1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG dân số HỌC VÀ LAO ĐỘNG dành cho sinh viên đại học địa lí học

76 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngược lại, lịch sử cho thấy tái sản xuất dân số quá trình tạo nên sự biến đổi quy mô và cấu trúc tuổi giới tính phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển sản xuất của khu vực sản xuất v

Trang 1

(Dành cho Sinh viên ngành Đại học Địa lí học)

Tác giả: ThS Lê Thị Thu Hiền

Năm 2018

Trang 2

2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN SỐ HỌC 5

1.1 Khái niệm và đối tượng nghiên cứu 5

1.2 Biến động dân số 6

1.2.1 Các chỉ số đo sự biến động dân số 6

1.2.2 Sự biến động dân số thế giới qua các thời kỳ, nguyên nhân và hậu quả 16

1.3 Cơ cấu dân số 24

1.3.1 Khái niệm 24

1.3.2 Phân loại 24

1.4 Mối quan hệ giữa dân số với kinh tế - xã hội 24

1.4.1 Mối quan hệ giữa gia tăng dân số và phát triển 24

1.4.2 Mối quan hệ giữa dân số với kinh tế - xã hội 24

1.4.3 Mối quan hệ giữa dân số và giáo dục 24

1.4.4 Mối quan hệ giữa dân số và y tế 24

CHƯƠNG 2 PHÂN BỐ DÂN CƯ VÀ CÁC LOẠI HÌNH QUẦN CƯ 39

2.1 Phân bố dân cư 39

2.1.1 Khái niệm 39

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư 41

2.1.3 Tình hình phân bố dân cư trên thế giới 44

2.2 Các loại hình quần cư 51

2.2.1 Khái niệm 51

2.2.2 Quần cư nông thôn 51

2.2.3 Quần cư đô thị 53

Trang 3

3

CHƯƠNG 3 LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 59

3.1 Một số vấn đề về lao động 59

3.1.1 Cung lao động 59

3.1.2 Cầu lao động 60

3.1.3 Vai trò của lao động trong ngành du lịch 60

3.1.4 Phân loại lao động 61

3.1.5 Ý nghĩa, tác dụng của công tác tổ chức lao động, quản lý lao động 62

3.1.6 Các khái niệm và ý nghĩa của tiền lương, các khoản trích theo lương 63

3.2 Lao động trong lĩnh vực du lịch 64

3.2.1 Đặc điểm của lao động trong lĩnh vực du lịch 67

3.2.2 Đặc điểm cơ cấu lao động 68

3.2.3 Đặc điểm về tổ chức và quản lý lao động 67

3.2.4 Đặc điểm của lao động trong khách sạn 68

3.2.5 Bố trí nhân sự du lịch tại khách sạn, nhà hàng 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

\

Trang 4

4

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo trình Dân số học và lao động là giáo trình dành cho sinh viên ngành Đại học Địa lý học, chuyên ngành Địa lý du lịch Nội dung của giáo trình tập trung phân tích khía cạnh về dân số và nguồn lao động, những đặc điểm, mối quan hệ giữa dân số với sự phát triển kinh tế - xã hội, phân bố dân cư, các loại hình quần cư và đặc điểm lao động trong lĩnh vực du lịch

Giáo trình Dân số học và lao động được cấu trúc thành 3 chương Chương 1 đề cập đến Một số vấn đề chung về dân số học; chương 2 về Phân bố dân cư và các loại hình quần cư; chương 3 về Lao động trong lĩnh vực du lịch

Trong quá trình biên soạn giáo trình, tác giả đã sử dụng nhiều tài liệu tham khảo và luôn cập nhật sự thay đổi của các số liệu thống kê liên quan đến dân số và lao động Bên cạnh các tài liêu giáo trình, ấn phẩm của các nhà khoa học đã được xuất bản còn có các công trình, dự án, đề tài các cấp về dân số và lao động có thể sử dụng là tư liệu tham khảo Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các cơ quan về những kết quả nghiên cứu mà tác giả đã sử dụng và đưa vào giáo trình

Giáo trình Dân số học và lao động chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất mong sự góp ý chân tình từ các đồng nghiệp giảng viên và sinh viên của trường Đại học Quảng Bình Hi vọng rằng giáo trình sẽ là tài liệu bổ ích cho sinh viên chuyên ngành cũng như những người quan tâm khác

Trang 5

Nếu không có dòng sản xuất này thì cũng không có dòng sản xuất kia

Tồn tại dòng sản xuất ra đồ vật là do con người và vì con người Do đó, sản xuất cái

gì, với khối lượng bao nhiêu, đương nhiên là phụ thuộc vào số dân và nhu cầu của họ, mà nhu cầu này thay đổi phụ thuộc một phần vào độ tuổi và giới tính Hay nói khác đi: Quy mô,

cơ cấu sản xuất, tiêu dùng phụ thuộc khá chặt chẽ vào quy mô, cơ cấu dân số

Ngược lại, lịch sử cho thấy tái sản xuất dân số (quá trình tạo nên sự biến đổi quy mô

và cấu trúc tuổi giới tính) phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển sản xuất của khu vực sản xuất vật chất, đặc biệt là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nền sản xuất dựa trên những công cụ thủ công sẽ đòi hỏi số lượng lao động nhiều hơn là chất lượng lao động, điều này sẽ dẫn đến việc sinh nhiều con Tình hình hoàn toàn ngược lại đối với nền sản xuất dựa trên cơ sở điện khí hóa và tự động hóa

Nhưng tái sản xuất ra con người không chỉ phụ thuộc tương hỗ với khu vực sản xuất

đồ vật, hoạt động cốt lõi của nền kinh tế Ở tầm rộng lớn hơn, nó liên quan tới tất cả các yếu

tố khác của quá trình phát triển Những tiến bộ về mặt xã hội trong đó có hệ thống y tế, trình

độ giáo dục, sự bình đẳng nam nữ và sự bền vững về môi trường Thật vậy, kết hôn, hạn chế sinh đẻ, lựa chọn sinh con trai hay con gái, chống lại bệnh tật và cái chết… đều là hoạt động

có ý thức, cần đến tri thức và là những hoạt động riêng có của loài người Vì vậy, bình đẳng nam nữ, giáo dục, khoa học… (tức là các yếu tố của phát triển) càng cao, tri thức con người

sẽ càng rộng, ý thức con người ngày càng trở nên hợp lý, càng có tác động đến các quá trình dân số nói trên

Đối với mỗi cá nhân thì các đặc trưng dân số: Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, số con… và các yếu tố phát triển: văn hóa, nghề nghiệp, thu nhập, nhóm xã hội… cùng tồn tại trong một con người, trong một cơ sở vật chất chung nên chúng có mối liên hệ trực tiết, chặt chẽ

1.2 Biến động dân số

Trang 6

6

Dân số ở bất kỳ một lãnh thổ nào cũng đều có sự biến động theo thời gian do có những trẻ em mới được sinh ra, có những người chết đi do tuổi già và các nguyên nhân khác Sự biến động không ngừng dân số gây nên bởi các sự kiện sinh và tử gọi là biến động dân số tự nhiên hay là tái sản xuất dân số (theo nghĩa hẹp) Trên thực tế, sự biến động dân số tự nhiên chỉ có trên quy mô toàn thế giới Ở các vùng lãnh thổ nhỏ hơn (châu lục, các quốc gia, vùng, miền của một nước ), do những hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, sức khoẻ mà con người lại di chuyển từ nơi này sang nơi khác, làm cho dân số xảy ra do tác động của di cư như vậy gọi là biến động dân số cơ học

Ngoài hai loại biến động dân số nói trên, còn có một loại biến động của dân cư là biến động xã hội Đó là biến động dân số về các khía cạnh xã hội như : trình độ giáo dục, cơ cấu nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân Bởi vì theo thời gian, con người lớn lên, đi học, làm việc, thay đổi nơi ở, kết hôn

Như vậy, sự đổi mới không ngừng dân số của một lãnh thổ là kết quả tổng hợp của ba loại biến động tự nhiên (sinh, tử), biến động cơ học (đi, đến) và biến động xã hội, gọi là tái sản xuất dân số theo nghĩa rộng

Để đo lường sự biến động dân số, người ta sử dụng nhiều loại tỉ suất sinh, tỉ suất tử, tỉ suất gia tăng cơ học, tỉ suất gia tăng tự nhiên và các chỉ số khác Mỗi loại thước đo nói trên

có một ý nghĩa riêng và được tính toán theo những cách riêng

1.2.1 Các chỉ số đo sự biến động dân số

1.2.1.1 Các chỉ tiêu đo tỷ lệ sinh

Tỉ suất sinh chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: tình trạng sức khoẻ, tâm lý xã hội, phong tục tập quán, hoàn cảnh KTXH, chính sách dân số của từng quốc gia

Có nhiều chỉ số đo lường mức sinh, dưới đây là một số chỉ số thường dùng trong lĩnh vực địa lý KTXH

a Tỉ suất sinh thô (CBR – Crude Birth Rate):

Tỉ suất thô là tỉ số giữa số trẻ em sinh ra trong năm so với 1000 người dân trong cùng thời gian đó

Công thức tính tỉ suất sinh thô : CBR = 1000

)7/1( x

P B

Trong đó :

+ B là số trẻ em sinh ra trong năm

+ P1/7 là số dân trung bình năm của một nước hoặc một địa phương nào đó

Trang 7

7

Để đơn giản tính toán người ta thường lấy số dân trong bình năm là số dân tính đến thời điểm giữa năm (thông thường là ngày 1/7)

b Tỉ suất sinh chung (GFR – General Fertility Rate):

Tỉ suất sinh chung là tỉ số giữa số trẻ em sinh ra trong năm so với 1.000 phụ nữ ở độ tuổi có khả năng sinh đẻ trong cùng năm đó

Công thức tính tỉ suất sinh chung : GFR =

)4915( −

W

B

x 1.000 Trong đó :

+ B là số trẻ em sinh ra trong năm còn sống

+ W(15 – 49) là số phụ nữ trung bình ở độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi)

Số phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ tính đến thời điểm trung bình năm (01/07) là số phụ nữ trung bình được dùng để tính trong công thức

Tỉ suất sinh chung phụ thuộc vào cơ cấu tuổi của phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi Nhìn chung, mức sinh ở tuổi 15 hầu như không đáng kể Ở độ tuổi 20 – 30, mức sinh đạt cao nhất, rồi giảm dần cho đến tuổi 49

c Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR – Age Specific Fertility Rate):

Tỉ suất này được tính bằng tỉ số giữa số trẻ em sinh ra trong năm và số phụ nữ theo từng nhóm tuổi tương ứng

Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi là chỉ số đo mức sinh chính xác hơn các tỉ suất sinh kể trên (CBR và GFR)

Nếu chọn khoảng cách giữa hai nhóm tuổi liên tiếp nhau là 5 năm thì có thể chia độ tuổi

có khả năng sinh đẻ của phụ nữ ra thành các nhóm sau: 15 – 19; 20 – 24; 25 – 29; 30 – 34; 35 – 39; 40 – 44; 45 – 49 (có 7 nhóm tuổi)

Công thức tính tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi :

+ Wx là số phụ nữ thuộc nhóm tuổi x

+ Bx là số trẻ em sinh trong năm còn sống của những bà mẹ thuộc nhóm tuổi x

d Tổng tỉ suất sinh (TFR – Total Fertility Rate):

Trang 8

8

Tổng tỉ suất sinh là tổng của các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi tính cho từng nhóm tuổi trong độ tuổi sinh đẻ của phụ nữ Về bản chất, tổng tỉ suất sinh là số con trung bình sinh ra còn sống của một người phụ nữ trong suốt cuộc đời mình

Công thức tính tổng tỉ suất sinh :

TFR = n.x

000.1

.000

.1

7 1 49

15

ASFR x

n a x

ASFR

=

= =

Trong đó : n là số năm của từng nhóm tuổi (n = 5 năm)

Nếu khoảng cách của nhóm tuổi là 5 (15 – 19; 20 – 24; 25 – 29, , 45 – 49)

Thì TFR = 5x

000.1

7 1

Người ta quy ước các mức tổng tỉ suất sinh như sau :

+ TFR < 2,15 : mức sinh thấp

+ TFR từ 2,15 đến 4,1 : mức sinh trung bình

+ TFR trên 4,1 : mức sinh cao

Bảng 1.1 Tổng tỉ suất sinh ở các nhóm nước trên thế giới

Thời kỳ Tổng tỉ suất sinh (TFR) Khác biệt

Các nước ĐPT Các nước phát triển

Trang 9

1.2.1.2 Các chỉ tiêu đo tỷ lệ tử vong

Cũng như việc đo lường mức sinh, để đo lường mức tử vong của dân cư người ta sử dụng nhiều loại tỉ suất tử khác nhau Dưới đây là một số chỉ số thường được dùng rộng rãi nhất

a Tỉ suất tử thô (CDR – Crude Death Rate):

Tỉ suất tử thô là tỉ số giữa số người chết trong cả năm so với 1.000 người dân trong cùng năm đó

Công thức tính tỉ suất tử thô : CDR =

) 7 / 1 (

P

D

x 1.000

Trong đó :

+ D là số người chết trong năm

+ P(1/7) là số dân trung bình năm

Người ta quy nước các mức tỉ suất tử thô như sau :

+ CDR < 110/00 : mức tử thấp

+ CDR từ 11 đến 140/00 : mức tử trung bình

+ CDR từ 15 đến 250/00 : mức cao

+ CDR trên 250/00 : mức tử rất cao

Trang 10

10

Việc nghiên cứu động thái của tỉ suất tử thô trong vòng nhiều năm cho phép chúng ta phán đoán được sự thay đổi của mức tử vong nói chung Động thái của tỉ suất này lệ thuộc vào tình hình biến động cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính Xu hướng hiện nay trên thế giới là tỉ suất tử vong giảm, có được điều này là do trình độ y tế ngày càng được cải thiện, nhất là ở các nước đang phát triển

Năm 2014, CDR trên toàn thế giới là 7,890/00, trong đó các nước có CDR thấp nhất như Các tiểu vương quốc Ả Rập (1,99), Singapore (3,42), Paraguay (4,64), Oman (3,38), Libya (3,57), Việt Nam (5,93) và các nước có CDR cao nhất như Mali (13,22), Hungary (12,72), Hy Lạp (11), Đức (11,29)

b Tỉ suất tử đặc trưng theo tuổi (ASDR – Age Specific Death Rate):

Tỉ suất này thể hiện chính xác hơn mức tử vong của dân cư và được dùng để đo lường mức

tử vong cuả dân cư theo các nhóm tuổi (thông thường là 5 năm)

Công thức tính tỉ suất tử đặc trưng theo tuổi :

ASDR(x/x + n) =

) / (

) / (

n x x

n x x

+ D(x/x + n) là số người chết trong năm của nhóm tuổi x đến x + n

+ P(x/x + n) là số dân trung bình năm của nhóm tuổi x đến x + n

Thông thường tỉ suất tử đặc trưng theo tuổi được tính riêng cho từng giới (nam, nữ) Nếu sử dụng khoảng cách giữa các nhóm tuổi là 5 thì thường nhóm tuổi đầu tiên là từ 0 – 4 tuổi được tính thành hai phân nhóm: dưới 1 tuổi và từ 1 đến 4 tuổi Việc phân chia như vậy sẽ hợp lý hơn vì số trẻ em dưới 1 tuổi có mức tử vong rất cao

Khi nghiên cứu mức tử vong nói chung, người ta thường xem xét trước hết là động thái của tỉ suất theo độ tuổi, sau đó mới xác định sự phụ thuộc của mức tử vào các nhân tố khác

c Tỉ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (IMR – Inafanl Mortality Rate)

Tỉ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (tỉ suất chết 0 tuổi hay còn gọi là tỉ suất tử vong của trẻ sơ sinh) là tỉ số giữa số trẻ em sinh ra bị chết dưới một tuổi trong năm so với 1.000 trẻ em sinh ra còn sống trong cùng năm đó

Công thức tính tỉ suất tử vong trẻ em : IMR = x1 000

B Do

Trong đó :

Trang 11

11

+ B0 là số trẻ em sinh ra bị chết dưới 1 tuổi trong năm

+ B là số trẻ em sinh ra còn sống trong năm

Tỷ suất này phản ánh trình độ, khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, sức khoẻ của trẻ em một nước Xu hướng hiện nay trên thế giới là tỉ suất tử vong trẻ em ngày càng giảm dần Tuy nhiên, tỉ suất này vẫn còn chênh lệch khá lớn giữa các nước đang phát triển và nước phát triển, giữa các châu lục và khu vực trên thế giới

d Tỉ suất tử vong người mẹ khi sinh (MMR – Maternal Mortality Rate):

Tỉ suất tử vong của người mẹ khi sinh là tỉ số giữa số người mẹ bị tử vong khi sinh trong năm so với 1.000 đứa trẻ em sinh ra còn sống trong cùng năm đó Tỉ suất này phản ánh mức độ chăm sóc và thể trạng sức khoẻ cuả người mẹ khi sinh

Công thức tính : MMR =

B

W D

x 1.000 Trong đó : + WD là số người mẹ chết khi sinh

+ B là số trẻ em sinh ra còn sống trong năm

e Tuổi thọ trung bình (e 0 ) và tỉ suất tử vong của trẻ em có liên quan mật thiết với nhau

Trong điều kiện cơ cấu dân số như nhau, nước nào có tuổi thọ trung bình càng cao thì tỉ suất

tử vong của trẻ em của nước đó càng thấp và người lại

Tuổi thọ trung bình hay triển vọng sống trung bình (kỳ vọng sống – life expectancy) là

sự ước tính số năm bình quân của một người sinh ra có thể sống được Tuổi thọ trung bình không tính tới những trường hợp chết không bình thường (chết do tai nạn, chết do chiến tranh ) Tuổi thọ trung bình là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sống của dân cư và đồng thời phản ánh được nhiều khía cạnh khác về KTXH của một quốc gia, một địa phương Tuổi thọ trung bình của dân cư chịu ảnh hưởng chủ yếu vào các điều kiện: điều kiện sống, các điều kiện chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ, vào tỉ suất tử vong của trẻ em nhất là tỉ suất

tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi (trẻ sơ sinh)

Báo cáo của Liên Hợp Quốc cho thấy, tuổi thọ trung bình của thế giới đã tăng từ 46,9 tuổi giai đoạn 1950-1955 lên 70 tuổi giai đoạn 2010-2015 Tuổi thọ của nam giới tăng từ 45,9 lên 67,8 tuổi còn nữ giới tăng từ 47,9 lên 72,3 tuổi Trung bình, mỗi thập kỷ, nam giới tăng lên 3,65 tuổi còn nữ giới tăng lên 4,06 tuổi

Tuổi thọ trung bình của các nước phát triển năm 2013 là 77,7 tuổi, các nước đang phát triển là 68,3 tuổi Nếu như tuổi thọ của các nước phát triển tăng 2,4 tuổi/thập kỷ giai đoạn

Trang 12

là châu Phi với 58,2 tuổi, thấp hơn châu Á tới 13,2 tuổi và Bắc Mỹ 20,9 tuổi

Từ 201 quốc gia và vùng lãnh thổ vào năm 2013, Liên Hợp Quốc đã đưa ra bảng xếp hạng 10 quốc gia và vùng lãnh thổ có tuổi thọ trung bình cao nhất (từ 81,7 đến 83,5 tuổi) là Nhật Bản, Hồng Kông, Thụy Sỹ, Australia, Italy, Singapore, Iceland, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Israel và 10 nước đứng cuối bảng xếp hạng với tuổi thọ trung bình chỉ là 51,7 đến 45,3 tuổi, lần lượt là (từ thấp đến cao): Sierra Leone, Botswana, Swaziland, Lesotho, Cộng hòa Dân chủ Congo, Cộng hòa Trung Phi, Mozambique, Côte d’Ivoice, Chad và Angola Tuổi thọ bình quân của nước ta đến năm 2013 là 73,1 tuổi (cao hơn mức 69,3 tuổi của nhóm nước HDI trung bình và cao hơn cả mức 72,6 tuổi của nhóm có HDI cao) Đến năm

2020, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam sẽ đạt 75 tuổi (theo Bộ Y tế) Xu hướng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đang tăng nhanh chóng Ngoài các yếu tố có tính tự nhiên, tuổi thọ cao của người Việt Nam là kết quả của việc cải thiện mức sống, chăm lo sức khỏe con người

1.2.1.3 Các chỉ tiêu đo sự gia tăng tự nhiên

a Khái niệm gia tăng dân số tự nhiên

Dân số của một lãnh thổ trong từng thời kỳ tăng hay giảm là kết quả của mối tương quan giữa số sinh và số tử Sự tăng, giảm dân số như vậy gọi là gia tăng dân số tự nhiên (gia tăng tự nhiên) Gia tăng dân số tự nhiên, ở mức độ lớn quyết định tình hình dân số của một lãnh thổ

Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà có những cách khác nhau để tính toán tỉ suất gia tăng tự nhiên Dưới đây là một số cách tính toán chủ yếu

b Các loại tỉ suất tăng tự nhiên :

* Tỉ suất tăng tự nhiên tại một thời điểm (NIR – Natural Increase Rate):

Khi tính toán tỉ suất gia tăng tự nhiên, người ta thường dùng đơn vị tính là phần trăm (%)

NIR =

) 7 / 1 (

Trong đó : + B là số trẻ em sinh ra trong năm

Trang 13

13

+ D là số người chết trong năm

+ P(1/7) là số dân trung bình năm

* Tỉ suất tăng tự nhiên giữa hai thời điểm :

Tỉ suất này thường được dùng để tính tốc độ gia tăng dân số trung bình năm của một thời kỳ

Gọi : + P1 là số dân ở thời điểm t1

+ P2 là số dân ở thời điểm t2

+ t1, t2 là các mốc thời gian của năm đầu và năm cuối của thời kỳ

+ r là tỉ suất tăng dân số trung bình năm

Có nhiều cách tính tỉ suất tăng dân số giữa hai thời điểm Dưới đây là cách tính thường được dùng để tính toán trong Dân số học

P P

c Gia tăng tự nhiên và tái sản xuất dân cư :

Từ trước tới nay, dân số thế giới luôn tăng với nhịp độ khác nhau Thực chất, gia tăng

tự nhiên là sự kế tiếp của các thế hệ; thế hệ già được thay thế bằng thế hệ trẻ Nói cách khác, gia tăng tự nhiên về cơ bản chính là quá trình tái sản xuất dân cư

Như một trong những quá trình tái sản xuất chủ yếu của xã hội, tái sản xuất dân cư là một quá trình thường xuyên khôi phục các thế hệ con người Quá trình này diễn ra dưới tác động qua lại của các quá trình sinh và tử trong phạm vi các quan hệ xã hội nhất định

Người ta chia ra ba loại hình thái tái sản xuất dân cư :

- Tái sản xuất dân cư mở rộng (khi số lượng của thế hệ sau lớn hơn số lượng của thế hệ trước)

- Tái sản xuất dân cư giản đơn (số lượng người không thay đổi trong quá trình thay thế các thế hệ)

- Tái sản xuất dân cư thu hẹp (số lượng người của thế hệ sau ít hơn số lượng của thế hệ trước)

Việc tái sản xuất dân cư rõ ràng không phải quá trình sinh học đơn thuần mà là kết quả tác động tổng hợp của nhiều nhân tố (nhân tố tự nhiên – sinh học, nhân số KTXH, tâm lý ), trong đó nhân tố KTXH giữ vai trò quyết định

Trang 14

14

d Phân loại gia tăng tự nhiên :

Có thể phân biệt bốn nhóm nước với mức gia tăng dân số khác nhau (2014):

- Nhóm nước có dân số không phát triển hoặc dân số phát triển giật lùi

Nhóm nước này có đặc trưng là tỉ suất sấp xỉ bằng tỉ suất tử, thậm chí tỉ suất sinh còn nhỏ hơn tỉ suất tử nên tỉ suất gia tăng dân số hàng năm xấp xỉ bằng học nhỏ hơn không ( 0%) Một số nước thuộc nhóm này như Đức (-0,18%), Nhật (-0,13), Belarus (-0,19), Armenia (-0,13)…

- Nhóm nước có dân số phát triển chậm :

Nhóm nước này có đặc trưng là tỉ suất và tỉ suất tử đều thấp, nên tỉ suất gia tăng dân số hàng năm nhỏ hơn 1% Một số nước thuộc nhóm này như : Bỉ (0,05), Đan Mạch (0,22), Ca-na-đa (0,76), Trung Quốc (0,44), Ac-hen-ti-na (0,95), Brazil (0,8)…

- Nhóm nước có dân số phát triển trung bình :

Nhóm nước này có đặc trưng là tỉ suất sinh tương đối cao (CBR : 25 – 29%0), tỉ suất tử trung bình (CDR : 11 – 14%0), tỉ suất gia tăng dân số hàng năm nằm trong khoản 1 – 2% như : Việt Nam (1,0), Australia (1,09), Brunây (1,65), Cam-pu-chia (1,63), Italia (1,46), Bangladesh (1,6)…

- Nhóm nước có dân số phát triển nhanh hoặc rất nhanh :

Là những nước có tốc độ tăng dân số trên 2%, thậm chí có nhiều nước còn ở mức trên 3% Điển hình như các nước: Kenya (2,11), Angola (2,78), Zimbabwe (4,36), Liberia (2,52) Nhìn chung, dân số trên thế giới kể từ sau 1950 đến nay tăng rất nhanh và tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển Như vậy, sự phát triển dân số thế giới được quyết định bởi sự gia tăng dân số của các nước đang phát triển

1.2.1.4 Các chỉ tiêu đo sự di cư

Gia tăng cơ học chính là sự chênh lệch giữa số người xuất cư và số người nhập cư Khi

đề cập đến gia tăng cơ học tức là nói đến quá trình di cư (di dân)

a Khái niệm di cư (di dân) :

Bắt nguồn từ tiếng Latinh “migratio” (di cư thuyên chuyển chỗ ở), di cư là sự di chuyển cuả người dân theo lãnh thổ với những chuẩn mực về không gian và thời gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú

Liên quan đến khái niệm di cư, cần phân biệt hai bộ phận cấu thành của một quá trình: xuất cư và nhập cư

Trang 15

15

Xuất cư bắt nguồn từ tiếng Latinh “emigro” (chuyển đi) là việc di cư đi (tự nguyện hay bắt buộc) sang lãnh thổ khác (hay nước khác) để sinh sống thường xuyên hay tạm thời (trong thời gian dài) Đây là hiện tượng đặc trưng cho nhiều nước đang phát triển

Nhập cư bắt nguồn từ tiếng Latinh “immigro” (chuyển đến) là việc đi đến lãnh thổ nào

đó của một người công dân (Nhập cư đôi khi đóng vai trò quyết định trong việc hình thành dân cư của một số nước như Hoa Kỳ, Canađa)

b Các hình thức di cư :

Có nhiều hình thức di cư Tuỳ theo những dấu hiệu nhất định có thể phân ra các hình thức khác nhau Cho đến nay chưa có sự phân biệt nào được thừa nhận rộng rãi

* Một trong những dấu hiệu cơ bản là việc vượt quá ranh giới của lãnh thổ (quốc gia,

tỉnh, huyện, ) Trên cơ sở này người ra phân biệt di cư bên ngoài và di cư bên trong

- Nếu hình thức di cư vượt qua biên giới quốc gia thì được gọi là di cư quốc tế Di cư quốc tế lại tiếp tục được chia thành di cư liên lục địa (giữa các lục địa) và di cư nội điạ lục địa (trong lục địa) Cách chia này chỉ mang tính chất ước lệ

- Di cư bên trong là việc chuyển nơi cư trú giữa các khu vực quần cư trong một quốc gia Trong hình thức này, người ta còn phân biệt ra các hình thức cụ thể như sau :

+ Di cư nông thôn – thành phố

+ Di cư giữa các thành phố

+ Di cư giữa các vùng nông thôn

Ứng với cách phân chia trên là các dùng di cư : nông thôn – thành phố (từ nông thôn ra thành phố), thành phố – thành phố (từ thành phố này sang thành phố khác), và nông thôn – nông thôn Trong ba hình thức kể trên, kiểu di cư nông thôn – thành phố có ý nghĩa quan trọng hơn cả Tuy nhiên, sự phát triển của quá trình đô thị hoá đã làm tăng vai trò của hình thức di cư thành phố – thành phố

* Phụ thuộc vào độ dài của thời gian di cư, có thể chia ra di cư vĩnh viễn hay di cư

không quay trở về (ví dụ, di cư liên lục địa hoặc di cư từ nông thôn ra thành phố thường mang tính chất này) và di cư tạm thời hay di cư quay trở về (ví dụ, di cư tạm thời vì lý do học tập, công tác)

* Theo cách thức di cư, có thể phân biệt di cư có tổ chức (có sự hỗ trợ của Nhà nước

hay các tổ chức xã hội) và di cư không có tổ chức (di cư mang tính chất cá nhân không sự hỗ trợ của Nhà nước hay của một cơ quan nào đó)

Trang 16

16

Khi nghiên cứu di cư, người ta thường chú ý đến việc di chuyển của các nhóm xã hội khác nhau, trong đó di cư của các lực lượng lao động có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của xã hội

Nếu như tỉ suất tăng tự nhiên là động lực chính của việc phát triển dân số thì tỉ suất gia tăng cơ giới lại có ảnh hưởng tới số lượng cấu trúc của dân số

c Các chỉ số đo lường gia tăng cơ học:

Tỉ suất nhập cư (IMR – Immigration Rate)

a Khái niệm gia tăng thực tế :

Gia tăng thực tế là tổng của gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ giới Nó thể hiện một cách chan thật, đầy đủ về tình hình biến động dân số của một lãnh thổ (quốc gia, vùng )

b Tỉ suất gia tăng thực tế : (tỉ suất gia tăng dân số – Population Growth Rate)

PGR (hoặc r) =

P

E I D

B ) ( )

x 100 = NIR – NMR (%)

Mặc dù gia tăng thực tế bao gồm hai bộ phận cấu thành, nhưng động lực phát triển dân

số của một nước là sự gia tăng tự nhiên Còn trên phạm vi toàn thế giới, do tỉ suất gia tăng cơ giới bằng không (0) nên gia tăng thực tế chính là gia tăng tự nhiên của dân số (Do NMR = 0

=> PGR = NIR)

Như vậy, đối với một nước việc điều khiển sự phát triển dân số trước hết và chủ yếu phải nhằm vào việc điều khiển tốc độ gia tăng tự nhiên, đặc biệt là điều khiển tỉ suất sinh

1.2.2 Sự biến động dân số thế giới qua các thời kỳ, nguyên nhân và hậu quả

* Các mốc thời kỳ dân số trên thế giới:

Trang 17

1.2.2.1 Xu hướng biến động dân số ở các nước phát triển

Nếu như ở các nước đang phát triển đang có sự bùng nổ dân số thì ở các nước kinh tế phát triển, tình hình dân số lại diễn ra theo chiều hướng ngược lại Số dân của các nước thuộc nhóm nước kinh tế phát triển chưa đầy 1/3 dân số thế giới với xu hướng ngày càng thấp về tỉ trọng Năm 2014, dân số ở các nước phát triển khoảng 1,3 tỉ người Ở các nước kinh tế phát triển có sự khác nhau về mức độ gia tăng và số dân giữa các thời kỳ Trong suốt hai thập kỷ,

từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, dân số của các nước này tăng nhanh Sau đó (giữa thế kỷ XX đến nay), mức gia tăng dân số hết sức chậm, đặc biệt là các nước Tây Âu Điều đó tạo nên sự già đi của dân số

Bảng 3.3 Nhịp độ gia tăng dân số thế giới theo các nhóm nước từ 1750 đến 2000

Trang 18

Có thể phân biệt hai loại già đi của dân số:

- “Già từ bên dưới” do việc giảm dần số trẻ em liên quan tới hiện tượng giảm tỉ suất sinh

- “Già từ bên trên” do tăng số người già gắn liền với việc giảm mức tử vong ở lứa tuổi già, trong khi đó số trẻ em tăng lên chậm

Trên thế giới sự già đi của dân số diễn ra không giống nhau về mức độ giữa các nước

Xu hướng già đi của dân số lần đầu tiên bộc lộ rõ nhất ở Pháp Ngay từ năm 1870, nước Pháp

đã bước qua ngưỡng già (12% số dân từ 60 tuổi trở lên) Chậm hơn một chút đến lượt Thuỵ Điển (1901), Anh (1931), Đức (1937)

Về cường độ, quá trình già đi mạnh nhất tập trung ở các nước Tây Âu và Hoa Kỳ Đối với các nước đang phát triển, bùng nổ dân số là vấn đề đang được quan tâm hàng đầu Còn đối với các nước phát triển lại là vấn đề “bùng nổ tuổi già”, bởi vì quá trình già đi của dân số nảy sinh hàng loạt hậu quả về kinh tế, xã hội, đạo đức mà xã hội cần phải quan tâm giải quyết

1.2.2.2 Xu hướng biến đổi dân số ở các nước đang phát triển

Dân số ở các nước đang phát triển (châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh) hiện đang tăng rất nhanh Số dân của các nước này chiếm hơn 2/3 dân số thế giới và sẽ đạt 4/5 vào cuối thế kỷ này Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số thế giới 7.174.611.584.000 người Theo dự đoán của LHQ, trong số 2,2 tỉ người tăng thêm trong khoảng thời gian từ 1975 đến năm 2000 thì 90% (gần 2 tỉ) thuộc về các nước đang phát triển

Có sự khác nhau về tốc độ gia tăng dân số giữa hai nhóm nước trong những thời kỳ khác nhau Trong suốt hai thế kỷ XVIII và XIX dân số ở các nước kinh tế phát triển luôn có tốc độ gia tăng lớn hơn các nước đang phát triển Bước sang thế kỷ XX, tình hình hoàn toàn ngược lại, sự chênh lệch về tốc độ gia tăng trung bình năm của hai nhóm nước ngày càng lớn, đặc biệt từ sau những năm 50 trở lại đây

Bảng 1.5 Dân số năm 2013 các châu lục

Trang 19

Dân số ở các nước đang phát triển đang tăng vọt, tạo nên hiện tượng “bùng nổ dân số”

Thực chất bùng nổ dân số là hiện tượng số dân thế giới tăng rất nhanh kể từ những năm 50 của thế kỷ XX Ngày nay, thuật ngữ bùng nổ dân số trở nên thông dụng

Việc giải quyết hiện tượng này chủ yếu dựa trên cơ sở lý thuyết quá độ dân số Bùng nổ dân số chẳng qua là việc tăng nhanh số dân trong một thời gian nào đó Tuy cả tỉ suất sinh và

tỉ suất tử đều giảm, nhưng mức tử vong giảm nhanh hơn nhiều, dẫn đến việc số dân tăng vọt

mà hoàn toàn không có quan hệ với nhu cầu khách quan của xã hội

Bùng nổ dân số là hiện tượng có tính chất tạm thời Đến một giai đoạn nào đó, tương quan giữa các kiểu (chế độ) sinh và tử trước kia bị phá huỷ sẽ được khôi phục lại Kiểu tái sản xuất dân cư cơ bản sẽ thay thế cho kiểu tái sản xuất dân cư trung gian Hiện tượng bùng

nổ dân số sẽ dần dần lắng dịu Tuy nhiên, nhịp điệu của quá độ dân số phụ thuộc vào sự phát triển KTXH Nếu tốc độ phát triển KTXH tương đối chậm thì kiểu tái sản xuất dân cư trung gian còn đứng vững trong một thời gian dài, điều này thường thấy ở các nước vừa mới giành được độc lập Vì thế nhiều nước đang phát triển đã và đang thực hiện chính sách dân số nhằm khắc phục tính chất quá độ của tái sản xuất dân cư, trước hết tập trung vào việc giảm nhanh tỉ suất sinh

* Vấn đề kế hoạch hoá dân số :

Trang 20

20

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, một nền sản xuất xã hội bao gồm hai mặt; sản xuất của cải vật chất và tái sản xuất con người Hai kiểu sản xuất đó có mối tương quan mật thiết, tác động lẫn nhau trong sự thống nhất biện chứng

Sản xuất vật chất quyết định trực tiếp sự sống của con người, là cơ sở để tái sản xuất con người

Ngược lại, tái sản xuất con người là tiền đề cuả sản xuất vật chất, có con người mới có sản xuất; không có sự tái sản xuất con người thì không có sự thay thế, đổi mới, tăng cường sức lao động

Chỉ khi nào tái sản xuất con người hợp lý (số dân và tốc độ tăng dân số phù hợp với trình độ sản xuất) thì xã hội mới phát triển, chất lượng cuộc sống mới được nâng cao Ngược lại, nếy số dân và tốc độ tăng dân số không cân đối với sản xuất vật chất thì sự phát triển của

xã hôị sẽ bị cản trở và kìm hãm Ăngghen đã chỉ ra rằng “đến một giai đoạn nhất định của lịch sử, mỗi dân tộc phải tự mình quyết định về số lượng dân cư cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội của mình Mỗi dân tộc có nhiệm vụ điều chỉnh quá trình tái sản xuất con người như điều chỉnh quá trình tái sản xuất vật chất vậy

Tình hình gia tăng dân số hiện nay trên thế giới (rất nhanh) và những hậu quả kinh tế,

xã hội và môi trường của nó gây ra đã thành mối quan tâm lớn cuả chính phủ nhiều nước; nhất là ở các nước đang phát triển

Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề gia tăng dân số trên thế giới, ngay từ giữa thế kỷ

XX đã có nhiều chính phủ ban hành chính sách dân số Ấn độ là một trong những quốc gia có chính sách dân số sớm nhất (1951) Việc đầu tư vào con người với những chính sách dân số hợp lý sẽ là một trong những chìa khoá quan trọng mở cánh cửa phát triển KTXH hội của mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu Điều này ngày càng thể hiện rất rõ trong các hội nghị về dân số thế giới, nhát là hai hội nghị dân số gần đây

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rằng muốn kế hoạch hoá sự phát triển KTXH, cần nhận thức đúng dân số là những số liệu đầu tiên cần phải tính đến trong quá trình lập kế hoạch Mọi kế hoạch được xây dựng có liên quan đến vấn đề lương thực và thực phẩm, nhà

ở, việc làm, giáo dục, y tế, dịch vụ công cộng đều phải dựa trên số lượng, thành phần và sự phân bố dân cư

Do đó, vấn đề kế hoạch dân số là một trong những vấn đề quan trọng và luôn phải tính đến trong mọi đường lối, chính sách phát triển KTXH của bất cứ quốc gia nào

Trang 21

21

Kế hoạch hoá dân số được hiểu là một chương trình quốc gia với tổng hợp các biện pháp nhằm điều chỉnh dân số phát triển một cách tối ưu và cân đối với trình độ phát triển KTXH

Một đất nước với dân số tối ưu, hợp lý (về số lượng, chất lượng và tốc độ gia tăng dân số) có thể tạo mức sản xuất vật chất cao nhất

Ở các nước đang phát triển vào những năm 60 đã thực hiện khá rộng rãi chương trình quốc gia về kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) Đến thập kỷ 70 đã có hơn 30 nước thuộc châu

Á, Phi và Mỹ Latinh triển khai chương trình này với mục tiêu chính thức là giảm tỉ suất sinh

từ 35 – 45% năm 1965 – 1970 xuống còn 15 – 25% vào năm 1985 Nhiều quốc gia đã và đang thực hiện rất tốt chương trình dân số Chẳng hạn như, Trung Quốc hàng năm có TFR giảm bình quân 0,17 con, nếu năm 1950 bình quân mỗi phụ nữ của nước này có 6,08 con thì sau 43 năm (1993) chỉ còn 1,9 con

Ngay từ năm 1963, nhằm giải quyết vấn đề dân số ở nước ta, Đảng và Chính phủ đã phát động cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, với mục tiêu hạ tỉ lệ phát triển dân số đến năm

1980 còn khoảng 2% một ít Nghị quyết các Đại hội lần thứ IV, V, VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định cần có một chính sách dân số và kiên quyết thực hiện chính sách đó với mức phấn đấu hạ tỉ lệ phát triển dân số xuống còn 1,7%

Trong suốt mấy thập kỷ vừa qua, nước ta đã kiên trì thực hiện chính sách dân số KHHGĐ Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở toàn quốc lần thứ 3 (01/4/1999) cho thấy, nếu trong 9,5 năm từ 01/10/1979 – 01/4/1989, dân số nước ta đã tăng lên 11,6 triệu người với tỉ lệ tăng trung bình mỗi năm là 2,1% thì trong 10 năm 1989 – 1999, dân số nước

ta chỉ tăng 11,9 triệu người với tỉ lệ tăng trung bình mỗi năm là 1,7% Như vậy, tỉ lệ tăng dân

số trong vòng 10 năm qua đã giảm được 0,4% so với 10 năm trước đó và số dân tránh được mỗi năm là 0,5 triệu người Riêng năm 1999 tỉ lệ phát triển dân số của nước ta giảm xuống còn 1,58% và kết quả là dân số chỉ ở mức 76,3 triệu người, thấp hơn so với con số dự đoán trước đây (78 triệu) Kết quả này đã có ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Trong thập kỷ qua, đầu tư cho công tác dân số – KHHGĐ đã mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, mỗi đồng đầu tư cho công tác này đã góp phần tăng thêm hơn 15 đồng GDP bình quân đầu người mỗi năm Chính vì vậy mà Việt Nam được UNFPA đánh giá

là một trong những nước thực hiện tốt chính sách dân số KHHGĐ (Việt Nam được LHQ trao giải thưởng dân số năm 1999)

Việc thực hiện chính sách dân số đòi hỏi phải tiến hành một cách kiên trì, sử dụng một hệ sống tổng hợp các biện pháp nhằm vào tất cả các đối tượng dân số

Các biện pháp chủ yếu để thực hiện chính sách dân số là :

Trang 22

22

- Giáo dục

- Thực hiện các biện pháp kỹ thuật (y tế)

- Ban hành những chính sách xã hội nhằm khuyến khích việc thực hiện chính sách dân

số

1.2.2.3 Vấn đề di dân trên thế giới

a Các nhân tố ảnh hưởng đến sự di cư

Di cư chịu tác động của nhiều nhân tố, nhưng nhìn chung, các luồng di cư thường gắn liền với những nguyên nhân kinh tế hoặc thể hiện ở những khía cạnh khác nhau (lịch sử, xã hội, tôn giáo) của vấn đề KTXH Ngoài ra, các nhân tố tự nhiên cũng có vai trò nhất định trong việc di cư

Dân cư thường di cư từ các nước (hoặc các vùng) kinh tế phát triển kém hơn sang các nước (hoặc các vùng) kinh tế phát triển hơn Các dòng di cư diễn ra giữa nơi thừa lao động

và các khu vực có nhu cầu cao về lao động: Tây Âu – Bắc Mỹ (nửa đầu thế kỷ XIX), Đông

Âu – Bắc Mỹ (nửa đầu thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX), Nam Âu – Tây Âu (giữa những năm 50) Tình hình chính trị cũng là một nhân tố tác động tới cường độ di cư, đặc biệt là trước và sau các cuộc chiến tranh thế giới Sau chiến tranh thế giới thế hai, khoảng 10 triệu người Đức, 6 triệu người Nhật đã hồi hương, 8 triệu tính đồ Ấn giáo từ Pakixtan về Ấn Độ và cũng với số lượng như vậy tín đồ Hồi giáp từ Ấn Độ về Pakixtan

b Vai trò của sự di cư đối với sự phát triển KTXH

Di cư mang bản chất KTXH sâu sắc Người ta thường di cư vì các nguyên nhân KTXH

Bên cạnh những khía cạnh tích cực do di cư mang lại, di cư còn gây ra một số hạn chế

về phương diện KTXH

Trang 23

c Sơ lược về lịch sử di cư trên thế giới qua các thời kỳ khác nhau

Thật ra di cư đã có từ lâu đời Quy mô của di cư lớn lên đáng kể do sự cằn cỗi của các đồng cỏ chăn nuôi gắn liền với sự phân công lao động lần thứ nhất Các bộ lạc chăn nuôi gia súc ra đi từ các vùng thảo nguyên Bắc Phi, Ảrập và muộn hơn là từ các vùng Trung Á

Trong chế độ chiến hữu nô lệ, di cư là kết quả của các cuộc chiến trang với mục đích chiếm đất và sắn bắt nô lệ “Cuộc thiên di vĩ đại”, tên gọi thời kỳ di cư ồ ạt của các bộ lực người Đức Xlavơ chủ yếu vào thế kỷ IV – VII, đã có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành dân cư ở châu lục Á - Âu

Dưới chế độ phong kiến, tính di động của dân cư tương đối kém Trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến, di cư quốc tế được đẩy mạnh hơn ở các nước Tây Âu Các cuộc phát kiến địa lý vĩ đại, nhất là việc tìm ra Tân lục địa, là một cái mốc quan trọng để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử di cư thế giới Các dòng di cư lớn từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp,

Hà Lan, Ailen đến châu Mỹ, kèm theo đó sự di cư cưỡng bức của những người da đen từ châu Phi sang (khoảng 50 triệu người châu Phi bị tiêu diệt trong quá trình bị săn đuổi, khoảng 50 triệu người khác bị vứt lên tài đi Tân thế giới, trong đó có 2/3 số người đã chết trước khi tàu cặp bến)

Di cư tăng lên rõ rệt trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa Dòng người di cư lớn đầu tiên ở thế

kỷ XIX là những người nông dân Ailen di cư sang Anh Sau đó, trung tâm nhập cư chủ yếu trước hết là Hoa Kỳ, rồi đến các nước Mỹ Latinh, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nam Phi Từ đầu thế

kỷ XIX đến năm 1914 có 50 triệu người rời khỏi châu Âu, trong đó khoảng 1/3 số người trên

đã quay về tổ quốc với những lý do khác nhau

Cho tới những năm 70 của thế kỷ XIX, dòng người xuất cư từ các nước Tây và Bắc Âu chiếm ưu thế Vào cuối thế kỷ này thì vai trò này thuộc về các nước Nam và Đông Âu Vào thế kỷ XX, các cuộc chiến tranh lớn có tác động lớn đến việc di cư trên thế giới

Cùng với việc di cư liên lục địa, các cuộc di cư bên trong từng lục địa, nhất là khu vực Tây Âu, đóng vai trò ngày càng lớn Ví dụ, năm 1975 có tới 12,5 triệu công nhân nước ngoài và gia đình họ sinh sống và làm việc ở các nước EU Các nước xuất cư chủ yếu là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ

Trang 24

24

Theo số liệu của LHQ về di cư quốc tế giai đoạn 1990 – 1995 thì Ôxtrâylia – Niu Dilân

có tỉ lệ nhập cư hàng năm cao nhất (5,8%0), tiếp đến là Tây Âu (4,6%0), Bắc Mỹ (3,4%0) Trong giai đoạn này nhiều nước có biến cố chính trị, chiến trang xảy ra nên tỉ lệ xuất cư cao (làn sống người tị nạn lớn) như : Mali 19%0 (châu Phi), Côoét 86,7%0, Ảrập Xeút 8,8%0 và Irắc 6,7%0 (châu Á) Ngược lại cũng có những nước nghèo lại có tỉ lệ nhập cư rất cao như : Ápganixtan (29,6%0), Yêmen (15,5%0), Gióocđani (15,3%0), Ápganixtan có số người nhập

cư lớn do sự trở về của những người tị nạn từ Pakixtan và Iran (từ năm 1991 – 1995 đã có 2,4 triệu người hồi hương)

Nhìn chung trên toàn thế giới thì số các nước xuất cư nhiều hơn số các nước nhập cư (có 73 quốc gia thì giữ nguyên, không có sự di cư quốc tế)

Ngày nay, dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạnh KHKT và của sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các nước, hiện tượng “chảy máu xám” trở nên phổ biến Nhiều nhà khoa học, chuyên môn giỏi thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, từ các nước đang phát triển di cư sang sinh sống và làm việc ở các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ Người ta ước tính rằng,

số nhà khoa học nhập cư chiếm 10% đội ngũ cán bộ khoa học của Hoa Kỳ, trong số đó có 13 – 15% số người có học vị tiến sĩ, 25% số viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học quốc gia

1.3 Cơ cấu dân số

1.3.1 Khái niệm

Kết cấu dân số là một khái niệm dùng để chỉ tập những bộ phận hợp thành dân số của một lãnh thổ (nhóm nước, từng nước hoặc từng vùng) được phân chia dựa trên những tiêu chuẩn nhất định

Việc nghiên cứu kết cấu dân số có vai trò rất quan trọng Thông qua việc nghiên cứu, chúng ta không chỉ hiểu được thực trạng, mà còn có thể dự báo các quá trình và động lực dân

số của một lãnh thổ nào đó

Nhìn chung, kết cấu dân số của một lãnh thổ bao gồm:

+ Kết cấu sinh học – tháp dân số (cơ cấttr544 ggjbng79u theo độ tuổi, cơ cấu theo giới tính)

+ Kết cấu xã hội (cơ cấu theo lao động, theo nghề nghiệp, theo trình độ văn hoá)

+ Kết cấu dân tộc (cơ cấu theo thành phần dân tộc, cơ cấu theo quốc tịch)

1.3.2 Phân loại

a Cơ cấu sinh học của dân số :

Trang 25

25

Cơ cấu sinh học phản ánh thành phần, thể trạng về mặt sinh học của dân cư ở một lãnh thổ nào đó Cơ cấu sinh học bao gồm: cơ cấu dân số theo độ tuổi và cơ cấu dân số theo giới tính

* Cơ cấu dân số theo độ tuổi :

Cơ cấu dân số theo độ tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định Nói cách khác, đó là sự phân chia số dân theo từng nhóm tuổi đã được định trước nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu các quá trình dân số và các quá trình KTXH

Trong dân số học, cơ cấu theo độ tuổi được chú ý nhiều hơn bởi vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh, tử, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một lãnh thổ Do những khác biệt về chức năng xã hội và chức năng dân số giữa nam và nữ, cơ cấu dân số theo tuổi thường được nghiên cứu cùng với cơ cấu dân số theo giới tính (gọi là cơ cấu dân số theo độ tuổi – giới tính)

Cách phân chia độ tuổi:

Có hai cách phân chia độ tuổi với việc sử dụng các thang bậc khác nhau

- Độ tuổi có khoảng cách đều nhau ; sự chênh lệch về tuổi giữa hai độ tuổi kế tiếp nhau

có thể là 1 năm, 5 năm hay 10 năm (người ta thường sử dụng khoảng cách 5 năm)

- Độ tuổi có khoảng cách không đều nhau:

Thông thường người ta chia thành ba nhóm tuổi có liên quan đến việc sử dụng lao động

- Dưới độ tuổi lao động : 0 – 14 tuổi (hoặc 0 – 17 tuổi; 0 – 19 tuổi);

- Trong độ tuổi lao động : 15 – 59 tuổi (hoặc 15 – 65 tuổi)

- Ngoài độ tuổi lao động : từ 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên

Mỗi cách phân chia có thế mạnh riêng và được sử dụng vào mục đích riêng Cách chia thứ nhất dùng vào việc phân tích, dự đoán các quá trình dân số Cách thứ hai khái quát hơn nhằm đánh giá những đặc điểm chung về cơ cấu dân số

Cơ cấu dân số theo độ tuổi rất khác nhau giữa các nước (hay nhóm nước):

- Những nước được coi là có dân số “trẻ”, nếu số người trong độ tuổi dưới 15 tuổi vượt quá 35%, còn số người trong độ tuổi trên 60 tuổi ở dưới mức 10% tổng số dân cả nước Ngược lại những nước có dân số “già” khi độ tuổi dưới 15 dưới 30 – 35%, độ tuổi trên

60 vượt quá 10% tổng số dân

Các nước đang phát triển là những nước có cơ cấu dân số trẻ, bởi vì lứa tuổi dưới 15 chiếm khoảng 40% tổng số dân Với lực lượng trẻ như vậy, dò có giảm tỉ suất sinh tới mức

Trang 26

+ 65 tuổi trở lên: 8,32% (265,453,689 nam/331,172,947 nữ)

* Cơ cấu dân số theo giới tính :

Số lượng nam, nữ tương quan giữa giới này so với giới kia hoặc so với tổng số được gọi

là cơ cấu theo giới tính (hay cơ cấu nam nữ) Cơ cấu khác nhau theo độ tuổi

Cơ cấu theo giới tính được tính theo ba cách:

- Số lượng nam trên 100 nữ;

- Số lượng nữ trên 100 nam

- Số lượng nam (hoặc nữ) so với tổng số dân (tính bằng %)

Trong nghiên cứu dân số, các chỉ tiêu thường dùng là tỉ lệ hoặc tỉ số giới tính Tỉ số giới tính (SR – Sex Ratio) cho biết trong tổng số dân cứ 100 nữ thì có bao nhiêu nam

Trang 27

Tháp dân số là một loại biểu đồ thể hiện mọi số liệu có quan hệ trực tiếp với cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính Nó phản ánh tất cả các sự kiện của dân số trong một thời điểm nhất định

Nhìn vào tháp dân số, có thể thấy được số dân theo từng độ tuổi, theo từng giới tính, từ

đó dễ dàng suy ra tình hình sinh, tử và phán đoán nguyên nhân làm tăng, giảm số dân của từng thế hệ

Hiện nay, người ta phân biệt ba kiểu tháp dân số cơ bản phản ánh cơ cấu tuổi – giới tính của các kiểu cơ cấu dân số khác nhau

- Kiểu mở rộng: Tháp dân số thuộc kiểu này đặc trưng cho các nước đang phát triển có

cơ cấu dân số trẻ Trong đó trẻ em chiếm tỷ lệ lớn trong dân số do tỉ suất sinh cao, còn tỷ suất

tử lại thấp, dân số đang có xu hướng tăng Mô hình tháp dân số của các nước như vậy có hình dáng rất nhọn, đáy rộng, càng lên cao phía đỉnh càng nhọn

- Kiểu ổn định: Tháp dân số thuộc kiểu này cho biết tỷ lệ suất sinh và tỷ suất tử đều thấp, tuổi thọ trung bình cao, dân số tăng chậm Mô hình tháp dân số không còn mang hình dáng nhọn nữa, sự chênh lệch giữa đáy và đỉnh không lớn Tháp dân số Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan thuộc kiểu này

- Kiểu thu hẹp: Tháp dân số thuộc kiểu này đặc trưng cho các nước có cơ cấu dân số già, trẻ em chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số do tỉ suất sinh thấp, trong khi đó người già lại chiếm

tỷ lệ ngày càng cao, dân số đang có xu hướng giảm

Trang 28

28

Hình 1.1 Tháp dân số thế giới năm 2014

b Cơ cấu xã hội

Kết cấu xã hội của dân số phản ánh những khía cạnh xã hội của dân cư ở một lãnh thổ nhất định Đây là việc phân chia số dân theo các tiêu chuẩn khác nhau như: lao động, nghề nghiệp, trình độ văn hoá…

* Cơ cấu dân số theo lao động

Cơ cấu này liên quan đến số người lao động và dân số hoạt động

Dân số lao động là khái niệm chỉ người có lao động với một nghề nghiệp cụ thể, còn dân số phụ thuộc (người ăn theo) là những người không tham gia lao động, sống dựa vào lao động của người khác

Để tính toán mức độ phụ thuộc của dân số một lãnh thổ người ta thường dùng tỉ số phụ thuộc

Tỉ số phụ thuộc là tỉ số giữa những người ở tuổi phụ thuộc (dưới 15 tuổi và từ 60 tuổi trở lên) với những người ở độ tuổi lao động (15 – 59 tuổi) Năm 2014, tỉ số phụ thuộc trên thế giới là 52%

Ví dụ, Việt Nam (1/4/2014):

Số trẻ em từ 0-14 tuổi: 21.324.000

Trang 29

Dân số hoạt động (theo quan niệm của LHQ) bao gồm không chỉ những người có việc làm, mà còn cả những người không có việc làm Trong nhiều tài liệu, khái niệm dân số hoạt động kinh tế và nguồn lao động đồng nghĩa với nhau

Tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế phụ thuộc vào dân số ở độ tuổi lao động trong tổng số dân và vào mức độ có việc làm của số người này Mức độ hoạt động kinh tế ở các nước đang phát triển, nhìn chung là thấp hơn so với các phát triển

Phần lớn các nước có dân số trẻ ở Châu Phi, Châu Á và Mỹ latinh là các nước có tỉ lệ thấp về dân số lao động Trái lại, ở các nước kinh tế phát triển có tỉ lệ dân số lao động thường cao

Trong xã hội thường có nhiều khu vực lao động, thành thử để tiện việc tổ chức, quản

lý lao động và xây dựng kế hoạch phát triển KTXH, người ta thường tiến hành phân chia các khu vực lao động Hiện nay, có nhiều cách phân chia dựa vào các tiêu chí khác nhau

- Căn cứ vào thời gian ra đời, người ta phân biệt khu vực cổ truyền (nông nghiệp, thủ công nghiệp…) và khu vực hiện đại (công nghiệp, dịch vụ…)

- Dựa vào tính chất quan hệ sản xuất, có khu vực nhà nước, khu vực tập thể, khu vực gia đình

Trên cơ sở tính chất của sản xuất, người ta lại phân ra các khu vực:

- Khu vực I: nông nghiệp, làm nghiệp, ngư nghiệp, khai thác ban đầu các loại khoáng sản, vật liệu

- Khu vực II: công nghiệp và xây dựng cơ bản (cầu đường, nhà cửa, nhà máy, xí nghiệp, khu kinh tế…)

- Khu vực III: dịch vụ

Hiện nay, trên thế giới đang phổ biến cách phân chia hoạt động lao động thành bốn khu vực với nội dung hoàn toàn khác cách phân chia nói trên Khu vực IV (lao động trí óc) đang được định hình và đang được quan tâm đặc biệt

Trang 30

30

Trên thế giới, số dân hoạt động kinh tế có khoảng hai tỉ người (1992), chiếm 41,6% tổng số dân Nhìn chung, số hoạt động kinh tế của các nước dao động từ 25-50% Gần 3/5 dân số hoạt động kinh tế trên trái đất tham gia hoạt động nông nghiệp, 1/5 công nghiệp và hơn 1/5 là thương mại, giao thông, dịch vụ Ở các nước ĐPT, dân số lao động tập trung đông nhất vào khu vực I Còn ở các nước phát triển, tỉ lệ dân số hoạt động ngày càng tăng lên ở khu vực III Theo dự báo của các nhà kinh tế, vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI lao động trong lĩnh vực dịch vụ sẽ đem lại khoảng 70-80% tổng sản phẩm xã hội ở một số nước công nghiệp phát triển

* Cơ cấu dân số theo trình độ văn hoá:

Kết cấu dân số theo trình độ văn hoá là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo trình độ văn hoá

Kết cấu này phản ánh trình độ học vấn, dân trí của một nước, một vùng Các chỉ số người đi học, số trẻ em đến tuổi đi học các cấp, số người mù chữ trong dân số, tỉ lệ tốt nghiệp các cấp, chính sách của quốc gia như phổ cập phổ thông các cấp… là những chỉ số phản ánh trình độ văn hoá Các chỉ số đó sẽ đánh giá trình độ phát triển kinh tế, trình độ văn minh, chất lượng cuộc sống của một dân tộc, của một quốc gia

Kết cấu dân số theo đặc trưng giáo dục được xác định theo ba nội dung: tình hình đi học, diễn biến trong suốt thời gian học và trình độ văn hoá của dân cư

Khi nghiên cứu kết cấu này, người ta thường chú ý đến số lượng (tuyệt đối và tương đối) cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật, số người đi học các cấp vì đây là lực lượng lao động quý có tác dụng thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Tỉ lệ người mù chữ cũng được quan tâm đặc biệt Năm 1992, trên thế giới có khoảng

857-860 triệu người ở lứa tuổi 15 trở lên mù chữ, chiếm 26,8% tổng số dân số ở độ tuổi này; có 120-130 triệu trẻ em ở độ tuổi đi học không được đến trường

Số liệu người mù chữ từ 15 tuổi trở lên sẽ phản ánh trình độ phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống của các quốc gia Theo tài liệu của hội nghị quốc tế Dân số Cairô công bố (9/1994), thế giới có 950 triệu người mù chữ trong đó 60% là phụ nữ

c Kết cấu dân tộc

Trên thế giới có tới hàng ngàn dân tộc khác nhau Mỗi dân tộc đều khác biệt nhau bởi nền văn hoá của mình Mỗi nền văn hoá thường được đặc trưng bởi nhiều khía cạnh văn hoá khác nhau như : tiếng nói, chữ viết, cách ẩm thực, y phục, các lễ nghi, tập quán, cách vui chơi giải trí, điệu hát, các thứ nhạc cụ, cách trang điểm và cả việc sử dụng các đồ trang sức Tập hợp mọi khía cạnh văn hoá khác nhau đã tạo ra sự khác nhai về văn hoá của các dân tộc

Trang 31

31

Lịch sử hình thành các dân tộc gắn liền với cuộc sống trải ra hàng ngàn năm của các cư dân nông nghiệp, khi xã hội bước vào thời kỳ văn minh, định cư để tiến hành lao động sản xuất Như vậy, dân tộc là khối cộng đồng người hình thành trong quá trình lịch sử Những người cùng dân tộc là những người sống với nhau lâu đời, cùng chung một lịch sử

Trên thế giới có rất nhiều tộc người Số dân của mỗi tộc người dao động rất lớn: từ hàng trăm người đến hàng triệu người Tộc người lớn nhất trên thế giới là người Hán (hơn 700 triệu người) của Trung Quốc, lớn thư nhì là người Hindu (Ấn Độ), thứ ba là người Anh, kế tiếp là người Ảrập, người Nga, người Angiêri, người Đức, người Kinh (Việt Nam), người Thái, người Malaixia Có những tộc người chỉ có vài trăm người, thậm chí vài chục người (Andamanmincôpi ở Ấn Độ, Toala ở Inđônêsia, Bôtôcu ở Braxin, Alacalu ở Áchentina và Chilê ) Nếu tính các tộc người có số dân từ một triệu trở lên thì trên thế giới có 280 trong tổng số hơn 3.000 tộc người, chiếm 96,3% tổng số dân của trái đất Riêng 71 tộc người lớn nhất (với số dân của mỗi tộc người từ 10 triệu trở lên) đã chiếm khoảng 4/5 dân số thế giới

Bảng 1.6 Phân nhóm các tộc người trên thế giới theo số dân

Số dân của mỗi tộc người

1.4 Mối quan hệ giữa dân số với kinh tế - xã hội

1.4.1 Mối quan hệ giữa gia tăng dân số và phát triển

Trang 32

32

Các quá trình dân số (sinh, tử, kết hôn, ly hôn, di cư…) bao giờ cũng diễn ra trong khung cảnh kinh tế - xã hội nhất định Các khung cảnh này biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (giữa các thời kỳ), còn không gian (giữa các nước, các vùng, các châu lục)

Theo thời gian và không gian, trình độ phát triển rất khác nhau Vào những năm 50 và cuối thế kỷ XX, người ta coi phát triển đơn thuần chỉ là sự tăng trưởng kinh tế Vì vậy, thước

đo trình độ phát triển là mức đạt được về GDP bình quân đầu người

Như vậy, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập bình quân đầu người của một nước đo bằng Tổng sản phẩm quốc doanh GDP tính theo năm Căn cứ vào GDP/người, Ngân hàng Thế giới chia ra 3 nhóm: kém phát triển (thu nhập thấp), đang phát triển (thu nhập trung bình) và phát triển (thu nhập cao)

Quan sát mức gia tăng dân số và thành tựu đạt được của tăng trưởng kinh tế ở các nước hoặc khu vực Đối với nước phát triển, GDP/người rất cao song tỷ lệ gia tăng dân số thấp và ngược lại

Vấn đề đặt ra: gia tăng dân số nhanh hay chậm có ảnh hưởng như thế nào đối với tốc

độ tăng trưởng kinh tế? Khi dân số tăng thì lực lượng lao động tăng (nhanh hơn dân số) Một

số tài nguyên thì có hạn suy ra số lao động trên một diện tích đất tăng Khi dân số tăng nhanh

có thể làm cho chất lượng vốn con người giảm xuống và không cải thiện được (do y tế, giáo dục…), năng suất lao động không cao

Tăng nhanh dân số ở các nước nghèo là bất lợi cho tăng trưởng kinh tế Mối liên hệ thể hiện:

Tỉ lệ gia tăng GDP/người = tỉ lệ gia tăng GDP – tỉ lệ gia tăng dân số

Để tăng được chỉ tiêu GDP/người thì tổng sản phẩm quốc dân phải tăng nhanh hơn sự tăng dân số Kết quả là khoảng cách giàu – nghèo giữa các nước đang phát triển các nước phát triển ngày càng xa Các nước đang phát triển đang ở vòng luẩn quẩn

Để giảm mức sinh, cần phải có điều kiện vật chất kỹ thuật, cần phải phát triển kinh tế, song để có thể phát triển kinh tế lại còn hạn chế tốc độ tăng dân số

Đối với công nghệ (có nhiều ý kiến cho rằng dân số tăng nhanh tạo nên sức ép làm nảy sinh các phát minh và phát triển KHCN) Song nếu dân số đông mà nghèo, sức mua kém thì không có thị trường lớn

Tuy nhiên, người ta lại phát hiện ra nhiều hạn chế, đó là nhiều quốc gia có sự tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng số người nghèo đói không giảm và đời sống của những người còn dưới đáy của xã hội Vì vậy, cần tiếp cận phát triển theo sự thỏa mãn (đáp ứng) những nhu cầu thiết yếu của nhóm dân cư

Trang 33

33

Do đó, hiện nay phát triển được coi là sự tăng trưởng kinh tế, sự tiến bộ xã hội và sự

bền vững về môi trường Trong những năm gần đây, để đánh giá trình độ phát triển, Liên

Hợp Quốc đã đưa ra thước đo chỉ số phát triển con người – HDI Chỉ số này được tổng hợp

từ ba yếu tố: thu nhập quốc dân bình quân đầu người, trình độ giáo dục và tuổi thọ bình quân

Dân số và phát triển có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Sản xuất vật chất là hoạt động bao trùm, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Các Mác đã xác định, quá trình tái sản xuất của cải vật chất là một thể thống nhất của các khâu từ sản xuất, phân phối trao đổi đến tiêu dùng Sản xuất dân số là một bộ phận của tái sản xuất xã hội Nó cũng bao gồm các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng Giữa tái sản xuất dân số và tái sản xuất xã hội có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Sản xuất vật chất Phân phối, trao đổi Tiêu dùng của cải

Vật chất

Cho sản xuất

Tiêu dùng sức lao động Phân phối, trao đổi Cho cá nhân

(sản xuất con người)

Hình 1.1 Tác động của phát triển đến dân số

Trang 34

34

Quá trình lao động là quá trình kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất Từ sản xuất đến tiêu dùng qua các khâu phân phối và trao đổi Tiêu dùng của cải vật chất bao gồm cả cho sản xuất và cho cá nhân Tiêu dùng của cải vật chất cho cá nhân chính là khâu sản xuất ra con người Như vậy, quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng cả sản xuất và tiêu dùng của cải vật chất Ngược lại, trình độ phát triển sản xuất lại có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số Nếu xã hội càng phát triển, mức sinh và mức tử cũng giảm, tuổi thọ bình quân được nâng cao Điều đó chứng tỏ trình độ phát triển khác nhau thì tình trạng dân số cũng hết sức khác nhau Điều này cho thấy tác động mạnh mẽ của các yếu tố kinh tế - xã hội đến các quá trình dân số và ngược lại

Quá trình phát triển lịch sử cũng cho thấy, dân số đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nhân loại Nếu Trái đất rất ít người thì sẽ không có bức tranh phát triển như ngày nay Nhờ số dân đạt đến một quy mô đáng kể mới có sự phân công lao động chuyên môn hóa, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy xây dựng phát triển Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, khi dân số đã đạt trên 7 tỉ người, thì quy mô và tốc độ tăng dân số đã đặt ra nhiều vấn đề rất nghiêm trọng, đe dọa quá trình phát triển, đặc biệt đối với các nước đang phát triển

Như vậy, có thể thấy rằng giữa dân số và phát triển có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Hình 1.2 Tác động của dân số đến phát triển

Bắt đầu từ quá trình dân số: sinh, tử và di cư Mức độ của các quá trình này cao hay thấp, nhiều hay ít, đưa tới việc xác định tình trạng dân số ở một lãnh thổ nhất định và tại một thời điểm nhất định, trên các phương diện: quy mô, cơ cấu và phân bố dân số theo lãnh thổ Kết quả này sẽ tác động theo nhiều cách khác nhau đến quá trình phát triển như tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, tỷ lệ tiêu dùng và tích lũy, sử dụng các nguồn vốn… các quá trình trên

Trang 35

35

lại dẫn tới mức độ đảm bảo việc làm, chất lượng mội trường, tình trạng y tế, giáo dục, địa vị phụ nữ… và ngược lại, các kết quả này sẽ tác động đến quá trình dân số

1.4.2 Mối quan hệ giữa dân số và giáo dục

Các quá trình dân số như mức sinh, mức tử, di dân, hôn nhân và tình trạng giáo dục bao giờ cũng diễn ra trong một khung cảnh nhất định về kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia hay toàn cầu Do vậy, cả dân số và giáo dục đều phụ thuộc vào các yếu tố đó

Sự thay đổi về quy mô và cơ cấu dân số sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về số lượng và chất lượng của hệ thống giáo dục Ở các nước phát triển khi tỉ lệ gia tăng dân số cao, cơ cấu dân số trẻ sẽ dẫn đến hậu quả xấu cho sự phát triển của nền giáo dục

Quy mô và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của giáo dục

G = P * E

G là quy mô của nhu cầu giáo dục

P là quy mô dân số

E là tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường trong tổng số dân

Quy mô dân số là điều kiện thúc đẩy sự phát triển quy mô giáo dục Tốc độ tăng dân

số cao suy ra số học sinh trong độ tuổi đến trường tăng

Ở mức gián tiếp, tăng nhanh dân số ảnh hưởng chất lượng cuộc sống, thu nhập, ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục

Cơ cấu theo độ tuổi cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của giáo dục, cơ cấu dân

số trẻ làm cho nhu cầu giáo dục lớn

Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ (cơ cấu) học sinh cấp I>II>III, ở nước phát triển thì ngược lại cấp I<II<III

Phân bố địa lý dân số cũng ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục Ở thành thị và vùng đông dân: kinh tế phát triển hệ thống giáo dục phát triển trẻ em có cơ hội đến trường nhiều hơn

1.4.3 Mối quan hệ giữa dân số và y tế

a Quy mô và tỉ lệ gia tăng dân số ảnh hưởng đến hệ thống y tế

Ta có D = P * H

D là tổng số lượng người khám và chữa bệnh trong năm

H là số lần khám chữa bệnh của một người dân trong năm

Trang 36

36

Ở các nước đang phát triển, nhiều người lao động không có việc làm, quản lý xã hội khó khăn nên TN-XH, TNGT gia tăng, tăng bệnh tật và thương tật

Dân số tăng đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình nên y tế cũng cần được đẩy mạnh

Thực tế các nước giàu có tốc độ dân số thấp lại có sự phát triển hệ thống y tế tốt hơn các nước nghèo có tốc độ dân số cao

b Sức khỏe, tình trạng mắc bệnh, nhu cầu KHHGĐ

Phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi, giới tính của con người

- Thanh niên, trung niên có sức khỏe tốt hơn nên mắc bệnh và chết ít hơn

- Cơ cấu dân số có tác động lớn đến y tế: do tâm lý, sinh lý, nhu cầu khác mà phụ nữ

và nam giới trong cuộc sống tình trạng ốm đau, bệnh tật của phụ nữ khác nam giới

c Phân bố dân cư ảnh hưởng đến hệ thống y tế

Khu vực địa lý khác nhau như đồng bằng – miền núi – thành thị - nông thôn có sự khác nhau về ĐKTN, KTXH nên bệnh tật cũng khác nhau

Mật độ dân cư cao và thấp khác nhau cũng ảnh hưởng đến hệ thống y tế

d Kế hoạch hóa gia đình tác động đến hệ thống y tế

Mức sinh cao, dân số tăng mạnh ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em

e Tác động của sự gia tăng dấn số đến việc nâng cao mức sống của nhân dân

- Đất canh tác nông nghiệp bình quân đầu người thấp, thiếu việc làm

- Thu nhập bình quân đầu người thấp

- Chất lượng nhà ở, dịch vụ y tế kém

- Ngân sách đầu tư cho giáo dục thấp, trình độ học vấn thấp

Cần có biện pháp tác động tích cực vào mối quan hệ dân số và mức sống

- Nhóm nước kinh tế phát triển: dân số giảm nên có những vấn đề khó khăn về lao động

và vấn đề già hóa dân số

- Nhóm nước kinh tế đang phát triển: dân số tăng làm suy giảm tài nguyên, hạn chế tích lũy vốn, cản trở áp dụng kỹ thuật, khó khăn trong việc giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng lao động

Như vậy, sự phát triển kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ gia tăng dân số và chất lượng dân cư Kinh tế là cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần làm thay đổi về mức sinh

Trang 37

37

* Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), nếu dân số tăng

1%, lương thực tăng 2,5% thì thu nhập quốc dân tăng 4%

- Nhóm nước kinh tế phát triển: tỉ lệ gia tăng dân số: 1%; tỉ lệ tăng GDP/năm: >4%

- Nhóm nước kinh tế đang phát triển: tỉ lệ gia tăng dân số: >2%; tỉ lệ tăng GDP/năm: 4,2%

Như vậy, gia tăng dân số nhanh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và ngược lại sự phát triển kinh tế ở các nhóm nước tác động trở lại dân số

Hình 1.3 Sơ đồ tác động của gia tăng dân số nhanh đến sự phát triển kinh tế

Hình 1.4 Sơ đồ tác động của sự phát triển kinh tế các nước phát triển đến dân số

Trang 38

38

Hình 1.5 Sơ đồ tác động của sự phát triển kinh tế các nước đang phát triển đến dân số

Tóm lại, mối quan hệ giữa dân số và kinh tế là mối quan hệ tái sản xuất vật chất và tái sản xuất dân cư của một xã hội Chúng có mối quan hệ khăng khít, tác động nhiều chiều, trong đó tái sản xuất con người là tiền đề và điều kiện để tái sản xuất vật chất có ý nghĩa quyết định trực tiếp sự sống là cơ sở tái sản xuất con người cả về số lượng và chất lượng

Ngày đăng: 23/08/2019, 12:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w