1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả vô cảm và khả năng kiểm soát đường thở khi gây mê bằng sevoflurane trong nội soi đường hô hấp trẻ emtại bệnh viện nhi trung ương

72 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển kỹ thuật nội soi hô hấp chẩn đoán và can thiệp để xử lý càngsớm càng tốt các bệnh lý cấp cứu hô hấp, đặc biệt là dị vật đường thở hay cáckhó thở thanh khí quản cấp tính yêu cầ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nội soi hô hấp là kỹ thuật được quan tâm phát triển những năm gần đâytrong quá trình nâng cấp năng lực điều trị của hệ thống bệnh viện các cấp Nộisoi hô hấp cho phép thám sát, can thiệp trực tiếp toàn diện hệ thống hô hấp do

đó góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán, ít xâm lấn, xử lý triệt để nguyênnhân nên là một giải pháp khá an toàn đối với các trường hợp bệnh nhân cósuy hô hấp ớ các mức độ

Can thiệp nội soi người lớn có thể có hoặc không gây mê nhưng đối vớitrẻ em thủ thuật này buộc phải có gây mê vì trẻ em khó hợp tác trong khi thựchiện các thủ thuật

Phát triển kỹ thuật nội soi hô hấp chẩn đoán và can thiệp để xử lý càngsớm càng tốt các bệnh lý cấp cứu hô hấp, đặc biệt là dị vật đường thở hay cáckhó thở thanh khí quản cấp tính yêu cầu sự phát triển song hành của năng lựcgây mê hồi sức nội soi hô hấp trẻ em

Tuy nhiên gây mê cho một trẻ đang có suy hô hấp cấp tính ở các mức

độ, hiện hữu nguy cơ tắc nghẽn đường thở và buộc phải chia sẻ đường thôngkhí với bác sỹ can thiệp là một mục tiêu khó khăn rất cần được quan tâmnghiên cứu để đạt tới hiệu quả và an toàn cao nhất

Các nghiên cứu cải tiến về phương pháp và kỹ thuật gây mê nội soi hôhấp trên trẻ em đã được nhiều nước quan tâm tuy nhiên tại Việt nam vấn đềnày hầu như vẫn còn bỏ ngỏ

Tại bệnh viện Nhi trung ương có trung bình khoảng 500 trường hợp nộisoi hô hấp được thực hiện hàng năm và nhiều lớp đào tạo kỹ thuật nội soi hôhấp cho tuyến dưới đang được tiến hành, cũng như những tiến bộ khôngngừng của khoa học cho phép can thiệp sâu hơn như stent các cỡ, phẫu thuật

Trang 2

cao, sử dụng thuốc mê này cho quá trình gây mê nội soi hô hấp có an toàn chobệnh nhân và nhân viên cũng như đáp ứng tốt yêu cầu kỹ thuật hay không là

mối quan tâm của chúng tôi trong đề tài: “Đánh giá hiệu quả vô cảm và khả

năng kiểm soát đường thở khi gây mê bằng sevoflurane trong nội soi đường hô hấp trẻ em tại bệnh viện Nhi trung ương”.

Nghiên cứu của chúng tôi nhằm các mục đích sau:

1- Đánh giá khả năng kiểm soát đường thở trong suốt quá trình nội soi hô hấp ở trẻ em khi gây mê bằng thuốc mê sevoflurane.

2- Đánh giá hiệu quả vô cảm và một số tác dụng không mong muốn khi gây mê nội soi đường hô hấp bằng thuốc mê sevoflurane.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 HỆ THỐNG HÔ HẤP TRẺ EM, CẤU TRÚC GIẢI PHẪU, SINH LÝ 1.1.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý hô hấp trẻ em

Các khác biệt so với người lớn:

- Đầu to cổ ngắn, trẻ có xu hướng gập cổ, lưỡi to so với miệng ở trẻ nhỏ

và Amidal to ở trẻ lớn dễ gây cản trở hô hấp, đường thở dễ bị phù nề và tăngtiết hơn ở người lớn đặc biệt là vùng mũi hầu

- Ở trẻ nhỏ, do nắp thanh môn có hình móng ngựa và nghiêng về phíasau 450 nên khó đặt NKQ, thanh quản của trẻ nhỏ ở vị trí cao và ngả ra phíatrước (ngang với đốt sống cổ 2 và 3 so với đốt sống cổ 5,6 ở người lớn) cầnchú ý khi đặt NKQ sử dụng đèn lưỡi thẳng sẽ dễ hơn ở trẻ nhỏ Sụn nhẫn làphần hẹp nhất của đường hô hấp trên (điều này ngược lại với thanh quản củangười lớn) Điểm hẹp cắt ngang tại sụn nhẫn kết hợp với sụn nhẫn được phủbởi lớp tế bào biểu mô có lông giả tầng lỏng lẻo bao quanh tổ chức rỗ làm chosụn nhẫn dễ bị phù nề nặng hơn nữa là gây ra tình trạng sẹo hẹp sau tổnthương hạ thanh môn.Vì bóng ống NKQ có xu hướng nằm ở vị trí hẹp nàynên nếu dùng ống NKQ không bóng sẽ tốt hơn cho trẻ ở trước tuổi dậy thì

Do khí quản ngắn và mềm nên ngửa cổ quá mức có thể gây ép khí quản.Khí quản ngắn và góc Carina đối xứng không chỉ làm cho ống NKQ dễ bịdịch chuyển mà còn làm cho ống hoặc dị vật đường thở có thể dịch chuyểnvào bên trái cũng như phế quản gốc bên phải

- Hô hấp trẻ em chủ yếu nhờ cơ hoành đảm nhiệm Sức chịu đựng củacác cơ hô hấp kém vì ở trẻ em sợi cơ típ 1 ít (co rút chậm, ôxy hoá cao, chống

Trang 4

- Trẻ em do tốc độ chuyển hoá cao nên nhu cầu sử dụng Oxy cũng cao:Trẻ sơ sinh 6-7ml/kg/phút

Trẻ nhỏ 5ml/kg/phút

Người lớn 3ml/kg/phút

Do vậy trẻ rất nhạy cảm với tình trạng thiếu Oxy, trong các truờng hợp

có suy hô hấp ngừng thở thì độ bão hoà Oxy- Hemoglobin giảm xuống rấtnhanh Đây cũng là lý do tăng tần số thở, tuy nhiên thể tích khí lưu thông/phúttheo trọng lượng cơ thể vẫn giữ nguyên tương đối (5-7ml/kg) cho đến tuổitrưởng thành Công hô hấp cũng tương đối không thay đổi, giữ ở khoảng 1%tốc độ chuyển hoá, mặc dù công hô hấp tăng ở trẻ đẻ non

- Thể tích khoảng chết trên thể tích khí lưu thông so với trọng lượng

cơ thể trẻ em tương tự người lớn, thông khí phổi, thông khí phế nang so vớitrọng lượng cơ thể lớn gấp 2 lần người lớn nhưng so với diện tích da thìbằng người lớn

- Hệ thống gây mê hô hấp có thể làm tăng sức cản hô hấp với khoảngchết toàn phần, vì vậy phải chọn các hệ thống mê thích hợp để sức cản hệthống là nhỏ nhất

- Ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi: Tỷ lệ nước cơ thể cao, kích thước lòng phếquản bé nên dễ bị phù nề và khi phù nề rất dễ bị hẹp, ngoài ra những bệnh lýbất thường bẩm sinh của đường hô hấp rất thường bộc lộ triệu chứng trongthời khoảng này đe dọa tính mạng đứa trẻ

Trang 5

Bảng 1.1 Bảng chỉ số hô hấp theo tuổi

(Kg)

Nhịp thở(lần/ phút)

Vt (ml/kg)

RFC (ml/kg)

Bảng 1.2 Bảng kích thước NKQ theo tuổi dự kiến

Trang 6

Hình 1.3 Phế quản gốc trái

Trang 7

Hình 14 Hình ảnh dưới nội soi tại các vị trí trong lòng khí phế quản

1.2 HỆ THỐNG ỐNG NỘI SOI ỐNG MỀM VÀ ỐNG CỨNG ĐƯỜNG

HÔ HẤP

1.2.1 Lịch sử phát triển

- Năm 1897 Gustav Killian “ cha đẻ của soi phế quản” lần đầu tiên sửdụng ống soi phế quản cứng để lấy mảnh xương lợn ra khỏi phế quảngốc phải

- 1907 Chevalier Jackson xuất bản quấn sách soi phế quản thực quản đầutiên

- 1955 Euler tiến hành sinh thiết hút xuyên thành phế quản vào khối utrung thất qua ống soi cứng

- 1965 Anderson tiến hành sinh thiết xuyên thành phế quản

Trang 8

- 1980 Điều trị chít hẹp đường thở bằng Lase Nd: YAG.

- 1987 Ra đời ống soi phế quản mềm có gắn video cho phép quan sát lòng phế quản trên màn hình

- 1990 Đặt Stent đường thở

- 1991 Ra đời nội soi phế quản huỳnh quang chẩn đoán sớm ung thư phổi

- 1999 Becker giới thiệu siêu âm qua nội soi phế quản

- 2002 Soi phế quản ánh sáng hẹp

- 2002 Ra đời nội soi phế quản cắt lớp quang học “Endoscopic optical coherence tomography”

- 2003 Nội soi phế quản định vị điện từ trường

- 2005 Điều trị xạ với u phổi qua nội soi

- 2007 Chỉnh hình phế quản bằng nhiệt “Bronchial themoplasty”

- 2007 Đặt van đường thở gây giảm thể tích phổi điều trị khí phế thũng

- 2015 Đặt stent điều trị hẹp đường thở do kìm động mạch trẻ em

1.2.2 Trang thiết bị kỹ thuật nội soi hô hấp:

Trang 9

Hình 1.5 Hình ảnh ống soi cứng và mềm

Trang 10

Hình 1.6 Hệ thống olympus và máy gây mê hỗ trợ nội soi hô hấp

Trang 11

Hình 1.7 Quy trình làm sạch hệ thống nội soi

1.2.3 Hệ thống và kỹ thuật nội soi hô hấp trẻ em:

1.2.3.1: Kích thước ống soi dùng cho trẻ em: [ CITATION Ben \l

1033 ][ CITATION đào111 \l 1033 ]

Bảng 1.2 Kích thước ống soi cứng theo tuổi

Bảng 1.5 So sánh kích thước ống soi cứng theo giải phẫu trẻ em

Trang 12

Có 2 loại ống soi mềm dùngcho trẻ em:

- Loại ống soi mềm siêu lọc dùng cho sơ sinh và trẻ nhỏ, đường kính ngoàikhoảng 1,3 -2,7mm

- Loại ống soi mềm đường kính lớn hơn từ 3- 3,6mm có kèm kênh hút và

sinh thiết.[ CITATION đào111 \l 1033 ]

Trang 13

Bảng 2 Bổ sung tham khảo kích thước ống soi mềm

1.2.3.2 Chỉ định nội soi hô hấp ở trẻ em: [ CITATION Ste15 \l 1033 ]

Trang 14

Sinh thiết tế bào

Nong khí phế quản bằng bóng nong

Khó cai máy thở

Đặt stent đường thởChảy máu phổi

- Bảng so sánh ưu nhược điểm của 2 phương pháp can thiệp soi ống cứng và ống mềm [ CITATION Sel \l 1033 ]

1.2.3.3 Tai nan biến chứng thường gặp:

- Nhiễm trùng từ người này sang người khác

- Phơi nhiễm mẫu bệnh phẩm hoặc ống soi

- Xuất huyết phổi, tràn máu, tràn khí màng phổi

- Thiếu Oxy, tăng CO2 máu

Trang 15

1.3.1 HẸP ĐƯỜNG THỞ:

1.3.1.1 Hẹp đường thở thứ phát sau sang chấn:

Định nghĩa: Hẹp KQ được định nghĩa là khi khẩu kính của khí quản thu

nhỏ lại hơn kích thước của khí quản bình thường, có thể biểu hiện lâm sàng hoặc chưa biểu hiện lâm sàng Ở trẻ em kích thước đường kính ngang lòng khí quản nơi hẹp nhất là hạ thanh môn, sụn phễu bình thường là 4,5 tới 5,5

mm ở trẻ em và 3,5mm ở trẻ sơ sinh Nếu kích thước nhỏ hơn 4mm ở trẻ em

và < 3mm ở trẻ sơ sinh được coi là có hẹp[ CITATION Bis11 \l 1033 ]

Năm 2003 Mandour M định nghĩa chít hẹp KQ là giảm tiến triển và

không hồi phục khẩu kính của thanh khí quản với sự thay thế tổ chức thành khí quản bình thường bằng tổ chức xơ sẹo

Parker M.S (2006) định nghĩa chít hẹp khí quản khi khẩu kính khí quản

giảm < 10% so với khẩu kính khí quản bình thường [ CITATION Quy14 \l

Trang 16

người bệnh, đặt NKQ khó khăn gây sang chấn, NKQ di lệch gây sang chấn, bệnh nhi nhỏ tuổi dễ tổn thương đường thở, mềm sụn TQ, Vật liệu làm NKQ, cóhoặc không có Corticosteroid trong quá trình mang NKQ, nhiễm trùng phối hợp,

trào ngược dạ dày…, thiếu hụt yếu tố ổn đinh Fibrin (Balluch H 1983).

- Thời gian đặt NKQ càng lâu nguy cơ gây hẹp càng cao có thể ngay 12g sau khi đặt NKQ ( Albert 1979), phù nề xuất huyết, tăng tiết xuất hiện

10-sau 12-48 g cũng theo tác giả này trong khi DikkerbF.G (2001) thông báo 1

trường hợp hẹp KQ gặp sau khi thở máy với NKQ đã 20 năm! Các tác giả cũng cho rằng khi áp lực bóng cuff lớn hơn áp lực của mao mạch phế quản 30mmHg tổ chức niêm mạc FQ bị chèn giữa bóng cuff và sụn KQ sẽ bị chèn

ép thiếu máu gây viêm loét và sẹo xơ về sau

- Vị trí hẹp thường gặp: 1- tại vị trí lỗ mở KQ, 2- Tại vị trí bóng cuff, 3- tại đầu ống NKQ Ở trẻ em vị trí giải phẫu thường gặp hẹp nhất là ngang mức sụn phễu

- Do đặc điểm lâm sàng nhiều khi không điển hình nên thường có chẩn đoán nhầm với hen FQ, tăng áp ĐM phổi sau PT tim hoặc bệnh tâm phế ( 44% có chẩn đoán nhầm lúc nhập viện)

- Brichet A (1999) phân chia chít hẹp KQ sau can thiệp thành 3 loại: 1-

chít hẹp dạng giả khe thanh môn ( A- pseudoglottic stenoses) thường gặp sau

mở KQ, 2- hẹp KQ dạng màng (Web - like stenosis) thường không tổn

Trang 17

thương sụn KQ, 3- chít hẹp phức tạp kiểu đồng hồ cát ( hourglass- like stenosis) có tổn thương do nhuyễn hóa sụn khí quản

- Năm 2003 Sarper A đã đưa ra phân chia theo mức độ nhẹ ( <50% ID)

vừa (50- 90% ID) và nặng (> 90% ID)

- Ở trẻ em hay gặp các dạng theo thứ tự:1- Subglottic stenosis (SGS) 2- Laryngeal Webs 3- Laryngeal cleft

Một số phân loại khác:

+ Phân loại theo nhóm thương tổn:

Bảng 4 Phân loại hẹp đường thở theo tính chất

Bảng 5 phân loại hẹp theo vị trí

Điểm Vị trí của tổn thương

Trang 18

Hình 1 Hình ánh các vị trì hẹp KQ dưới nội soi

Trang 19

a b c

d

Trang 20

e f g

h

Hình 2 Ảnh minh họa các mức độ tổn thương hẹp đường thở a) Tổn thương ngoài ống hoặc tổ chức hạt b) Xoắn vặn méo mó lòng ống khí quản c) chèn ép từ phía ngoài vào d) sẹo gây hẹp e) phồng lóc niêm mạc màng g) u nhày g) màng ngăn gây hẹp h) tapered transition (hẹp kiểu đồng hồ cát)

Các phương pháp can thiệp điều trị hẹp đã được mô tả:

+ Nong PQ bằng ống cứng, bằng bóng nong

+ Đặt Stent (giá đỡ): Vật liệu silicon, lưới,

+ Phẫu thuật bằng dao siêu âm hoặc Lase CO2 qua ống soi PQ

Trang 21

+ Phẫu thuật thực sự bằng tạo hình lại PQ bị hẹp bằng miếng vá thyroid alae (màng giáp nhẫn), auricular (sụn vành tai) hoặc costal Cartilage ( sụn sườn)

- Ở bệnh viện Nhi trung ương hiện nay ngoài phẫu thuật tái tạo và nong chỗ hẹp hiện nay đã bắt đầu đặt được stent trẻ em

Hình 3 Stent đặt trong khí quản

1.3.1.2 Bệnh lý hẹp nguyên phát: - - Hẹp do kìm động mạch:

Trang 22

Hình 4 Kìm động mạch gây hẹp KQ

- Do bệnh di truyền: Hội chứng Apert, Beckwith-wiedemann, Goldenhar,Hurler, Pierrre-Robin, Treacher-Collins Syndrome, Pierrre- robin, Hunter

Hình 5 Hình ảnh một số bệnh lý di truyền chuyển hóa liên quan hẹp đường thở

- Bệnh lý hẹp nguyên nhân tự miễn: Mức độ hẹp đường thở tăng dần theo thời gian do nguyên nhân bệnh lý của hệ thống miễn dịch cơ thể ảnh hưởng lên hô hấp

Trang 23

1.3.2 DỊ VẬT ĐƯỜNG HÔ HẤP:

- Là bệnh lý cấp cứu rất hay gặp ở trẻ em, lứa tuổi hay gặp nhất từ < 3 tuổi nhưng cũng vẫn gặp ở nhiều lứa tuổi lớn hơn do bất cẩn trong sinh hoạt và một số trẻ chậm phát triển tinh thần vận động

Tính chất cấp cứu tùy thuộc vào bản chất của dị vật và mức đô tổn thương

và mức đô cản trở, vị trí khi xâm nhập trên đường hô hấp [ CITATION vic \l

1033 ]

Hình 6 Một số hỉnh ảnh dị vật dưới nội soi hô hấp

Trang 24

Hình 7 Hình ảnh dị vật trong khí quản và sau khi gắp

- Phân loại theo bản chất dị vật:

Hình 8 Các loại dị vật hô hấp thường gặp

- Phân loại theo vị trí dị vật xâm nhập

Trang 25

Hình 9 Vị trí thường gặp của dị vật trên đường hô hấp

1.3.3 TỔN THƯƠNG DO VIÊM:

- Viêm phổi thùy

- Viêm phế quản sau dị vật

Trang 26

1.4 GÂY MÊ NỘI SOI HÔ HẤP

1.4.1 Gây mê trong nội soi hô hấp người lớn : [ CITATION aSd14 \l 1033 ]

- Thường gặp ASA 3 -4

- Phối hợp tốt khi nội soi ống mềm với tiền mê nhẹ

- Gây mê toàn thân khi soi với ống cứng :

- HFJV hoặc Spontanous ventilation

- TIVA hoặc TCI Remi +Propofol qua 1 đường TM có thể có giãn cơ tácdụng ngắn theo sau bởi giải giãn cơ

- Luôn gây tê phun sương tại chỗ (Lidocain; neubulizer)

1.4.2 Gây mê nội soi hô hấp trẻ em:

1.4.2.1 Các yếu tố tiên lượng:

Trang 27

- ASA Phân loại thể trạng bệnh nhân (nhiều cháu ở mức III, IV)Nhóm I : Tình trạng sức khỏe bình thường

Nhóm II: Có kèm một bệnh mức độ vừa ví dụ bệnh lý do phản ứng đường hô hấp

Nhóm III: Có kèm theo một bệnh nặng vi dụ thở rít co kéo ở trẻ em

Nhóm IV: Có kèm một bệnh nặng trầm trọng đe dọa tính mạng ví dụ tình trạng phản vệ

Nhóm V: Tình trạng hấp hối không có hy vọng cứu chữa dù có hay không phẫu thuật

- Vị trí tính chất thương tổn tại đường hô hấp

Trang 28

tỉnh khi nội soi hô hấp trên 80 bn, thấy nên gây mê cho bệnh nhân ngủ khi soi vì an toàn hiệu quả hơn

- Năm 1998 [ CITATION Nat98 \l 1033 ] nghiên cứu hô hấp hỗ trợ ống cứng với gm toàn thân, thông khí spontaneous và thông khí

áp luc duong với máy thở cho thấy hô hấp hỗ trợ spontaneous cóhiệu quả hơn

- Năm 2014 [ CITATION Han13 \l 1033 ] khi so sánh 2 nhóm truyền

tm TGI propofol, và truyền tĩnh mạch remi + propofol + thông khí với Jetventilation cho nội soi hô hấp thấy nhóm 1 ít bị thiếu oxy hơn

- Theo một số giáo trình gây mê nhi khoa xuất bản gần đây

[ CITATION Bru11 \l 1033 ][ CITATION Els11 \l 1033 ][ CITATION Wil12 \l 1033 ][ CITATION Els13 \l 1033 ] Các tác giả đều chứng minh gây mê nội soi hô hấp Nhi khoa cần tuân theo nguyên tắc:

Mê vừa đủ, tỉnh nhanh, duy trì tự thở được kiểm soát hỗ trợ đồngthì, gây tê đủ mạnh để cắt giảm các phản xạ đường hô hấp,

- Năm 2013 một nghiên cứu của các bác sỹ Iran [ CITATION Maj \l

1033 ] giữa gây mê propofol (TIVA) với gây mê hít Sevofluran

để nội soi hô hấp trẻ em thì thấy các biến chứng và độ an thần không có sự khác biệt tuy khuyến cáo sử dụng gây mê tĩnh mạch để tránh ô nhiễm bởi sevoflurane ra môi trường phòng

Trang 29

mổ, nhưng TIVA trên trẻ em còn chưa được nghiên cứu đầy đủ (tuổi nghiên cứu trung bình >3)

- Ở trẻ lớn và người lớn các công bố về gây mê cho nội soi hô hấp gần đây hướng tới mức an thần sâu vừa và sâu, phối hợp gây tê dọc đường hô hấp để duy trì hô hấp spontaneous hoặc hỗ trợ hô hấp kiểu Jet ventilation Ở trẻ nhỏ khi gây mê sâu lại ngừng thở, gây mê nông thì dễ kích thích co thắt, việc lựa chọn thuốc gây mê sevoflurane có ưu điểm dễ duy trì mức độ gây mê yên tĩnh mà vẫn tự thở và cũng giảm tính kích thích đường hô hấp

- Thang điểm Ramsay cải tiến: [ CITATION Cha95 \l 1033 ]

Bảng 6 Thang điểm Ramsay cải tiến

2* Tỉnh táo nhưng nằm yên tĩnh, phản ứng có chủ ý với lời nói và đáp ứng hội

thoại

4** Buồn ngủ, vẫn đáp ứng chủ động với lời nói nhưng ở mức độ thấp hơn hoặc

phải nhăn trán nhíu mày khi cố đáp ứng hội thoại 5** Ngủ, phản ứng lờ đờ chỉ đáp ứng lời nói khi gọi thật to hoặc kích thích chiếu

ánh sáng mạnh vào khoảng giữa hai cung mày

Trang 30

Hình 11 Liên quan độ mê sâu và khả năng hô hấp

1.4.2.3 Thuốc gây mê sử dụng trong nội soi:

- Thuốc mê hơi:

- Tĩnh mạch:

- Giãn cơ:

- Opioid:

- Tiền mê

- Thuốc tê: Liều xilocain

1.4.2.4 Hệ thống thông khí sử dụng trong gây mê trong nội soi hô hấp:

- Mask Thanh quản:

Hình 12 Các loại mask thanh quản hỗ trợ soi

Trang 31

- Mask mặt có lỗ:

Hình 13 mask mặt có lỗ

Hình 14Hệ thống hỗ trợ thở trong khi nội soi

Trang 32

- Ống soi cứng có kênh thông khí

- Chạc ba kết nối dây thở

- Máy gây mê kèm bình bốc hơi

- Hệ thống cấp thông khí nhanh qua màng giáp nhẫn

và Jet ventilation

1.4.2.5 Tỷ lệ tử vong và tai biến thường gặp:

Bảng 7 Tai biến thường gặp khi soi hô hấp

1.5 SEVOFLURANE (Sevorane):

Trang 33

Áp suất hơi ở nhiệt độ 36oC là 317mm Hg

Hệ số phân chia ở 37oC: Nước/ khí: 0,36

Gây mê phẫu thuật

Giá trị MAC (nồng độ tối thiểu trong phế nang) của sevofluran giảm theo tuổi

và giảm nếu thêm N2O Bảng dưới đây chỉ ra giá trị trung bình của MAC cho các nhóm tuổi khác nhau:

Giá trị MAC ở các bệnh nhân người lớn và trẻ em theo nhóm tuổi:

Trang 34

Duy trì mê

Độ mê cho phẫu thuật có thể duy trì với nồng độ sevofluran ở 0,5 - 3% có hoặc không có kèm N2O

Hồi tỉnh

Trang 35

Thời gian tỉnh lại thường ngắn sau khi gây mê bằng Sevofluran Vì vậy, người bệnh có thể yêu cầu các biện pháp giảm đau sớm sau khi phẫu thuật.

Người cao tuổi

MAC giảm theo sự tăng của độ tuổi Nồng độ trung bình của sevofluran để đạt được MAC ở bệnh nhân 80 tuổi bằng khoảng 50% nồng độ yêu cầu cho bệnh nhân 20 tuổi

Bệnh nhân nhi

Giá trị MAC cho bệnh nhân nhi theo độ tuổi

1.5.4.CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Không dùng ở người được biết là mẫn cảm với sevofluran và các thuốc gây

mê đường hô hấp khác có chứa halogen (tiền sử rối loạn chức năng gan, sốt hoặc tăng bạch cầu không rõ nguyên nhân sau khi gây mê bằng một trong các thuốc này)

Sevofluran cũng chống chỉ định ở người đã biết hoặc nghi ngờ có nhạy cảm

do di truyền với chứng sốt cao ác tính

Sevofluran chống chỉ định ở bệnh nhân được chống chỉ định gây mê toàn thân

1.5.6.CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG

Sevofluran có thể gây suy hô hấp, tình trạng có thể gia tăng do thuốc tiền mê hoặc các tác nhân gây suy hô hấp Phải kiểm soát hô hấp và hỗ trợ nếu cần thiết

Chỉ những nhân viên được đào tạo mới được sử dụng sevofluran để gây mê toàn thân Cần phải có các phương tiện để duy trì đường thở, hô hấp nhân tạo,cung cấp oxy, hồi phục tuần hoàn

Chỉ các bình bốc hơi chuyên dùng cho sevofluran mới được sử dụng

Hạ huyết áp và ức chế hô hấp tăng lên khi gây mê sâu

Sốt cao ác tính

Ở một số người mẫn cảm, sevofluran có thể gây ra tăng chuyển hóa ở cơ xương, dẫn tới tăng cao nhu cầu oxy và hội chứng lâm sàng được biết là sốt cao ác tính Hội chứng lâm sàng biểu hiện như tăng cacbon đi-ô-xit máu, và

có thể bao gồm cả co cứng cơ, nhịp tim nhanh, thở nhanh, tím tái, loạn nhịp

Trang 36

sevofluran), tiêm tĩnh mạch natri dantrolene điều trị hỗ trợ Điều trị này bao gồm nỗ lực đưa nhiệt độ cơ thể về bình thường, hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn,

xử lý các rối loạn thăng bằng kiềm toan bất thường bằng các dung dịch điện giải Suy thận có thể xuất hiện chậm hơn, và nếu có thể, nên theo dõi và duy trì lưu lượng nước tiểu

Tăng Kali máu trong giai đoạn trước và sau phẫu thuật

Sử dụng thuốc gây mê đường hít có liên quan đến một số hiếm trường hợp tăng kali máu dẫn đến loạn nhịp tim và tử vong ở bệnh nhi trong giai đoạn hậu phẫu Bệnh nhân tiềm ẩn hay đang mắc bệnh thần kinh cơ, đặc biệt là loạn dưỡng cơ Duchenne dễ có nguy cơ bị tăng kali máu hơn Sử dụng đồng thời succinylcholin có liên quan đến hầu hết, nhưng không phải tất cả các trường hợp trên Những bệnh nhân này cũng bị tăng rõ rệt nồng độ creatinin kinase trong huyết thanh, và ở một số trường hợp, có thay đổi tương ứng trong nước tiểu với chứng myoglobin niệu Mặc dù có biểu hiện tương tự như chứng sốt cao ác tính, nhưng không bệnh nhân nào có dấu hiệu và triệu chứngcứng cơ hoặc tình trạng tăng chuyển hóa Điều trị can thiệp sớm và tích cực chứng tăng kali huyết và chống loạn nhịp, cũng như đánh giá sau đó đối với bệnh thần kinh cơ tiềm ẩn

Đã có báo cáo đơn lẻ về kéo dài khoảng QT, rất hiếm khi liên quan tới xoắn đỉnh Hết sức thận trọng khi sử dụng sevofluran cho bệnh nhân nhạy cảm Đã có các báo cáo đơn lẻ về loạn nhịp thất ở bệnh nhân nhi mắc bệnh Pompe Cần hết sức thận trọng khi dùng thuốc mê đường toàn thân, bao gồm

cả sevofluran cho bệnh nhân có rối loạn ty lạp thể

Bệnh gan

Rất ít gây rối loạn chức năng gan hoặc viêm gan sau phẫu thuật có hoặc không

có vàng da

Ngày đăng: 23/08/2019, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. O¨ zmen S, O¨ zmen OA, U¨ nal OF. Pediatric tracheostomies: a 37- year experience in 282 children. Int J Pediatr Otorhinolaryngol 2009; 73: 959- 961 Khác
14. Mahadevan M, Barber C, Salked L, et al. Pediatric tracheotomy: 17 year review. Int J Pediatr Otorhinolaryngol 2007; 71: 1829-1833 Khác
15. Graf M, Montagnino BA, Hueckel R, et al. Pediatric tracheostomies: a recent experience from one academic center. Pediatr Crit Care Med 2008; 9: 96-100 Khác
16. Trachsel D, Hammer J. Indications for tracheostomy in children. Paediatr Respir Rev 2006: Suppl. 7, 162s-168s Khác
17. Eber E, Oberwaldner B. Tracheostomy care in the hospital. Paediatr Respir Rev 2006: Suppl. 7, 175-184 Khác
18. Graft JM, Montagnino BA, Huekel R, et al. Children with new tracheostomies: planning for family education and common impediments to discharge. Pediatr Pulmonol 2008; 43: 788-794 Khác
19. Cohen E, Kuo DZ, Agrawal R, et al. Children with medical complexity: an emerging population for clinical and research initiatives. Pediatrics 2011; 127: 529-538 Khác
20. Hoffstein V, Zamel N. Tracheal stenosis measured by the acoustic reflection technique. Am Rev Respir Dis 1984; 130: 472-475 Khác
21. Hadfield PJ, Lloyd-Faulconbridge RV, Almeyda J, et al. The changing indications for paediatric tracheostomy. Int J Pediatr Otorhinolaryngol 2003; 67: 7-10 Khác
22. Kleinsasser N, Kronsdorf D, Merkenschlager A, et al. Endoskopische, dreidimensionale Vermessung von Neubildungen und Stenosen des Larynx und der Trachea [Endoscopic, 3-dimensional measurement of Khác
26. Vanker A, Kling S, Booysen JR, et al. Tracheostomy home care: in a resource-limited setting. Arch Dis Child 2012; 97: 121-123 Khác
27. Alladi A, Rao S, Das K, et al. Pediatric tracheostomy: a 13-year experience. Pediatr Surg Int 2004; 20: 695-698 Khác
28. Parrilla C, Scarano E, Guidi ML, et al. Current trends in paediatric tracheostomies. Int J Pediatr Otorhinolaryngol 2007; 71: 1563-1567 Khác
29. Pereira KD, MacGregor AR, Mitchell RB. Complications of neonatal tracheostomy: a 5-year review. Otolaryngol Head Neck Surg 2004; 131:810-813 Khác
30. Fraga JC, de Souza JC, Kruel J. Pediatric tracheostomy. J Pediatr (Rio J) 2009; 85: 97-103 Khác
31. Ruggiero FP, Michele M, Carr MM. Infant tracheotomy. Arch Otolaryngol Head Neck Surg 2008; 134: 263-267 Khác
32. Carter P, Benjamin B. Ten-year review of paediatric tracheotomy. Ann Otol Rhinol Laryngol 1983; 92: 398-400 Khác
33. Wetmore RF, Handler SD, Potsic WP. Paediatric tracheostomy: experience during the past decade. Ann Otol Rhinol Laryngol 1982; 91:628-632 Khác
34. Midwinter KI, Carrie S, Bull PD. Pediatric tracheostomy: Sheffield experience 1979-1999. J Laryngol Otol 2002; 116: 532-535 Khác
36. Leung R, Berkowitz RG. Decannulation and outcome following pediatric tracheostomy. Ann Otol Rhinol Laryngol 2005; 114: 743-748 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w