1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi và kiến thức thực hành nuôi con của bà mẹ huyện trấn yên, tỉnh yên bái năm 2015

109 231 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và các nghiên cứu này rất ýnghĩa cho các nhà lập kế hoạch y tế công cộng và các nhà quản lý địaphương… Tuy nhiên các nghiên cứu tập trung

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sựtồn tại và phát triển của mỗi người, đặc biệt là những đối tượng nhạy cảm nhưtrẻ em, phụ nữ có thai Suy dinh dưỡng (SDD) ở bà mẹ và trẻ em đang là vấn

đề sức khỏe ở nước nghèo và đang phát triển Tổ chức Y tế Thế giới đã nhậnđịnh trên thế giới hiện còn 36 nước có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi caonhất, trong đó có nước ta Sự thay đổi cân nặng và chiều cao là các chỉ tiêuquan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, đặc biệt ở trẻ em Nhiều bằngchứng khoa học cho thấy tầm vóc khi trưởng thành có liên quan chặt chẽ đếnchiều cao khi còn bé, do đó dinh dưỡng hợp lý trong thời kỳ bào thai vànhững năm đầu sau khi sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Suy dinh dưỡng trong những năm đầu đời để lại hậu quả khó hồi phụckhi trưởng thành, đặc biệt là các bệnh rối loạn chuyển hóa như béo phì và tiểuđường Trẻ dưới 5 tuổi dễ bị SDD vì đó là thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao

và nhạy cảm với các loại bệnh tật Suy dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng đếnthể chất mà cả tinh thần, trí tuệ của trẻ và để lại hậu quả nặng nề cho xã hội

Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng về tình trạng SDD trẻ em dưới 5tuổi chung của cả nước năm 2000-2014 là tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thểnhẹ cân giảm từ 33,8% năm 2000 đến năm 2014 chỉ còn 14,5%, tỷ lệ suy dinhdưỡng thể thấp còi năm 2000 là 36,5% giảm xuống còn 24,9% năm 2014, tỷ

lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm năm 2000 là 8,6% giảm xuống còn 6,8% năm

2014 , Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn ở mức cao so với phân loại của WHO vàcòn có sự khác biệt khá lớn giữa các vùng miền Theo kết quả điều tra dinhdưỡng hàng năm của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ SDD còn rất cao ở các tỉnh miềnnúi, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số với tỷ lệ trẻ nhẹ cân từ13,8%-23,1% và thấp còi từ 24,1%-35,2% Đã có nhiều công trình nghiên

Trang 2

cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và các nghiên cứu này rất ýnghĩa cho các nhà lập kế hoạch y tế công cộng và các nhà quản lý địaphương… Tuy nhiên các nghiên cứu tập trung nhiều ở vùng thành thị và đồngbằng mà ít được triển khai ở vùng núi, vùng dân tộc ít người là nơi mà tỷ lệsuy dinh dưỡng còn cao hơn so với các vùng khác Vì vậy chúng tôi tiến hànhnghiên cứu “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi và kiếnthức thực hành nuôi con của bà mẹ huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái năm 2015”

để từ đó có biện pháp can thiệp hợp lý nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng củatrẻ dưới 5 tuổi ở địa phương

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về suy dinh dưỡng

1.1.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng: Là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các

vi chất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức

độ khác nhau, nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần

và vận động của trẻ

1.1.2 Nguyên nhân suy dinh dưỡng

Theo mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng được UNICEF phát triển chothấy nguyên nhân của SDD rất đa dạng, và có mối quan hệ chặt chẽ với chămsóc y tế, lương thực - thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình ,,,.Nguyên nhân trực tiếp của suy dinh dưỡng là thiếu ăn về số lượng hoặcchất lượng (tình trạng nghèo đói) và mắc các bệnh nhiễm khuẩn , Trẻ em lứatuổi từ 0 - 5 tuổi là đối tượng bị SDD cao nhất , bởi vì cơ thể ở giai đoạn nàyphát triển nhanh, nhu cầu dinh dưỡng rất cao và không được ăn bổ sung đầy

đủ các chất dinh dưỡng

Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian bịSDD và thể loại SDD ,, Các quan niệm dinh dưỡng sai lầm của người mẹhoặc gia đình trong vấn đề chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ và thức

ăn bổ sung là những nguyên nhân quan trọng, trực tiếp làm cho trẻ dễ bị SDD.Trẻ không được bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhưng số lượng sữa không đủ, dụng

cụ bú sữa không đảm bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD Khi cho ăn bổsung muộn, như ở một số nước châu Phi, các trường hợp SDD nặng thườngxảy ra vào năm thứ 2 Cho ăn bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặcquá muộn, số lượng không đủ và năng lượng, protein trong khẩu phần ăn thấpcũng dễ dẫn tới SDD

Hậu quả tức thời:

tử vong, tàn tật

Hậu quả lâu dài: phát triển thể lực và trí tuệ ở lứa tuổi trưởng thành, năng lực sản xuất, khả năng sinh sản, các bệnh mạn

tính

Trang 4

Hình 1.1: Mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD của UNICEF.

1.1.3 Hậu quả của SDD.

1.1.3.1 Suy dinh dưỡng và tình trạng bệnh tật, tử vong.

Hậu quả của SDD thể nặng để lại là rất nặng nề, có thể dẫn đến tử vong

ở trẻ em Đối với SDD thể vừa và thể nhẹ hậu quả cũng không kém phần quantrọng Nghiên cứu của Chen và cộng sự ở Bangladesh trên trẻ em 15-26 tháng

Hậu quả

Nguyê

n nhân trực tiếp

Nguyê

n nhân tiềm tàng

Nguyê

n nhân gốc rễ

Nguồn lực cho chăm sóc

- Kiểm soát nguồn lực và

tự quyết của người chăm sóc trẻ.

-Tình trạng sức khoẻ thể chất và tinh thần của người chăm sóc trẻ

- Kiến thức và niềm tin của người chăm sóc trẻ.

- Cấu trúc chính trị - xã hội – kinh tế

- Môi trường văn hoá - xã hội

- Các nguồn tiềm năng (Môi trường, công nghệ, con người)

Tình trạng SDD trẻ em

Khẩu phần ăn

của trẻ em

Trang 5

trong vòng 2 năm cho thấy mối liên quan giữa các chỉ số nhân trắc và tỷ lệ tửvong ở trẻ

Trẻ bị suy dinh dưỡng, thiếu các vi chất cần thiết như vitamin A, sắt,kẽm có khả năng chống đỡ các bệnh nhiễm trùng kém Người ta ước tínhkhoảng 50%-60% trẻ dưới 5 tuổi tử vong do nguyên nhân tiềm ẩn là SDD.Trong đó, 50% - 70% gánh nặng bệnh tật của tiêu chảy, sởi, sốt rét, nhiễmtrùng đường hô hấp ở trẻ toàn thế giới là có liên quan đến SDD

1.1.3.2 Suy dinh dưỡng với phát triển hành vi và trí tuệ.

Mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và kém phát triển trí tuệ, hành viqua những cơ chế sau:

- Do thiếu nhiều chất dinh dưỡng cùng một lúc trong đó có các chất cầnthiết cho sự phát triển trí tuệ như I ốt, sắt

- Trẻ em thiếu dinh dưỡng thường chậm chạp, ít năng động nên hạn chếtiếp thu được qua giao tiếp của cộng đồng và người chăm sóc

- Các thực nghiệm về ăn bổ sung tỏ ra có hiệu quả đến các chỉ số pháttriển trí tuệ

- Suy dinh dưỡng sớm trong bào thai và trong những năm đầu của cuộcđời có ảnh hưởng không tốt đến phát triển trí tuệ và ảnh hưởng đến cả thời kỳniên thiếu

1.1.3.3 Suy dinh dưỡng và sức khỏe khi trưởng thành

Suy dinh dưỡng trẻ em thường để lại những hậu quả nặng nề, nếu khônggiải quyết tận gốc nguyên nhân dẫn tới thấp còi trong hai năm đầu đời thì khó

có thể cải thiện chiều cao sau này của trẻ Gần đây, nhiều bằng chứng chothấy suy dinh dưỡng ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mốiliên hệ với mọi thời kỳ của đời người Hậu quả của suy dinh dưỡng có thể kéodài qua nhiều thế hệ Phụ nữ đã từng bị suy dinh dưỡng trong thời kỳ còn làtrẻ nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ bị suydinh dưỡng Bà mẹ bị suy dinh dưỡng thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ

Trang 6

sinh thấp Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bị suy dinh dưỡng (nhẹcân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tửvong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường.

Barker nêu ra giả thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số bệnhmạn tính Theo ông, các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hoá ởngười trưởng thành có thể có nguồn gốc từ suy dinh dưỡng bào thai Vì thế,phòng chống suy dinh dưỡng bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi rađời có một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời

1.1.4 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng.

Hiện nay có nhiều phương pháp chính được dùng để đánh giá TTDDcủa trẻ em như:

- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống;

- Các chỉ tiêu nhân trắc;

- Thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật cóliên quan đến dinh dưỡng;

- Các xét nghiệm hóa sinh;

- Điều tra bệnh tật và tử vong

1.1.4.1 Phương pháp nhân trắc học

Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước vàcấu trúc cơ thể theo tuổi và TTDD,, Thu thập các chỉ số về nhân trắc là bộ phậnquan trọng trong cuộc điều tra dinh dưỡng và là chỉ tiêu trực tiếp đánh giá TTDDcủa trẻ em Theo khuyến cáo của WHO ba chỉ tiêu nhân trắc thường dùng là cânnặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao,

Trang 7

Cân nặng theo tuổi (CN/T):

Chỉ số này thường được dùng để đánh giá tình trạng SDD chung nhưngkhông cho biết cụ thể đó là loại SDD vừa mới xảy ra hay đã tích lũy từ lâu Vìviệc thu thập cân nặng tương đối đơn giản hơn so với việc theo dõi chiều cao

ở cộng đồng nên tỷ lệ thiếu cân vẫn được xem như tỷ lệ chung của suy dinhdưỡng và hay dùng nhất trong sử dụng biểu đồ tăng trưởng Thiếu cân đượcđịnh nghĩa cân nặng theo tuổi dưới -2 độ lệch chuẩn so với quần thể thamkhảo Chỉ số này cho biết tình trạng thiếu hụt năng lượng khẩu phần một cáchtương đối hay tuyệt đối

Chiều cao theo tuổi (CC/T):

Chỉ số này đã được WHO khuyến cáo sử dụng của để phát hiện trẻ thấpcòi kết hợp với chỉ số cân nặng theo chiều cao Chiều cao theo tuổi thấp phảnánh tình trạng suy dinh dưỡng kéo dài hoặc trong quá khứ làm cho đứa trẻ bịthấp còi và làm gia tăng khả năng mắc bệnh Tỷ lệ thấp còi cao nhất là từ 12đến 24 tháng tuổi Tỷ lệ hiện mắc SDD thể thấp còi phổ biến hơn tỷ lệ hiệnmắc SDD nhẹ cân ở mọi nơi trên thế giới vì có những trẻ bị thấp còi tronggiai đoạn sớm của cuộc đời có thể đạt được cân nặng bình thường sau đónhưng vẫn có chiều cao thấp

Cân nặng theo chiều cao (CN/CC):

Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại Chỉ số này phản ánhtình trạng SDD cấp hay còn gọi thể gày còm Cân nặng theo chiều cao thấpphản ánh sự không tăng cân hay giảm cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiềucao, chính là phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhânchính dẫn đến tình trạng này

1.1.4.2 Phương pháp điều tra khẩu phần.

Điều tra khẩu phần là bộ phận thiết yếu trong các cuộc điều tra dinhdưỡng Thông qua việc thu thập số liệu về tiêu thụ thực phẩm và tập quán ăn

Trang 8

uống, nó cho phép rút ra các kết luận về mối quan hệ giữa năng lượng ăn vào vàthói quen ăn uống với tình trạng sức khoẻ,,

Điều tra khẩu phần có thể tiến hành cho cá nhân hoặc tập thể Một sốphương pháp điều tra khẩu phần của cá thể hay dùng như hỏi ghi 24 giờ qua,hỏi ghi tần suất xuất hiện thực phẩm, phương pháp cân đo Còn điều tra khẩuphần ở bếp ăn tập thể hay hộ gia đình thường sử dụng phương pháp cân đong,phương pháp ghi sổ và kiểm kê,

Phương pháp điều tra tần suất của thực phẩm

Thông qua hỏi trực tiếp hoặc sử dụng các phiếu điều tra trong đó cónêu các câu hỏi để đối tượng tự trả lời Mục đích của phương pháp này là tìmhiểu tính thường xuyên của các loại thực phẩm trong thời gian nghiên cứu,tìm hiểu số bữa ăn, khoảng cách giữa các bữa ăn, giờ ăn…

Nhờ phương pháp này ta có thể biết:

+ Những thức ăn phổ biến nhất (nhiều người hoặc gia đình dùng nhất) + Những thức ăn có số lần sử dụng cao nhất

+ Những dao động theo mùa

Số loại thực phẩm cần hỏi phụ thuộc vào yêu cầu nghiên cứu, nhiềuloại phiếu chỉ tập trung vào tần suất sử dụng một số loại thực phẩm mà người

ta cần nghiên cứu

1.1.4.3 Phương pháp điều tra tập quán ăn uống.

Là hệ thống câu hỏi nhằm thu thập các thông tin như các quan niệm,niềm tin, sở thích đối với thức ăn cũng như cách chế biến, phân bố các thức

ăn trong ngày, cách ăn uống trong các dịp lễ hội… Tìm hiểu tập quán ăn uống

và xác định nguyên nhân của chúng là cần thiết, vừa để tiến hành giáo dụcdinh dưỡng có hiệu quả, vừa đề ra phương hướng sản xuất thích hợp Sự hìnhthành và phát triển tập quán ăn uống chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tâm lý,kinh tế xã hội, tôn giáo, lịch sử và địa lý Thảo luận nhóm có trọng tâm là một

kỹ thuật để điều tra tập quán ăn uống của địa phương

Trang 10

1.1.5 Phân loại suy dinh dưỡng

Trên cộng đồng suy dinh dưỡng thể vừa và nhẹ thường gặp và có ýnghĩa sức khỏe quan trọng nhất vì ngay cả suy dinh dưỡng nhẹ cũng làm tănggấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ em Để xác định tình trạng suy dinhdưỡng, chủ yếu dựa vào chỉ tiêu nhân trắc (cân nặng theo tuổi, chiều cao theotuổi, cân nặng theo chiều cao)

1.1.5.1 Phân loại theo quần thể NCHS của Hoa Kỳ.

Từ năm 1981, WHO đã khuyến nghị sử dụng các chỉ số cân nặng theotuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao so với quần thể NCHS củaHoa Kỳ để đánh giá tình trạng SDD

1.1.5.2 Phân loại theo WHO 2006.

Suy dinh dưỡng trong cộng đồng được chia thành 3 thể: SDD nhẹ cân,SDD thấp còi và SDD gày còm Theo khuyến nghị của WHO, các chỉ tiêuthường dùng để đánh giá TTDD là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theotuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) Thiếu dinh dưỡng được ghinhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn hai độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quầnthể tham khảo Đây là cách phân loại đơn giản cho phép đánh giá nhanh cácmức độ SDD và có thể áp dụng rộng rãi trong cộng đồng

Từ năm 2006, tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) đã chính thức khuyến cáo

sử dụng quần thể chuẩn (WHO Child Growth Standards) để đánh giá tình trạng

Trang 11

dinh dưỡng của trẻ, thay cho quần thể NCHS WHO Child Growth Standards làkết quả được nghiên cứu được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 2003bởi TCYTTG với mục tiêu phát triển một chuẩn quốc tế mới để đánh giá sự pháttriển thể chất, TTDD và theo dõi sự phát triển của tất cả trẻ em từ 0 - 5 tuổi.Nghiên cứu này là một dự án đa quốc gia dựa vào cộng đồng với sự tham gia của

8440 trẻ từ các quốc gia Brazil, Ghana, Ấn Độ, Na Uy, Obman và Mỹ Chuẩnmới mô tả sự phát triển bình thường của trẻ dưới điều kiện mơi trường tối ưu và

có thể sử dụng đánh giá TTDD của trẻ em bất kỳ nơi nào, bất kể dân tộc, tìnhtrạng kinh tế xã hội và tập quán nuôi dưỡng Tại Việt Nam Viện dinh dưỡngcũng đã sử dụng quần thể chuẩn này từ năm 2006

Khi CN/T Z-score < - 2SD: SDD thể thiếu cân

Khi CC/T Z-score < - 2SD: SDD thể thấp còi

Khi CN/CC Z-score < - 2SD: SDD thể gầy còm

TTDD của trẻ được đánh giá theo quần thể tham chiếu WHO 2006 với 3 chỉ tiêu theo Z-Score:

Bảng 1.1 Đánh giá TTDD theo chỉ số Z- Score

Trang 12

1.2 Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới và tại Việt Nam.

1.2.1 Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới.

Báo cáo của Tổ chức cứu trợ trẻ em năm 2012 chỉ ra rằng 1/4 trẻ emtrên toàn thế giới và 1/3 trẻ em ở các nước đang phát triển bị còi cọc Suydinh dưỡng là một nguyên nhân quan trọng đóng góp vào 1/3 trường hợp tửvong toàn cầu, ước tính mỗi năm có khoảng 300 trẻ em chết vì SDD Tỷ lệ trẻ

có khả năng bị SDD ở các nước nghèo cao gấp hai lần so với các nước giàu

Năm 2012 tại Ấn Độ, Mesharam II và cộng sự nghiên cứu trên 14.587trẻ em từ 0 đến 5 tuổi cho thấy tỷ lệ SDD theo các thể nhẹ cân, thấp còi vàgầy còm lần lượt là 49%; 51% và 22% Nghiên cứu của J Alom và cộng sự(2012) tại Bangladesh thấy 25% trẻ SDD thể thấp còi, 28% thể nhẹ cân và14% thể gầy còm Một nghiên cứu ở các vùng nghèo của nước láng giềngTrung Quốc trên 2.201 trẻ em dưới 5 tuổi của H.Zhou và cộng sự (2012) thấy

tỷ lệ SDD nhẹ cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là 13,1%; 19,3% và 5,5%

Nghiên cứu của Bhutta ZA, Salam RA cho thấy trong năm 2011, có 6,9triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết trên toàn thế giới, một phần ba trong số đó liên quanđến các bệnh do thiếu dinh dưỡng Ước tính có khoảng 178 triệu trẻ em dưới 5tuổi bị còi cọc, 55 triệu bị gầy còm, và 19 triệu trong số này bị ảnh hưởngnghiêm trọng và có nguy cơ tử vong cao, phần lớn là ở châu Phi cận Sahara vàNam-Trung Á Trên toàn cầu, hơn 2 tỷ người có nguy cơ bị vitamin A, iốt, vàthiếu sắt Thiếu hụt vi chất dinh dưỡng khác quan tâm sức khỏe cộng đồng baogồm kẽm, folate Các yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng bao gồm trọng lượng sơsinh thấp, bú sữa mẹ không đủ, ăn bổ sung không đúng, và nhiễm trùng tái phát.Các bệnh truyền nhiễm thường cùng tồn tại với sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡngdẫn đến vòng luẩn quẩn của suy dinh dưỡng và nhiễm trùng Tiêu chảy cùng vớithức ăn bổ sung nghèo nàn là làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng Chiến lượcphòng chống suy dinh dưỡng bao gồm các chương trình khuyến khích cho con

Trang 13

bú, chế độ ăn uống bổ sung vi chất dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh khi chế biến

thức ăn.

Tác giả Silvia và cộng sự cho thấy thời gian trung bình cho trẻ ăn thức

ăn đặc là 22,2 tuần sau sinh; 60,9% trẻ thôi bú mẹ trước 4 tháng; 18,0% trẻ sơsinh cân nặng dưới 5 kg vào thời điểm dừng bú mẹ Trong các yếu tố liênquan đến người mẹ, chỉ có tuổi của người mẹ là có ảnh hưởng đến thời giancho con bú Thức ăn dặm đầu tiên để nuôi trẻ là nước nghiền khoai tây(48,6% trường hợp) Thịt và chất tinh bột được dùng cho trẻ ăn trung bình 5-7tuần sau khi thôi bú

Nghiên cứu tại Trung Quốc chỉ ra sự khác biệt về thực hành nuôi con làrất khác nhau giữa các vùng, các dân tộc, các nền văn hóa và phụ thuộc vàonguồn thực phẩm Ở vùng nông thôn phía Bắc của Trung Quốc, trứng, đậu lànguồn thức ăn phổ biến để cung cấp đạm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, trong khi

cá và thịt là rất hiếm ở đây Sau khi điều chỉnh chế độ ăn cho trẻ dựa vàonguồn thức ăn phổ biến tại địa phương thì đã có sự thay đổi đáng kể về thựchành nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ tại đây

Theo báo cáo của UNICEF, xu hướng SDD thể thấp còi và gầy còm ngàycàng giảm trong suốt giai đoạn từ năm 1990 đến 2013 Số trường hợp SDD thểthấp còi năm 1990 là 257 triệu trẻ, đến năm 2013 chỉ còn 161 triệu trẻ

Biểu đồ 1.1 Xu hướng suy dinh dưỡng thể thấp còi trên thế giới.

Trang 14

Bên cạnh đó, SDD thể gày còm cũng có dấu hiệu giảm tuy nhiên mức độgiảm thấp hơn SDD thể gày còm Năm 1990 có 160 triệu trẻ được báo cáo trêntoàn thế giới bị SDD gày còm, đến năm 2013 số trẻ bị SDD chỉ còn 99 triệu trẻ.

Biểu đồ 1.2 Xu hướng suy dinh dưỡng thể gầy còm trên thế giới 1.2.2 Tình hình suy dinh dưỡng tại Việt Nam.

Suy dinh dưỡng do thiếu protein nǎng lượng (thường gọi là SDD) làtình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta Biểuhiện của SDD là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêuchảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả nǎng học tập, nǎng suất lao độngkém khi trưởng thành

Tình trạng dinh dưỡng của người Việt Nam đã được cải thiện đáng kểtrong 30 năm qua Năm 1985 tỷ lệ SDD là 51,5%, nhưng những năm gần đây,với sự phát triển của nền kinh tế xã hội và sự triển khai có hiệu quả của chươngtrình phòng chống SDD trẻ em (PEM) tỷ lệ SDD đã giảm xuống một cách đáng

kể, xuống còn 19,9% năm 2008 Tốc độ giảm SDD trẻ em tại Việt Nam trongnăm năm qua khoảng 2% một năm và Việt Nam được coi là một quốc gia duynhất trong khu vực đạt tốc độ giảm SDD nhanh theo tiến độ của tổ chức y tếthế giới (WHO) và UNICEF Theo kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng năm

Trang 15

2009, có khoảng 1,54 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD nhẹ cân và khoảng 2,59triệu trẻ em bị SDD thấp còi, bên cạnh đó, thừa cân/ béo phì đang có xu hướnggia tăng nhanh chóng ở một số đô thị và thành phố lớn

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đạtđược mục tiêu thiên niên kỷ cũng như chỉ số phát triển con người và gần đâythì mức độ giảm SDD có chiều hướng chậm lại

Biểu đồ 1.3 Diễn biến SDD trẻ em dưới 5 tuổi qua các năm (2007-2014).

Tỷ lệ trẻ em SDD ở nước ta vẫn còn cao Dựa vào chỉ tiêu CC/T và phânloại quốc tế: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thấp còi năm 2000 là 36,5%; năm 2005 là29,6% và năm 2012 là 26,7% đến năm 2014 là 24,9% Tình hình SDD theonhóm tuổi tăng cao, nhất là ở nhóm từ 6-12 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi và tỷ lệnày cao nhất ở trẻ em 2 tuổi Tình hình SDD trẻ em theo các vùng sinh thái: tỷ lệtrẻ em SDD có sự khác nhau theo các vùng sinh thái Trung du và miền núi phíaBắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên là những vùng có tỷ lệ SDD cao nhất cảnước vì đây là vùng nghèo, còn nhiều khó khăn, mùa màng thường xuyên chịu

Trang 16

tác động nặng nề bởi thiên tai, lũ lụt Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi thấpnhất là vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long.

Bảng 1.2 Tình hình SDD trẻ em theo các vùng sinh thái năm 2014.

Vùng sinh thái

SDD

CN/T (%) CC/T (%) CN/CC (%)

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền

Hà Nội năm 2009 đã xuống tới mức lần lượt là 7,8% và 9,1% và vào năm 2014lần lượt là 4,9% và 6,1% , thì nhiều khu vực miền núi như Bắc Kạn vẫn là18,5%, Yên Bái 18,4 % Quảng Bình 18,9%, Kon Tum 23,9% và Đắc Nông22,1% Sự chênh lệch này cho thấy mức độ cần thiết để có những can thiệp kịpthời nhằm cải thiện TTDD của trẻ ở khu vực này

Một số nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của trẻ như:

Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tìnhtrạng SDD của trẻ em dưới 5 tuổi tỉnh Lào Cai năm 2005 cho thấy tỷ lệ SDDtrẻ em dưới 5 tuổi của tỉnh Lào Cai còn nằm ở mức rất cao so với phân loạicủa WHO, có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở các khuvực khác nhau Các yếu tố liên quan đến SDD của trẻ em dưới 24 tháng tuổi

Trang 17

là: Yếu tố khu vực, dân tộc thiểu số, mẹ không uống viên sắt khi mang thai,

ăn bổ sung không hợp lý Các yếu tố trẻ mắc tiêu chảy, gia đình thiếu ăn, kiếnthức dinh dưỡng của mẹ không đạt, trẻ không được tẩy giun trong 6 tháng qua

là các yếu tố liên quan đến SDD của trẻ trên 24 tháng tuổi

Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Vũ và Lê Thị Hương tạiHuyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên năm 2011 cho thấy tỷ lệ trẻ SDD nhẹ cân vàthấp còi lần lượt là 18,5%, và 31,8% cao hơn so với tỷ lệ năm 2010 chung củatoàn quốc (29,3%), gầy còm là 9,8% cũng cao hơn so với tỷ lệ chung của toànquốc là 7,1%,

Nghiên cứu của Phạm Văn Hoan và cộng sự về thực trạng suy dinhdưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, kiến thức thực hành nuôi con của bà mẹ ở xã PhùLinh, Sóc Sơn, Hà Nội 2008 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5tuổi thể nhẹ cân là 18,5%, thể còi cọc 29,9% và gầy còm 5% Tỷ lệ trẻ được

bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu chiếm 67,4%, từ 1-6 giờ là 16,2% Tỷ lệ trẻ đượccho ăn/uống trước khi bú mẹ chiếm 20,9% Không có trẻ nào được cho ăn bổsung khi mới 1 tháng tuổi, có 4,1% được ăn bổ sung sau 2-3 tháng, 31,0% và17,1% sau 4 và 5 tháng theo thứ tự Chỉ có 28,7% trẻ được ăn bổ sung vàotháng thứ 6 Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến TTDD của trẻ, trong đó cân nặng sơsinh liên quan có ý nghĩa (p<0,05) với SDD thấp còi

Nghiên cứu của Vũ Phương Hà và cộng sự tại hai huyện Hướng Hóa vàĐăkrong của tỉnh Quảng trị trong năm 2010 cho thấy tỷ lệ SDD của nghiêncứu này cao hơn nhiều so với tỷ lệ SDD chung toàn quốc, cụ thể là SDD nhẹcân: 42,1% (CN/T); SDD thấp còi: 48,2% (CC/T); và SDD gầy còm là 13,9%(CN/CC) Kiến thức của bà mẹ về nuôi con bú và ăn bổ sung còn nhiều hạnchế Có tới 27,0% bà mẹ không biết cho bú lần đầu vào thời gian nào và búhoàn toàn trong bao nhiêu tháng là phù hợp Chỉ có 46,8% bà mẹ biết nên cho

bú hoàn toàn đến 6 tháng Trên 50% các bà mẹ cho rằng phải cho con ăn bổsung trước 6 tháng hoặc không biết nên bắt đầu cho ăn vào thời điểm nào[3]

Trang 18

1.3 Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng.

1.3.1 Kiến thức, thực hành về chăm sóc bà mẹ khi có thai và cho con bú.

Chăm sóc bà mẹ khi mang thai là chiến lược phòng chống SDD sớm khitrẻ còn nằm trong bụng mẹ, bà mẹ khi có thai tăng được từ 10-12 kg, và thựchiện chế độ dinh dưỡng và chế độ nghỉ ngơi tốt, thói quen dinh dưỡng tốt sẽcung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ mang thai, cho sựphát triển và lớn lên của thai nhi, Những trường hợp người mẹ bị thiếu ănhoặc ăn uống kiêng khem không hợp lý chính là nguyên nhân của suy dinhdưỡng trong bào thai, trẻ đẻ ra có cân nặng sơ sinh thấp dưới 2500g Nhiềunghiên cứu thấy rằng các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấptrước tiên là tình trạng dinh dưỡng kém của người mẹ trước khi có thai và chế

độ ăn không cân đối, không đủ năng lượng, dinh dưỡng khi mang thai

Chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý, tinh thần thoải mái của người mẹ ảnhhưởng trực tiếp đến thai nhi, vì vậy nên lao động chân tay và trí óc một cáchđiều độ, tránh lao động mệt nhọc quá sức

Để phòng tránh thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt hay gặp ở phụ nữ cóthai, người mẹ nên có chế độ ăn uống hợp lý, bổ sung viên sắt-acid folic ngay

từ khi phát hiện có thai để phòng chống thiếu máu thiếu sắt Để tăng quá trìnhchuyển hóa và hấp thu sắt, cần tăng cường vitamin C, do đó cần ăn đủ rauxanh và quả chín

1.3.2 Kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Theo khuyến cáo của WHO sau khi sinh, trẻ cần được cho bú mẹ càngsớm càng tốt thậm chí ngay trong 1 giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn chotới tận 6 tháng, vì bú sớm có lợi ích cho cả mẹ và con:

- Bú sớm giúp trẻ tận dụng được sữa non, là loại sữa tốt, hoàn hảo vềdinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt của trẻ

Trang 19

- Bú sớm sẽ kích thích sữa mẹ tiết sớm hơn và nhiều hơn qua cung phản

- Bú mẹ hoàn toàn (BMHT): Là thực hành trong đó đứa trẻ chỉ được ăn

sữa mẹ qua bú trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua vắt sữa mẹ hoặc bú trực tiếpngười khác, ngoài ra không ăn bất cứ loại thức ăn đồ uống nào khác Các thứkhác ngoại lệ được chấp nhận là các dạng giọt dung dịch có chứa vitamin,khoáng chất hoặc thuốc

- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu mà không ăn thêm thức ăn

gì khác kể cả nước uống vì bản thân người mẹ có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầudinh dưỡng mà đứa trẻ cần, mọi thức ăn thêm khác trong giai đoạn này đều cóthể mang đến cho trẻ các rủi ro về sức khỏe,, Trẻ cần được bú mẹ thườngxuyên, bú kéo dài tới 18-24 tháng hoặc lâu hơn,,

1.3.3 Kiến thức, thực hành cho trẻ ăn bổ sung.

Ăn bổ sung (ABS) hay còn gọi là ăn sam, ăn thêm ở miền Bắc hay ăndặm ở miền Nam Theo khuyến cáo của WHO cần cho trẻ bú mẹ hoàn toàntrong 6 tháng đầu tiên của cuộc đời Trẻ cần được ABS đúng độ tuổi (khi trẻtròn 6 tháng tuổi)

Kết quả nghiên cứu của WHO tại 9 nước đang phát triển chỉ ra rằng sữa

mẹ chỉ có xu hướng thỏa mãn nhu cầu của trẻ trong vòng 6 tháng đầu Do vậy

để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên của trẻ về thể chất, đến một giai đoạnnhất định trẻ cần được ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ để đảm bảonhu cầu

Theo WHO và UNICEF thì: ABS là quá trình nuôi trẻ, tập cho trẻ thíchứng với sự chuyển đổi chế độ ăn từ một khẩu phần hoàn toàn dựa vào sữa mẹ

Trang 20

(hay chế độ sữa đơn thuần với bà mẹ mất sữa) sang chế độ ăn sử dụng đềuđặn các thực phẩm sẵn có trong bữa ăn gia đình,,.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ từ sáu tháng tuổi trở lên, cần chotrẻ ăn bổ sung trong khi trẻ tiếp tục được bú mẹ Các thực phẩm cho trẻ ăn bổsung có thể được chuẩn bị riêng hoặc từ chính bữa ăn gia đình Theo WHO,không nên cho trẻ giảm bú khi bắt đầu cho ăn bổ sung; thức ăn bổ sung nênđược cho ăn bằng thìa hay cốc, không nên cho vào bình sữa; thực phẩm phảisạch, an toàn và sẵn có ở địa phương; cần nhiều thời gian để trẻ nhỏ học cách

ăn thức ăn đặc

Các thực phẩm sử dụng với mục đích bổ sung sữa mẹ để thỏa mãn nhucầu dinh dưỡng của trẻ gọi là thực phẩm bổ sung Các thực phẩm này đượcxếp vào 4 nhóm chính:

- Nhóm giàu Glucid: Các loại ngũ cốc như: gạo, ngô, lúa mì

- Nhóm giàu Protid: Thịt gia súc, gia cầm, cá và các loại thủy sản

- Nhóm giàu Lipid: Mỡ động vật, dầu thực vật

- Nhóm cung cấp Vitamin và muối khoáng: rau, quả chín đặc biệt cácloại rau có màu xanh thẫm như: Rau ngót, rau muống, rau giền, rau cải, vàcác loại quả màu vàng như chuối, cam, đu đủ

Trong đó một bữa ABS hợp lý cho trẻ phải có sự phối trộn đầy đủ giữa 4nhóm thực phẩm đã nêu trên,

Số bữa ăn cần bổ sung trong ngày phải phù hợp với từng tháng tuổi: Vớitrẻ từ 6-7 tháng tuổi bú mẹ là chính và thêm 1-2 bữa bột từ loãng đến đặc vànước quả, trẻ 8 - 9 tháng tuổi ngoài sữa mẹ cần ABS 2-3 bữa bột đặc (10%)

và nước hoa quả nghiền; Trẻ 10 - 12 tháng ngoài sữa mẹ cần thêm 3-4 bữa bộtđặc (15%) và hoa quả nghiền; Trẻ 13 - 24 tháng ngoài sữa mẹ cần 3 bữa cháo

và quả Trên 24 tháng tuổi: ăn 3 bữa cùng gia đình với ưu tiên các thức ăngiàu chất dinh dưỡng, như 1 chén cơm với thịt, cá, rau xanh với 2 - 3 bữa phụ(sữa, sữa chua, bánh, cháo, bột), trẻ từ 2-3 tuổi vẫn cần được ăn 4-5 bữa/ngày

Trang 21

ngoài cháo, mì, súp trẻ có thể ăn được cơm nát.Trẻ 3-5 tuổi thì số bữa ăntrong ngày giống trẻ 2-3 tuổi nhưng số lượng ăn trong 1 bữa cần phải tănghơn,.

1.3.4 Kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ NKHH và tiêu chảy

Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là hai nguyên nhân hàng đầugây tử vong ở trẻ em Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng trên 3 lần một ngày Ởcác nước đang phát triển, người ta ước tính trên thế giới hàng năm có 500triệu trẻ em dưới 5 tuổi mắc ít nhất một đợt tiêu chảy và 4 triệu trẻ em dưới 5tuổi hàng năm chết vì bệnh tiêu chảy 80% tử vong do tiêu chảy xảy ra ở trẻ

em dưới 2 tuổi Mỗi năm có thể bị đến 10 đợt tiêu chảy/1 trẻ/1 năm Trungbình 3-4 đợt /trẻ/ năm Có 70-80% những đợt tiêu chảy xảy ra dưới 7 ngày cóthể bồi phụ dễ dàng bằng bồi phụ nước, điện giải đường uống và tiếp tục dinhdưỡng Ở trẻ SDD, thời gian trung bình một đợt tiêu chảy lâu hơn trẻ bìnhthường Chỉ số mới mắc ở trẻ SDD cao hơn rõ rệt so với trẻ bình thường

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) là bệnh thường gặp ở trẻ em Ở nhiềuquốc gia, NKHHC là một trong hai nguyên nhân chính gây tử vong, chiếm trên30% tử vong chung ở trẻ dưới 5 tuổi Suy dinh dưỡng cũng là yếu tố dễ mắcnhiễm khuẩn hô hấp cấp tính hơn ở trẻ bình thường và khi bị nhiễm khuẩn hôhấp cấp tính thì thời gian điều trị kéo dài hơn, tiên lượng xấu hơn

Trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ: Nguy cơ tử vong do viêmphổi ở trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ cao hơn so với trẻ được nuôidưỡng bằng sữa mẹ Một nghiên cứu ở Brazin (1985) cho thấy: Nếu nguy cơtương đối (RR) của tử vong do viêm phổi ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ là 1,thì ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ và sữa bò là 1,2 và trẻ chỉ được nuôi bằng sữa

bò là 3,3

Trang 22

1.3.5 Một số yếu tố khác.

- Điều kiện kinh tế gia đình,tình trạng thiếu ăn,tình trạng văn hóa của bà

mẹ ảnh hưởng đến TTDD của trẻ

- Vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau khi sinh còn yếu,

tỷ lệ nạo hút thai cao, một số bệnh máu, bệnh mạn tính của bà mẹ có ảnhhưởng đến sức khỏe và dinh dưỡng đứa con sau này

- Môi trường sống không đảm bảo vệ sinh, hố xí không đạt tiêu chuẩncao, tập quán sử dụng phân tươi để tưới rau gây ô nhiễm môi trường, tăng tỷ

lệ mắc bệnh giun sán

- Các bệnh được xếp hàng đầu thường gặp ở trẻ em đó là ỉa chảy vànhiễm khuẩn hô hấp cấp Số lần mắc trung bình bệnh ỉa chảy và viêm phổicủa trẻ em trong 1 năm là 2,2 lần và 1,6 lần

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Thời gian

Từ tháng 6/2015-12/2015

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Trấn Yên là một huyện miền núi vùng thấp của tỉnh Yên Bái Phía Bắcgiáp với huyện Văn Yên, phía Nam giáp huyện Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ, phíaĐông giáp huyện Yên Bình và thành phố Yên Bái, phía Tây giáp với huyệnVăn Chấn

Tổng diện tích tự nhiên là 62.859,54 ha, chiếm 9,13 diện tích toàn tỉnhYên Bái Trung tâm huyện cách thành phố Yên Bái 13,5 km, cách thủ đô HàNội gần 200km Có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷthuận lợi cho việc đi lại và trao đổi hàng hoá giữa các địa phương trong vàngoài huyện Toàn huyện được chia thành 22 đơn vị hành chính xã, thị trấn,trong đó có 7 xã vùng cao, 1 xã đặc biệt khó khăn, 12 xã khu vực II có thônbản đặc biệt khó khăn

Huyện có 6 dân tộc sinh sống, trong đó: Dân tộc Kinh chiếm 66,5%,dân tộc Tày chiếm 20,5%, dân tộc Dao chiếm 7,2%; dân tộc Mường chiếm2,3%, dân tộc Cao Lan chiếm 1,2%, dân tộc H’Mông chiếm 1,9%, dân tộckhác chiếm 0,4%

Trang 24

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em từ 0-59 tháng tuổi tại huyện Trấn Yên - Yên Bái

- Bà mẹ của các trẻ tham gia nghiên cứu

- Cán bộ Y tế huyện, xã: Là những người đại diện cho Y tế tại huyện(Trung tâm Y tế huyện, Phòng Y tế huyện, Dân số huyện), cán bộ Y tế của 3

xã (trạm trưởng, nữ hộ sinh)

- Nhân viên y tế thôn bản tại địa bàn nghiên cứu

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Trẻ: từ 0-59 tháng tuổi có mặt trên địa bàn tại thời điểm nghiên cứu.Trẻ không bị mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tính

- Bà mẹ của những trẻ đã được chọn, không mắc các bệnh rối loạn trínhớ, tâm thần và đồng ý tham gia nghiên cứu

- Cán bộ y tế huyện, xã, y tế thôn bản có mặt tại địa bàn nghiên cứu vàđồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Trẻ: Mắc các bệnh bẩm sinh, mạn tính

- Bà mẹ: Bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ, không hợp tác

2.2 Phương pháp nghiên cứu.

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu.

Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.2.1 Đối với nghiên cứu định lượng

Cỡ mẫu được tính theo phương pháp tính cỡ mẫu cho một cuộc điều tracắt ngang:

Trang 25

 d = sai số mong muốn 5% (0,05)

 Cỡ mẫu tính được là 360, làm tròn cỡ mẫu là 400 trẻ

2.2.2.2 Đối với nghiên cứu định tính.

Mẫu nghiên cứu định tính được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu

Trang 26

2.2.3 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu.

2.2.3.1 Đối với nghiên cứu định lượng.

- Điều tra thông tin chung và kiến thức/thái độ/thực hành của bà mẹ cócon dưới 5 tuổi về chăm sóc trẻ: Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế sẵn đểthu thập số liệu

- Nhân trắc: Cân nặng và chiều cao

Đo chiều dài nằm ,: Áp dụng cho trẻ dưới 2 tuổi

Dụng cụ: Thước đo chiều dài nằm cho trẻ dưới 2 tuổi với độ chia tốithiểu 0,1 cm

Kỹ thuật đo cần hai người, một người đo chính và một người trợ giúp:Đặt thước trên mặt phẳng nằm ngang (trên mặt bàn hoặc dưới sàn);

Bỏ tất cả giày, dép, mũ của trẻ;

Đặt trẻ nằm ngửa trên thước, đảm bảo 5 điểm chạm

Một người giữ đầu trẻ sao cho mắt trẻ hướng thẳng lên trần nhà, đỉnhđầu chạm điểm chặn đầu chỉ số 0

Người thứ 2 giữ thẳng 2 đầu gối của trẻ thẳng sao cho 2 gót chân chạmnhau, tay kia đẩy chặn chân di động áp sát vào 2 bàn chân thẳng đứng, vuônggóc với mặt thước

Đọc kết quả theo đơn vị là cm với 1 số thập phân

Đo chiều cao đứng: ,

Dụng cụ: thước đo chiều cao loại microtoise

Kỹ thuật đo cần hai người, một người đo chính và một người trợ giúp:

Để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang

Bỏ tất cả giày dép, mũ của trẻ;

Trang 27

Để trẻ đứng quay lưng vào thước đo, đảm bảo 5 điểm chạm.

Người thứ 1 giữ thẳng 2 đầu gối của trẻ, cho 2 gót chân chạm nhau Người thứ 2 giữ đầu trẻ sao cho mắt trẻ hướng thẳng ra phía trước, haitay để xuôi xuống 2 bên mình, tay kia đẩy êke di động áp sát vào đỉnh đầu,vuông góc với mặt thước

Đọc kết quả theo đơn vị là cm với 1 số thập phân

Cân trẻ: ,.

Dụng cụ cân: sử dụng cân Nhơn Hòa có độ chính xác tới 100g

Vị trí đặt cân: nơi bằng phẳng, thuận tiện để cân

Chỉnh cân: chỉnh cân về số 0 trước khi cân, kiểm tra độ nhạy của cân.Thường xuyên kiểm tra độ chính xác của cân sau 10 lượt cân

2.2.3.2 Đối với nghiên cứu định tính.

Công cụ: Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm

Phương pháp thu thập: Thảo luận nhóm trọng tâm

2.2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu và cách đánh giá các chỉ tiêu thu thập

2.2.4.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu.

- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, số con trong

gia đình, kinh tế gia đình

Trang 28

- Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi: cân nặng, chiều cao,

các chỉ số Z-Score

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng ở trẻ: đặc

điểm hộ gia đình, đặc điểm cá nhân mẹ, kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của

bà mẹ

- Kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ: chăm sóc bà mẹ

mang thai, cho con bú, cho trẻ ăn bổ sung, chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ,chăm sóc trẻ ốm

2.2.4.2 Cách tính tuổi của trẻ.

Tuổi của trẻ được tính dựa vào ngày sinh của trẻ và ngày điều tra

- Trẻ từ 1-29 ngày được tính là 0 tháng tuổi

- Trẻ từ 30- 59 ngày tuổi được tính là 1 tháng tuổi

- Trẻ từ 12 tháng đến 12 tháng 29 ngày được tính là 12 tháng tuổi

- Trẻ 4 tuổi 11 tháng 29 ngày được tính là trẻ 59 tháng hay dưới 5 tuổi

2.2.4.3 Nhận định tình trạng dinh dưỡng qua các chỉ tiêu nhân trắc.

TTDD của trẻ được đánh giá theo quần thể tham chiếu WHO 2006 với

3 chỉ tiêu theo Z-Score: CN/T, CC/ T, CN/CC

CN/CC: từ dưới -2SD: SDD nhẹ cân, <-3SD: SDD nhẹ cân nặng

 CC/T: từ dưới - 2SD: SDD thấp còi, <-3SD: SDD thấp còi nặng

 CN/CC: từ dưới - 2SD: SDD gầy còm, <-3SD: SDD gày còm nặng

Trang 29

tần số, biểu đồ Sử dụng các test thống kê tham số và phi tham số phù hợp:+ Test χ2 để so sánh 2 tỷ lệ

+ Test t để so sánh 2 giá trị trung bình

+ Mức ý nghĩa thống kê p<0,05

2.4 Sai số và phương pháp khống chế sai số.

- Sai số hệ thống: Do dụng cụ không chuẩn

- Sai số ngẫu nhiên: do bà mẹ không nhớ thông tin

- Hạn chế sai số:

Tập huấn điều tra viên kỹ lưỡng, thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi điều tra.Trong suốt quá trình điều tra có giám sát viên tham gia giám sát

Số liệu được nhập 2 lần 20% để phát hiện sai số do nhập liệu

2.5 Đạo đức nghiên cứu

- Đối tượng được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu

- Đối tượng hoàn toàn tự nguyện tham gia và có thể bỏ cuộc bất kỳ khi nào

họ muốn

- Bản thỏa thuận tham gia nghiên cứu sẽ được soạn thảo với đầy đủ các nộidung mô tả về nghiên cứu để đối tượng ký

- Các thông tin về đối tượng nghiên cứu sẽ hoàn toàn được giữ bí mật

- Kết quả nghiên cứu được sử dụng đề xuất giải pháp bổ sung dinh dưỡngcho các đối tượng một cách phù hợp

Trang 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu.

3.1.1 Thông tin chung về trẻ.

Biểu đồ 3.1 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi theo giới.

Nhận xét: Trong 450 trẻ tham gia nghiên cứu, tỷ lệ trẻ nam là cao hơn

Nhận xét: Nhóm tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là từ 12-23 tháng với tỉ lệ

24,9% Không có sự khác biệt về giới theo nhóm tuổi

3.1.2 Thông tin chung về các hộ gia đình điều tra.

Bảng 3.2 Thông tin chung các hộ gia đình điều tra.

Trang 31

Đặc điểm chung hộ gia đình n = 450 %

Trang 32

Bảng 3.2 cho thấy hầu hết các hộ gia đình tham gia nghiên cứu đều có từ

1-2 con, chiếm tỷ lệ 91,1% Chỉ có 8,9% các bà mẹ có trên 2 con.

Các bà mẹ là người dân tộc Kinh chiếm 36,0%, dân tộc Tày (29,8%) vàdân tộc Dao chiếm 21,7% còn lại là các dân tộc khác

Tỷ lệ bà mẹ có trình độ học vấn hết cấp 2 là cao nhất chiếm tới 62,6%

Tỷ lệ bà mẹ có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên còn thấp 27,4% Vẫn còn2,7% bà mẹ mù chữ

Nghề nghiệp chính của các bà mẹ là làm nông nghiệp (90,9%) Một

số nghề nghiệp khác như cán bộ/công nhân, làm thợ, … tỷ lệ là khá thấp

Do vậy có thể nhận thấy thu nhập chính của người dân cả 03 xã là từ sảnxuất nông nghiệp

Có 21,3% số hộ gia đình tham gia nghiên cứu được xếp vào diện hộnghèo theo phân loại của chính quyền địa phương Tuy nhiên chỉ có 9,3% hộgia đình cho biết là có thiếu gạo ăn trong năm vừa qua

Trang 33

3.2 Tình trạng dinh dưỡng trẻ em.

Bảng 3.3 Trung bình cân nặng, chiều cao và Z-Score theo CN/T, CC/T,

CN/CC của trẻ phân theo giới.

Nhận xét: Bảng 3.3 cho thấy nhìn chung không có nhiều sự khác biệt

giữa trẻ nam và trẻ nữ dưới 5 tuổi về cân nặng, chiều cao, các chỉ số nhân trắcCN/T, CC/T, CN/CC trung bình (p>0,05) Ở nhóm tuổi 12-23 tháng, các chỉ

số CN/T, CC/T, CN/CC trung bình ở trẻ nam đều thấp hơn ở trẻ nữ (p< 0,05)

Trang 34

Bảng 3.4 Phân bố loại SDD theo các thể.

Nhận xét: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân của trẻ dưới 5 tuổi trong địa bàn

nghiên cứu là 16,2%, tỷ lệ SDD thể thấp còi là 25,6%, tỷ lệ SDD thể gầy còm

là 6,2%

Bảng 3.5 Mức độ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi.

Nhận xét: Tỷ lệ trẻ SDD nặng ở cả 3 thể là không cao, lần lượt là Nhẹ

cân: 2,6%, Thấp còi: 4,3% và gầy còm: 1,1%

Trang 35

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm của trẻ theo nhóm

tuổi.

Nhận xét:

Tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân có xu hướng tăng dần theo tuổi, cao nhất ởnhóm trẻ từ 36-47 tháng (23,9%), thấp nhất ở nhóm trẻ từ 0-11 tháng (6,9%)

Tỷ lệ này có xu hướng giảm ở nhóm trẻ từ 48-59 tháng (16,2%) Sự khác biệt

về tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân giữa các nhóm tuổi là có ý nghĩa thống kê vớip<0,05

Tỷ lệ SDD thể thấp còi thấp nhất ở nhóm trẻ từ 0-11 tháng (8,8%), tăngđột biến lên 32,1% ở nhóm trẻ 12-23 tháng Tỷ lệ này cao nhất ở nhóm trẻ từ36-47 tháng (35,2%) và giảm xuống 24,3% ở nhóm trẻ 48-59 tháng tuổi Có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 về tỷ lệ SDD thể thấp còi giữacác nhóm tuổi

Tương tự như SDD thể nhẹ cân và gầy còm, tỷ lệ suy dinh dưỡng thểthấp còi cũng thấp nhất ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi (2,9%) và có xu hướng tăngtheo tuổi Không có sự khác biệt về tỷ lệ SDD gày còm giữa các nhóm tuổi,p>0,05

Trang 36

3.3 Kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai

và trẻ em.

3.3.1 Kiến thức và thực hành về chăm sóc bà mẹ mang thai.

Bảng 3.6 Kiến thức, thực hành về chăm sóc thai nghén.

Trong số 450 bà mẹ được phỏng vấn thì có tới 446 bà mẹ chiếm 99,1 %

có đi khám thai Tỷ lệ bà mẹ không đi khám thai là rất thấp (0,9%)

Tỷ lệ các bà mẹ có hiểu biết đúng là cần phải đi khám thai trên 3 lầntrong suốt thai kỳ là khá cao, chiếm 91,6% Tương ứng với kiến thức của họ,

số bà mẹ đi khám thai trên 3 lần cũng lên tới 84,8%

Về thời điểm khám thai, có 89,8% các bà mẹ biết rằng nên đi khám thaivào mỗi 3 tháng của thai kỳ (ba tháng đầu, ba tháng giữa và ba tháng cuối) và

hầu hết các bà mẹ đã thực hành khá tốt (85,4%)

Có 64,0% bà mẹ cho biết, khi mang thai bà mẹ cần tăng 10-12kg để thainhi không bị suy dinh dưỡng

Trang 37

Bảng 3.7 Thực hành uống viên sắt của các bà mẹ trong khi mang thai.

đó, tỷ lệ bà mẹ tự mua viên sắt để uống là khá cao, chiếm 24,5%

Trong tổng số 45 bà mẹ không uống viên sắt trong thời gian mang thai,

lý do chính mà họ đưa ra là không được cấp viên sắt (35,6%), bà mẹ khôngthích uống (33,3%), do tác dụng phụ của thuốc gây khó chịu (22,2%) Có 4 bà

mẹ cho biết, không có tiền để mua viên sắt (8,9%)

Kết quả TLN cũng cho kết quả tương tự: “Trước kia là cấp viên sắt từtrước tháng 3 năm 2014, bây giờ cắt rồi, không cấp nữa Do dự án thiếu máu

Trang 38

thiếu sắt hết nên không cấp nữa Bây giờ chỉ tư vấn cho PNMT đến hiệuthuốc mua viên sắt để uống, tiêm phòng uốn ván miễn phí, khám thai định kỳ,

có thử nước tiểu xem có cặn thận hay không để còn điều trị thôi.” (TLN Y tếthôn bản)

TLN các bà mẹ:Tất cả các bà mẹ trong nhóm đều được uống viên sắt Có

bà mẹ chỉ uống trong 3 tháng đầu vì “uống có cảm giác say, nôn nao khó chịu”

3.3.2 Nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ ăn bổ sung.

Bảng 3.8 Kiến thức, thực hành cho trẻ bú sớm.

Thời gian cho trẻ bú lần đầu Kiến thức Thực hành

Nhận xét Tỷ lệ các bà mẹ tham gia nghiên cứu có kiến thức đúng về

thời điểm cho con bú sau sinh là trong vòng một giờ đầu tiên, chiếm 92,4%.Tương tự như kiến thức của họ, tỷ lệ bà mẹ có thực hành đúng về thời điểmcho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ sau khi sinh cũng lên tới 80,9%

Trang 39

Bảng 3.9 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về NCBSM hoàn toàn trong 6

Nhận xét: Kiến thức về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

trong 6 tháng đầu và thời điểm nên cho trẻ ăn bổ sung từ tháng thứ 7 của bà

mẹ là tốt hơn so với thực hành của họ, sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê vớip<0,05 90,6% bà mẹ cho rằng nên cho trẻ BMHT trong 6 tháng đầu, tuynhiên chỉ có 41,8% bà mẹ thực hành đúng như vậy

Biểu đồ 3.3 Lí do cho trẻ bú muộn trên 1 giờ sau khi sinh

Nhận xét: Lý do chính dẫn đến việc bà mẹ thực hành cho trẻ bú muộn

trên 1 giờ sau khi sinh là do mẹ chưa có sữa (39,2%), mẹ mổ phải nằm riêng(39,2) Ngoài ra còn một số lý do khác như mẹ mệt không cho con bú được(11,4%), trẻ ngủ không chịu bú ngay (6,3%) và con phải nằm riêng vì lý do sơsinh (5,1%)

Trang 40

Bảng 3.10 Tình trạng vắt bỏ sữa non của các bà mẹ sau khi sinh.

Vì sợ sữa sống, sữa cũ, sữa lạnh 6 12

Nhận xét:

Có 11,1% bà mẹ vắt bỏ sữa non Lý do vắt bỏ sữa non vì nghĩ rằng sữa

đó không tốt (30%), do mẹ, người thân bảo thế (32%) Lý do chính bà mẹ vắt

bỏ sữa trong 3 ngày đầu là do bà mẹ nhiều sữa, căng sữa (61,8%)

“Vắt bỏ những giọt sữa đầu sau sinh tất cả các bà mẹ đều cho rằng đó

là quan niệm sai lầm vì sữa non là sữa tốt” (TLN các bà mẹ).

Bảng 3.11 Loại thức ăn/nước uống cho trẻ ăn/uống trước bú mẹ lần đầu.

Ngày đăng: 23/08/2019, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w