Hán là:
“Sơn bảo bồi hoàn hải diểu di
Bố Chính tùng cổ hiệu hoang thùy
Tịnh hà thôn lạc mao vi ốc
Triệt phố quan tân trúc tác kỳ
Nữ thượng phong yêu khoa yển vãn
Dân điều quých thiệt ngũ thù ly
Ký Nam thánh hóa hoằng nhu viễn
Khẳng hạn phong cương ngoại đảo vi.”
Bức tranh về một vùng cửa sông hiện lên thật rõ nét, có núi có sông, có biển có người, có cây cỏ có chim muông, có cờ bay có gái đẹp, có cảnh có tình Đặc biệt có cả tâm hồn, chí khí, tầm nhìn xa trông rộng của một minh chủ thời hưng thịnh Cụ Nguyễn Đình Diệm đã dịch rất hay bài thơ này: Cửa biển sông Gianh:
Núi bọc xung quanh biển mịt mờ
Bố Chinh ngày trước vẫn hoang sơ
Ven sông làng xóm nhà tranh cỏ
Khuất bến tre pheo dựng cột cờ
Gái thắt lưng ong khoe yểu điệu
Dân hòa giọng quých nói líu lo
Trời Nam đã rưới ơn mưa móc
Chẳng phải xa xôi bỏ cõi bờ
Trang 16Hóa ra con gái vùng này từ thời xa lắc xa lơ đã duyên dáng đến thế rồi ư! Gái thắt lưng ong khoe yểu điệu Những yểu điệu thục nữ cuối Linh Giang đã hồn nhiên làm xiêu lòng bao khanh tướng văn nhân Cũng lạ cho ông vua Lê Thánh Tông, việc nước việc quân bộn bề ngổn ngang như thế mà khi đi qua cửa biển Linh Giang mịt mờ khói sóng vẫn để mắt tới tấm lưng ong thon thắt nõn nà của các cô gái miền phên dậu này Minh chủ cũng là thi nhân, người cầm gươm chỉ huy ba quân đánh giặc cũng là người múa bút ngợi ca vẻ đẹp non sông, con người Đại Việt Thật là hồng phúc cho trăm họ xa gần Có một câu thơ mang tầm nhìn xa rộng trong kế sách giữ nước của vua Lê Thánh Tông Đó là Khẳng hạn phong cương ngoại đạo vi, không vì ngoài biên cương hiểm trở mà bỏ người dân nơi hải đảo này Muốn giữ nhà phải rào chắc phên dậu, muốn giữ nước phải chăm lo hải đảo biên thùy Biển đảo là không gian sinh tồn của dân Việt, xưa đã vậy, nay càng phải vậy Không thể nào khác được!
Tài nguyên, khoáng sản
+ Tài nguyên thiên nhiên
Là vùng đất có sự đa dạng và phức tạp về địa hình và địa chất, cho nên tài nguyên thiên nhiên ở đây cũng khá phong phú
Rừng ở Thanh Trạch đa phần là rừng tự nhiên, trước đây có nhiều loại cây
gỗ quý như Lim, táu, dạ hương, huê rất cần thiết cho các công trình xây dựng nhà cửa, đền miếu, chùa chiền, cầu kè , trong các công trình dân sinh, quân sự Động vật thì có Lợn rừng, Khỉ, Sóc, Dê núi và nhiều loài chim muông Lâm sản có Mây, Tre, Nứa Dâu, Sim; cây dược liệu thì có cây Tràm
+ Khoáng sản
Ở vùng núi Thanh Trạch đã tìm ra được loại Đá cát kết dùng trong xây dựng,
tại tọa độ 17°39´6´´ - 106°36´28´´ Đá có đặc điểm là cát kết ít khoáng, cát kết
thạch anh kệ tầng Bản Giàng Tính chất cơ lý: độ hút nước 1.59%, dung trọng tự nhiên 2.54g/cm³, dung trọng khô 2.5g/cm³, cường độ nén khô 1582 kg/cm², cường
độ kháng kéo 100kg/cm²[13; 456]
Trong sách Địa chí xã Thanh Thạch của Nguyễn Tú có ghi: “Núi này (núi
Mái Am) có sản sinh ra một loại đá xây, có thể nói là một nguồn lợi lớn cho nhân
Trang 17dân trong xã, không những cho thêm nghề khai thác đá, mà còn là vật liệu đắc lực phục vụ việc xây dựng nhà cửa Cư dân Thanh Trạch đa số xây nhà bằng loại gạch này mà rất ít dùng gạch đốt nung Nhờ đó mà nhiều người thợ đá chuyên nghiệp nơi đây nhanh chóng trở nên giàu có, nhờ chuyên cần chăm chỉ làm ăn.”
Ở vùng biển Thanh Trạch còn có nguồn khoáng sản làm vật liệu xây dựng là
cát trắng Vùng cát có chiều dài từ 1km đến 2 km, rộng 0.5 - 1km, chiều sâu chưa xác định được Cát ở đây giống cát ở Ba Đồn, có thể dùng để sản xuất thủy tinh
Cát được tìm thấy ở tọa độ 17°40´44´´ - 106°29´40´'[13; 435]
Thiên nhiên và con người quần tụ lại ở Thanh Trạch tạo thành bức tranh sơn thủy tùng đình: biển rộng, sông sâu, núi cao, dân cư đông đúc, dân tình thuần hậu Phía Nam có sông Thanh Ba bắt nguồn từ Khe Su của dãy núi Bung chạy về hợp thành với dòng Đại Linh Giang Thiên nhiên đã ban tặng cho con người ở vùng đất hiền hòa này đủ 5 thế mạnh Ấy là:
1 Rừng núi và gò đồi
2 Nông nghiệp với nhiều khả năng thủy lợi
3 Công thương nghiệp và dịch vụ giao thông thủy bộ
4 Ngư nghiệp với nhiều nghề truyền thống
5 Du lịch và nghĩ dưỡng
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của xã Thanh Trạch
Dưới thời Hùng Vương dựng nước, Thanh Trạch nằm trong mười lăm bộ của nhà nước Văng Lang Thời kì Bắc Thuộc, nhà nước Âu Lạc chia thành ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Thanh Trạch lúc này thuộc huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam (thuộc bộ Việt Thường xưa) Vào năm 192, dưới thời nhà Hán, Khu Liên cùng nhân dân Chămpa đứng dậy khởi nghĩa đánh đuổi bọn phong kiến Phương Bắc ra khỏi đất Nhật Nam, dựng nên nước Lâm Ấp (từ Đèo Ngang trở vào đến Bình Thuận) có năm châu: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, Châu
Ô và Châu Lý, Thanh Trạch thuộc châu Bố Chính của nước Lâm Ấp
Trong gần bảy thế kỷ, Quảng Bình là địa cầu của Vương quốc Chămpa (từ thế kỷ IV đến thế kỷ XI) Suốt thời kì ấy mảnh đất này luôn luôn là vùng tranh chấp giữa hai vương quốc là Chămpa và Đại Việt Đến đời nhà Lý, nhằm loại
Trang 18trừ mối uy hiếp từ phía Nam để phá tan âm mưu của phong kiến phương Bắc cấu kết với phong kiến Chămpa đánh Đại Việt, mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1069, triều Lý cử một đạo quân do Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh vào kinh thành Chămpa lúc bấy giờ là Chế Cũ Để chuộc tội Chế Cũ đã cắt ba châu: Địa Lý, Bố Chính, Mai Linh (từ Quảng Bình đến Gio Linh ngày nay) nhường cho nhà Lý Cũng từ đó, dải đất từ Đèo Ngang đến Cửa Việt trở về với Đại Việt
Đến năm 1075 vua sai Lý Thường Kiệt đi tuần biên thùy, vẽ địa đồ hình thế núi sông cả ba châu ấy dâng lên và đổi châu Địa Lý làm châu Lâm Bình Vùng đất Quảng Bình từ đó chính thức đưa vào bản đồ nước ta Sau khi vạch rõ cương giới lãnh thổ, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu mộ dân đến ở Hưởng ứng chiếu mộ dân, nhiều người từ vùng đất phía Bắc bắt đầu di cư vào Nam Hoành Sơn sinh sống Ngoài dân phiêu tán ở các vùng Thanh – Nghệ, còn có binh lính đóng ở đồng trại và các tội nhân đã tự nguyện đến khai khẩn đất hoang Trải qua hàng trăm năm, miền đất xa lạ phía Nam Hoành Sơn đã thực sự trở thành quê hương thứ hai của họ Có thể nói đó là những cư dân đầu tiên ở miền ngoài vào khai sơn lập ấp, tạo dựng xóm làng làm ăn sinh sống Đó cũng là lực lượng chủ yếu bảo vệ biên thùy phía Nam của nhà nước Đại Việt thời Lý
Trải qua các triều đại từ Lý, Trần, Hồ đến Lê, quy mô các cuộc di dân đến vùng đất Nam Hoành Sơn ngày một lớn
Năm 1491, nhà Lê định lại bản đồ đất nước, miền đất từ Nam Hoành Sơn đến Hải Vân được gọi là xứ Thuận Hóa, vùng đất Thanh Trạch nằm trong xứ Thuận Hóa Dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, châu Bố Chính (Quảng Trạch
và Bố Trạch ngày nay) được chia thành hai châu Bố Chính nội và Bố Chính ngoại Bồ Khê nằm trong Bố Chính nội đặt dưới sự kiểm soát của nhà Nguyễn Đến năm 1831, vua Minh Mệnh (Nguyễn Thánh Tổ Phúc Đảm 1820 - 1840) đổi châu Bố Chính nội thành huyện Bố Trạch, Thanh Trạch lúc này gồm 5 làng Bồ Khê xã, Thanh Hà, Bồ khê phường, xóm Thanh Bồ và xóm Trường Hải nằm trong 2 tổng thuộc huyện Bố Trạch
Qua nghiên cứu một số gia phả các họ tộc trong xã thì 3 người đầu tiên có công khai khẩn ra làng Bồ Khê - xã Thanh Trạch là thủy tổ của 3 dòng họ: Lưu,
Trang 19Mai và Nguyễn Gia phả họ Lưu chép rằng ông thủy tổ dòng họ này đến vùng đất Thanh Trạch đầu tiên thường gọi là cố Lưu Cố Lưu đến khai khẩn vùng đất Thanh Trạch năm Hồng Đức thứ 3 tính năm dương lịch là năm 1472, dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) tính đến nay đã 537 năm
Tiếp sau Cố Lưu là Cố Nguyễn cũng từ Cao Lao xuống bồ Khê Tuy là người thứ hai đến lập nghiệp ở Bồ Khê, song công lao khai phá đất ruộng của
Cố Nguyễn cũng không phải là nhỏ Cố đắp đê ngăn mặn, khai khẩn ra Đồng Sác, từ Múi Thụy đến Mái Am… Lúc ấy ngài đóng trại ở Đồng Na, lập ra xóm Phúc Lộc Theo gia phả họ Mai nguyên là vọng tộc Mai Thúc Loan ở quận Cửu Chân, Sau khi Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bị nhà Đường đàn áp, một số hậu duệ
đi dần về phía Nam sinh sống Đến cuối thế kỷ XV thì cố Mai đã di cư đến vùng đất Thanh Trạch khai khẩn đất hoang kiến thiết làng mạc ruộng đồng và cùng các bậc tiền bối các họ, tạo lập ra xã Bồ Khê là tiền thân của xã Thanh Trạch hiện nay
Cùng thời còn có Cố Lê húy là Văn Dương Đến cư trú nơi đây vào khoảng
1564 đã khai phá cho con cháu cánh đồng Hà Lồi, đồng Bàu Đa Từ Bàu Lồi ra sông Gianh có ngăn đập chừa cống thoát lũ và ngăn mặn Cố Lê cùng với Cô Nguyễn, Cố Lưu, Cố Mai xây dựng ra Bồ Khê xã và ngôi đình làng này Người thứ năm đồng với các cụ cố trên là một vị tướng quân họ Võ Ngài khai phá ra đồng Chà Màn Ở đó còn lại một địa danh gọi là Rú Voi lăn Do sự tích Võ tướng quân dùng voi khai phá đồng ruộng núi rừng Ngài đã lợi dụng một con khe (Khe Nước hiện nay) làm con kênh thoát nước tự nhiên, cho nên con ruộng Chà Màn, hai bên núi dốc, khi mưa nước chảy về giữ dội mà không bị ngập Thời còn sống, ngài ở ngay trên vùng đồi núi mà ngài khai khẩn ra, ngài nuôi Dê làm thuốc, nên được gọi là Cốt Xạ Dê và ở đây về sau cũng là nơi lăng mộ ngài
an giấc Bồ Khê xã hiện nay có nhiều họ tộc cùng chung sức xây dựng làng xã Nhưng theo gia phả để lại thì năm họ trên đây là những họ đến trước gọi là tiền hiền khai khẩn Các vị tiền hiền khai canh Bồ Khê xã do khẩn phá ruộng hoang
từ các khe suối ở vùng dãy núi Lệ Đệ tiến dần ra đồng bằng màu mỡ mà đặt tên cho làng xã mình là Bồ Khê, Khê có nghĩa là khe (Thùy Liễu), Bồ là cây xương
Trang 20bồ (hoặc cây lác làm chiếu) Bồ Khê xã nay là hai thôn Tiền Phong và Quyết Thắng
Qua tìm hiểu các tài liệu lịch sử như Phủ biên tạp lục (1776) của nhà sử
học Lê Quý Đôn, cùng nhiều gia phả của các dòng họ để lại và một số sách báo;
đặc biệt trong Địa chí xã Thanh Trạch cụ Nguyễn Tú có viết:
“ Đến đây chúng ta có thể nhận định về niên đại các thôn làng cổ xưa của xã Thanh Trạch ngày nay theo thứ tự như sau:
1) Bồ Khê xã có thể ra đời vào đời đầu Hậu Lê, điều này được gia phả họ
Lưu ở Thanh Trạch chép ông tổ họ Lưu đến khai khẩn Bồ Khê năm Hồng Đức thứ 3 (1473) hoặc trước thời nhà Mạc khá lâu vì trong Ô Châu cận lục quyển 4-
Bản đồ chép: làng Bồ Khê là 1 trong 69 làng thuộc châu Bố Chính Trong Phủ biên Tạp lục, Xã Bồ Khê nằm trong tổng Cao Lao thuộc châu Nam Bố Chính Thông tin này được lặp lại trong Đồng Khánh dư địa chí (khắc in năm 1888)
2) Làng Thanh Hà có thể thành lập trong giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh (1672) trở về sau Trong Ô Châu cận lục thì Dịch giả Trần Đại Vình lại
chú thích làng Thanh Bào sau đổi tên thành làng Thanh Hà Nếu Thanh Bào đúng là Thanh Hà thì Thanh Hà phải có lịch sử trên dưới 500 năm thành lập Tuy nhiên có thể khẳng định chắc chắn là Thanh Hà ra đời trước thế kỷ XVIII,
vì trong Phủ biên tạp lục Lê Qúy Đôn chép: Thôn Thanh Hà là cùng với 1 xã,
15 thôn 6 phường, 5 trang nằm trong tổng Lương Xá của châu Nam Bố Chính Các Làng Bồ Khê phường, Thanh Bào Trường Hải đều chưa có tên Đồng Khánh Dư địa chí chép Thôn Thanh Hà nằm trong tổng Hà Bạc cùng với 5 thôn
và 1 phường
3) Bồ Khê phường là một làng nhỏ nằm bên bờ nam sông Gianh Làng này hình thành là do dân chài lưới đến định cư trên rẻo đất ven sông của xã Bồ Khê lập ra; Bồ Khê phường vốn là một làng chài, cư dân của làng này đều theo đạo Thiên Chúa
4) Làng giáo Thanh Bồ, chắc chắn sau khi người Pháp đặt nền đô hộ ở Quảng Bình (1885) hoặc sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (1888) ” Thanh Bồ tồn tại đến sau khi Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết (21/7/1954) thì bị thực dân
Trang 21Pháp và tay sai cưỡng ép phải di cư toàn bộ dân cư vào Nam Do đó hiện nay ở Thanh Trạch chỉ còn mồ mã tổ tiên của xóm Thanh Bồ mà không còn người Thanh Bồ sinh sống nữa
5) Xóm Trường Hải ngồn gốc từ xóm Hải Vật, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch di cư vào khoảng từ sau phong trào Cần Vương (1888-1890), lúc đầu chỉ có năm, sáu gia đình ở Bãi Ngang phía Nam cửa Gianh làm nghề biển
Theo Địa chí xã Thanh Trạch: “Người ta không hiểu những vị đầu tiên vào đây
khi đó có dính líu gì với quân Cần Vương ngoài ấy không? Nhưng khi vào đây
họ liền nhập giáo để được cha xứ che chở ”
1.3 Tổ chức làng xã và dân cư
+ Tổ chức hành chính
Cũng như các làng, xã khác trong vùng, Thanh Trạch dưới thời phong kiến
có một tổ chức hành chính do nhà nước quy định Do nguồn tư liệu cò lại rất ít
ỏi nên ở đây chúng tôi chỉ phác thảo nên những nét chung nhất về tổ chức hành chính của làng
Đứng đầu bộ máy hành chính của làng xã là Xã Trưởng (từ thời Minh Mệnh về sau đổi gọi là Lý trưởng) Vậy chức danh Xã trưởng có từ khi nào? Quyền lợi và nghĩa vụ của Xã trưởng ra sao?
Theo Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 có chép thì năm 1466, Lê Thánh Tông
đã tiến hành cải cách lại bộ máy hành chính, đổi chức xã quan thành xã trưởng
Năm 1483, Lê Thánh Tông ban sắc chỉ về việc bầu xã trưởng: “phải họp lại xét
chọn, hoặc là những thuộc lại về già hoặc là giám sinh đồ, lương gia đệ tử từ 30 tuổi trở lên, người nào biết chữ, có hạnh kiểm thì được bầu làm xã trưởng” Từ
giữa thế kỷ XVIII trở về sau, nhà nước nới lỏng quyền tự trị cho xã, mỗi làng tự chọn xã trưởng cho mình, thường do Hội đồng kỳ mục của làng gồm hương lão, chức sắc (đã nghỉ hưu), các vị khoa bảng chức dịch, tộc trưởng các họ lớn,… họp bàn bầu cử người làm xã trưởng
Vào thời Nguyễn, tổ chức hành chính ở xã có sự thay đổi Dưới thời Minh Mạng ông đã quyết định cải tổ lại bộ máy quản lý xã thôn, bỏ chức xã trưởng và
thay vào đó là lý trưởng Lý trưởng phải chọn trong số những người “vật lực tài
Trang 22cán, phải do cai tổng cùng dân làng bầu cử, phủ huyện xem xét kỹ lại, bẩm lên trên để cấp văn bằng và mộc triện cho” Quyền lợi và nghĩa vụ của xã trưởng là:
chịu trách nhiệm trước nhà nước coi sóc các mặt hoạt động về kinh tế, văn hóa, chính trị, trị an,… của làng xã Đồng thời xã trưởng chịu trách nhiệm với nhà nước về vấn đề tô thuế, sưu dịch và các nghĩa vụ khác của công dân Như vậy trách nhiệm và quyền hạn của xã trưởng là rất lớn Về quyền lợi, xã trưởng được miễn thuế và sưu dịch, được làng ưu tiên cấp ruộng tốt Giúp việc cho Xã trưởng
có Phó xã trưởng (Phó lý) và các ông hương (ngũ hương) Các chức việc trên gọi chung là lý dịch Năm ông Hương đó được phân công một công việc cụ thể như sau:
Hương kiểm (trương tuần): là người chuyên phụ trách tuần phòng, canh
gác, bảo vệ an ninh của làng Thực hành công việc này là đội ngũ tuần đinh, lấy trong hạng thanh niên trai tráng có sức khỏe để tổ chức canh gác tuần phòng chống trộm cướp, bảo vệ mùa màng, kiểm tra mốc giới xâm lấn, bảo vệ các công trình kênh mương, đê đập,…
Hương bản (thủ khoán): người này làm chức năng giữ tiền, tài sản công
cộng quản lý ruộng sưu đấu giá để nộp thuế cho nhà nước Các nguồn thu công cộng trừ tre, gỗ khai thác ở rừng, lũy cây,… đều giao cho hương bản giữ để chi dùng cho các việc công Mọi khoản thu chi đều phải ghi sổ sách rõ ràng và thông qua hội đồng làng
Hương bộ (thủ bộ): là người chuyên giữ giấy tờ, sổ sách như sổ đinh, sổ
điền và là nhân viên quan trọng trong việc ban cấp ruộng đất công của làng, theo dõi sinh tử, giá thú của dân trong làng
Hương dịch: là người đảm trách việc tu sửa, bảo vệ các công trình công
cộng của làng như đường xá, cầu cống
Hương mục: là người giữ gìn, bảo quản và nắm đất đai trong làng
Ngoài ra bộ máy quản lý làng xã còn một số chức vụ khác như: tri hương, cai xã,…
Cách thức làm việc của bộ máy hành chính này rất chặt chẽ, quy cũ, các văn bản giấy tờ có liên quan đến việc thuế má, phu dịch, ruộng đất cần trình bày
Trang 23hay xin ý kiến quan phủ, huyện đều có lý trưởng và các nhân viên hành chính ký tên, đóng dấu và y sao 1 bản để lưu giữ
Đây là bộ máy thường trực cho công việc hành chính của cả xã, nhưng bộ phận này làm việc không có lương bỗng mà chỉ được cấp ruộng đất Ngoài ra các dịch mục trong làng nếu làm tốt công việc sẽ được thưởng và ngược lại nếu
không làm tốt chức dịch củ mình sẽ bị xử phạt
+ Tổ chức tự trị, tự quản của làng
Sự xuất hiện của làng xã mang tính chất liên hợp tự nguyện của nhiều người cho nên ở mỗi làng đều mang trong mình những phong tục tập quán riêng, một lối sống đặc trưng của làng mà nhà nước không phải muốn áp đặt hay tổ chức thế nào cũng được Ở những làng xã khác nhau tùy theo không gian và thời gian mà bộ máy tự trị của các làng có thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh
Suốt thời kỳ phong kiến bên cạnh thể chế hành chính mà nhà nước trung ương áp đặt từ trên xuống thì bản thân nội tại của làng xã Thanh Trạch cũng hình thành một bộ máy tự trị riêng, tồn tại song song và có mối quan hệ mật thiết với bộ máy hành chính
Hội đồng kỳ mục: gồm những vị có phẩm hàm các quan lại về hưu, các nhà
khoa bảng, các tài gia, hào mục và các chức sắc (từ cửu phẩm, các tú tài, cử nhân, suất đội trở lên) số lượng thành viên của hội đồng kỳ mục của làng ít nhất
là 10 người Đứng đầu hội đồng kỳ mục là một vị tiên chỉ Đó là những người lớn tuổi, có uy tín trong làng, được làng nể trọng, có đạo đức phẩm hàm Là người đứng đầu làng, có quyền quyết định các công việc của làng, các văn bản liên quan đến việc làng thì tiên chỉ đứng tên đầu tiên rồi mới đến các vị khác Dưới tiên chỉ là thứ chỉ, đứng thứ 2 trong hội đồng kỳ mục, là người chia sẽ việc làng cùng tiên chỉ Tuy nhiên làng chỉ thừa nhận chức danh này với 2 điều kiện:
- Có văn bằng sắc phong của nhà nước
- Có lễ vọng thần và đãi làng
Hội đồng kỳ mục là cơ quan ra nghị quyết và điều hành các công việc tự quản của làng Họ dựa vào các điều lệ của làng, chiếu theo đó mà tiến hành khen
Trang 24thưởng hay phê phán trừng phạt xã dân Tìm hiểu điều này qua lời kể của các cụ trong làng thì hội đồng kỳ mục chỉ đạo các việc sau:
- Được tham gia vào bàn bạc công việc của làng, được quyền bầu cử các dịch mục, soạn thảo hương ước, chọn các lý trưởng, phó lý do dân bầu
- Bảo vệ tài sản cho xã dân như đề phòng hỏa hoạn, bảo vệ đê điều, chống trộm cướp,…
- Giữ gìn an ninh trong làng xóm như kiểm soát kẻ lạ mặt, tổ chức canh gác xóm, ngõ
- Bảo vệ đồng ruộng, chống trộm cắp hoa màu, lúa và điều hành nguồn nước, nguồn cá, nguồn cây
- Giữ gìn phong tục tập quán và lối sống trong làng như tổ chức lễ tế ở đình làng, tổ chức lễ hội, bảo bệ những quy định xin cưới, ma chay, nếp sống gia đình hòa hiếu, tôn trọng người già
- Bảo vệ, sửa chữa xây dựng các công trình công cộng như đình đền, bến nước, cầu cống
Nhìn chung, hội đồng kỳ mục chỉ đạo, điều hành các công việc về kinh tế - văn hóa của thôn làng và có quyền lực rất lớn; còn bộ phận chức dịch là cơ quan chấp hành
Ngoài hội đồng kỳ mục và chức dịch thì ở làng còn có các ông trùm lòi cai quản lâm nghiệp, mồ mả; có các ông mõ đi rao việc của làng,…
+ Tổ chức dân cư
Dân số năm 2015 là 14.174 người, mật độ dân số 672,7 người/ km² Thanh Trạch ngày nay có tám thôn, nhưng xưa kia chỉ có năm làng Gồm Bồ Khê xã Thanh Hà, Bồ Khê phường, xóm Thanh Bào và xóm Trường Hải
Từ thời nhà Hán cai trị nước ta, vùng đất Thanh Trạch và cả huyện Bố Trạch nằm trong quận Nhật Nam Năm 192, nhân dân huyện Tượng Lâm giành được độc lập lập ra nước Lâm Ấp Đến hết kỷ III, Lâm Ấp dần lớn mạnh mở rộng lãnh thổ ra Bắc Đến cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ IV Lâm Ấp mở rộng lãnh thổ ra tới tận bờ nam sông Gianh Năm 337 vua Lâm Ấp là Phạm Văn đánh chiếm được toàn bộ vùng đất Quảng Bình Từ đó đến đến năm 1069 về cơ bản
Trang 25Thanh Trạch và Bố Trạch nằm trong lãnh thổ của Lâm Ấp (thế kỷ VIII đổi tên là Hoàn Vương) Đến thế kỷ IX, Hoàn Vương đổi tên là Chiêm Thành, vùng đất Thanh Trạch năm trong châu Bố Chinh của Chiêm Thành Năm 1069, nhà Lý trừng phạt Chiêm Thành vì tội hay đưa quân sang cướp bóc ở Nghệ An bằng việc vua tôi Lý Thành Tông có Lý Thường Kiệt làm đại tướng đưa quân tấn công sang đất Chiêm Thành Quân đội nhà Lý đánh chiếm kinh đô và bắt sống vua Chiêm Thành là Chế Củ Chế Củ phải cắt đất 3 châu gồm: Bố Chinh (có Thanh Trạch), Đại Lý và Ma Linh cho Đại Việt Từ đây vùng đất Bố Chinh (năm 1075, nhà Lý đổi tên thành Bố Chính) về cơ bản nằm dưới sự quản lý của Đại Việt Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh vùng đất châu Bố Chính bị tách thành 2 châu Châu Bắc Bố Chính (ngoại châu Bố Chính từ bờ bắc sông Gianh trở ra) nằm trong trấn Nghệ An thuộc quyền quản lý của họ Trịnh Châu Nam
Bố hình (nội châu Bố Chính từ bờ nam sông Gianh trở vào) Thuộc quyền quản
lý của họ Nguyễn Vùng đất Thanh Trạch nằm trong châu Nam Bố Chính Năm
1786, Nguyễn Huệ sau khi giải phóng Phú Xuân đã đưa quân vượt sông Gianh đánh ra Đàng Ngoài lật đổ chúa Trịnh Vùng đất từ Nghệ An đến sông Gianh được vua Lê phong thưởng cho Nguyễn Huệ Do đó 2 châu Bố Chính được sáp nhập lại lấy tên là châu Thuận Chính Vùng đất Thanh Trạch lúc này nằm trong châu Thuận Chính Năm 1802, Gia Long lật đổ nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, Châu Thuận Chính lại được nhà Nguyễn tách thành 2 châu Bố Chính Nội
và Bố Chính Ngoại Vùng đất Thanh Trạch nằm trong châu Bố Chính Nội Đến năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thành lập phủ Quảng Ninh đổi châu Bố Chính Nội làm huyện Bố Trạch Từ đây vùng đất Thanh Trạch nằm trong huyện Bố Trạch của tỉnh Quảng Bình
Qua tìm hiểu và nghiên cứu hương phả, tộc phả ở Thanh Trạch nhà nghiên
cứu Nguyễn Tú khẳng định: họ Lưu là dòng họ đã đến khai khẩn vùng đất Bố
Chính Ban đầu ở Cao Lao về sau đã xuống khai khẩn ra xã Bồ Khê (Thanh Trạch) vào khoảng năm 1473 tức là vào năm Lê Hồng Đức thứ 3, đến nay cũng
đã hơn 500 năm [12; 28]
Trang 26Bồ Khê xã từ xưa khi còn sơ khai họ Lưu, họ Mai, họ Lê, họ Nguyễn và họ
Võ là những họ tới khai khẩn vùng đất này đầu tiên Qua nghiên cứu các gia phả dòng họ, vị tiền hiền khai khẩn được dân làng mời về thượng hưởng trog các kì
lễ tế của làng xã là ngài xã trưởng Lưu Đại Lang
Tương truyền, ngài vốn dòng họ Lưu ở Trung Quốc cư trú lâu đời tại nước
Đại Việt [12; 30], đến thời nhà Lê ông di chuyển xuống phương Nam, trước
định cư tại La Hà (xã Quảng Văn) sau đó chuyển qua vùng đất Cao Lao sinh sống và lập gia đình Nhưng sau khi lập gia đình ông lại chuyển về Bồ Khê khai khẩn đất hoang Cùng với ngài còn có hai người con trai đã cùng khai khẩn ra vùng đồng bằng rộng lớn, trải dài từ đồng Lào, đồng Vàn về đến đồng Con Ruộng.Trong lúc khẩn hoang, ngài đóng trại tại xóm Vàn, lập chùa để cầu phúc, treo một cái mõ rất to để làm hiệu lệnh cho mọi người biết giờ giấc làm việc, đồng thời làm tiếng động để xua đuổi ma quái Sau sày con cháu của ngài đã chọn đồng Con Ruộng làm nơi hương hỏa thờ phụng ngài
Sau cố Lưu là cố Nguyễn, cố Lê, cố Mai xây dựng ra Bồ Khê xã và ngôi đình làng này Người thứ năm đồng với các cụ cố trên là một vị tướng quân họ
Võ Bồ Khê xã nay là hai thôn Tền Phong và Quyết Thắng
Làng Thanh Hà theo các cụ thời xưa cho rằng: có thể từ Bồ Khê xã tách
riêng thành đơn vị riêng Nhưng cũng có một số tài liệu cho rằng: một trong những thành viên xây dựng làng Thanh Hà lúc sơ khai là một vị tướng công hầu
họ Trần đến ở đây nghỉ hưu mà lập nên Người thứ hai là vị tướng quân họ Hồ gốc rễ là ở Song Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh Các vị tiên hiền khai khẩn làng Thanh Hà sống bằng nghề chài lưới trên sông Linh Giang từ đó đặt tên cho thôn xóm mình là Thanh Hà Về sau còn có các vị tổ của nghề đóng thuyền, một số
võ tướng về hưu ở bờ Bắc sông Gianh đến sinh cơ lập nghiệp
Làng Thanh Hà do người tứ xứ về tập hợp lại, sống chủ yếu bằng nghề
đánh bắt ở ven sông Các vị khai canh họ Nguyễn của Thanh Hà gốc người làng Xuân Hồi làm nghề chài lưới ở huyện Lệ Thủy tới; vị khai canh họ Phạm từ Roòn vào; vị khai canh họ Hoàng ở vùng Hói Kênh Kịa xuống Lúc mới đến lập nghiệp, do chưa kiếm được đất ở, người Xuân Hồi dùng thuyền vừa để bắt
Trang 27cá vừa làm nơi sinh sống hằng ngày Người Xuân Hồi chiếm cứ ở hai bên bờ hạ lưu sông Gianh, chia khúc sông thành từng lãnh địa nhất định cho mỗi dòng họ quản lý để đánh bắt cá, tôm Cuộc sống ở trên sông nước tuy khó khăn nhưng không vì thế mà các dòng họ ở Xuân Lập thù ghét nhau, trái lại họ rất đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng như khi hoạn nạn Sau khi có đất, được nhập cư người Xuân Lập lên bờ làm nhà và chịu sự quản lý của người Thanh Hà Trong dịp dân chài được xác cá Ông Voi, Vua ban cho tiền tuất để mai táng và phong thần cá làm “Nam Hải Thượng Đẳng Thần” càng cũng cố thêm địa vị cho người Thanh Hà, từ đó người làng xây đền, miếu, lăng tẩm thờ
cá Ông Voi và các thần sông, thần nước Từ lúc bỏ thuyền lên bờ, cuộc sống ngày càng ổn định, dân số tăng dần, để người Thanh Hà định cư lâu dài, nhà vua
đã có chỉ dụ chia phần đất Hoàng Sa Bạch Thổ (gần cửa sông Gianh) của làng
Bồ Khê xã trong đó có đất Bàu Sen để lập làng chấm dứt cuộc đời ăn thì, ở độ, sống trôi nổi trên sông nước
Bồ Khê phường vốn cũng là một phường chài về sau lên định cư ở rẻo đất
ven sông của xã Bồ Khê Theo hai sắc phong của vua Khải Định năm thứ 9 cho
Bồ Khê phường thì làng có sáu vị tiền hiền khai khẩn và bốn vị hậu tiền khai canh Theo thư tịch cổ thì năm 1780, các vị tiền hiền khai khẩn Bồ Khê phường
có gốc từ xã Nghi Thiết, Nghi Lộc, Nghệ An, làm nghề đóng thuyền vào cư ngụ ven bờ Nam cửa sông Đại Linh Giang Theo gia phả họ Ngô và những bài vè lưu truyền trong dân gian, thì lúc đầu chỉ có sáu gia đình xin cư trú trên đất của làng Bồ Khê xã để làm ăn Qua năm tháng, dân số ngày càng tăng và phát triển, việc làm ăn ngày một khấm khá, dân làng xây dựng các đền thờ để thờ các vị thần linh, thành hoàng và các vị tiền hiền khai khẩn Đến triều vua Duy Tân (1907-1916) đình làng được mở mang xây dựng kiên cố, tường bằng gạch, mái lợp ngói, nằm sát ở bờ sông, mặt quay về hướng Nam Đến đời vua Khải Định, đình thờ: “ hai vị Cao Sơn, Cao Các, hai vị Thổ và Hỏa Tinh; thờ Công Chúa Nương Nương, đồng thời phong cho Thần Hoàng làng lên một bậc ” Cho đến nay con cháu hậu duệ của làng đã là đời thứ sáu, thứ bảy, số hộ của làng lên đến hơn ba trăm Qua tra cứu thư tịch cổ chúng tôi thấy cuối thế kỷ XIX trên vùng
Trang 28đất Thanh Trạch chỉ mới có 2 làng là Bồ Khê xã và Thanh Hà thôn Trong Lịch
sử địa lý Quảng Bình của nhà nghiên cứu Lương Duy Tâm thống kê làng xã dựa theo cuộc điều tra dân số của chính quyền thực dân Pháp năm 1936 thì tại vùng đất Thanh Trạch lúc bấy giờ có 3 làng gồm Bồ Khê xã và Bồ Khê phường nằm trong tổng Cao Lao, Làng Thanh Hà là một thôn nằm trong tổng Hà Bạc Cả 3 đều nằm trong huyện Bố Trạch Như vậy 2 xóm Thanh Bồ và Trường Hải đều không có tên trong sử sách cho đến tận năm 1936 Do đó có thể 2 thôn này thành lập sau năm 1936
Sau nhiều lần thay đổi tên thôn, tên làng cho phù hợp với sự phát triển của làng đến nay hai làng Thanh Hà mang tên thôn Thanh Khê và và Bồ Khê phường có tên là thôn Thanh Vinh
Làng Thanh Bồ ở ven Rào Chùa (sông Thanh Ba), dân cư ở đây vốn gốc ở
làng Văn Phú (xã Quảng Văn), họ sống bằng nghề chài lưới ven sông Làng Thanh Bồ trước được gọi là xóm Roi, có độ 30 gia đình theo đạo Thiên chúa Họ đạo này sinh hoạt ở nhà thờ xứ Bồ Khê phường Năm 1954, toàn bộ dân làng Thanh Bồ bị người Pháp bắt ép phải bỏ quê hương di cư vào Nam do đó từ sau
1954 đến nay làng Thanh Bộ không còn tồn tại ở Thanh Trạch nữa
Xóm Trường Hải ngồn gốc từ xóm Hải Vật, xã Quảng Đông, huyện Quảng
Trạch di cư vào Theo Nguyễn Tú viết trong Địa chí xã Thanh Trạch thì: cư dân Hải Vật (Quảng Đông) di cư vào Thanh Trạch lập ra làng Thanh Hà khoảng từ sau phong trào Cần Vương (1885-1896), lúc đầu chỉ có năm, sáu gia đình ở Bãi
Ngang phía Nam cửa Gianh làm nghề biển Theo Địa chí Thanh Trạch: “Người
ta không hiểu những vị đầu tiên vào đây khi đó có dính líu gì với quân Cần Vương ngoài ấy không? Nhưng khi vào đây họ liền nhập giáo để được cha xứ che chở ” Cũng như dân làng Thanh Bồ, năm 1954 dưới sự o ép của Pháp một
bộ phân cư dân xóm Trường Hải phải bỏ làng di cư vào Nam Nhưng chỉ có mấy ngày bị bắt cóc đi, còn lại họ trốn tránh giặc qua bên Mỹ Hòa, chống lại việc di
cư Số người này được nhà nước ta giúp đỡ lập ra xóm làng; đến nay gọi là thôn Thanh Hải Đến năm 1960, trong phong trào xây dựng hợp tác xã, có 3 hợp tác
xã được tổ chức gọi là Thanh hải, Quảng Thịnh và Thanh Xuân, xóm Trường
Trang 29Hải khởi đầu xây dựng hợp tác xã đánh cá Trường Hải Năm 1964, khi giặc Mỹ bắt đầu leo thang bắn phá miền Bắc để thích ứng với thời chiến vừa sản xuất, vừa chiến đấu nên ba hợp tác xã nghề cá ở khu vực Thanh Khê gồm Trường Hải, Thanh Xuân và Quảng Thịnh…sáp nhập lại gọi là Hợp tác xã đánh cá Xuân Hải Đến năm 1975, hợp tác xã Xuân Hải chia làm hai đơn vị: Thanh Hải, Thanh Xuân Đến 1988 cả hai đơn vị cơ sở này tách ra thành ba hợp nhỏ là: Thanh Hải, Thanh Xuân và Hải Thanh
Thôn Đá Nhảy là một thôn mới vừa được thành lập năm 1995 Cư dân Đá Nhảy cũng là người dân từ nhiều nơi về định cư kinh doanh phục vụ du lịch khi điểm du lịch Đá Nhảy hình thành Xã Thanh Trạch đã và đang triển khai quy hoạch khu vực bãi tắm Đá Nhảy và khu vực đất của các hộ dân ở phía Đông thôn Đá Nhảy, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh dịch vụ, thương mại, du lịch lâu dài nhằm tạo nên mỹ quan cho Khu du lịch Đá Nhảy
Trang 30
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA KINH TẾ THANH TRẠCH (HUYỆN BỐ TRẠCH - TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM 1945 2.1 Kinh tế nông ngiệp
2.1.1 Trồng trọt
Nông nghiệp là ngành sản xuất ảnh hưởng trực tiếp của tất cả các ngành, các lĩnh vực, cung cấp nguyên liệu cho ngành công ngiệp và dịch vụ Nông nghiệp là nơi cung cấp những mặt hàng có giá trị cho người dân tiêu dùng
Xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình là địa phương mang nhiều đặc điểm tự nhiên của khu vực Bắc Trung Bộ: có diện tích đất tự nhiên lớn; lãnh thổ kéo dài từ phía Nam sông Gianh đến phía trong Đèo Lý Hòa; diện tích đất có thể sản xuất nông nghiệp hiệu quả không lớn; là nơi hứng chịu nhiều thiên tai và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt; là nơi giao thoa giữa lục địa và biển nên mang tính nhạy cảm cao trước những hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người
Tập quán và trình độ canh tác nông nghiệp của cư dân Thanh Trạch xưa mang nhiều đặc điểm của phương thức sản xuất nhỏ Dù vậy thì đến vụ mùa người dân đã biết dựa vào các tiết trong nông lịch để gieo trồng cho từng loại cây, biết chọn những giống cây tốt, biết làm cỏ, bón phân, chăm sóc để cây trồng cho năng suất cao
Đặc điểm đất trồng ở Thanh Trạch là đất khô nên loại bừa được dùng ở đây
là bừa đạp có răng thưa, và bừa có 10 răng [12; 88] Ruộng ở Thanh Trạch chỉ cần bừa một lần, nếu bừa nhiều lần thì sẽ cứng đất, cấy không thông
Nơi nào có ruộng thì sản xuất lúa, nơi nào có ruộng ngập mặn thì dùng để nuôi cá, tôm Đối với ruộng lúa nước, người dân cày cấy rồi mới tháo nước cho vào ruộng, đến khi lúa chín thì thu hoạch mà không chịu làm cỏ, bón phân do vậy năng suất đạt rất thấp Tuy nhiên, việc bón phân và làm phân đối với bà con nông dân ở Thanh Trạch còn rất tùy tiện, chưa thành nguyên tắc bắt buộc và thói quen trong nghề
Trang 31Từ xưa, “cơ sở nông nghiệp Thanh Trạch nằm ở Bồ Khể xã, Bồ Khê xã có hai Giáp Giáp Nhất còn gọi là Phúc Lộc, nay là thông Quyết Thắng Giáp Nhị
mà người xưa thường gọi là xóm Vèng nay là thôn Tiền Phong Thôn này gồm các xóm: xóm Lim, xóm Quán, xóm Dưới, xóm Sơn, xóm Lòi, xóm Cồn Các xóm này có hình thế đồng ruộng bao bọc chung quanh mình, nên thuận tiện cho việc đi làm đồng, gặt hái, cày bừa, thuận lợi cho việc vận chuyển phân bón cho ruộng hay chở lương thực về nhà Vùng nông ngiệp này nằm giữa hai nhánh sông Rào Chùa và Khe Nước, được đồi núi và sông Gianh che chở”[12; 86] Ruộng đất ở Thanh Trạch chia làm 2 loại:
Loại thứ nhất là ruộng sâu trũng chuyên cấy lúa Chiêm (lúa đỏ) Số ruộng này chỉ cấy 1 vụ lúa Chiêm (đông xuân) từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Trong số ruộng sâu này có khoảng 6 hecta bị ngập mặn nên không thể trồng lúa mà nhân dân sử dụng để nuôi tôm cá
Loại thứ hai, là ruộng mơn làm lúa 2 vụ, với diện tích khoảng 96 hecta được cấy lúa Ven vào vụ Chiêm và cấy lúa Ré vào vụ mười, năng suất bình quân của mỗi vụ khoảng 10 tạ/ha
Thời phong kiến ở Bồ Khê (Thanh Trạch) cũng giống như các địa phương khác sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên nên hay gặp thiên tai như hạn hán trong vụ chiêm và ngập úng trong vụ mười Do đó đời sống của người nông dân cũng gặp nhiều khó khăn Làm nông nghiệp nên nông dân ở Bồ Khê cũng đắp đàn tế Thần nông cho mùa màng bội thu Đàn tế Thần nông ở Thanh Trạch xưa được đắp ở vùng đồng Làng và đồng Quai Mõ Để canh tác cư dân Thanh Trạch xưa dùng loại cày chìa vôi để cày ruộng và gặt lúa bằng vằng (liềm), khác với các địa phương khác thường gặt bằng hái
Ở vùng đất cao giáp với ruộng lúa người dân Bồ Khê thường trồng khoai Đất trồng khoa khoảng 62 hecta [12; 89] Cũng chia làm 2 loại khu vực phía đông đất cát pha bị nhiễm mặn tuy trồng khoai cho năng suất cao nhưng chất lượng khoai không ngon Vùng phía tây cũng đất cát pha nhưng không bị nhiễm mặn nên trồng khoai vừa cho năng suất cao mà chất lượng cũng tốt, khoai ngon ngọt, bùi
Trang 32Ở vùng đồi núi Lệ Đệ, người dân Thanh trạch thường trồng sắn trên diện tích chừng 20 hecta Sắn trồng tập trung ở các vùng Cồn Vụ, Con Lân, đồng Trung
Nắng, nóng, mưa, gió, bão, lũ lụt gây khó khăn trong sản xuất và đời sống của nông dân Sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vậy, đòi hỏi con người nơi đây phải biết đúc rút kinh nghiệm, nắm những quy luật của tự nhiên
và vận dụng nó vào trong lao động sản xuất và đời sống để bố trí mùa vụ, cơ cấu cây trồng Đồng thời cũng hết sức chăm lo, xây dựng bảo vệ các công trình thủy lợi, đẩy mạnh việc trồng cây bảo vệ rừng, tạo môi trường sinh thái phục vụ cho đời sống và công cuộc xây dựng quê hương
Với địa hình tự nhiên thuận lợi, những người dân ở đây đã mở mang canh tác nông nghiệp, nhất là nghề trồng lúa nước Những cư dân với sự cần cù, chịu khó đã khai hoang, vỡ đất tạo nên những cánh đồng lúa trù phú như ngày nay Không dừng lại ở đấy, công cuộc khai phá được tiếp tục với nhiều gian nan vất
vả, để có những cánh đồng hẹp, ven biển và một vùng đồi rộng lớn được khai hoang trồng trọt Cùng với sự khai thiết, những xóm làng được lập nên, hình thành nên những cộng đồng xã hội ngày càng đông đúc Kinh tế nông nghiệp chiếm địa vị chủ yếu
Nông nghiệp bên cạnh trồng lúa và hoa màu thì cư dân Bồ Khê trước Cách mạng tháng Tám 1945 còn làm vườn, làm rẫy và khai tác lâm sản Ngoài trồng lúa thì còn có các loại cây khác như: sắn, đậu, mè, bầu, bí, cau, chuối, được trồng rải rác trong vườn, ven sông, gò đồi
2.1.2 Khai thác lâm sản
Do diện tích ruộng đất canh tác nông nghiệp không nhiều, kỹ thuật canh tác thủ công lạc hậu nên năng suất lao động ở Thanh Trạch thấp Lương thực chính của nông dân vẫn là khoai, sắn, lúa gạo chiếm tỷ lệ nhỏ nên đời sông của đa số nông dân đều rất khổ sở Do đó người dân Thanh Trạch xưa phải đi khai thác lâm sản đặc biệt nghề khai thác phổ biến nhất của nông dân nghèo lúc bấy giờ là hái củi thuê Lúc nông nhàn hoặc giáp hạt họ phải lên rừng hái củi thuê Làm củi thuê người nghèo được trả công rất rẽ mạt Cứ 1 sào củi (chiều dài 2m cao 1m)
Trang 33chỉ có giá khoàng 6,5 kg lúa Công chặt củi tuy không nhiều nhưng gánh được 1 sào củi từ trên núi cao về đến nhà người mua là một công đoạn đầy gian nan phải đổi rất nhiều mồ hôi, nước mắt và có khi cả máu nữa Vì hái củi thuê mà không ít nông dân Thanh trạch trước cách mạng tháng Tám bị rắn cắn, hổ vồ đến mất cả mạng sống
2.1.3 Chăn nuôi
Chăn nuôi ở Thanh Trạch thời trước Cách mạng tháng Tám 1945 cũng mang tính tự túc, tụ cấp, với quy mô ở từng hộ gia đình Ở đồng bằng làng nào cũng nuôi các loại gia súc như trâu, bò, heo; các loại gia cầm như vịt, gà, ngan Nhà nông nuôi bò, trâu để cày bừa phục vụ trong sản xuất nông nghiệp, không chuyên nuôi bò để lấy sữa hoặc lấy thịt Khi trâu, bò già không cày kéo được người ta mới giết mổ để lấy thịt, lấy da, lấy sừng Cũng có khi dùng để giết thịt nhưng là trong các dịp tế lễ hay giỗ chạp Nhà nào có đất ruộng cũng phải nuôi vài ba con trâu hoặc bò để sử dụng trong đồng áng chứ không nuôi để lấy thịt Trong nông nghiệp ở Thành Trạch thì ngành chăn nuôi còn kém phát triển
2.1.4 Nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản
Đánh bắt thủy hải sản là một trong những nghề làm ăn chính và lâu đời của một bộ phận không nhỏ dân cư Thanh Trạch Từ việc đánh bắt thủy sản trên sông (nước lợ) đến việc đánh bắt hải sản ở biển; hải sản bãi ngang, trong lộng đến việc đánh bắt nhiều ngày ở biển khơi,… để đạt hiệu quả cao, mỗi loại cá, loại mực đều có phương tiện và kỹ thuật đánh bắt riêng của nó Kỹ thuật thì lưu truyền, phương tiện thì do tích lũy mà có
Việc đánh bắt thủy hải sản vốn bắt nguồn từ nghề câu, là nghề truyền thống thống cổ xưa của người dân biển Thanh Trạch Kể từ khi còn là dân vạn chài, chia nhau từng khúc sông làm “trộ”, thì người xưa ở đây đã từng sống với ngề câu và cũng từng ra biển khơi với nghề đó
Nghề câu có hai loại: câu bằng cần và câu bằng vàn (còn gọi là bủa câu) Làm nghề câu nhìn chung là khó mà câu cần lại càng khó hơn Để câu được mực, cá thì người câu phải thông hiểu được con trăng, con nước lên xuống thất