1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ tác DỤNG của THUỐC NGÂM HB TRONG điều TRỊ TĂNG TIẾT mồ hôi TAY CHÂN

47 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 207,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Chứng tăng tiết mồ hôi tay, chân TTMHTC là tình trạng ra mồ hôi quá mức ở tay, chân, có thể kết hợp với nhiều nơi khác trên cơ thể mà không liên quan đến bệnh lý cường giao cả

Trang 3

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội, các Thầy Cô trong Khoa Y học cổ truyền đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.

Em xin cảm ơn các Thầy Cô, anh chị điều dưỡng viên tại Khoa Y học

cổ truyền- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện khóa luận này.

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Tú – Giảng viên khoa YHCT Trường Đại học Y Hà Nội, là người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp em hoàn thành khóa luận này Sự tận tâm và kiến thức của Thầy Cô là tấm gương sáng cho em noi theo trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Cuối cùng, em xin cảm ơn những tình cảm chân thành, sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện tốt nhất của những người thân trong gia đình và bạn bè – những người đã luôn bên cạnh, giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian qua.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Bùi Thị Hoa

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chứng tăng tiết mồ hôi tay, chân (TTMHTC) là tình trạng ra mồ hôi quá mức ở tay, chân, có thể kết hợp với nhiều nơi khác trên cơ thể mà không liên quan đến bệnh lý cường giao cảm đã được xác định khác [1],[2],[3]

Theo một khảo sát dịch tễ rộng lớn mới đây bao gồm 1500000 hộ gia đình tại Hoa Kỳ cho thấy tỉ lệ tăng tiết mồ hôi khu trú gặp ở 2,8% dân số chung [4] Bệnh thường gặp ở người trẻ, tuy không trực tiếp nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt, giao tiếp xã hội, học tập, lao động của người bệnh [4],[5],[6],[7]

Y học hiện đại (YHHĐ) đã có nhiều phương pháp điều trị chứng

TTMHTC Điều trị tại chỗ bằng muối clorua nhôm 20 - 25%, phương pháp này chỉ có hiệu quả tạm thời khi bôi Điều trị thuốc toàn thân như dùng

Cholinergics nhưng gây khô miệng, ảnh hưởng đến cơ quan thị giác như tập trung măt bị rối loạn [2],[4],[8] Tiêm chất gây hủy hạch giao cảm ngực bằng nước sôi, cồn, tiêm botox, phương pháp này không được tốt vì có thể không chọc đúng hạch hoặc có thể có những tai biến do kĩ thuật chọc như chảy máu, tràn khí màng phổi [8],[9],[10] Điều trị ngoại khoa (mổ mở, nội soi) có kết quả rất đáng khích lệ.Tuy nhiên, phương pháp này rất phức tạp và có nhiều biến chứng như tràn khí màng phổi (TKMP), tràn dịch màng phổi (TDMP), ra

mồ hôi bù trừ và bàn tay quá khô [2],[6],[11]

Y học cổ truyền (YHCT) TTMHTC thuộc phạm vi chứng “Hãn” Cũng

đã có nhiều phương pháp điều trị như dùng thuốc uống trong và dùng ngoài Thuốc ngâm HB được bào chế từ các vị thuốc phèn phi, ngũ bội tử, xích thạchchi Đây là những vị thuốc thông dụng của YHCT Trên lâm sàng thuốc ngâm

HB có hiệu quả khả quan trong điều trị chứng TTMHTC Tuy nhiên, để có cơ

sở khoa học về tác dụng của bài thuốc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu sau:

Bước đầu đánh giá hiệu quả điều trị của thuốc ngâm HB trong điều trị TTMHTC.

Trang 8

Khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc ngâm HB trên lâm sàng.

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN

Tình hình mắc chứng tăng tiết mồ hôi ở trên thế giới và Việt NamTrên thế giới

Ra mồ hôi tay, chân là một bệnh thường gặp Theo Raphael Adar tại Iserel cho thấy tỉ lệ ra mồ hôi tay ở thanh niên là 0,6 - 1% [12] Theo Aamir Haider và Nowel Solish tại Hoa Kỳ tỉ lệ mắc chứng TTMHTC là 2,8% [4] Theo Lin Chih Lung, tăng tiết mồ hôi tay nguyên phát gặp thường xuyên ở các nước châu Á Ở Đài Loan, tỷ lệ người trẻ mắc chứng bệnh này vào

khoảng 0,3% [13] Đàn ông và phụ nữ có tỉ lệ mắc bằng nhau và những ngườithuộc nhóm tuổi 25 - 64 tuổi có tỉ lệ mắc cao nhất: Tuổi khởi phát trung bình

là dưới 25 tuổi nhưng chủ yếu còn tùy thuộc vào vùng cơ thể bị bệnh Tăng tiết mồ hôi tay và nách có tuổi khởi phát trung bình nhỏ nhất, lần lượt là 13 và

19 tuổi [13] Có đến 82% số bệnh nhân (BN) bị tăng tiết mồ hôi bàn tay cho biết bệnh khởi phát từ lúc ấu thơ [4] Tăng tiết mồ hôi khu trú có vẻ khởi phát

từ lúc còn nhỏ nhưng người ta chỉ điều trị khi bắt đầu ở tuổi trưởng thành [3],[4] Số BN bị ở nách là 51%, bàn chân 29%, lòng bàn tay 25% và mặt 20%[4] Không có một nghiên cứu nào ghi nhận diễn biến tự nhiên của bệnh khi tuổi tăng dần, nhưng theo kinh nghiệm, mức độ trầm trọng của việc ra mồ hôi dường như giảm đi khi bệnh nhân trên 50 tuổi [3],[8] Tăng tiết mồ hôi tay chân thường gặp ở người trẻ, tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng đến sinh hoạt, giao tiếp xã hội, học tập và lao động của người bệnh [4],[14],[15]

Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu điều trị chứng TTMHTC nhưng nghiên cứu dịch tễ học một cách toàn diện thì chưa có Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Thường Xuân tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 5 năm 1977 đến tháng 1 năm 1989 đã điều trị cho 600 trường hợp bằng cách tiêm nước nóng đun sôi vào hạch giao cảm ngực trên [9] Tại bệnh viện Bình Dân từ năm

1996 đến 2004 có 1298 trường hợp tăng tiết mồ hôi được điều trị bằng phẫu

Trang 10

thuật cắt thần kinh giao cảm ngực qua nội soi [16] Như vậy, chứng ra mồ hôi tay nói riêng, và ra mồ hôi nói chung gặp khá nhiều ở các nước cũng như ở Việt Nam [16].

1.2 Quan niệm của YHHĐ về chứng tăng tiết mồ hôi

1.2.1 Đại cương về tuyến mồ hôi

1.2.2 Đại cương về chứng tăng tiết mồ hôi

Mồ hôi là điều cần thiết cho sự sống con người và phục vụ như chất làm mát

cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng Ở một số người, khi cơ chế tự làm mátcủa cơ thể hoạt động quá mức thì họ có thể đổ mồ hôi nhiều hơn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, giao tiếp xã hội, học tập, lao động [16],[20]

Chứng tăng tiết mồ hôi có thể chia làm 2 loại:

Tăng tiết mồ hôi toàn thân thường là một phần trong biểu hiện của một số bệnh lý căn nguyên khác như bệnh nhiễm khuẩn, bệnh ác tính hoặc một rối loạn nội tiết khác…

Tăng tiết mồ hôi khu trú nguyên phát [3],[21]

1.2.3 Nguyên nhân gây ra chứng tăng tiết mồ hôi

1.2.3.1 Tăng tiết mồ hôi toàn thân [3],[8],[13],[21].

Đây là một loại mồ hôi quá nhiều do một bệnh lý khác hay là một tác dụng phụ của thuốc

Nội tiết: Cường giáp, cường năng tuyến yên, tiểu đường, mãn kinh, u tếbào ưa crôm, hội chứng carcinoid, bệnh to cực

Thần kinh: Bệnh Parkinson, chấn thương tủy sống, tai biến mạch máu não

Bệnh ác tính: Bệnh lý tăng sinh tủy, bệnh Hodgkin

Nhiễm khuẩn

Tim mạch: Sốc, suy tim

Suy hô hấp

Trang 11

Dược phẩm: Fluoxetin, Venlafaxin, Doxepin.

Ngộ độc: nghiện rượu, lạm dụng thuốc…

1.2.3.2 Tăng tiết mồ hôi khu trú [3],[13],[21].

Tăng tiết mồ hôi vô căn tiên phát

Ra mồ hôi vị giác

Nguyên nhân thần kinh: Bệnh lý thần kinh, chấn thương tủy sống

1.2.4 Triệu chứng lâm sàng tăng tiết mồ hôi tay chân

Bệnh nhân mắc chứng TTMHTC đến khám đa số ở lứa tuổi 20 - 30 tuổimặc dù đã có tiền sử bệnh khá dài [2],[4] Biểu hiện lâm sàng thường là tăng tiết mồ hôi đối xứng cả hai bên cơ thể, chủ yếu là hai lòng bàn tay và hai lòng bàn chân:

Lòng bàn tay, lòng bàn chân ẩm, ướt khó chịu

Màu sắc da thay đổi thậm chí trắng bệch, vữa mũn do bị ướt thường xuyên có thể đưa đến nhiễm trùng vi khuẩn, nấm

Tổn thương tâm lý xã hội: xấu hổ vì lòng bàn tay, lòng bàn chân đẫm nước; tránh bắt tay nếu được; phải thay đổi loại hình giải trí ưa thích trước đây; phải thay đổi việc làm; trầm cảm, thiếu tự tin

Những yếu tố kích thích do thời tiết nóng, ẩm hoặc xúc động sẽ làm tăng tiết mồ hôi trên cơ thể Ngoài ra có những yếu tố khác như khi làm

những động tác tinh vi, hay nghĩ đến bệnh ra mồ hôi của mình thì mồ hôi cũng chảy nhiều hơn [2] Chứng tăng tiết mồ hôi có thể kéo dài hằng chục năm mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe [21],[22],[23]

1.2.5 Chẩn đoán tăng tiết mồ hôi tay chân

Tăng tiết mồ hôi tay, chân khu trú nguyên phát không cần đến thăm khám labo Tiêu chí chẩn đoán tăng tiết mồ hôi vô căn nguyên phát là tăng tiết mồ hôi khu trú, thấy rõ, quá mức trong thời gian ít nhất 6 tháng không có nguyên nhân rõ ràng kèm theo ít nhất hai trong số các đặc điểm sau [4]:

Ra mồ hôi hai bên và tương đối đối xứng

Trang 12

Tần suất ít nhất là một cơn một tuần.

Ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày

Tuổi khởi phát dưới 25 tuổi

là cảm giác nóng rát, kim châm và kích thích tại chỗ Để giảm thiểu kích ứng, những chế phẩm này có thể được thoa lên vùng bị bệnh trước khi đi ngủ và rửa sạch sau 6 - 8 giờ Clorua nhôm 20% có thể làm giảm tăng tiết mồ hôi trong 48 giờ sau khi thoa, nhưng hiệu quả giảm dần trong vòng 48 giờ sau khichấm dứt điều trị Clorua nhôm 20% tan trong cồn có thể có hiệu quả đến 98% trong các trường hợp tăng tiết mồ hôi nách nhẹ

Các chất aldehyd thoa tại chỗ, như fomandehyd và grataraldehyd, ít được sử dụng trong tăng tiết mồ hôi khu trú vì các chất này có thể gây mẫn cảm dị ứng và kích thích da tại chỗ

1.2.6.2 Điện di ion [2],[3],[21],[24]

Điện di ion được định nghĩa là sự đưa ion vào da qua trung gian một dòng điện Thủ thuật buộc phải ngâm bàn tay hoặc bàn chân trong một chậu nước nông chứa đầy nước, rồi cho một dòng điện chạy xuyên qua đó Điện di ion chủ yếu dùng cho tăng tiết mồ hôi tay, chân khu trú, vì chúng là bộ phận

dễ ngâm dưới nước Trong những thử nghiệm ngẫu nhiên không đối chứng cho thấy hiệu quả đến 80% - 100% Tuy nhiên cần có những nghiên cứu về

Trang 13

liệu pháp duy trì dài hạn Hạn chế của phương pháp này là gây kích ứng da, khô da và bong da Nó còn mất thời gian, vì có thể cần từ 30 - 40 phút cho một vị trí trị liệu mỗi ngày trong ít nhất 4 ngày mỗi tuần Thường đạt được việc ra mồ hôi bình thường trở lại sau 6 - 10 lần điều trị Nói chung, điện di ion là một trị liệu thứ yếu đối với tăng tiết mồ hôi tay, chân và chống chỉ định

ở những bệnh nhân có thai hoặc đang đặt máy tạo nhịp

1.2.6.3 Độc tố butilinum A[2],[21]

Cho đến nay, độc tố butilinum A là cách điều trị tăng tiết mồ hôi khu trú được nghiên cứu hoàn hảo nhất Đó là một độc tố thần kinh được sản xuất bởi vi khuẩn yếm khí Clostridium botilinum Độc tố có 7 typ huyết thanh trong đó typ A có độc lực mạnh nhất Thuốc được tiêm trong da, có tác dụng

ức chế sự giải phóng acetylcholine tại điểm tiếp hợp thần kinh - cơ và từ các sợi thần kinh giao cảm chi phối các tuyến mồ hôi ngoại tiết, kết quả là mồ hôikhông tiết ra nữa Độc tố được lượng giá như một điều trị tăng tiết mồ hôi nách trong hai nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng cỡ mẫu lớn Sau một tuần

có đến 95% bệnh nhân đạt cải thiện đáng kể và khoảng thời gian có hiệu quả

là 7 tháng Đối với tăng tiết mồ hôi tay, tỉ lệ đáp ứng đạt trên 90%, thời

khoảng có hiệu quả từ 4 - 6 tháng Hạn chế chủ yếu của phương pháp điều trị này là mũi tiêm gây đau và cần gây tê bằng phong bế thần kinh Các phương pháp làm giảm đau khi tiêm gồm các dụng cụ gây rung cường độ cao, các túi làm lạnh và xịt nitơ lỏng, tất cả đều có những kết quả không hằng định

Chống chỉ định đối với liệu pháp độc tố butilinum gồm các rối loạn thần kinh

cơ như bệnh nhược cơ nặng, thai kỳ và cho con bú, những dược phẩm ngăn dẫn truyền thần kinh cơ Đối với phương pháp điều trị này, bệnh nhân được chuyển đến các bác sỹ chuyên về tiêm độc tố butilinum Tuy nhiên, giá thuốc

là một hạn chế đối với việc sử dụng phổ biến cho nhiều bệnh nhân

1.2.6.4 Điều trị ngoại khoa [3],[13],[21],[24]

Điều trị ngoại khoa bằng cắt hạch giao cảm qua nội soi, trong đó hạch giao cảm được phá hủy bằng cách cắt ngang, kẹp, lấy trọn hoặc hủy hạch bằng đốt điện hoặc laser Nhiều nghiên cứu hồi cứu và các thử nghiệm lâm sàng không đối chứng đã chứng minh cắt hạch giao cảm qua nội soi có hiệu quả trong việc loại trừ tăng tiết mồ hôi nách, bàn tay và mặt trong 68% - 100% các trường hợp Tăng tiết mồ hôi chân trong 58% - 85% số bệnh nhân

Trang 14

Điều trị tăng tiết mồ hôi khu trú bằng phẫu thuật có hiệu quả cao, nhưng nên dành cho những bệnh nhân mà các phương pháp điều trị khác tỏ ra không hiệu quả và người bệnh ý thức được các nguy cơ đi kèm theo thủ thuật và những biến chứng có thể có.

1.2.6.5 Điều trị toàn thân [3],[4],[15],[21]

Những thuốc chính được sử dụng đường toàn thân trong điều trị tăng tiết mồ hôi khu trú là những thuốc kháng cholinergic Bằng cách ức chế acetylcholine tại xinap, chúng cản trở tín hiệu thần kinh tuyến Hạn chế chủ yếu của những loại thuốc này là liều cần dùng để đạt được việc giảm tiết mồ hôi cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến các tác dụng có hại như khô miệng, nhìn mờ, bí tiểu, táo bón và tim đập nhanh Glycopyrrolat, một thuốc kháng cholinergic, với liều khởi đầu 1mg, ngày 2 lần, có thể cải thiện tình trạng tăngtiết mồ hôi nhưng với liều lượng cần đến về sau thường gây ra những tác dụng phụ không chấp nhận được Những thuốc dùng đường toàn thân khác gồm Amitriptylin, Clonazepam, chẹn beta (như Propanolol) và chẹn kênh calci (như Ditilazem), Gabapentin và Indomethacin Tuy nhiên những thuốc này phần lớn dùng cho các bệnh nhân tăng tiết mồ hôi toàn thân; vai trò của chúng trong điều trị tăng tiết mồ hôi khu trú còn cần được chứng minh

1.3 Quan niệm của YHCT về chứng tăng tiết mồ hôi

Trang 15

Theo Thương hàn minh lý luận, chân tay ra mồ hôi là chứng thuộc Dương minh: Tỳ Vị khí hư do đói no, mệt nhọc thất thường làm tân dịch ứ đọng dồn

ra tay chân, lâu ngày sinh dương hư khiến chân tay lạnh kèm mệt mỏi yếu sức Điều trị nên bổ ích Tỳ khí chọn dùng phương Sâm linh bạch truật tán Tỳ

Vị âm hư do ăn cay nóng, nồng hậu tích nhiệt thương âm, nhiệt từ trong sinh

ra thúc đẩy tân dịch truyền ra tứ chi làm ra mồ hôi kèm theo miệng ráo họng khô,mệt mỏi Điều trị nên tư dưỡng Vị âm chọn dùng phương Sa sâm mạch đông thang [26]

1.3.2 Nguyên nhân ra mồ hôi tay chân

Ngoại nhân: Người bệnh cảm thụ thấp tà xâm phạm vào Tỳ Vị dẫn dến thấp nghẽn, Tỳ Vị uất lại mà hóa nhiệt, thấp và nhiệt hun đốt tân dịch trong

Vị đạt ra tay chân cho nên tay chân ra mồ hôi Như sách “Thương hàn minh

lý luận” có viết: “Chân tay ra mồ hôi là nhiệt tụ ở Vị là tân dịch đạt ra bốn phía”

Nội nhân: Do mệt nhọc làm tổn thương Tỳ, làm Tỳ mất chức năng kiện vận.Bất nội ngoại nhân: Do ăn uống nhiều đồ cay nóng, nồng hậu tích nhiệt hại

âm, âm hư thì nhiệt ở trong sinh ra khuấy động âm dịch thúc đẩy tân dịch tiết ra tứchi làm cho chân tay ra mồ hôi Hoặc là đói no, mệt nhọc tổn hại khí của Tỳ Vị dẫn đến mất chức năng chuyển vận tân dịch dồn ra tay chân gây nên [26]

1.3.3 Các thể lâm sàng ra mồ hôi tay chân

1.3.3.1 Chứng tay chân ra mồ hôi do Tỳ Vị thấp nhiệt

Triệu chứng lâm sàng: Chân tay ra mồ hôi, ngực bụng đầy chướng, biếng ăn, thân thể nặng nề, tiểu tiện sẻn đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch nhu sác hoặc nhu hoạt

Pháp điều trị: Thanh nhiệt táo thấp, hòa trung

Phương dược: Vị linh thang gia giảm

1.3.3.2 Chứng tay chân ra mồ hôi do Tỳ Vị khí hư

Trang 16

Triệu chứng lâm sàng: Chân tay ra mồ hôi, mệt mỏi yếu sức, đoản tiếngbiếng nói, chân tay không ấm, kém ăn, đại tiện không thành khuôn, lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch hư nhược.

Pháp điều trị: Bổ ích Tỳ khí

Phương dược: Sâm linh bạch truật tán gia giảm

1.3.3.3 Chứng tay chân ra mồ hôi do Tỳ Vị âm hư

Triệu chứng lâm sàng: Chân tay ra mồ hôi, họng ráo, miệng khô, sau khi ngủ dậy triệu chứng càng rõ rệt, đói mà không muốn ăn hoặc nôn khan và nấc, đại tiện không đều, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác

Pháp điều trị: Tư dưỡng Vị âm

Phương dược: Sa sâm mạch đông thang gia giảm [26]

1.4 Tổng quan về thuốc ngâm HB

1.-4.1 Xuất xứ thuốc ngâm HB

Thuốc ngâm HB là bài thuốc kinh nghiệm của Bác sỹ Tống Trần Luân.Bài thuốc này đã được sử dụng nhiều năm trên lâm sàng điều trị chứng tăng tiết mồ hôi tay chân

1.4.2 Cấu tạo bài thuốc

Trang 17

Thuốc ngâm HB đã được thử độc tính trên da tại Viện kiểm nghiệm Trung ương kết qủa cho thấy thuốc ngâm HB không gây kích ứng da trên thỏ thực nghiệm (Phụ lục 1).

1.4.3 Tác dụng của từng vị thuốc

1.4.3.1 Ngũ bội tử [27],[28],[29],[30],[31]

Tên khoa học: Galla sinensis

Tên khác: bầu bí, măc piêt, bơ pật (Thái)

Thành phần hóa học: Độ ẩm 13,47%, chất tan vào nước gồm có tanin 43,20%, không tanin 13,2%, chất không tan 30,13% Tanin ngũ bội tử còn gọi

là axit galotanic

Tác dụng dược lý: Chủ yếu do chất tanin Tanin có tính chất làm tủa protit, tổ chức của da, niêm mạc, vết loét tiếp xúc với tanin sẽ bị tủa và đông lại, tạo thành một lớp cứng làm máu đọng lại, ngừng chảy, do đó có tác dụng cầm máu, tế bào của các hạch phân tiết cũng bị đông và làm giảm sự bài tiết các dịch, niêm mạc được khô ráo Đầu dây thần kinh cũng bị cứng lại, do đó hơi có tác dụng gây tê Tanin còn có tác dụng tủa với các chất ancaloit, làm giảm sự hấp thu, do đó có thể dùng làm thuốc giải độc

Công dụng, liều lượng: Ngũ bội tử vị sáp, toan, tính hàn (có tài liệu ghi tính bình) quy kinh Phế, Thận, Đại trường Có tác dụng liễm phế, giáng hỏa, liễm hãn, sáp trường, thu thấp liễm thương Dùng chữa chứng nhiều mồ hôi, phế hư lâu ngày sinh ho, lỵ lâu ngày gây sa trực tràng, mụn nhọt Tự hãn, đạo hãn có thể dùng độc vị nghiền bột, hoặc cùng với kiều mạch làm bánh; hoặc nghiền thành bột hòa với nước rồi xoa vào vùng bụng quanh rốn Đối với vết loét ướt chảy nước có thể dùng độc vị hoặc kết hợp cùng bạch phàn tán bột bôi ngoài Liều 3- 9g Dung dịch 5 - 10% dùng súc miệng để điều trị các vết loét ở trong miệng

1.4.3.2 Phèn phi [27],[28],[29],[31]

Tên khoa học: Alumen

Trang 18

Tên khác: minh phàn, bạch phàn, khô phàn.

Thành phần hóa học: Là muối kép nhôm sunfat và kali, công thức là

K2SO4.Al2(SO4)3.12H2O

Công dụng, liều lượng: Phèn phi vị toan, sáp, tính lạnh , không độc, quy kinh Phế, Tỳ, Can, Đại trường Dùng ngoài có tác dụng giải độc sát trùng,thu thấp chỉ ngứa; uống trong chỉ huyết, chỉ tả, khu trừ phong viêm Phèn phi tính táo, toan, sáp chủ về thu thấp chỉ ngứa, dùng ngoài trị miệng vết loét ướt rữa hoặc vết ngứa, dùng độc vị hoặc có thể kết hợp với lưu hoàng, hùng hoàng, băng phiến Liều uống trong 0,3 - 1g khô phàn, có thể tới 2 - 4g; dùng ngoài không kể liều lượng

1.4.3.3 Xích thạch chi [28],[31]

Tên khoa học: Hematite

Tên khác: Đại giả thạch…

Thành phần hóa học: Al4(Si4O10)(OH)8.

Công dụng, liều lượng: Vị cam, toan, sáp, tính ôn quy kinh Đại trường,

Vị Có công dụng là sáp trường, chỉ huyết, sinh cơ, liễm thương Trị ỉa chảy, kiết lỵ lâu ngày không khỏi; cầm máu thích hợp điều trị băng huyết ở phụ nữ, đại tiện ra máu Vết lở loét lâu ngày rữa ra không liễm có thể dùng cùng long cốt, nhũ hương, một dược, huyết kiệt phối hợp tất cả tán bột bôi lên vết

thương, dùng ngoài độc vị cũng có thể trị vết loét thấp chảy nước, ngoại thương xuất huyết Liều uống trong 10 - 20g, trường hợp dùng ngoài da nên dùng ở lượng vừa phải, có thể nghiền thành dạng bột đắp lên chỗ đau

Trang 19

Chương 2 CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Chất liệu nghiên cứu

2.2 Địa điểm, thời gian tiến hành nghiên cứu

Địa điểm: Khoa YHCT, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Thời gian: Tháng 11/2015 đến tháng 5/2016

2.3 Đối tượng nghiên cứu

30 bệnh nhân được chẩn đoán là TTMHTC

Trang 20

2.3.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Bệnh nhân được chẩn đoán mắc TTMHTC khu trú nguyên phát trong thời gian ít nhất 6 tháng không có nguyên nhân rõ ràng kèm theo ít nhất 2 trong số các đặc điểm sau [4]:

Ra mồ hôi 2 bên và tương đối đối xứng

Tần suất là ít nhất một cơn một tuần

Ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày

Tuổi khởi phát dưới 25 tuổi

Có tiền sử gia đình

Ngưng ra mồ hôi trong lúc ngủ

Không phân biệt giới, nghề nghiệp

Tự nguyện tham gia nghiên cứu

Tuân thủ đúng các yêu cầu của nghiên cứu

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân được chẩn đoán là TTMHTC nhưng tìm thấy do nguyên nhân bệnh lý khác

Bệnh nhân không tuân thủ điều trị

Bệnh nhân đang có những thương tổn hở, nhiễm trùng ở lòng bàn tay, bàn chân chưa điều trị ổn định

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lâm sàng theo chiều dọc, so sánh trước và sau điều trị với liệu trình 01 tháng Quy trình nghiên cứu:

Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng đánh giá một số đặc điểm chung của bệnh nhân trước điều trị:

Tuổi

Trang 21

Theo dõi diễn biến bệnh, các tác dụng không mong muốn gặp phải trên bệnh nhân sau điều trị.

2.5 Chỉ tiêu theo dõi

2.5.1 Chỉ tiêu theo dõi hiệu quả điều trị của thuốc ngâm HB

Tần suất ra mồ hôi ở lòng bàn tay, lòng bàn chân.

Mức độ ra mồ hôi ở lòng bàn tay, lòng bàn chân

Mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống

Mức độ hài lòng của bệnh nhân về kết quả điều trị của thuốc HB

2.5.2 Chỉ tiêu theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc ngâm HB

Trang 22

Đánh giá tần suất ra mồ hôi tay chân:

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Luôn luôn

Đánh giá mức độ ra mồ hôi tay, chân theo Mark, Krasna [3]:

Độ 1: Không hoặc thấm ướt rất nhẹ

Độ 2: Luôn ẩm, thấm ướt

Độ 3: Luôn ẩm, ướt đẫm

Độ 4: Ướt sũng, khi nắm tay hoặc rủ bàn tay xuống thì mồ hôi nhỏ thành giọt

Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống [3],[32]:

1 điểm: Mồ hôi của tôi không bao giờ chú ý, không can thiệp vào hoạt động hằng ngày

2 điểm: Mồ hôi của tôi chấp nhận được, nhưng đôi khi gây trở ngại cho hoạt động hằng ngày

3 điểm: Mồ hôi của tôi hầu như không thể chịu được, thường xuyên canthiệp vào hoạt động hằng ngày

4 điểm: Mồ hôi của tôi không thể chấp nhận được, luôn luôn cản trở hoạt động hằng ngày

Phiên giải kết quả:

Cải thiện 1 điểm tương đương với đã giảm được 50% triệu chứng bệnh.Cải thiện 2 điểm tương đương với đã giảm được 80% triệu chứng bệnh.Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân: rất hài lòng, hài lòng, không hài lòng

Trang 23

Thống kê các tác dụng không mong muốn gặp phải trong quá trình điều trị.

2.7 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý thống kê theo thuật toán thống kê SPSS 18.0 Sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê khi p< 0,05

2.8 Đạo đức nghiên cứu

Các bệnh nhân trong nghiên cứu đều được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu, tự nguyện tham gia nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu nếu bệnh nặng hơn hoặc xuất hiện các tác dụng không mong muốn, bệnh nhân sẽ được điều trị bằng phương pháp phù hợp

Các thông tin liên quan đến bệnh nhân được giữ kín

Ngày đăng: 23/08/2019, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w