1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử việt nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT là

81 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất 19

Trang 1

Lời Cảm Ơn

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên, Th.S Dương

Vũ Thái người đã tận tâm, tận tình hướng dẫn, động viên, giúp

đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Quý thầy

cô giáo Khoa Khoa học xã hội, Quý thầy cô giáo Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em bồi dưỡng tri thức và hoàn thành khóa học của mình

Thiết tha bày tỏ lòng tri ơn sâu nặng tới gia đình, là suối nguồn niềm tin và khát vọng của em Cảm ơn bạn bè đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua

Chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Trần Thị Thuận

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp

11 - THPT là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, các tài liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực, được các độc giả cho phép và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Trần Thị Thuận

Trang 3

BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Cấu trúc đề tài 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Quan niệm về tính tích cực 9

1.1.2 Ý nghĩa của việc phát huy tính tích cực của HS trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 – THPT 11

1.2 Thực tiễn phát huy tính tích cực HS ở trường THPT Ninh Châu 11

1.2.1 Đối với giáo viên 12

1.2.2 Đối với học sinh 13

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN HẾT CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT (1918) Ở LỚP 11 THPT 16

2.1 Cơ sở để xác định PP dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT 16

2.1.1 Vị trí, ý nghĩa của phần lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT 16

Trang 5

2.1.2 Mục tiêu của phần lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh

thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT 17

2.1.3 Nội dung lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT 18

2.1.4 Đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh THPT 18

2.1.5 Nguyên tắc khi sử dụng các PP nhằm pháp huy tính tích cực của học sinh 20

2.2 Phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT 22 2.2.1 Dạy học nêu vấn đề nhằm phát huy tính tích cực học sinh 22

2.2.2 Sử dụng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực học sinh 25

2.2.3 Sử dụng bài tập nhận thức nhằm phát huy tính tích cực học sinh 26

2.2.4 Sử dụng đồ dùng trực quan nhằm phát huy tính tích cực học sinh 29

2.2.5 Sử dụng SGK nhằm phát huy tính tích cực học sinh 31

2.2.6 Sử dụng tài liệu tham khảo nhằm phát huy tính tích cực HS 35

2.3 Thực nghiệm sư phạm 38

2.3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 38

2.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm 38

2.3.3 Nội dung và PP thực nghiệm sư phạm 39

2.3.4 Kết quả thực nghiệm 39

KẾT LUẬN 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHẦN PHỤ LỤC 47

PHỤ LỤC 1 47

PHỤ LỤC 2 52

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử là quá khứ, là nơi chứa đựng giá trị văn hóa, là nguồn dữ liệu để tham chiếu những kinh nghiệm cha ông ta vào sự phát triển hôm nay Đó là hồn cốt, truyền tải những giá trị truyền thống, mà nếu không có lịch sử không thể hiểu được vị trí của hiện tại và định hướng cho tương lai, với ý nghĩa đó thì nếu lịch

sử còn thì văn hóa còn, và văn hóa còn thì dân tộc còn

Mặc dù chứa đựng nhiều sự kiện bi tráng nhưng bản thân Lịch sử không có lỗi, bởi đó là sự vận hành khách quan, có những sự kiện oai hùng nhưng cũng có những bi thương vì đó là sự thật không thể thay đổi Lịch sử là sự trung thực của những sự thực khách quan và không ai có thể chọn lịch sử, mà nhờ lịch sử con người và thời đại được định hình

Dân tộc Việt Nam có lịch sử lâu đời, từ xưa nhân dân ta đã coi trọng việc lấy lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ Lịch sử là cô giáo của cuộc sống, dạy lịch sử là dạy làm người, dạy cho thế hệ trẻ giữ gìn phẩm giá, nhân cách con người, đồng thời góp phần quan trọng vào việc nâng cao văn hóa cho học sinh Trong cuốn

Lịch sử nước ta của chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Người dạy chúng ta phải học, phải hiểu, phải

biết cho tường tận, cụ thể gốc tích lịch sử nước nhà Việt Nam Đây không chỉ là lời kêu gọi mà còn là yêu cầu của Bác với toàn thể nhân dân Việt Nam, đặc biệt

là thế hệ học sinh phải hiểu rõ được lịch sử của dân tộc

Điều đó đã cho chúng ta thấy, môn Lịch sử có vai trò hết sức quan trọng, tuy nhiên hiện nay theo xu thế phát triển của thời đại thế hệ trẻ tiếp thu một cách máy móc, thụ động kiến thức lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới Học sinh luôn coi bộ môn Lịch sử là môn học thuộc lòng, là môn phụ ít gây hứng thú Chính

vì vậy mà các em học theo cách đối phó, kiến thức nắm được rất mờ nhạt Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử

Xuất phát từ thực trạng trên để giúp các em có hứng thú trong học tập lịch

sử Sau mỗi bài giảng của giáo viên, học sinh có thể hiểu rõ bản chất và giải thích

Trang 7

được các mốc lịch sử, nhân vật lịch sử, quy luật phát triển lịch sử dân tộc gắn liền với lịch sử thế giới Qua đó HS biết liên hệ với thực tế và nhận thức đúng đắn hơn

về bộ môn lịch sử Đồng thời để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của việc đổi mới PP dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay là phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh Với PP lấy người học làm trung tâm, giáo viên là người hướng dẫn, chỉ đạo, tạo cơ hội cho các em thể hiện khả năng của bản thân trước tập thể và tự tin hơn trong cuộc sống Và để đạt được kết quả như trên trước hết người giáo viên phải biết tạo cho học sinh có hứng thú với bộ môn lịch sử từ đó phát huy tính tích cực của bản thân trong học tập để hiểu, ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Như vậy, việc phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học nói chung

và trong dạy học lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) nói riêng có ý nghĩa rất lớn với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay

Trên cơ sở đó, tôi quyết định chọn vấn đề “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của

mình

2 Lịch sử vấn đề

Liên quan tới đề tài đã có một số công trình đề cập tới vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam

GS Phan Ngọc Liên trong tác phẩm “PP dạy học Lịch sử” đã nêu lên tầm

quan trọng của việc phát huy tính tích cực của học sinh thông qua việc phát triển khả năng nhận thức và hành động cho học sinh học tập lịch sử ở trường phổ thông trung học Đã hệ thống được các PP dạy học nhằm nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử ở trường phổ thông

Trong giáo trình “Nhập môn sử học”, các tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình

Tùng, Đặng Văn Hồ, Trần Quốc Tuấn đã dẫn dắt người học, người nghiên cứu lịch sử đi từ những hiểu biết cơ bản về khoa học lịch sử đến PP học tập nghiên cứu lịch sử Đặc biệt ở chương IV trong phần thứ ba - PP học tập và nghiên cứu

Trang 8

lịch sử, tác giả cũng đã chỉ rõ một số vấn đề cơ bản trong học tập và nghiên cứu lịch sử như tài liệu, sự kiện lịch sử, khái quát lí luận trên cơ sở tài liệu - sự kiện nhằm tìm hiểu sâu sắc toàn diện lịch sử Các tác giả xem việc phát huy tính tích cực chủ động của HS yếu tố cần thiết nhất để tiếp cận những tri thức khoa học

Tác giả Thái Duy Tuyên trong quyển “PP dạy học - truyền thống và đổi mới”,

khi nói về tính tích cực nhận thức của HS đã nhấn mạnh cần nhận thức những điểm khác biệt giữa cách “dạy học truyền thống” và “dạy học tích cực” Điều phân biệt đầu tiên, quan trọng nhất các cách dạy học truyền thống chỉ hướng vào việc

“cung cấp sự kiện, nhớ tốt, đọc thuộc”, còn cách dạy học tích cực là “cung cấp kiến thức cơ bản có chọn lọc”, cổ vũ HS tìm tòi, bổ sung kiến thức đã có

Trong cuốn “Hệ thống thao tác sư phạm trong dạy học lịch sử ở trường phổ

thông trung học” của Kiều Thế Hưng đã nhấn mạnh hệ thống thao tác sư phạm

chính là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho cơ chế khoa học về phát huy tính tích cực của học sinh được thực hiện Đặc trưng cơ bản của thao tác sư phạm “buộc” người giáo viên phải thường xuyên chú ý tới thao tác của trò, thường xuyên khai thác tiềm năng sáng tạo của học sinh, thường xuyên kích thích tính chủ động của học sinh

GS Nguyễn Thị Côi khi đề xuất “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu

quả DHLS ở trường phổ thông”, đã xây dựng hệ thống các con đường, biện pháp

nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông, trong đó luôn nhấn mạnh tới việc phát huy tính tích cực học sinh bằng việc sử dụng một cách đa dạng và hợp lý các PP dạy học với nhau

Công trình Luận văn Thạc sĩ của tác giả Mai Thị Hà “Thiết kế và sử dụng bài

tập nhằm phát huy tính tích cực của HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 (lớp 12 – THPT – chương trình chuẩn)” đã đề cập khá đầy đủ về những

vấn đề lý luận và một số nguyên tắc, PP sử dụng câu hỏi, bài tập nhằm phát huy tính tích cực của HS

Nhìn chung các tác phẩm nêu trên đã giải quyết được những vấn đề quan trọng sau đây:

Trang 9

Thứ nhất, khẳng định tầm quan trọng của đổi mới PP dạy học theo hướng

phát huy tính tích cực của học sinh trong giảng dạy lịch sử

Thứ hai, xây dựng các cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu vấn đề phát huy tính

tích cực của học sinh trong DHLS ở trường THPT

Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên chủ yếu đặt ra những vấn đề mang tính định hướng, chưa chỉ rõ các biện pháp sư phạm cụ thể cho việc phát huy tính tích cực với từng đối tượng học sinh cụ thể hay với một khóa trình lịch sử cụ thể trong chương trình hoặc từng bài học của SGK Lịch sử trường THPT

Những kết quả nghiên cứu trên được tôi kế thừa, làm cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ do đề tài của mình đặt ra

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khẳng định sự đúng đắn và cần thiết của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS ở trường THPT và đề xuất được các biện pháp sư phạm có tính khoa học và khả thi cho việc phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Sưu tầm, tập hợp tư liệu lý luận và tư liệu các PP phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS

- Xác định cơ sở lý luận, cơ cở thực tiễn về việc phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS

- Nghiên cứu nội dung chương trình SGK Lịch sử lớp 11 THPT (chương trình Chuẩn)

- Điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng việc phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS

- Đề xuất những nguyên tắc, biện pháp sư phạm để phát huy tính tích cực của

HS trong DHLS

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình “phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT”

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài giới hạn vào việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến việc phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT đối với hình thức dạy học nội khóa

Để chứng minh tính khả thi của những biện pháp đưa ra, tôi tiếp tục tiến hành điều tra, thực nghiệm sư phạm qua một số PP dạy cụ thể tại lớp 11 THPT, kết hợp với tìm hiểu, quan sát, tham khảo ý kiến, thu thập thông tin trong quá trình thực tập sư phạm ở trường THPT Ninh Châu, tỉnh Quảng Bình

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác

– Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và giáo dục lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp toán học thống kê

6 Đóng góp của đề tài

Những đóng góp chính của đề tài:

Trang 11

- Khẳng định lại một lần nữa vai trò, ý nghĩa của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT

- Làm rõ thực trạng việc phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT

- Đề xuất được một số biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT

- Góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học lịch sử

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài các mục Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, thì nội dung chính của đề tài được trình bày trong 2 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

+ Chương 2: Phương Pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp

11 THPT

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm về tính tích cực PGS.TS Vũ Hồng Tiến quan niệm: Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người chủ động tích cực cải biến lại môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển thành một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục [35; 25 - 28]

GS Trần Bá Hoành đã viết: “Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo nên nền văn hóa ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội” [14;40] Như vậy, để tồn tại và phát triển thì con người không ngừng lao động, không những nghiên cứu về sự vật hiện tượng xung quanh mình Từ đó con người đã phát hiện ra được nhiều điều mới lạ Và để có thể phát triển xã hội thì mỗi người phải rèn luyện để trở thành những người công dân có kiến thức, kỹ năng nghề nhiệp, có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với bản thân, đối với xã hội Để đạt được

Trang 13

điều đó, mỗi người phải tích cực, chủ động, sáng tạo Tính tích cực được xem là phẩm chất vốn có của con người, là năng lực tác động qua lại của con người với môi trường xung quanh [2; 18]

- Tính tích cực học tập:

Hoạt động nhận thức của con người nói chung và hoạt động học tập của học sinh nói riêng đều có những nét tương đồng, đều nhận thức hiện thực khách quan, cách nhận thức mang tính chủ quan Hoạt động nhận thức của học sinh cũng giống như với nhà khoa học ở sự nghiên cứu tìm tòi khám phá Song ở quá trình học tập của học sinh luôn có sự hướng dẫn của giáo viên Chính vì vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng bản chất của hoạt động học là quá trình nhận thức của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Theo GS Trần Bá Hoành: Tính tích cực của con người biểu hiện trong hành động, đặc biệt trong những hoạt động của chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo

ở lứa tuổi học sinh

Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức Như vậy, khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện ra những điều loài người chưa biết

mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích lũy được trước đó Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng phải khám phá ra những hiểu biết mối đối với bản thân Học sinh sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, tự giác, nỗ lực của chính mình Sự học tập tích cực sẽ giúp học sinh cũng

có thể làm ra những tri thức mới cho khoa học

Tóm lại, TTC học tập là thái độ cải tạo của chủ thể với đối tượng nhận thức thông qua sự huy động tới mức tối đa các chức năng tâm lý, trong đó có tính độc lập, tư duy sáng tạo và toàn bộ nhân cách của chủ thể được phát triển Bên cạnh

đó, tính tích cực còn vừa là mục đích, vừa là kết quả của hành động Do đó chỉ có thể hình thành và phát triển tính tích cực nhận thức cho học sinh thông qua quá trình tổ chức các hoạt động nói chung và hoạt động học tập nói riêng dựa trên những kiến thức kĩ năng, kĩ xảo của bản thân Đây cũng là một phẩm chất, nhân

Trang 14

cách của người học, được thể hiện ở tình cảm, ý chí quyết tâm giải quyết các vấn

đề mà tình huống học tập đề ra để có tri thức mới, kĩ năng mới [8; 47]

1.1.2 Ý nghĩa của việc phát huy tính tích cực của HS trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 – THPT

Tính tích cực của học sinh phù hợp với nguyên tắc “tính tự giác, tích cực”,

vì nó thúc đẩy được hoạt động học tập đã được hướng đích, gợi động cơ trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề Dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là biểu hiện sự thống nhất giữa giáo dưỡng và giáo dục Tác dụng của giáo dục kiểu dạy học này là ở chỗ dạy cho học sinh khám phá, tức là rèn luyện cho học sinh cách phát hiện, tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học Đồng thời góp phần bồi dưỡng cho học sinh những đức tính cần thiết của người lao động sáng tạo như tính chủ động, tự giác, tích cực, tính kiên trì vượt khó, thói quen tự kiểm tra

Tính tích cực học tập thể hiện ở cả hai mặt: tính chuyên cần trong hành động

và tính sâu sắc trong hoạt động các hoạt động trí tuệ Cách học tích cực thể hiện trong việc tìm kiếm, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào giải quyết các nhiệm

vụ học tập và thực tiễn cuộc sống, thể hiện sự tìm tòi, khám phá vấn đề mới bằng

PP mới, không phải là sao chép, mà là sự sáng tạo của mỗi cá nhân

Theo Sukina, tính tích cực học tập có thể chia thành những cấp độ từ thấp lên cao như sau:

+ Tích cực bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động của thầy, của bạn

+ Tích cực tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một vấn đề

+ Tích cực sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu

Như vậy việc phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa to lớn trong quá trình dạy học lịch sử Tạo được hứng thú trong quá trình học tập và tìm hiểu, nâng cao trình độ nhận thức của HS thông qua học lịch sử [2; 28]

1.2 Thực tiễn phát huy tính tích cực HS ở trường THPT Ninh Châu

Trang 15

Trong thực tiễn giảng dạy môn lịch sử ta thấy vẫn còn nhiều khó khăn trong việc phát huy tính tích cực của học sinh

1.2.1 Đối với giáo viên

Liên quan đến đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng của việc đổi mới PP giảng dạy nhằm pháp huy tính tích cực của học sinh trong DHLS lớp 11 ở trường THPT của GV thông qua phiếu điều tra số 1, với 03 GV chuyên môn lịch sử ở trường THPT Ninh Châu (Xem phụ lục 1)

Bảng 1.1 Nhận thức về tầm quan trọng của việc đổi mới PP nhằm phát huy

tính tích cực của HS trong DHLS lớp 11 THPT của GV

Trang 16

Câu hỏi

Theo quý thầy (cô) nguyên nhân khiến

GV ngại phát huy tính tích cực của

HS trong DHLS lớp 11 THPTlà gì?

Nguyên nhân Số GV (Số người) Tỷ lệ (%)

Việc lựa chọn PP mất nhiều thời

đó, các GV đã thực hiện việc phát huy tính tích cực của HS trong DHLS Việt Nam

ở lớp 11 THPT ở những mức độ khác nhau Khá nhiều GV có tiến hành rất thường xuyên, nhưng cũng còn một số GV thỉnh thoảng mới sử dụng và không sử dụng Nguyên nhân là do nhiều GV cho rằng việc lựa chọn PP mất nhiều thời gian, công sức và chưa có cách phù hợp

Điều này chứng tỏ trong DHLS các GV đã có quan tâm đến việc pháp huy tính tích cực của HS ở các mức độ khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn tập trung để tạo biểu tượng, và vẫn chưa phát huy đầy đủ tính tích cực trong học tập lịch sử của

HS Các tiết học GV có sử dụng các PP mới tạo được biểu tượng lịch sử Tuy nhiên việc sử dụng các PP để phát huy tính tích cực của HS vẫn chưa được đa số

GV tiến hành nghiêm túc Ngoài ra, nhiều GV vẫn còn dạy học theo PP truyền thống, nặng về thuyết trình, chỉ sử dụng những kiến thức trong SGK, ít quan tâm đến việc sưu tầm, chọn lọc đổi mới PP

1.2.2 Đối với học sinh

Để khảo sát thực tiễn việc phát huy tính tích cực trong DHLS đối với HS lớp

11 THPT, Chúng tôi sử dụng hệ thống câu hỏi thông qua phiếu điều tra số 2 (Xem phụ lục 2) sử dụng đối với tổng số 405 HS trên chín lớp 11 của trường THPT Ninh Châu, sau khi thu thập phiếu điều tra, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:

Trang 17

Bảng 1.4 Thái độ học tập của HS khi GV sử dụng các PP phát huy tính tích

cực của HS trong DHLS

các lớp 11 THPT Ninh Châu

Tỷ lệ (%)

Khi được thăm dò ý kiến về ý nghĩa của việc GV đổi mới PP trong DHLS

lớp 11 THPT, bằng câu hỏi: Theo em, nếu thầy (cô) sử dụng các PP dạy học mới

nhằm phát huy tính tích cực sẽ giúp ích gì trong học tập lịch sử? Qua kết quả thu

được ở bảng 1.6 chúng tôi nhận thấy, có một số lượng khá đông các em nhận thức được khi GV đổi mới PP sẽ giúp HS tạo biểu tượng lịch sử Tỷ lệ HS cho rằng

GV đổi mới PP giúp HS tích cực, hứng thú hơn trong học tập LS và ghi nhớ kiến thức nhanh, lâu hơn và rèn luyện các thao tác tư duy cũng khá cao Trong khi đó, vẫn còn một số HS chưa hiểu được ý nghĩa của việc GV đổi mới PP cho rằng không giúp ích gì cho các em

Trang 18

Bảng 1.5 Quan niệm của HS về ý nghĩa của việc phát huy tính tích cực

trong DHLS lớp 11 THPT

các lớp 11 THPT Ninh Châu

Tỷ lệ (%)

Rèn luyện tính tự giác, tư duy so

sánh, phân tích, khái quát, tổng hợp

Từ những điều trên nên việc phát huy tính tích cực của HS trong DHLS là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử

Trang 19

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN HẾT CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT (1918) Ở LỚP 11

THPT 2.1 Cơ sở để xác định PP dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT

2.1.1 Vị trí, ý nghĩa của phần lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT

Ở cấp THCS HS đã được học về “lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918” trong “Bài 29: Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế xã hội ở Việt Nam”, và “Bài 30: Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918” trong chương trình lớp 8 Lên cấp THPT HS được học kỹ hơn về “lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918” trong chương trình lớp 11 được phân phối trong bài 22, 23, 24 SGK Khóa trình “lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918” được đưa vào giảng dạy

ở lớp 11 với yêu cầu cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp; Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914); Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)

Phần “lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918” giúp HS nắm được những kiến thức về xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp; về phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914); Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)

Bổ sung, nâng cao một cách có hệ thống, sâu sắc hơn những kiến thức mà các em đã tiếp thu được ở cấp THCS nhằm giúp các em tiếp tục củng cố vững chắc những kiến thức đó

Trang 20

Giúp HS hiểu rõ hơn về tác động của những chính sách của thực dân Pháp đối với tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam ở những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế

kỉ XX Hiểu được nguyên nhân diễn biến và vai trò quần chúng nhân dân cũng như các cá nhân trong phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỉ

XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1918

2.1.2 Mục tiêu của phần lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT

Bổ sung, nâng cao một cách có hệ thống, sâu sắc hơn những kiến thức mà các em đã tiếp thu được ở cấp THCS nhằm giúp các em tiếp tục củng cố vững chắc những kiến thức đó

- Về thái độ

Thông qua việc tìm hiểu những chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp

đã thực hiện trên đất nước ta, đã giúp HS hiểu rõ bản chất của đế quốc, thực dân phong kiến tàn bạo đã bóc lột dã man và đàn áp về chính trị một cách tàn bạo đối với nhân dân ta Qua các phong trào yêu nước, kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, cho HS thấy được vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử và vai trò của các cá nhân xuất sắc đối với lịch sử dân tộc Từ đó bồi dưỡng tình cảm giai cấp, lòng yêu mến kính trọng giai cấp nông dân, công nhân và các tầng lớp lao động khác, biết trân trọng truyền thống yêu nước của nhân dân ta

Trang 21

- Về kĩ năng

Tiếp tục hoàn thiện những kĩ năng cần thiết cho HS trong học tập lịch sử đã được hình thành và rèn luyện ở THCS như khi xem xét các sự kiện, nhân vật, làm việc với SGK và các nguồn tư liệu, đặc biệt biết phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa trong quá trình nhận thức các sự kiện lịch

sử cơ bản, điển hình Khả năng sử dụng tài liệu tham khảo trong quá trình dạy - học, biết đổi mới các PP vào quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực của

HS

2.1.3 Nội dung lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp 11 THPT

Phần này gồm có một chương: Chương II – Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến

hết Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918) gồm các bài:

Bài 22: Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp

Bài 23: Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến

chiến tranh thế giới thứ nhất (1914)

Bài 24: Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 –

15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:

+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên

+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh

Trang 22

biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao

không vội vàng kết luận khi chưa tích lũy đầy đủ các sự kiện

Ở tuổi này, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các em sử dụng tốt hơn các PP ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh, đối chiếu ) Đặc biệt, các em tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ… Bên cạnh đó, một

số em còn ghi nhớ kiểu đại khái, chung chung, hoặc chủ quan vào trí nhớ của

mình mà đánh giá thấp việc ôn tập tài liệu

Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển, do sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập

mà hoạt động tư duy của học sinh THPT có thay đổi quan trọng Đó là sự phát triển mạnh của tư duy hình thức Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen thuộc hoặc chưa quen thuộc Tư duy của các em nhất quán hơn, chặt chẽ hơn và có căn cứ hơn, có thể sử dụng vật liệu là những khái niệm khoa học, trí thức dưới dạng thuật ngữ,

mệnh đề để tư duy thoát ly với vật chất

Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ đến tư duy sáng tạo Nhờ khả năng khái quát, các em có thể tự mình phát hiện ra những cái mới Với các em, điều quan trọng là cách thức giải quyết các vấn đề được đặt ra chứ không phải là loại vấn đề nào được giải quyết Học sinh cấp THPT đánh giá các bạn

Trang 23

thông minh trong lớp không dựa vào điểm số mà dựa vào cách thức giải quyết các vấn đề học tập, giải bài tập, PP tư duy.… Các em có xu hướng đánh giá cao các bạn thông minh và các thầy cô có PP giảng dạy tích cực, tôn trọng những suy nghĩ độc lập của HS, phê phán sự gò ép, máy móc trong PP sư phạm Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Các em có khả năng đánh giá và tự đánh giá nhiều mối quan hệ, những sự vật, hiện tượng xung quanh theo những thang giá trị

đã được xác lập Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho các em thực hiện được các thao tác tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của các khái niệm trừu tượng, nắm bắt mối quan hệ nhân – quả trong tự nhiên và xã hội Đó là những

cơ sở hình thành nên thế giới quan và nhiều thang giá trị mới

Tuy vậy, hiện nay số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy, việc giúp các em phát triển nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên [15;

74]

Như vậy, ở lứa tuổi học sinh THPT những đặc điểm của con người về mặt trí

tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tục hoàn thiện

2.1.5 Nguyên tắc khi sử dụng các PP nhằm pháp huy tính tích cực của học sinh

Trong giảng dạy đối với từng bộ môn đều dựa vào một số nguyên tắc nhất định Riêng đối với môn lịch sử nhằm phát huy năng lực tư duy, tính chủ động,

sáng tạo của HS, nên cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

- Đảm bảo mục tiêu, nội dung cơ bản của bài học

Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử, căn cứ vào mục tiêu đào tạo, mục tiêu bài học bao gồm ba mặt: giáo dưỡng (bồi dưỡng về kiến thức), giáo dục (thái độ, tình cảm, đạo đức, tư tưởng), và phát triển (năng lực nhận thức,

trong đó quan trọng là năng lực tư duy và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo…) cho HS

Triệt để khai thác nội dung chương trình SGK để thấy được những kiến thức

cơ bản của bài học Đối với phần lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến

Trang 24

tranh thế giới thứ nhất (1918), SGK đã trình bày các sự kiện lịch sử cơ bản, các

nhân vật lịch sử điển hình giúp HS phát huy tính tích cực

- Sử dụng đa dạng hệ thống PP dạy học theo tinh thần đổi mới lấy học sinh làm trung tâm

Khi dạy phần lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ hai (1918), giáo viên cần phải biết kết hợp sử dụng nhuần nhuyễn các PP như:

PP trình bày miệng, PP sử dụng đồ dùng trực quan, PP sử dụng tài liệu, PP kiểm

tra thực hành

- Đảm bảo tính vừa sức cho HS

Tính vừa sức khi dạy các bài trong phần lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ hai (1918), gắn chặt với tính cơ bản của nội dung bài học Tính vừa sức giúp học sinh độc lập và hứng thú tự mình lĩnh hội kiến thức Vì vậy, cần chú ý không nêu lên các vấn đề quá khó hoặc quá đơn giản đối

với HS

- Đảm bảo tính khoa học và tính Đảng

Trong nghiên cứu và học tập lịch sử cũng như các ngành khoa học khác phải đảm bảo tính khoa học và tính Đảng Tính khoa học thể hiện ở sự chính xác về tài liệu, sự kiện, quan điểm PP luận Tính khoa học luôn gắn với tính Đảng vô sản

Tính Đảng và tính khoa học có sự thống nhất biện chứng với nhau

- Đảm bảo yêu cầu về giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triển nhân cách học sinh trong quá trình phát huy tính tích cực của học sinh

Trong đời sống xã hội, lịch sử có tác dụng quan trọng không chỉ về trí tuệ mà

về cả tình cảm, tư tưởng Những con người, những việc thực của quá khứ có sức thuyết phục, có sức rung cảm mạnh mẽ với thế hệ trẻ Từ đó kích thích lòng ham

học hỏi, tìm tòi, tư duy phát triển

- Nắm vững cấu trúc mô hình tiết dạy theo hướng phát huy năng lực, trí tuệ của học sinh

Một nội dung cơ bản của tiết dạy theo hướng phát huy năng lực trí tuệ của học sinh là thiết kế bài học nhận thức để đưa HS vào tình huống có vấn đề, bắt

buộc HS phải vận dụng tất cả những kiến thức đã học để giải quyết

Trang 25

Khi thiết kế bài tập nhận thức và tổ chức để HS lĩnh hội cần tuân theo quy

trình 4 bước sau:

Bước 1: Định hướng mục đích

Bước 2: Cung cấp thông tin để tạo ra hình ảnh cụ thể, sinh động về những sự

kiện đã diễn ra trong quá khứ

Bước 3: Tổ chức cho HS làm việc, tự giải quyết các vấn đề để tiếp nhận thông

tin

Bước 4: Rút ra kết luận của bài học

2.2 Phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918) ở lớp

11 THPT

2.2.1 Dạy học nêu vấn đề nhằm phát huy tính tích cực học sinh

Thử nghĩ trong một tiết học mà giáo viên chỉ đứng giảng một mình, học sinh chỉ ngồi yên ghi chép một cách máy móc, học vẹt Với cách học như vậy thì học sinh sẽ nắm bắt và hiểu những kiến thức bằng cách nào và không khí lớp học sẽ

- Nêu vấn đề một cách rõ ràng, thường là một câu hỏi có tính chất bài tập nhận thức

- Tổ chức, hướng dẫn và tạo điều kiện gợi mở cung cấp tài liệu nhằm giúp

HS tự giác, tích cực giải quyết từng bước từng phần

Trang 26

- Khi nêu một SKLS làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết, cần nêu rõ hoàn cảnh, thời gian, không gian ra đời, phát triển của SK

- Khi tìm hiểu nội dung vấn đề, cần hướng dẫn HS tìm hiểu bản chất của nó bằng các biện pháp:

+ Nêu những nét cơ bản của SK, đặc trưng của nó so với SK khác (VD tìm hiểu sự khác nhau về nguyên tắc giữa CM XHCN với CMTS thì phải lập bảng so sánh )

+ Nêu những mặt đối lập, những mâu thuẫn trong SK, quy luật phát triển của

xã hội thể hiện ở đây như thế nào, nguyên nhân xuất hiện của SK và mối quan hệ, liên hệ với các SK khác)

+ Các giai đoạn phát triển chủ yếu của SK, triển vọng của nó (phát triển, hậu quả)

+ Đánh giá SK

+ Liên hệ thực tế, rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử cho việc tiếp thu kiến thức mới và hoạt động thực tiễn (sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc)

- Trong trường hợp vấn đề đặt ra khó và phức tạp, GV có thể hướng dẫn HS

tự tìm tòi tư liệu, SK để giải quyết vấn đề ở nhà

- Cách trình bày nêu vấn đề có nhiều ưu điểm hơn việc thông báo tài liệu, đọc lại SGK, trình bày nêu vấn đề cung cấp cho HS những SK cần thiết để hiểu lịch sử vừa tạo điều kiện cho các em suy nghĩ

- Việc nêu và giải quyết vấn đề trong DHLS được tiến hành với nhiều hình thức khác nhau: tự nghiên cứu vấn đề, trình bày kết quả và trao đổi thảo luận

- Nó bao gồm các nội dung sau:

+ Tình huống có vấn đề, khi hướng dẫn HS nắm các kiến thức cơ bản, GV cần chú ý đến nhu cầu tư duy của HS khi các em tiếp thu kiến thức mới, hoặc muốn hiểu sâu sắc, làm phong phú hơn kiến thức đã biết Trong trường hợp này,

ở HS xuất hiện những thắc mắc, những vấn đề, những vấn đề được đặt ra để giải quyết Các nhà giáo dục học gọi tình huống như trên là tình huống có vấn đề Thầy nêu những kiến thức mới mà học sinh chưa biết đòi hỏi học sinh phải tìm kiếm Cách dạy học nêu vấn đề khác hẳn với các giảng nhồi nhét, HS chỉ biết

Trang 27

nghe, ghi nhớ mà lười suy nghĩ Dạy học nêu vấn đề sẽ phát huy tính tính cực nhận thức của HS Một trong những đặc điểm cơ bản trong việc phát triển tư duy của HS là phát huy năng lực độc lập học tập, phát triển trí thông minh, óc sáng tạo của các em trong việc đặt vấn đề, tự giải quyết dưới sự hướng dẫn của GV và trao đổi với bạn học

Có thể tạo ra tình huống có vấn đề trong những trường hợp sau:

Tạo tình huống bác bỏ, là khi giáo viên đưa ra các ý kiến khác nhau để học sinh tự phân tích đánh giá, tự tìm ra vấn đề

Tạo mâu thuẫn xung đột, khi giáo viên nêu ra những mâu thuẫn xung đột về

mặt kiến thức để các em tìm ra con đường giải quyết

Tạo tình huống lựa chọn quyết định cho học sinh Bắt buộc người học phải lật ngược vấn đề, lý giải tại sao nó lại diễn ra như vậy?

- Trình bày nêu vấn đề

Phần của thầy phải đầy đủ tài liệu, sự kiện để giúp học sinh rút ra được kết luận về bản chất

Trong quá trình dạy, không được nêu ra các vấn đề ngay từ đầu

Phần trình bày phải bao gồm cả truyền đạt kiến thức có sẵn với các cách khác nhau như sử dụng SGK, đồ dùng trực quan, như là những dữ kiện giúp học sinh giải quyết vấn đề

- Bài tập nêu vấn đề sẽ được làm rõ hơn trong phần PP sử dụng bài tập nhận thức

Trang 28

2.2.2 Sử dụng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực học sinh

Bên cạnh đó, sử dụng câu hỏi có tác dụng to lớn trong việc giáo dục cho học sinh tư tưởng, tình cảm, đạo đức, hình thành nhân cách học sinh như thái độ tự tin

trong học tập, tính kiên trì…

Đặc biệt sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông còn có tác dụng rèn luyện năng lực nhận thức, tư duy độc lập, hình thành kĩ năng giải quyết

vấn đề, diễn đạt một vấn đề và hứng thú học tập cho học sinh

Ví dụ: Khi dạy “Bài 22: Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp”, mục “Những chuyển biến về kinh tế” GV đưa ra câu hỏi:

Mục đích của Pháp khi tiến hành khai thác thuộc địa ở nước ta là gì? Muốn trả

lời được câu hỏi này, học sinh phải chăm chú nghe giảng, nghiên cứu SGK, độc lập suy nghĩ tìm ra nội dung cần trả lời Qua đó, các em nắm được mục đích của thực dân Pháp khi tiến hành khai thác thuộc địa ở nước ta nhằm vơ vét triệt để sức

người, sức của và biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của Pháp

Như vậy việc sử dụng câu hỏi có vai trò, ý nghĩa to lớn trong dạy học lịch sử

ở THPT, nó giúp học sinh nắm vững nội dung bài học; tích cực, chủ động, sáng

tạo trong hoạt động nhận thức

Khi sử dụng câu hỏi cần lưu ý mấy điểm sau:

Thứ nhất, câu hỏi và bài tập phải vừa sức, đúng với từng đối tượng, không

nên đặt câu hỏi quá khó, vượt khả năng tư duy của học sinh như đánh giá, nhận xét, phân tích…và cũng không quá đơn giản như ai lãnh đạo, chiến thắng nào, bao giờ, có hay không…Tránh tình trạng giáo viên chưa giảng, chưa trình bày sự việc

cụ thể, học sinh chưa có một hiểu biết nào về sự kiện, hiện tượng lịch sử sẽ học

mà đã đặt câu hỏi cho học sinh Cách đặt câu hỏi như vậy trái với đặc trưng của

bộ môn, buộc học sinh phải nhìn vào SGK để trả lời chứ hoàn toàn không hiểu gì

về câu hỏi mà giáo viên vừa nêu ra

Thứ hai, mỗi giờ học chỉ nên sử dụng 5 – 7 câu hỏi Sau mỗi chương cần có

câu hỏi bài tập Các câu hỏi của bài phải tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, có

mối quan hệ lôgic chặt chẽ, làm nổi bật chủ đề, nội dung, tư tưởng của bài

Trang 29

Thứ ba, cần triệt để khai thác các loại câu hỏi trong SGK để lựa chọn nội

dung, PP thích hợp cho từng bài cụ thể Sử dụng câu hỏi trong SGK kết hợp với câu hỏi được sáng tạo trong quá trình soạn giảng của giáo viên phải đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng, đồng thời phát huy được tư duy, rèn luyện được các kĩ

năng học tập của các em

Để tạo hứng thú học tập học học sinh ngay đầu bài học, GV cần giới thiệu bài bằng cách nêu lên vấn đề thông qua các câu hỏi Đặt câu hỏi ngay khi giới

thiệu bài mới sẽ giúp học sinh xác định được mục đích và nhiệm vụ của bài học

Ví dụ: Khi dạy “Bài 24: Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ

nhất (1914 – 1918)” GV có thể dẫn dắt vào bài như sau: Cuộc chiến tranh thế giới

thứ nhất (1914-918): là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa đã lôi kéo 33 nước trên thế giới (chủ yếu là những nước ở châu Âu) vào vòng khói lửa của chiến tranh, chiến trường chính diễn ra ở châu Âu Chiến tranh mặc dù chủ yếu diễn ra

ở châu Âu song nó có tác động đến nhiều nước trên thế giới trong đó có các nước thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp vì vậy không tránh khỏi bị tác động, ảnh hưởng bởi chiến tranh Vậy cuộc chiến tranh thế gới thứ nhất đã tác động thế nào đến kinh tế- xã hội Việt Nam? Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu trong bài học ngày hôm nay

Khi dạy các mục trong bài cần phải xây dựng được một hệ thống câu hỏi phát triển theo mức độ từ dễ đến khó Như vậy sẽ kích thích học sinh tư duy ngay từ câu hỏi đầu tiên và có hứng thú với những câu hỏi tiếp theo Đặc biệt những câu hỏi yêu cầu cao, khi học sinh giải quyết được sẽ rất hứng khởi và kích lệ được sự

độc lập tư duy, sáng tạo của các em

Tóm lại, sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử ở trường THPT không chỉ có tác dụng giúp học sinh từng bước chiếm lĩnh tri thức lịch sử mà còn phát triển tư duy độc lập của học sinh Đây là phương tiện quan trọng làm cho bài học trở nên

sôi động hấp dẫn, phát huy tính tích cực học tập của HS

2.2.3 Sử dụng bài tập nhận thức nhằm phát huy tính tích cực học sinh

Sử dụng bài tập nhận thức là việc không thể thiếu sau mỗi bài học Để đánh giá, kiểm tra kiến thức mà học sinh đã đúc kết được trong một tiết học thì GV phải

Trang 30

sử dụng đến bài tập nhận thức Việc tăng cường sử dụng bài tập nhận thức là góp phần đẩy lùi tình trạng “đọc chép” trong dạy học lịch sử, nâng cao hứng thú của người học và hiệu quả của quá trình dạy học, góp phần thực hiện chủ trương đổi mới PP dạy học

Lưu ý, khi sử dung phương pháp này cần phân biệt câu hỏi và bài tập

+ Câu hỏi: Dùng để hỏi, có mệnh đề câu cầu khiến

Có mối quan hệ: Phương tiện để tổ chức bài tập nhận thức

+ Bài tập nhận thức phải có dữ kiện:

+ Bài tập nói chung có nhiều loại Còn bài tập nhận thức thì hẹp hơn

+ Khi ta đặt các bài tập nhận thức phải nhằm vào:

Tăng cường các hoạt động nhận thức tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh Giúp học sinh nắm vững được sâu sắc đầy đủ hơn hệ thống kiến thức cơ bản của môn học

Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy lôgic

Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức nói chung và tinh thần trong lao động học tập

Yêu cầu khi sử dụng bài tập nêu nhận thức:

+ Bài tập phải tập trung hướng vào nội dung cơ bản của bài học, của chương,

là những điều mới mà học sinh chưa biết, học sinh cần phải tập trung vào giờ học

đó Đòi hỏi học sinh tích cực độc lập mới giải quyết được

+ Bài tập đưa ra phải thể hiện sự vừa đủ và vừa sức đối với học sinh

+ Bài tập phải thể hiện tương quan đúng đắn và hiệu quả của nó trong các khâu của quá trình dạy học (Khâu kiến thức mới) Nhưng quan trọng nhất là nhận thức của học sinh

+ Bài tập chứa đựng tình huống có vấn đề hay là một bộ phận không thể tách rời của tình huống có vấn đề

+ Bài tập đưa ra phải giúp học sinh vận dụng được kiến thức đã học ở các mức độ khác nhau Thông qua đó, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và thái độ cho học sinh

Trang 31

+ Bài tập đưa ra phải đa dạng và nhằm tạo điều kiện cho học sinh xem xét các mặt của đời sống xã hội, phát triển các mặt của quá trình nhận thức và chất lượng của kiến thức và sử dụng nhiều nguồn kiến thức

+ Bài tập đưa ra phải hấp dẫn, lối cuốn hứng thú học sinh giải quyết vấn đề Bài tập phải được diễn đạt tốt

Để thiết kế được một bài tập nhận thức, qua đó giúp HS nắm được, lĩnh hội được nội dung chính, những sự kiện cơ bản của một bài, chương hay của một khóa trình lịch sử người dạy phải biết thiết kế bài tập Thiết kế bài tập nhận thức có thế tiến hành theo các bước sau:

- Phân tích mục đích giáo dưỡng của bài học

- Nghiên cứu kĩ SGK, sách giáo viên và các tài liệu khác có liên quan

- Có thể nói đây là những “ nguyên liệu” để tạo ra sản phẩm bài tâp

- Dựa vào các yếu tố: Đặc điểm trình độ nhận thức của HS, tính chất các loại bài học và cả PP dạy học để thiết kế bài tập

- Sau khi thiết kế xong, phải kiểm tra lại bài tập, đồng thời xác định phương

Bài tập 1: Những chuyển biến về tư tưởng trong phong trào yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỉ XX ? yêu cầu HS suy nghĩ trả lời

- Nguyên nhân sự chuyển biến: tác động của cuộc khai thác của thực dân Pháp ở Việt Nam và những luồng tư tưởng tiến bộ trên thế giới dội vào, tấm gương

tự cường của Nhật Bản

- Những biểu hiện cụ thể:

+ Về chủ trương đường lối: giành độc lập dân tộc, xây dựng một xã hội tiến

bộ (quân chủ lập hiến, dân chủ cộng hòa theo mô hình của Nhật Bản)

+ Về biện pháp đấu tranh: phong phú, khởi nghĩa vũ trang, duy tân cải cách

Trang 32

+ Về thành phần tham gia: đông đảo nhiều tầng lớp xã hội ở cả thành thị

2.2.4 Sử dụng đồ dùng trực quan nhằm phát huy tính tích cực học sinh

Trong dạy học lịch sử, PP trực quan góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục tình trạng hiện đại hoá lịch sử của

học sinh

Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan Trên thực tế thiết bị các trường học đã trang bị khá đầy đủ các loại dụng cụ trực quan chủ quan, có các loại như sau: chân dung, hình vẽ, tranh, ảnh; Mô hình; Bản

đồ, lược đồ; Băng video; Máy chiếu; Giáo án điện tử

Kết hợp với đồ dùng trực quan như: tranh ảnh, bản mẫu, bản đồ, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng, Để khôi phục, cụ thể hóa các sự kiện trong quá khứ từ

đó giúp các em hiểu nhanh hơn, nhớ lâu hơn Điều này sẽ tạo nên hứng thú học tập cho các em

Trong quá trình hướng dẫn học sinh tổ chức lĩnh hội kiến thức mới, phát huy tính tích cực học tập của các em, giáo viên nên kết hợp cho học sinh theo dõi đồ dùng trực quan (lược đồ, bản đồ, tranh ảnh) với việc sử dụng câu hỏi gợi mở từ

dễ đến khó mang tính chất khái quát, yêu cầu các em phát huy cao độ năng lực tư duy độc lập để rút ra kết luận có tính chất khái quát, giải quyết những vấn đề trọng tâm của bài Trong quá trình học sinh trao đổi, thảo luận để tìm ra câu trả lời, giáo viên là người đóng vai trò điều khiển chung, hướng dẫn, giúp đỡ học sinh lần lượt từng bước giải quyết vấn đề thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở

Trang 33

Ví dụ khi dạy “Bài 22: Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất

của thực dân Pháp”, giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh “ Nông dân Việt Nam

trong thời kỳ Pháp thuộc” (hình 70 SGK) Trước hết giáo viên lựa chọn thời điểm

sử dụng tranh cho hợp lý, đó là mục 2 “Những chuyển biến về xã hội” trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu những biến chuyển về xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi gợi mở khi giảng từng nội dung như:

Qua quan sát tranh, em có nhận xét gì về đời sống của nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc?

Giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi mở trên trước các nội dung cần giảng Tùy từng đối tượng học sinh để chúng ta sử dụng các câu hỏi gợi mở, nếu như học sinh không trả lời được câu hỏi trên, giáo viên có thể gợi ý những câu hỏi nhỏ hơn trong từng nội dung:

Quan sát tranh, em thấy người nông dân đang làm gì, thân hình họ như thế nào?

Học sinh trao đổi đàm thoại qua những câu hỏi gợi mở, quá trình đó sẽ giúp các em có biểu tượng ban đầu về hình ảnh của người nông dân Việt Nam dưới

thời Pháp thuộc Sau đó giáo viên miêu tả khái quát: Bức ảnh trong SGK là hình

ảnh người nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc Họ là ba người nông dân gầy guộc, quần áo rách rưới, hoặc cởi trần, đầu đội nón rách, phải kéo cày thay trâu Họ đang còng lưng kéo cày thay nhau trên cánh đồng Người đi sau cắm cày, hai người đi trước kéo cày Họ lao động vất vả như vậy, nhưng ăn không đủ

no, thậm chí những ngày giáp hạt, họ còn phải nhịn đói hay ăn củ mài, củ chuối thay cơm nên gầy gò, mệt mỏi

Sau khi đã miêu tả bức ảnh Nông dân Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc,

giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu và thảo luận: Qua bức tranh, em thấy cuộc

sống của người nông dân dưới thời Pháp thuộc như thế nào?

Học sinh trả lời, giáo viên nhận xét chốt ý: Dưới ách thống trị của thực dân

Pháp, người nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất và phải chịu nhiều thứ thuế Nông dân chiếm 90% dân số, nhưng chỉ có 36% diện tích ruộng đất, nhiều gia

Trang 34

đình nông dân không có một “tấc đất cắm dùi” Cuộc sống của người nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc vô cùng khổ cực

Ví dụ: Khi dạy “Bài 23: Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914), ở mục 3 Đông Kinh nghĩa thục Vụ đầu độc binh sĩ Pháp ở Hà Nội và những hoạt động cuối cùng của nghĩa

quân Yên Thế Khi giảng dạy về vụ đầu độc binh sĩ Pháp ở Hà Nội giáo viên cho

HS quan sát hình ảnh thực dân Pháp bêu đầu của các nghĩa quân bị chém Và mô tả: “Các ông đội Bình (Nguyễn Chí Bình), đội Nhân (Đặng Đình Nhân), đội Cốc (Dương Bê) cầm đầu vụ Hà thành đầu độc, bị hành quyết ngày 8/7/1908 và người Pháp đã bêu đầu các ông ở Ô Cầu Dền, Ô Cầu Giấy và Chợ Mơ”

Bức ảnh ám ảnh nhất là ảnh chụp ba đầu đặt trong ba cái rọ tre đan loằng ngoằng quặn thớ Quặn đau tê tái! Thủ cấp được bêu trên vài “cửa ô”, tuyến phố đông đúc nhất của Hà Nội lúc bấy giờ

Hai thủ cấp nhắm mắt, đầy máu me, một thủ cấp mở mắt, thanh thản, không

hề vương sợ hãi Dưới mỗi cái rọ bêu đầu là những tấm giấy bản chi chít chữ Nho, nhằm là giặc nó kể tội người yêu nước Việt Nam rằng họ dám “làm loạn”

Tóm lại việc sử dụng đồ dùng trực quan cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới không chỉ làm cho kiến thức học sinh tiếp thu trở nên sâu sắc mà còn giáo dục cho các em những tư tưởng, tình cảm đúng đắn và phát triển kĩ năng quan sát, phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử của các em

2.2.5 Sử dụng SGK nhằm phát huy tính tích cực học sinh

SGK là tài liệu học tập cơ bản của HS, đồng thời cũng là chỗ dựa quan trọng đáng tin cậy của GV trong giảng dạy Làm thế nào để sử dụng tốt SGK là vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì kết quả của HS phụ thuộc phần lớn vào PP sử dụng SGK Vậy làm thế nào để việc sử dụng SGK phát huy được tính độc lập, tích cực làm việc của học sinh

Có thể phân ra 3 PP sử dụng SGK như sau: sử dụng SGK để chuẩn bị bài giảng; PP sử dụng SGK trong quá trình dạy học trên lớp, PP sử dụng SGK để học tập ở nhà của HS

- Sử dụng SGK để chuẩn bị bài giảng:

Trang 35

Việc chuẩn bị bài học là điều kiện quan trọng để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học Việc sử dụng SGK để chuẩn bị bài giảng là công việc cần thiết cho GV, cho mọi lứa tuổi, đặc biệt là những người mới vào nghề Sử dụng SGK đúng cách sẽ phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhận thức cho HS trong DHLS Trước khi soạn giáo án, GV cần nghiên cứu nội dung toàn bài trong SGK, xác định kiến thức cơ bản của bài, hiểu rõ nội dung, tinh thần mà tác giả mong muốn ở HS về từng mặt kiến thức, tư tưởng, kĩ năng Khi đã có cái nhìn toàn cục, khái quát, cần đi sâu từng mục nhằm tìm ra kiến thức cơ bản của mục đó, sự liên quan của kiến thức đó với kiến thức toàn bài Không nên dàn đều về mặt thời gian cũng như khối lượng kiến thức của từng phần mà xác định phần nào lướt qua, phần nào là trọng tâm Mỗi bài cần phải xác định rõ phần đóng góp cụ thể về mặt nội dung, tư tưởng, kĩ năng, kĩ xảo, các khái niệm cần giải thích cho học sinh hiểu

Ví dụ: Khi giáo viên dạy “Bài 23: Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914)” Thì GV cần phải chuẩn bị bài giảng trước khi lên lớp, GV phải xác định được mục tiêu bài học về kiến thức, kĩ năng, thái độ như sau:

Về kiến thức:

Nắm được nét chính của các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, cuộc vận động Duy Tân và chống thuế ở Trung Kì

Nhận biết được những nét mới, sự tiến bộ của phong trào yêu nước đầu thế

kỉ XX so với phong trào cuối thế kỉ XIX

Về kĩ năng:

Rèn luyện kĩ năng đối chiếu, so sánh các sự kiện lịch sử

Khả năng đánh giá, nhận định hành động của các nhân vật lịch sử

Về thái độ:

Thán phục tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh

Nhận rõ bản chất của bọn thực dân Pháp tàn bạo

Như vậy, SGK là điểm tựa để người giáo viên xác định những kiến thức cơ bản, xác định các khái niệm cần hình thành cho học sinh trong giờ học, là sự gợi

Trang 36

ý để lựa chọn PP dạy học vừa phù hợp với đối tượng, vừa phát huy tính tích cực hoạt động độc lập của học sinh

- Sử dụng SGK trong quá trình dạy học trên lớp:

Trong quá trình học bài ở trên lớp, học sinh thường theo dõi bài giảng của giáo viên rồi đối chiếu, so sánh với SGK, thậm chí nhiều học sinh không ghi theo bài giảng của giáo viên mà lại chép trong SGK Vì vậy, bài giảng của giáo viên không nên lặp lại ngôn ngữ trong SGK mà nên diễn đạt bằng lời của mình

Ví dụ: Khi dạy “Bài 24: Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)” ở mục 2 “Cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân (1916)” giáo viên giảng giải về Trần Cao Vân và những nét đặc biệt của

cuộc vận động khởi nghĩa: Trần Cao Vân, hiệu: Bạch Sĩ; 1866 - 1916), sĩ phu yêu

nước Việt Nam trong phong trào kháng Pháp cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 Quê: làng Tư Phú, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Tham gia phong trào Cần vương Phong trào bị tan vỡ, vào Bình Định dạy học Năm 1898, cùng Võ Trứ lãnh đạo khởi nghĩa chống Pháp tại Phú Yên Bị bắt giam hai lần Năm 1908, cùng Thái Phiên vận động binh lính (sắp bị đưa sang chiến trường Châu Âu) khởi nghĩa ở Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi Đã liên hệ với vua Duy Tân, được giao viết

“Chiếu khởi nghĩa” Kế hoạch bại lộ, bị bắt cùng vua và bị giết ngày 17.5.1916 Hiện còn một ít bài thơ: “Côn Lôn cảm tác” (2 bài) và “Côn Lôn phong cảnh ca”(đều viết lúc bị đày ở Côn Đảo); “Thơ tuyệt mệnh” làm trước lúc bị chém với khí phách kiên cường, bất khuất

Cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân có sự tham gia của vua Duy Tân Cuối năm 1916 ông đã liên lạc với Thái Phiên và Trần Cao Vân (hai nhà chí sĩ của Việt Nam Quang phục hội Phan Bội Châu chủ xướng) bàn mưu khởi nghĩa song do bị lộ nên cả ba người đã bị thực dân Pháp bắt Thực dân Pháp tìm đủ cách dụ dỗ ông quay lại ngai vàng song ông kiên quyết từ chối, không chịu khuất phục trước quân Pháp và tay sai Duy Tân đã bị lưu đày sang đảo Rêuyniông cùng vua cha là Thành Thái

Trang 37

Qua những kiến thức được giáo viên trình bày giúp họ sinh có thêm hiểu biết

về cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân Từ đó thấy được tinh thần chiến đấu là lòng yêu nước của nhân dân ta

- Hướng dẫn học sinh sử dụng SGK học ở nhà:

Do ở nhà học sinh phải học nhiều môn khác nhau, vì vậy việc hướng dẫn tự học cho học sinh là khâu quan trọng trong quá trình dạy học Thông thường ở nhà, học sinh chỉ học vở ghi, đọc qua SGK mà không biết tự học, vì vậy cần hướng dẫn các em biết sử dụng SGK một cách có hiệu quả

Trước hết học sinh đọc toàn bộ bài viết trong SGK (đã được nghe giảng ở trên lớp) để nắm nội dung chung của bài học, hiểu những sự kiện, những vấn đề lịch sử Học sinh nhớ lại những điểm mà giáo viên đã giảng ở trên lớp có liên quan đến nội dung SGK, trước hết là dàn bài giảng, những sự kiện cơ bản, những nét đặc trưng, việc đánh giá các sự kiện và nhân vật lịch sử, những kết luận… Những ấn tượng về bài giảng giúp học sinh nhanh chóng nắm vững SGK Sau đó, học sinh không nhìn vào sách, lập dàn ý nói lại những vấn đề chủ yếu của bài học,

tự xem xét lại những vấn đề chưa nắm được Học sinh đọc lại SGK một lần nữa

và tự giải đáp những vấn đề cần hiểu, cuối cùng tự giải đáp những câu hỏi của bài học trong SGK hoặc do giáo viên nêu ra

Khi hướng dẫn học ở nhà theo SGK, nên hướng dẫn có trọng điểm Ví dụ, khi dạy “Bài 24: Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), giáo viên hướng dẫn HS lập bảng niên biểu các phong trào đấu tranh vũ trang trong chiến tranh

trào

Địa bàn

Hình thức đấu tranh

Thành phần tham

Yêu cầu của các bài tập trong SGK đã thể hiện được kiến thức cơ bản của toàn bài, bao gồm một nội dung rộng lớn và đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng

Trang 38

kiến thức tổng hợp, phải nắm vững những kiến thức cơ bản của bài mới trả lời được Vì vậy, cùng với câu hỏi trong SGK, giáo viên cần gợi ý cho học sinh hiểu yêu cầu của nó, đặt ra các câu hỏi nhỏ để gợi ý

Khi được giao công việc cụ thể, các em sẽ phải hoàn thành và phải học tập một cách độc lập, sáng tạo

Tóm lại, sử dụng SGK như thế nào, trong thực tế nó được biểu hiện sinh động

ở mỗi cá nhân và tùy thuộc rất nhiều vào sự linh hoạt, sáng tạo của mỗi giáo viên Tuy nhiên, những quan điểm lí luận cơ bản, những kinh nghiệm là cơ sở cho lao động sư phạm của chúng ta nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động trong hoạt động học tập của học sinh

2.2.6 Sử dụng tài liệu tham khảo nhằm phát huy tính tích cực HS

Do đặc trưng của việc học tập lịch sử, các loại tài liệu tham khảo góp phần nhất định vào việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ của xã hội loài người và dân tộc Các tài liệu này là căn cứ khoa học, bằng chứng về tính chuẩn xác, tính

cụ thể, phong phú, sinh động của sự kiện mà HS cần thu nhận:

Một là, giúp các em khắc phục việc hiện đại hóa lịch sử hoặc hư cấu sai sự

thực Tài liệu tham khảo cần được thẩm định, phân tích nội dung, lựa chọn phần chính xác phù hợp với trình độ và yêu cầu học tập của HS

Hai là, giúp HS có thêm cơ sở để nắm vững bản chất sự kiện, hình thành khái

niệm, hiểu rõ quy luật, bài học quan trọng của lịch sử để rèn luyện cho HS thói quen nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy lịch sử

Ba là, tài liệu tham khảo là phương tiện hiệu quả để hiểu rõ hơn SGK, góp

phần nâng cao năng lực dạy học

Tài liệu tham khảo là một nguồn kiến thức quan trọng nhưng để đảm bảo tính khoa học và sư phạm, cần được thẩm định về mặt nội dung, tư tưởng và việc lựa chọn phải phù hợp với trình độ và yêu cầu học tập của HS

Như vậy cùng với các PP khác việc sử dụng tài liêu tham khảo có ý nghĩa to lớn trong quá trình dạy học lịch sử Giúp các em mở rộng, hiểu sâu hơn các nguồn kiến thức từ đó tạo hứng thú trong quá trình học tập và tìm hiểu, nâng cao trình

độ tư tưởng lí luận của HS thông qua học lịch sử

Trang 39

Trong DHLS có thể kết hợp sử dụng rất nhiều loại tài liệu tham khảo, nhưng

để đạt hiệu quả cao và phát huy được tính tích cực của học sinh thì kết hợp sử dụng tài liệu lịch sử và tài liệu văn học là chủ yếu

- Sử dụng tài liệu lịch sử:

Tài liệu lịch sử thành văn gồm nhiều loại, nội dung và tính chất của mỗi loại không giống nhau Chính vì thế mà kết quả sử dụng tài liệu lịch sử phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức dạy học Phải xuất phát từ mục đích, nội dung của bài học, tuy theo yêu cầu, hình ảnh cụ thể của mỗi lớp mà lựa chọn tài liệu và có PP sử dụng thích hợp Trong điều kiện thực tiến của chúng ta hiện nay, việc sử dụng tài liệu lịch sử được tiến hành trong những trường hợp sau:

Thứ nhất, cụ thể hóa các hiện tượng, sự kiện lịch sử đang học nhằm tạo cho

HS biểu tượng rõ ràng, cụ thể, có hình ảnh, tăng thêm tính chất sinh động, gợi cảm của bài giảng và gây hứng thú cho việc học tập của các em

Thứ hai, giải thích một SKLS, hiện tượng lịch sử, giúp HS hiểu được bản

chất của SK, nhất là những SK, hiện tượng phức tạp, đồng thời càng làm cho HS thêm hứng thú học tập

Thứ ba, chứng minh cho một luận điểm khoa học, để hiểu đúng về một SKLS,

một quá trình lịch sử

Ví dụ: Khi dạy “ Bài 24: Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)” ở mục 2: Buổi đầu hoạt động cứu nước của Nguyễn Tất Thành (1911 – 1918) Khi GV giảng về cuộc sống gian khổ của Bác Hồ, không dùng những từ chung chung như “khó khăn”, “gian khổ”, mà GV nên trích một

đoạn tư liệu miêu tả những công việc của Nguyễn Ái Quốc trên tàu: “Hàng ngày,

Thành phải cọ rửa gian bếp lớn trên tàu, sau đó nhóm lò, rồi khuân than, kéo những sọt rau quả, thịt cá,…từ dưới hầm tàu lên Có lần trong lúc trời dông bão, Thành đang kéo một sọt nặng trên boong tàu thì một đợt sóng lớn chồm tới, cuốn lấy thân thể mảnh dẻ của anh, và suýt lôi anh xuống biển Thật may mắn, vào khoảnh khắc cuối cùng thì anh bám được vào dây cáp và nhờ đó thoát chết…”

Qua đoạn trích dẫn trên các em có thể thấy được những hình ảnh cụ thể sinh động và hấp dẫn về những khó khăn mà Bác Hồ đã trải qua trên con đường tìm

Trang 40

đường cứu nước Bên cạnh đó còn có tác dụng giáo dục sâu sắc về lòng yêu nước nồng nàn của Hồ Chí Minh – là tấm gương sáng để các em học tập, noi theo Khi dạy “Bài 23: Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế

kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất (1914)”, giáo viên sử dụng một số đoạn trích trong tài liệu “Tiến trình lịch sử Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) để giúp học sinh hiểu rõ hơn về bản chất của phong trào nông

dân Yên Thế: “Phong trào nông dân Yên Thế (1883 – 1913) là sự kiện quan trọng

nhất của phong trào nông dân khởi nghĩa thời cận đại Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 30 năm, trải từ thời Cần Vương qua đầu thế kỉ XX, luôn là ổ đề kháng quan trọng mà nhiều lực lượng chính trị phải tìm kiếm Thực ra, Đề Thám không phải

là thủ lĩnh đầu tiên của phong trào này Người đầu tiên có công xây dựng căn cứ khởi nghĩa ở vùng Yên Thế và vùng lân cận là Đề Nắm (Lương Văn Nắm) Khi ông mất năm 1892, sự nghiệp được giao phó cho Phó tướng Đề Nắm (Trương Văn Thám), một thủ lĩnh nông dân có tài, trí dũng song toàn” Giúp HS có thêm

hiểu biết về thủ lĩnh và đặc điểm của phong trào nông dân Yên Thế

- Sử dụng tài liệu văn học:

Các tài liệu văn học từ xưa đến nay, trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới, có vai trò to lớn đối với việc DHLS ở trường THPT Các tác phẩm văn học, bằng những hình tượng cụ thể, có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình căm, cảm xúc của người đọc Giữa văn học và sử học có mối liên hệ khăng khít với nhau Tài liệu văn học góp phần quan trọng trong DHLS, làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập của học sinh

Ví dụ: Khi dạy “Bài 22:Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp”, GV trích dẫn bài thơ: “Cao su đi dễ khó về”:

Cao su đi dễ khó về Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

Cao su đi dễ khó về Khi đi mất vợ, khi về mất con Cao su xanh tốt lạ đời Mỗi cây bón một xác người công nhân

Ngày đăng: 23/08/2019, 12:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w