Kiếnthức, kĩ năng của người khám cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc kiểm soátđiều tiết trong quá trình thử kính như kĩ thuật thay mắt kính, lựa chọn số kínhlấy hay loại trừ...Sau khi đo k
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), tật khúc xạ là một trong nhữngnguyên nhân gây giảm thị lực hàng đầu [1 ] Vì vậy tật khúc xạ đã được đưavào nội dung chương trình Thị giác 2020 nhằm giảm tỷ lệ mù lòa có thểphòng tránh được [2 ], [3 ]
Tật khúc xạ ở trẻ em đang là một vấn đề được xã hội quan tâm TheoRobert N K, các nước châu Á có tỷ lệ cận thị và loạn thị ở trẻ em cao hơn cáckhu vực khác trên thế giới [4] Ở Hàn Quốc (2005) trẻ em bị cận thị chiếm tỷ lệ22,6%[5] Khi tìm hiểu về tình trạng cận thị tại một số trường học ở Trung Quốc,các nghiên cứu đã ghi nhận tỷ lệ cận thị học sinh từ xấp xỉ 50% đến 80% [6],[7], [8], [9] Tại Việt Nam, tùy theo từng nghiên cứu mà tỷ lệ tật khúc xạ ở trẻ
em thay đổi từ 20% đến 50% [10], [11], [12]
Tật khúc xạ khi được điều chỉnh bằng kính phù hợp sẽ cho thị lực tốt,đáp ứng được nhu cầu thị giác của người bệnh Tuy nhiên, để có được số kínhphù hợp đòi hỏi người bệnh phải được khám khúc xạ một cách tỉ mỉ, đúng quitrình bằng các phương pháp đo khúc xạ Các phương pháp để đo khúc xạđược xếp vào hai nhóm: đo khúc xạ chủ quan và đo khúc xạ khách quan Mỗiphương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Kết quả cuối cùng
là kết quả của đo khúc xạ chủ quan dựa trên khách quan
Trên thế giới cũng như trong nước đã có những nghiên cứu về các phươngpháp đo khúc xạ cũng như hiệu quả của những thiết bị đo khúc xạ khách quan nhưnghiên cứu của Vilaseca M (Tây Ban Nha) [13], Jao J (Trung Quốc) [14], Mark G
W (Mĩ) [15], Vũ Thị Bích Thủy [16], Phạm Hồng Mai [17], Nguyễn Đức Anh[18] Tuy nhiên đo khúc xạ cho trẻ em có nhiều khó khăn, vấn đề lựa chọnphương pháp phù hợp khi đo khúc xạ cho trẻ em vẫn luôn được các nhà nhãn
Trang 2khoa quan tâm tìm hiểu Để ghóp phần vào việc định hướng lựa chọn phươngtiện thăm khám cũng như phương pháp đo khúc xạ phù hợp cho đối tượngnày, giúp phát huy tối đa những ưu điểm cũng như hạn chế các nhược điểm
của từng phương pháp, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả của các phương pháp đo khúc xạ khách quan và chủ quan ở trẻ em” với
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
Độ dài trục nhãn cầu tăng lên theo mức độ cận thị vì vậy các triệuchứng này hay gặp hơn ở những mắt có độ cận thị cao[19] Tuy nhiên, nếunhững triệu chứng này đi riêng rẽ thì đôi khi không thể nói lên mức độ nặngnhẹ của cận thị [20],[21] Nhược thị có nguy cơ xảy ra trên mắt cận thị khilệch khúc xạ giữa hai mắt trên 3.00D[22]
1.1.1.2 Điều chỉnh cận thị
Mắt cận thị chỉ có thể nhìn xa rõ khi được điều chỉnh bằng kính cầu trừ.Nguyên tắc là chọn số kính trừ thấp nhất cho thị lực tối đa Dự kiến công suấtkính cần thiết cho mắt cận thị dựa vào khoảng cách mà một mắt cận thị cóthể nhìn rõ theo công thức:
F= 1/fTrong đó: f là khoảng cách ( cm)
F là công suất thấu kính (D) [21]
Trang 4Công suất dự kiến này chỉ giúp lựa chọn số kính khởi đầu khiđo khúc xạchủ quan, cần phải khám khúc xạ để có công suất kính chính xác cho thị lựctốt nhất.
Đo khúc xạ tự động hiện nay được sử dụng rộng rãi cung cấp kết quả gợi
ý và rút ngắn thời gian cho quá trình đo khúc xạ chủ quan [18], [23] Tuynhiên trên mắt cận thị thường dễ xảy cấp kính quá số cho bệnh nhân Sau mộtthời gian dài đeo kính qua số, việc điều chỉnh kính theo đúng khúc xạ thực sựcủa mắt thường làm cho bệnh nhân không đạt được thị lực tối ưu ngay Đôikhi phải chấp nhận cấp kính quá số do tình trạng co quắp điều tiết không thểgiải quyết ngay và để đáp ứng nhu cầu thị lực của bệnh nhân Vì vậy, vớinhững mắt cận thị giả hoặc đeo quá số trừ cần phải hạ số kính từng bước đểbệnh nhân có thể dễ chấp nhận kính hơn
1.1.2 Viễn thị
1.1.2.1 Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng của viễn thị thay đổi tùy thuộc vào mức độ điều tiết có thểdùng và độ viễn thị: nhìn mờ, nhức mỏi mắt, đỏ mắt, chảy nước mắt, haynheo mắt, nhíu mày nhất là khi đọc, hay nháy mắt
Biến chứng của viễn thị: viễn thị trung bình và nặng có nguy cơ dẫnđến biến chứng lác trong và nhược thị Lác trong xuất hiện sớm thường donguyên nhân viễn thị Bất đồng khúc xạ viễn thị trên +1.00D và viễn thị 2 mắttrên +5.00D được cho là yếu tố nguy cơ cao gây ra nhược thị
Theo nghiên cứu của Kulp và cộng sự (2014), có sự khác biệt rõ ràng về
tỷ lệ nhược thị và lác theo mức độ nặng của viễn thị Ở nhóm trẻ viễn thị trên+5.00D, 51.5% bệnh nhân nhược thị và 32.9% bệnh nhân có lác[22]
Trang 51.1.2.2 Điều chỉnh viễn thị
Viễn thị được điều chỉnh bằng kính cầu cộng Nguyên tắc là chọn sốkính cộng cao nhất cho thị lực tốt nhất
Sai lầm thường gặp khi kê đơn kính viễn thị là non số cầu cộng, đặc biệt
là khi chỉ dựa vào khúc xạ khách quan không liệt điều tiết và quá trình đokhúc xạ chủ quan không đảm bảo giãn điều tiết tốt Mặc dù vậy khi khámkhúc xạ trẻ em là đối tượng có biên độ điều tiết rất lớn, ngay cả khi quá trình
đo khúc xạ chủ quan được thực hiện một cách cẩn thận vẫn thường gặp kếtquả non số cộng với khúc xạ thực sự của mắt
Bệnh nhân trẻ tuổi không nhất thiết phải điều chỉnh toàn bộ độ viễn thị
do mắt đã quen điều tiết và không thể giãn điều tiết hoàn toàn Tuy nhiên viễnthị ở trẻ em gây ra lác trong thì việc điều chỉnh toàn bộ viễn thị là cầnthiết[21],[24]
- Kính trụ: là kính chỉ có công suất trên một kinh tuyến trong khi các kinhtuyến khác không có công suất Kính dùng cho những mắt loạn thị đơnthuần
Trang 6- Kính cầu-trụ: là một kính trụ phối hợp với một kính cầu, nó có công suất khácnhau trên các kinh tuyến khác nhau Kính được dùng cho những mắt loạn thịphối hợp cận thị hoặc viễn thị
Để điều chỉnh loạn thị chính xác, cần đảm bảo xác định đúng công suấtkính loạn và trục của kính loạn
Bệnh nhân loạn thị thường khó quen với việc đeo kính, nhất là đeo kínhlần đầu, loạn thị chéo hoặc công suất kính thay đổi nhiều Vì vậy đôi khi chỉnên chỉnh một phần loạn thị mới chẩn đoán, bệnh nhân có thể chưa có thị lựctốt nhất nhưng sẽ dễ chấp nhận kính hơn
Khi giảm công suất kính trụ thì cần thay đổi độ cầu theo công thức kínhcầu tương đương để đảm bảo đạt thị lực tối ưu cho những bệnh nhân khôngthể thích nghi được với công thức loạn thị tối đa
Công thức: Độ cầu tương đương (SE) = độ cầu (DS) + độ trụ(DC)/2Điều chỉnh kính loạn ở trẻ em tùy thuộc vào độ tuổi, độ loạn thị và các biểuhiện triệu chứng cơ năng Ở trẻ trên 6 tuổi, các loạn thị nhẹ 0.50DC nếu khôngkèm theo các triệu chứng cơ năng thì không cần phải chỉnh kính Ở tuổi này,những loạn thị từ 0.50 đến 1.00DC thường gây ra các triệu chứng cơ năng hơn lànhững loạn thị cao.Trẻ cũng thường có khả năng thích nghi với những biến dạnghình ảnh do kính chỉnh loạn thị gây ra nhanh trong vài ngày [21],[24]
Trong trường hợp không thể thích nghi với điều chỉnh loạn thị bằng kínhgọng thì cần cân nhắc khả năng sử dụng kính tiếp xúc
1.2 Các phương pháp đo khúc xạ ở trẻ em
1.2.1 Đo khúc xạ chủ quan (thử kính)
Mục tiêu của thử kính là phải xác định được kính làm cho người bệnhnhìn rõ nhất và nhìn dễ chịu nhất
Trang 7Khi thử kính phải chú ý kiểm soát điều tiết của người bệnh, đảm bảorằng người bệnh không bị cho quá trừ hoặc non cộng Ở trẻ em, khả năng điềutiết của trẻ rất lớn nên trong quá trình thử kính kết quả dễ bị ảnh hưởng dođiều tiết Để hạn chế sự ảnh hưởng này người bệnh tránh các hoạt động nhìngần trước khi thử kính Nếu người khám nhận thấy những dấu hiệu của điềutiết không ổn định hoặc co quắp điều, người bệnh được giãn điều tiết bằngkính cầu +1.00D hoặc hơn trong khoảng 30 phút đến 60 phút trước khi tiếnhành thử kính Trong quá trình thử kính, tuân thủ việc chọn số kính bắt đầuước lượng theo thị lực hoặc theo kết quả của đo khúc xạ khách quan Kiếnthức, kĩ năng của người khám cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc kiểm soátđiều tiết trong quá trình thử kính như kĩ thuật thay mắt kính, lựa chọn số kínhlấy hay loại trừ
Sau khi đo khoảng cách đồng tử nhìn xa, thử thị lực và thị lực với kínhlỗ; đo khúc xạ chủ quan (thử kính) bao gồm các bước:
- Thử kính cầu tối ưu: dùng các mắt kính công suất cầu để xác địnhcông suất kính trừ tối thiểu hoặc kính cộng tối đa cho thị lực tốt nhất
- Thử kính cầu-trụ: Sau khi thử kính cầu tối ưu nếu thị lực không tốtbằng thị lực kính lỗ thì phải thử kính cầu trụ bằng kính trụ chéo Jackson Kếtquả đo khúc xạ khách quan thường đã cho gợi ý có loạn thị hay không Thửkính cầu-trụ giúp tìm công suất chính xác và hướng trục của kính trụ để mắtloạn thị có thể nhìn rõ và dễ chịu Duy trì công suất cầu tương đương trongkhi thử kính cầu-trụ giúp kiểm soát điều tiết của người bệnh Thử kính cầu-trụbao gồm 3 bước:
Tìm loạn thị
Tìm trục kính trụ
Tìm công suất trụ
Trang 8- Test +1: để đảm bảo giãn điều tiết trong quá trình thử kính.
- Cân bằng 2 mắt: giúp kiểm tra điều tiết đều ở cả 2 mắt
Ưu điểm:
- Đơn kính cấp cho người bệnh không chỉ là số kính cho thị lực tốt nhất màcòn phải đảm bảo sự dễ chịu khi nhìn Đo khúc xạ chủ quan là phương phápduy nhất giúp kiểm soát được cả hai yếu tố khi quyết định cấp đơn kính
Máy đo khúc xạ tự động sử dụng những tiến bộ mới nhất của điện tử và
vi tính để xác định công suất khúc xạ trên các kinh tuyến của mắt cũng nhưxác định trục loạn thị Các thế hệ máy mới sử dụng tia hồng ngoại giúp ngườibệnh không bị chói mắt, giảm sự ảnh hưởng của điều tiết khi đo
Trang 9Khi đo khúc xạ tự động có liệt điều tiết, nhiều nghiên cứu trong nướccũng như trên thế giới đã chứng minh kết quả đo có thể tin cậy được và cónhiều lợi thế hơn so với phương pháp soi bóng đồng tử Tại Mĩ năm 1999,nghiên cứu của Mark G W đã cho thấy khi có liệt điều tiết máy khúc xạ tựđộng cho kết quả tốt và có nhiều lợi thế so với soi bóng đồng tử khi đo khúc
xạ cho trẻ em [15] Một nghiên cứu trong nước của Phạm Hồng Mai và cộng
sự khi khảo sát các phương pháp đo khúc tại bệnh viện Mắt TP HCM trên 91bệnh nhân người lớn đã kết luận phương pháp đo khúc xạ tự động có liệt điềutiết, với ưu điểm tiết kiệm nhân lực và thời gian so với soi bóng đồng tử liệtđiều tiết, có thể được áp dụng vào khảo sát khúc xạ trong cộng đồng khi kếthợp sử dụng thêm Pilocapine 2% sau khi kết thúc khảo sát để rút ngắn thờigian hồi phục điều tiết [17] Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Anh,máy đo khúc xạ tự động rất có giá trị trong việc định hướng cho việc thử kính,giúp phát hiện loạn thị và cho biết trục loạn thị tương đối chính xác [18]
Nhược điểm:
Không kiểm soát được điều tiết của người bệnh nên nếu dùng ngay kếtquả đo khúc xạ tự động để cấp đơn kính sẽ không thể chính xác Khi không sửdụng thuốc liệt điều tiết, việc kiểm soát điều tiết khi đo khúc xạ tự động hoàntoàn phụ thuộc và thiết kế vật tiêu của máy Kết quả đo khúc xạ tự động trước
và sau liệt điều tiết luôn có sự sai khác có ý nghĩa Năm 2004, Zhao J tiếnhành nghiên cứu đo khúc xạ trên học sinh cho thấy sai khác khi đo khúc xạmáy không liệt điều tiết so với đo có liệt điều tiết là 1.23 0.97D Nghiên cứu
đã đưa ra kết luận kết quả khúc xạ tự động không liệt điều tiết không phù hợpdùng để cấp kính [14] Một nghiên cứu khác của Rotsos (2009) ở Londoncũng đưa ra kết luận đo khúc xạ tự động không có liệt điều tiết có xuhướng quá trừ hơn 0.50D khi so sánh với kết quả của đo khúc xạ tự động
Trang 10có liệt điều tiết ở trẻ em[25 ] Tại Trung Quốc, khi nghiên cứu tính chính xáccủa máy đo khúc xạ tự động trong chẩn đoán cận thị ở học sinh trung họcChoong YF và cộng sự (2006) đã kết luận nếu không có liệt điều tiết thì kết quảkhúc xạ tự động có xu hướng quá trừ so với đo khúc xạ chủ quan Tuy nhiên,trong điều kiện có liệt điều tiết thì các máy đo khúc xạ trong nghiên cứu cho kếtquả gần với đo khúc xạ chủ quan hơn [19].
- Kết quả có thể sai lệch do sự phối hợp không tốt từ bệnh nhân, định thị kém,những trường hợp có vẩn đục các môi trường trong suốt hoặc đồng tử nhỏ,hiệu chỉnh các thông số của máy không đúng Nghiên cứu của Nguyễn ĐứcAnh đã chỉ ra hạn chế của máy đo khúc xạ tự động khi kích thước đồng tửnhỏ dưới 2mm [18]
1.2.3 Đo khúc xạ bằng soi bóng đồng tử
Đây là một phương pháp đo khúc xạ khách quan, trong đó người khámdựa vào các đặc điểm của bóng đồng tử để xác định khúc xạ của mắt, dùngthước Parent hoặc mắt kính rời lắp vào gọng thử để tìm công suất kính cầutrung hòa trên từng kinh tuyến Soi bóng đồng tử cho kết quả tốt nhất khikiểm soát được giãn điều tiết bằng các phương pháp dùng thuốc hoặc khôngdùng thuốc
Soi bóng đồng tử không dùng thuốc liệt điều tiết: Để giãn điều tiết, ngườibệnh được hướng dẫn định thị vào vật tiêu ở xa hoặc dùng phương pháp kính
mờ Phương pháp này đòi hỏi sự hợp tác rất tốt của người bệnh, không phù hợpkhi áp dụng cho trẻ em không có khả năng hợp tác tốt và biên độ điều tiết lớn.Năm 2012, nghiên cứu của Hopkins và cộng sự cũng đã chỉ ra rằng kiểm soátđiều tiết bằng nghiệm pháp kính mờ khi soi bóng đồng tử không tốt bằng việc
sử dụng thuốc liệt điều tiết [26]
Trang 11Soi bóng đồng tử với thuốc liệt điều tiết: Đây là phương pháp tiêu chuẩnvàng để đánh giá khúc xạ của trẻ em Kiểm soát điều tiết của người bệnh bằngcác thuốc liệt điều tiết Soi bóng đồng tử được thực hiện ở khoảng cách 50cmhoặc 67cm , dùng các mắt kính cầu với công suất thích hợp để tìm trung hòa.Chỉ số khúc xạ trên từng kinh tuyến của người bệnh là công suất của kính chobóng trung hòa hiệu chỉnh khoảng cách đo Soi bóng đồng tử liệt điều tiết cóthể sơ bộ xác định trục loạn thị.
Soi bóng đồng tử gần Mohindra: phương pháp này không dùng thuốc liệtđiều tiết và cũng không cần định thị xa để kiểm soát điều tiết Soi bóng đồng
tử gần được tiến hành trong phòng tối hoàn toàn, ánh sáng mờ của máy soi làmột kích thích yếu đối với điều tiết và điều tiết sẽ giãn tới mức “trương lực”.Soi bóng đồng tử gần được thực hiện ở khoảng cách 50cm, thay vì hiệu chỉnhkết quả theo khoảng cách đo là trừ 2.00D, người khám trừ đi 1.00D với trẻtrên 24 tháng tuổi hoặc 0.75D với trẻ dưới 24 tháng tuổi[27] Trong quá trìnhthực hiện cần chú ý đồng tử giãn (dấu hiệu của giãn điều tiết), phản xạ ổnđịnh và phải che mắt không khám để tránh điều tiết do qui tụ
Soi bóng đồng tử động (Dynamic Retinoscopy) : phương pháp này chothông tin về độ chính xác điều tiết của người bệnh Có thể có điều tiết chínhxác, điều tiết vượt mức và điều tiết dưới mức Bệnh nhân được định thị bằngmột vật tiêu ở khoảng cách gần, người khám tìm điểm trung hòa bằng cáchthay đổi khoảng cách khám lại gần hoặc ra xa Nếu khoảng cách cho bóngtrung hòa ở gần hơn vị trí vật tiêu là người bệnh có điều tiết vượt mức, ngượclại nếu xa hơn vị trí vật tiêu thì người bệnh có điều tiết dưới mức Ở trẻ em,điều tiết vượt mức ít gặp hơn nhưng có thể thấy điều tiết vượt mức ở bệnhnhân cận thị không được chỉnh kính
Trang 12Soi bóng đồng tử MEM – Phương pháp ước lượng một mắt (MonocularEstimate Method): phương pháp này cũng để xác định độ chính xác điều tiết.Người bệnh được yêu cầu nhìn vào vật tiêu được gắn trên máy soi bóng đồng
tử Người khám đánh giá đặc điểm của bóng đồng tử, thông thường nếu bóngchuyển động cùng chiều tương ứng với điều tiết dưới mức, cần thêm một kínhcộng thích hợp để trung hòa bóng Đôi khi có thể thấy bóng ngược chiềutương ứng với điều tiết vượt mức [28]
- Khi dùng thuốc liệt điều tiết để soi bóng đồng tử, do tác dụng giãnđồng tử sẽ giúp khám và kiểm tra đáy mắt
- Phụ thuộc nhiều vào kiến thức và kỹ năng của người khám
- Tốn nhiều thời gian cho mỗi lần khám
- Nếu không dùng thuốc liệt điều tiết, khó kiểm soát điều tiết trongquá trình đo khúc xạ cho trẻ em
Trẻ em là đối tượng có những vấn đề về khúc xạ được phát hiện và cầnđược chỉnh kính Nhiều nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới đã được
Trang 13tiến hành nhằm tìm ra phương pháp đo khúc xạ hiệu quả nhất cho đối tượngnày Năm 2003, khi tiến hành nghiên cứu về các phương pháp xác định khúc
xạ trên 435 bệnh nhân từ 3 đến 18 tuổi, Vũ Thị Bích Thủy đã đưa ra kết luậncác phương pháp đo khúc xạ chủ quan có thể tin cậy được ở trẻ lớn tuổi vàcác phương pháp đo khúc xạ khách quan có ưu thế hơn đối với trẻ nhỏ tuổituy nhiên phụ thuộc người đo [16] Tại Mĩ năm 1999, Mark G W và cộng sựkhi so sánh các phương pháp đo khúc xạ ở trẻ em từ 3 đến 18 tuổi đã cho thấykhi có liệt điều tiết máy khúc xạ tự động cho kết quả tốt và có nhiều lợi thế
so với soi bóng đồng tử như dễ sử dụng, tốn ít thời gian hơn [15] Khi so sánhvới kết quả đo khúc xạ chủ quan, các tác giả đã ghi nhận sự sai khác của kết
đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết có xu hướng cận thị hóa Theo nghiêncứu của Jorge J và cộng sự (2005) thì trong điều kiện đo không liệt điều tiết,kết quả công suất cầu hoặc công suất cầu tương đương của đo khúc xạ tựđộng so với đo khúc xạ chủ quan có sai khác −0.44 ± 0.54 D và kết quả khúc
xạ của soi bóng đồng tử bởi một nhà lâm sàng có kinh nghiệm cho kết quảgần với đo khúc xạ chủ quan hơn [23]
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo khúc xạ
1.3.1 Sự điều tiết của mắt
1.3.1.1 Khái niệm
Mắt có khả năng nhìn rõ vật ở nhiều khoảng cách khác nhau là nhờ quátrình điều tiết Điều tiết là khả năng thích ứng của mắt để thay đổi công suấthội tụ giúp mắt có thể nhìn rõ khi vị trí của vật tiêu thay đổi trong một giớihạn khoảng cách nhất định Với một vật tiêu ở xa trên 6m, ánh sáng tới mắtđược coi là từ xa vô cực, mắt không cần phải điều tiết để nhìn rõ Mắt phảiđiều tiết tăng công suất hội tụ để nhìn rõ với những vật tiêu ở khoảng cáchgần dưới 6m Quá trình điều tiết diễn ra một cách tự động
Trang 14Khoảng điều tiết là khoảng cách giữa điểm gần nhất (cận điểm) và điểm
xa nhất mà mắt có thể nhìn rõ (viễn điểm)
Sự chênh lệch lực điều tiết giữa hai mắt không quá 0.12D bởi vậy có thểcoi điều tiết ở hai mắt là như nhau trừ trường hợp lệch khúc xạ nặng Việc sựdụng thị giác hai mắt có khuynh hướng buông thả điều tiết nên khi khám khúc
xạ riêng từng mắt sẽ thấp hơn khúc xạ hai mắt khoảng 0.25D[29]
Dây Zinn căng
Thể thủy tinh không điều tiết Thể thủy tinh điều tiết
Giãn điều tiết
Dây Zinn trùng
Trang 15lên bao thể thủy tinh Sự giảm sức căng này làm các các chất thể thủy tinhtrong bao biến dạng: vồng lên ở trung tâm và dẹp hơn ở xích đạo Mặt trướcthể thủy tinh vồng lên nhiều hơn so với mặt sau do mặt sau thể thủy tinh được
cố định bởi ống Cloquet và do áp lực của dịch kính đẩy ra trước Khi khôngđiều tiết bán kính cong của mặt trước thể thủy tinh là 10mm, khi điều tiếtgiảm xuống còn 5,33mm do đó làm tăng công suất khúc xạ của thể thủy tinh
từ 19.00D lên 33.00D hay công suất khúc xạ của mắt từ 58.64D lên 70.57D
Ở trẻ nhỏ, thể thủy tinh có khả năng tăng công suất hội tụ lên đến 40.00D Khiđiều tiết công suất hội tụ của mắt tăng, viễn điểm lại gần mắt hơn, mắt nhìn rõđược các vật ở khoảng cách gần
Chi phối thần kinh cho hoạt động điều tiết là các nhánh phó giao cảmthuộc dây thần kinh III Các nhánh thần kinh này cũng chi phối cho hoạt độngcủa cơ vòng mống mắt Do đó, cùng với sự vồng lên của thể thủy tinh trongkhi điều tiết còn xảy ra các hiện tượng co đồng tử, mống mắt xê dịch về phíatrước [20] Điều tiết và qui tụ có sự phối hợp chặt chẽ thể hiện trong tỷ sốAC/A Bình thường tỷ số này có giá trị từ 3 đến 5 diop lăng kính cho 1 diopđiều tiết
Trang 161.3.2 Khúc xạ biểu hiện và khúc xạ sau liệt điều tiết bằng thuốc
Điều tiết làm tăng công suất khúc xạ vì vậy để xác định khúc xạ của mắt
lí tưởng nhất là đo trong điều kiện có liệt điều tiết Kết quả đo khúc xạ biểuhiện và khúc xạ liệt điều tiết luôn có sự sai khác nhất định Nghiên cứu củaDương Ngọc Vinh và cộng sự về vai trò của thuốc liệt điều tiết khi đo khúc
xạ khách quan bằng máy khúc xạ tự động cũng cho thấy sự chênh lệch trước
và sau liệt điều tiết của công suất cầu là 0,83 0,83D, công suất trụ là 0,080,57DC, trục loạn thị là 8,52 ± 10,99 [30] Năm 2011, khi so sánh kết quảcông suất cầu tương đương bằng máy đo khúc xạ tự động không dùng thuốcliệt điều tiết và kết quả thử kính, Nguyễn Ngọc Lai và cộng sự đã tìm thấy sựkhác biệt là -0.61 0.14D Sự sai khác này được cho là do ảnh hưởng của lựcđiều tiết [31]
Khả năng điều tiết của mỗi người là khác nhau, thậm chí trên cùng mộtbệnh nhân thì điều tiết cũng thay đổi theo thời gian và tình trạng sức khỏe Do
đó khi khám khúc xạ biểu hiện (không liệt điều tiết ) phải làm giãn điều tiếtbằng các phương pháp không dùng thuốc Nếu kết quả không đồng nhất giữacác lần đo thì cần phải làm liệt điều tiết bằng thuốc để đánh giá chính xác tìnhtrạng khúc xạ của mắt
Thuốc liệt điều tiết: Dung dịch atropin 0,5% là thuốc gây liệt điều tiếtđược dùng phổ biến trong khám khúc xạ ở nước ta Atropin là thuốc có tácdụng trên thần kinh phó giao cảm Vì vậy ngoài tác dụng lên cơ vòng thể mi,thuốc còn tác dụng lên cơ vòng mống mắt gây giãn đồng tử Dung dịchAtropin 0,5% có tác dụng liệt đều tiết mạnh sau 3 đến 5 ngày tra thuốc, đồngthời tác dụng giãn đồng tử của Atropine cũng khá dài từ 2 đến 3 tuần Vì vậykhi sử dụng Atropine bệnh nhân gặp phải khó khăn trong nhìn gần, lóa mắt
Trang 17Một số tác dụng phụ khác thường gặp của thuốc Atropine tra mắt là: xunghuyết kết mạc, tăng nhãn áp trên những người có góc đóng tiềm tàng, khômiệng do giảm tiết, sốt… Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu vềviệc sử dụng dung dịch Atropin nồng độ thấp trong việc kiểm soát, điều trị vàhạn chế tiến triển của cận thị ở trẻ em và đã ghi nhận những kết quả tích cực[32] Một thuốc khác thường được sử dụng để gây liệt điều tiết khi khám khúc
xạ là dung dịch Cyclopentolate 1% Thuốc có ưu điểm hơn ở tác dụng giãnđồng tử không kéo dài như Atropine Tuy nhiên, ở đối tượng trẻ nhỏ một sốnghiên cứu đã khuyến cáo Cyclopentolate không đạt được hiệu quả liệt điềutiết tối ưu trên trẻ nhỏ [16]
1.3.3 Biên độ diều tiết thay đổi theo tuổi
Biên độ điều tiết là mức độ điều tiết tối đa của mắt (hiệu số giữa độ tụcủa mắt tính bằng điốp khi ở cận điểm và viễn điểm) Biên độ điều tiết dượcđánh giá bằng 3 phương pháp:
- Phương pháp tịnh tiến vật tiêu từ xa lại gần (push –up)
- Phương pháp tịnh tiến vật tiêu từ gần ra xa (pull – away)
- Phương pháp đo bằng kính cầu
Chức năng điều tiết chưa hoàn thiện ngay từ khi sinh ra mà nó đượchoàn thiện cùng với quá trình phát triển chức năng thị giác của trẻ Biên độđiều tiết thay đổi theo tuổi do sự thay đổi tính mềm dẻo hay khả năng đànhồi của thể thủy tinh Khi trẻ nhỏ thể thủy tinh rất mềm dẻo nên biên độđiều tiết có thể lên tới 20.00D Ở trẻ 10 tuổi biên độ điều tiết còn khoảng14.00D, người 40 tuổi chỉ còn khoảng 4.50D và gần như không còn khảnăng điều tiết ở tuổi 70 [27 ]
Trang 18Biên độ điều tiết theo tuổi được ước lượng theo công thức
Biên độ điều tiết theo tuổi = 18 – 1/3( tuổi) [29]
Do sự thay đổi của biên độ điều tiết theo tuổi nên khi đo khúc xạ không liệt điều tiết bằng thuốc, tùy vào độ tuổi của bệnh nhân mà kết quả đo có thể sai khác nhiều hay ít so với khúc xạ thực sự giãn điều tiết của mắt
1.3.4 Ảnh hưởng của điều tiết đến các loại tật khúc xạ
1.3.4.1 Điều tiết trên mắt cận thị
Mắt cận thị khi nhìn xa trong trạng thái không điều tiết các tia sáng hội tụtại tiêu điểm trước võng mạc Nếu khi mắt điều tiết, công suất hội tụ tăng lên làmcho tiêu điểm càng di chuyển ra xa võng mạc hơn, hình ảnh trên võng mạc càngnhòe Do vậy với mắt cận thị, điều tiết không giúp nhìn rõ hơn
Cận thị do điều tiết: Khi mắt nhìn gần trong thời gian dài, cơ thể mi phảihoạt động liên tục duy trì điều tiết để mắt có thể nhìn rõ Do vậy có thể xảy rahiện tượng co quắp điều tiết, cơ thể mi không giãn làm công suất hội tụ củamắt không giảm khi cần nhìn xa nên nhìn xa không rõ
Khám khúc xạ mà không đảm bảo giãn điều tiết có thể dẫn đến việc chođơn kính trên mắt cận thị giả do điều tiết trong khi thực tế cần phải làm giãn
cơ thể mi bằng các thuốc liệt điều tiết
1.3.4.2 Điều tiết trên mắt viễn thị
Mắt viễn thị khi nhìn xa trong trạng thái giãn điều tiết có tiêu điểm nằmsau võng mạc Nếu điều tiết vừa đủ sẽ kéo tiêu điểm về võng mạc Như vậy,điều tiết có thể giúp mắt viễn thị nhìn rõ mà không cần đeo kính Tuy nhiên,
do mắt luôn phải điều tiết để nhìn rõ nên bệnh nhân thường có những triệuchứng cơ năng
Trang 19Do ảnh hưởng của điều tiết nên viễn thị bao gồm các thành phần:
- Viễn thị biểu hiện: là độ viễn thị đo được khi không làm liệt điều tiết
- Viễn thị ẩn: độ viễn thị được bù trừ do hoạt động điều tiết, chỉ có thể đo đượckhi làm liệt điều tiết
- Viễn thị toàn phần: là tổng của viễn thị biểu hiện và viễn thị ẩn
Khi khám khúc xạ trên những mắt viễn thị nếu không đảm bảo giãn điềutiết tốt sẽ dễ bị bỏ qua độ viễn thị ẩn, chỉnh kính không chính xác Ở trẻ em,việc duy trì giãn điều tiết bằng các phương pháp không dùng thuốc là tươngđối khó vì vậy sử dụng các thuốc liệt điều tiết khi khám khúc xạ cho trẻ làviệc làm cần thiết[26]
1.3.4.3 Điều tiết trên mắt loạn thị
Mắt loạn thị thường điều tiết để cho tiêu tuyến đứng về trên võng mạchoặc gần võng mạc hơn Với mắt loạn cận đơn thuận, tiêu tuyến đứng đã nằmtrên võng mạc; mắt loạn cận kép thuận thì tiêu tuyến đứng cũng gần võngmạc nên khi đưa vật lại gần mắt thì tiêu tuyến này sẽ di chuyển đến gần võngmạc hơn Trong trường loạn viễn mắt phải nỗ lực điều điết để đưa tiêu tuyếnđứng về gần võng mạc
Trên thế giới đã có những nghiên cứu về biên độ điều tiết ở các nhómbệnh nhân tật khúc xạ, tuy nhiên kết quả còn không thống nhất Fledelius(1981) cho rằng biên độ điều tiết trên mắt cận thị tăng hơn so với mắt viễn thịhoặc chính thị [33] Nghiên cứu của McBrien (1986) trên 80 đối tượng ở độtuổi từ 18 đến 22 cho thấy biên độ điều tiết khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhómbệnh nhân cận thị và viễn thị, chỉ số này cao hơn ở nhóm cận thị [26] TheoAbraham (2005), nghiên cứu ở nhóm bệnh nhân dưới ở tuổi dưới 45 cũng đưa
ra kết luận tương tự [34] Nhưng theo Gawron (1981) thì giữa các nhóm bệnhnhân có tật khúc xạ không có sự khác nhau về biên độ điều tiết [35]
Trang 20Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ tháng 1/ 2015 đến hết tháng 8/ 2015.Địa điểm: Bệnh viện Mắt Trung ương
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán có tật khúc xạ từ 6 tuổi đến 15 tuổi
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân có các bệnh mắt khác kèm theo
- Bệnh nhân có bệnh lí thần kinh, tâm thần, khó hợp tác
- Bệnh nhân không theo đủ qui trình khám khúc xạ
- Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 212.4 Phương pháp nghiên cứu và công cụ thu thập thông tin
2.4.1 Quy trình khám khúc xạ trong nghiên cứu
Bệnh nhân đến khám được tiến hành theo 3 bước tương ứng với 3 lần khám.Lần 1:
- Hỏi bệnh
- Khám bằng đèn sinh hiển vi và kính soi đáy mắt
- Thử thị lực không kính, có kính ( nếu có), thị lực với kính lỗ
- Thử kính sơ bộ
- Đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết
- Soi bóng đồng tử không liệt điều tiết
- Cấp thuốc liệt điều tiết Atropin 0.5%, hướng dẫn tra thuốc 2 mắtngày 2 lần, chặn điểm lệ ít nhất 5 phút
- Hẹn khám lại sau 3 đến 5 ngày
Lần 2:
- Đo khúc xạ tự động có liệt điều tiết
- Soi bóng đồng tử có liệt điều tiết
- Hẹn khám lại sau 2 - 3 tuần
Lần 3:
- Thử kính sau khi hết tác dụng của thuốc liệt điều tiết
2.4.4 Công cụ thu thập thông tin
- Phòng khám đảm bảo tiêu chuẩn về khoảng cách bảng thị lực nhìn xa và điềukiện ánh sáng
- Bảng thị lực Snellen, dùng máy chiếu cùng hệ thống gương phản chiếu,khoảng cách 3m
- Hộp kính thử
- Máy soi bóng đồng tử hình khe và thước Parent
Trang 22- Máy đo khúc xạ tự động.
- Đèn khám sinh hiển vi, kính soi đáy mắt
- Máy đo số kính
- Thuốc liệt điều tiết: dung dịch Atropin 0.5%
- Phiếu thu thập thông tin nghiên cứu
- Tiền sử bệnh mắt khác và các bệnh toàn thân
2.4.2.2 Đo số kính cũ (nếu có) bằng máy đo số kính.
2.4.2.3 Thử thị lực
- Thử thị lực nhìn xa không kính, thử kính lỗ và thị lực với kính cũ nếu có
- Dùng bảng thị lực Snellen với máy chiếu và hệ thống gương phản chiếu ởkhoảng cách 3m
- Nếu người bệnh đang từ chỗ sáng vào phòng thử thị lực thì để người bệnh cóthời gian nghỉ 15 phút để đảm bảo sự thích nghi của võng mạc với điều kiệnánh sáng yếu
- Thử thị lực từng mắt, kết quả thị lực mỗi mắt tương ứng với hàng chữ nhỏnhất mà người bệnh còn đọc được
Trang 232.4.2.4 Thử kính sơ bộ
Dựa trên kết quả thị lực và đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết, thửkính sơ bộ xác định công suất kính cầu tối ưu, đánh giá khả năng hợp tác củangười bệnh khi đo khúc xạ chủ quan, đánh giá tình trạng điều tiết của mắt đểcho chỉ định dùng thuốc liệt điều tiết
2.4.2.5 Khám bằng sinh hiển vi và kính soi đáy mắt
Phát hiện các bệnh mắt phối hợp khác, loại trừ những người bệnh không
đủ tiêu chuẩn cho nghiên cứu
đo, tiến hành đo 3 lần và lựa chọn giá trị phù hợp nhất
Sử dụng cùng một máy đo khúc xạ tự động cho các lần đo của mỗibệnh nhân cũng như cho tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu
2.4.2.7 Soi bóng đồng tử
Trang 24Soi bóng đồng tử khi không liệt điều tiết và sau liệt điều tiết bằngAtropin 0.5%.
Soi bóng đồng tử với máy soi hình khe và thước Parent
Thước Parent có hai nhược điểm cơ bản:
- Xác định trục loạn thị hoàn toàn dựa và chủ quan người khám
- Công suất giữa các mắt kính chênh lệch nhiều 0.50D, đặc biệt là cácmắt kính có công suất lớn
Soi bóng đồng tử ở khoảng cách 50cm, thực hiện trong phòng có ánhsáng yếu, bệnh nhân được yêu cầu định thị xa khi soi không liệt điều tiết,không đặt kính làm mờ Khi soi bóng đồng tử qua đồng tử giãn, tập trung vàovùng trung tâm của ánh đồng tử và chỉ trung hòa bóng ở vùng này
Hình 2.2: Soi bóng đồng tử
Quan sát đánh giá các đặc điểm của bóng đồng tử:
- Hướng di chuyển: bóng di chuyển “cùng chiều” tìm trung hòa bằng kínhcộng, “ngược chiều” thì dùng kính trừ để tìm trung hòa
Trang 25- Tốc độ di chuyển: càng gần đến điểm trung hòa, bóng đồng tử di chuyển càngnhanh.
- Độ sáng: bóng đồng tử sáng hơn khi gần tới điểm trung hòa
- Độ rộng: bóng đồng tử rộng hơn khi gần tới điểm trung hòa
Quét trên hai kinh tuyến vuông góc của mắt Trên mỗi kinh tuyến, đặtthêm các công suất kính thích hợp trước mắt người bệnh để tìm điểm trunghòa Công suất khúc xạ trên mỗi kinh tuyến là công suất kính trung hòa hiệuchỉnh khoảng cách đo (- 2.00D)
Nếu khi quét trên một kinh tuyến thấy có “ đường gãy”: bóng đồng tử vàkhe sáng không thẳng hàng thì xác định trục loạn thị bằng cách quay khe sángcho tới điểm thẳng hàng với bóng đồng tử
2.4.2.8 Đo khúc xạ chủ quan và ghi đơn kính.
Đo khúc xạ chủ quan đầy đủ để cấp kính sau khi thuốc liệt điều tiết hếttác dụng, dựa trên cơ sở kết quả đo khúc xạ khách quan có liệt điều tiết để rútngắn thời gian thử kính
- Thử kính cầu tối ưu: dùng các mắt kính rời cùng gọng thử tìm công suất kínhtrừ tối thiểu hoặc kính cộng tối đa của từng mắt cho người bệnh thị lực tốtnhất Bắt đầu với kính cầu cộng trước và đảm bảo kĩ thuật khi thay kính trongquá trình thử kính để hạn chế điều tiết cuả mắt
- Thử kính cầu-trụ: tiến hành nếu sau khi thử kính cầu tối ưu thị lực còn tăngvới kính lỗ hoặc đã xác định có loạn thị bằng đo khúc xạ khách quan Dùngkính trụ chéo Jackson để xác định trục loạn thị Kính cầu tối ưu được đặt trêngọng thử, đánh giá thị lực của người bệnh khi bổ xung thêm các mắt kính trụ.Duy trì công suất cầu tương tương khi thay đổi công suất trụ
- Test +1.00: kiểm tra lại số kính không bị quá trừ hoặc non cộng Khi đặt thêmkính +1.00D thì thị lực hai mắt của bệnh nhân giảm đi ít nhất hai hàng Nếuthị lực hai mắt giảm ít hơn thì thay kính +1.00D bằng kính cộng cao hơn để
Trang 26đạt được mục tiêu Sau khi tiến hành cân bằng hai mắt, giảm dần số kính cộng
để thị lực hai mắt đạt được như trước test +1.00D, lấy số kính cuối cùng theonguyên tắc kính cầu tối ưu.Trong trường hợp thị lực từng mắt không tươngđương nhau thì test +1.00D được tiến hành với từng mắt Không thực hiệnbước cân bằng hai mắt
- Cân bằng điều tiết hai mắt: đảm bảo cho hai mắt có độ giãn điều tiết tươngđương nhau, giảm những khó chịu khi nhìn Bước này chỉ thực hiện khi thịlực hai mắt với kính không chênh nhau quá 2 hàng
Đánh giá cảm giác chủ quan của người bệnh sau khi đeo kính khoảng 30phút, đặc biệt là với kính để chỉnh loạn thị Ghi đơn kính cho người bệnh
2.4.3 Công cụ thu thập thông tin
- Phòng khám đảm bảo tiêu chuẩn về khoảng cách bảng thị lực nhìn xa và điềukiện ánh sáng
- Bảng thị lực Snellen, dùng máy chiếu cùng hệ thống gương phản chiếu,khoảng cách 3m
- Thuốc liệt điều tiết: dung dịch Atropin 0.5%
- Phiếu thu thập thông tin nghiên cứu
- Phần mềm quản lí và sử lí số liệu
- Máy tính
2.4.4 Phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá
Với từng phương pháp đo khúc xạ chủ quan, đo khúc xạ tự động có liệtđiều tiết và không liệt điều tiết, soi bóng đồng tử có liệt điều tiết và không liệtđiều tiết, chúng tôi thu được kết quả là các chỉ số khúc xạ bao gồm: công suất
Trang 27cầu, công suất trụ và trục loạn thị (nếu có loạn thị) Chỉ số công suất trụ luônlấy giá trị trụ trừ Lấy kết quả đo khúc xạ chủ quan làm căn cứ để so sánh sựkhác biệt của các chỉ số khúc xạ của 2 phương pháp soi bóng đồng tử và đokhúc xạ tự động khi đo không liệt điều tiết hoặc có liệt điều tiết
Khi so sánh các kết quả khúc xạ có liệt điều tiết và không liệt điều tiếtcủa từng phương pháp trên các nhóm tuổi, trên các loại tật khúc xạ thì chỉ sốkhúc xạ được so sánh là công suất cầu tương đương tính theo công thức:
Độ cầu tương đương (SE) = độ cầu (DS) + độ trụ(DC)/2
2.4.3.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu 1
a Chênh lệch công suất cầu giữa các phương pháp đo khúc xạ
- Đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Soi bóng đồng tử không liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Đo khúc xạ tự động có liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Soi bóng đồng tử có liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
b Chênh lệch công suất trụ giữa các phương pháp đo khúc xạ
- Đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Soi bóng đồng tử không liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Đo khúc xạ tự động có liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Soi bóng đồng tử có liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
c Chênh lệch trục loạn thị giữa các phương pháp đo khúc xạ
- Đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Soi bóng đồng tử không liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Đo khúc xạ tự động có liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
- Soi bóng đồng tử có liệt điều tiết và đo khúc xạ chủ quan
Mục tiêu 2:
Trang 28a Tuổi.
b Loại tật khúc xạ
c Chênh lệch công suất cầu tương đương của các phương pháp đo khúc xạ khách quan khi không liệt điều tiết và có liệt điều tiết
- Đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết với có liệt điều tiết
- Soi bóng đồng tử không liệt điều tiết và có liệt điều tiết
d Chênh lệch công suất cầu tương đương giữa các phương pháp đo khúc xạ
- Đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết với đo khúc xạ chủ quan
- Đo khúc xạ tự động có liệt điều tiết với đo khúc xạ chủ quan
- Soi bóng đồng tử không liệt điều tiết với đo khúc xạ chủ quan
- Soi bóng đồng tử có liệt điều tiết với đo khúc xạ chủ quan
2.4.3.2 Các tiêu chuẩn đánh giá, phân loại trong nghiên cứu
a Phân độ chênh lệch công suất cầu hoặc cầu tương đương
Thuốc liệt điều tiếtSoi bóng đồng tử
Tuổi của bệnh nhân
Đo khúc xạ tự động
Loại tật khúc xạ
Trang 292.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành sau khi đã được Hội đồng đạo đức trường
ĐH Y Hà Nội thông qua
Mọi đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được thực một quy trình khámkhúc xạ đầy đủ, kĩ lưỡng để có được số kính phù hợp nhất
Trang 30Người bệnh và gia đình được tư vấn và giải đáp các thắc mắc về tìnhtrạng bệnh lí của mình, từ đó có những hiểu biết khoa học hơn về bệnh
Đối tượng nghiên cứu không phải mất thêm bất kì một khoảng chi phínào so với khám khúc xạ thông thường
Bệnh nhân và gia đình tự nguyện tham gia nghiên cứu, các trường hợp từchối tham gia vẫn được thăm khám đầy đủ không có sự phân biệt đối xử
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm nhóm nghiên cứu
3.1.1 Phân bố tuổi
Bảng 3.1: Phân bố theo nhóm tuổi
Trang 31Sự phân bố giới tính khá đồng đều, nam nhiều hơn nữ nhưng không đáng
kể Có 86 bệnh nhân nam chiếm 50,6% và 84 bệnh nhân nữ chiếm 49,4%
Viễn thị đơn thuần(n,%)
Loạn thị(n, %)
Soi BĐT không liệt
Trang 32Đo KXTĐ cho kết quả phát hiện nhiều trường hợp có loạn thị nhất,chiếm 92,6% cả khi không liệt hoặc có liệt điều tiết
Về tật khúc xạ cầu trong nhóm nghiên cứu, cận thị chiếm ưu thế so vớiviễn thị ở mọi phương pháp đo
3.2 Chênh lệch kết quả của các phương pháp đo KXKQ với đo KXCQ
3.2.1 Chênh lệch kết quả của các phương pháp đo KXKQ khi không liệt điều tiết với đo KXCQ
3.2.1.1 Công suất cầu
Bảng 3.4: Chênh lệch công suất cầu của phương pháp soi BĐT
và đo KXTĐ khi không liệt điều tiết so với đo KXCQ
Chênh lệch công suất cầu
của hai phương pháp
Trang 33sự khác biệt không có ý nghĩa, p = 0,710.
Hiệu chênh lệch công suất cầu ở mức độ 1 ( 1.00D) của hai phươngpháp khi so sánh với đo KXCQ đều chiếm trên 80%
Có trường hợp mức độ chênh lệch hơn 2.00D, chiếm trên 5% ở cả haiphương pháp đo khúc xạ khách quan
3.2.1.2 Công suất trụ
Bảng 3.5: Chênh lệch công suất trụ của soi BĐT và đo KXTĐ
khi không liệt điều tiết với đo KXCQ
Chênh lệch công suất trụ
của hai phương pháp
Trang 34p=0,001 -0,361±0,567 -0,531±0,522
Khi không liệt điều tiết bằng thuốc, kết quả công suất trụ của phươngpháp soi BĐT chênh lệch với kết quả đo KXCQ ít hơn so với phương pháp đoKXTĐ Hai trung bình đều mang giá trị âm và khác nhau có ý nghĩa thống kêvới p= 0,001
Xét theo mức độ chênh lệch, số mắt có công suất trụ chênh dưới 1.00DC
ở cả hai phương pháp đều trên 80%
Trang 353.2.1.3 Trục loạn thị
Bảng 3.6: Chênh lệch trục loạn thị của soi BĐT và đo KXTĐ
khi không liệt điều tiết với đo KXCQ (N= 179 mắt)
Trang 363.2.2 Chênh lệch kết quả của các phương pháp đo KXKQ khi có liệt điều tiết với đo KXCQ
3.2.2.1 Công suất cầu
Bảng 3.7: Chênh lệch công suất cầu của phương pháp
soi BĐT và đo KXTĐ liệt điều tiết so với đo KXCQ
Chênh lệch công suất cầu
của hai phương pháp Mức độ sai khác
Soi BĐT liệt điều tiết
và đo KXCQ Đo KXTĐ liệt điềutiết và đo KXCQ
Mức chênh lệch dưới 1.00D công suất cầu ở cả hai phương pháp đoKXKQ khi so với đo KXCQ là gần như nhau, đều đạt hơn 85% số mắt
3.2.2.2 Công suất trụ
Trang 37Bảng 3.8: Chênh lệch công suất trụ của soi BĐT và đo KXTĐ
sau liệt điều tiết với đo KXCQ
Chênh lệch công suất trụ
của hai phương pháp Mức độ sai khác
Soi BĐT liệt điều tiết
và đo KXCQ Đo KXTĐ liệt điềutiết và đo KXCQ
So sánh về sự phân bố ở các mức độ chênh lệch ghi nhận sự khác nhau
có ý nghĩa, trong đó mức độ hai có sự khác nhau rõ rệt nhất, ở phương phápsoi BĐT là 29,1% và phương pháp đo KXTĐ là 40,6%
3.2.2.3 Trục loạn thị
Bảng 3.9: Chênh lệch trục loạn thị của soi BĐT và đo KXTĐ
có liệt điều tiết với đo KXCQ.
Trang 38Chênh lệch trục loạn thị
của hai phương pháp
Mức độ sai khác
Soi BĐT liệt điều tiết
và đo KXCQ Đo KXTĐ liệt điều tiếtvà đo KXCQ
Số mắt có mức chênh lệch 10 của soi BĐT ít hơn so với đo KXTĐ(66,5% và 73,2%)
Trang 393.3 Ảnh hưởng của điều tiết đến kết quả của các phương pháp đo khúc
xạ khách quan
3.3.1 Phương pháp soi bóng đồng tử
3.3.1.1 Ảnh hưởng của điều tiết đến kết quả công suất cầu của soi BĐT
Bảng 3.10: Chênh lệch công suất cầu của phương pháp soi BĐT
không liệt điều tiết và liệt điều tiết so với đo KXCQ
Chênh lệch công suất cầu
của hai phương pháp Mức độ sai khác
Soi BĐT không liệt điều tiết và đo KXCQ Soi BĐT liệt điều tiếtvà đo KXCQ
Ở cả hai phương pháp, trên 80% số mắt chênh lệch công suất ở mức độmột ( 1.00D)
Số mắt soi BĐT không liệt điều tiết có công suất cầu chênh lệch với đoKXCQ trên 2.00D nhiều hơn so với soi BĐT có liệt điều tiết
3.3.1.2 Ảnh hưởng của điều tiết đến kết quả công suất trụ của soi BĐT