1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO HIỂM y tế CHI TRẢ CHO CA đẻ tại BỆNH VIỆN THANH NHÀN năm 2016 và một số yếu tố LIÊN QUAN

102 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, Bệnh viện Thanh Nhàn đang hướng đến tự chủ tài chính theo xu hướng chung, câu hỏi đặt ra cho Bệnh viện Thanh Nhàn khi tự chủ tàichính thì BHYT của người dân sử dụng khi khám ch

Trang 1

-TRẦN LÊ THỌ

BẢO HIỂM Y TẾ CHI TRẢ CHO CA ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2016

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS PHẠM HUY TUẤN KIỆT

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Trần Lê Thọ, học viên lớp Cao học Y tế Công cộng, khóa học

2016-2018 tại Trường Đại học Thăng Long xin cam đoan:

1 Đây là nghiên cứu của tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của

PGS.TS Phạm Huy Tuấn Kiệt.

2 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực vàkhách quan, do tôi thu thập và thực hiện

3 Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa được đăng tải trên bất kỳmột tạp chí hay một công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Lê Thọ

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm cơ bản về chi phí 3

1.1.1 Khái niệm chi phí 3

1.1.2 Phân loại chi phí 4

1.2 Khái niệm về viện phí 5

1.3 Một số phương pháp sử dụng để tính toán chi phí Bệnh viện 6

1.3.1 Phương pháp phân bổ trực tiếp 6

1.3.2 Phương pháp phân bổ từng bước 6

1.4 Bảo hiểm y tế tại Việt Nam 12

1.4.1 Khái niệm Bảo hiểm y tế 12

1.4.2 Lịch sử ra đời của Bảo hiểm Y tế Việt Nam 13

1.4.3 Các loại hình Bảo hiểm Y tế tại Việt Nam 14

1.4.4 Tầm quan trọng tham gia Bảo hiểm Y tế 14

1.4.5 Nguyên tắc cơ bản của Bảo hiểm Y tế 15

1.4.6 Sử dụng thẻ Bảo hiểm Y tế trong khám chữa bệnh 16

1.5 Quá trình hình thành và phát triển chính sách viện phí ở Việt Nam 20

1.5.1 Cơ cấu viện phí Bệnh viện 22

1.6 Đẻ thường và đẻ mổ 25

1.6.1 Khái niệm đẻ thường và đẻ mổ 25

1.6.2 Quy trình đẻ thường 26

1.6.3 Một số tai biến khi đẻ thường 26

Trang 5

1.6.4 Quy trình đẻ mổ 26

1.6.5 Một số tai biến khi đẻ mổ 28

1.7 Giới thiệu về Bệnh viện Thanh Nhàn 28

1.7.1 Thông tin chung về Bệnh viện Thanh Nhàn 28

1.7.2 Cơ cấu tổ chức Bệnh viện Thanh Nhàn 30

1.8 Giới thiệu về Dự án chương trình phát triển nguồn nhân lực y tế 32

1.8.1 Mục tiêu dự án 33

1.8.2 Phạm vi của Dự án 34

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng, tiêu chí lựa chọn nghiên cứu 36

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.1.2 Tiêu chí lựa chọn hồ sơ bệnh án đẻ thường và đẻ mổ 36

2.1.3 Tiêu chí loại trừ hồ sơ bệnh án đẻ thường và đẻ mổ 36

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 36

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 36

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 37

2.3 Thiết kế nghiên cứu 37

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 37

2.5 Phương pháp chọn mẫu 37

2.6 Phương pháp thu thông tin 37

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 37

2.6.2 Quy trình thu thập số liệu 38

2.6.3 Xử lý và phân tích số liệu 38

2.7 Biến số và chỉ số nghiên cứu 38

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học 41

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 Thông tin chung về Bệnh viện và Khoa sản 42

3.2 Chi phí đầy đủ dịch vụ đẻ thường và đẻ mổ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 45

Trang 6

3.3 So sánh chi phí và giá dịch vụ đẻ thường và đẻ mổ tại Bệnh viện Thanh

Nhàn năm 2016 55

3.4 So sánh chi phí BHYT chi trả với giá dịch vụ đẻ thường và đẻ mổ theo hạng thẻ nơi đăng ký KCB ban đầu tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 58 CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 62

4.1 Chi phí đầy đủ cho trường hợp đẻ thường và đẻ mổ 64

4.1.1 Chi phí đẻ thường 67

4.1.2 Chi phí đẻ mổ 69

4.2 So sánh viện phí và chi phí y tế đầy đủ đối với trường hợp đẻ thường và đẻ mổ 70

4.3 Sai số có thể xảy ra trong nghiên cứu và cách hạn chế sai số 73

KẾT LUẬN 74

KIẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHXH: Bảo hiểm xã hội

BHYT: Bảo hiểm y tế

BYT: Bộ Y tế

BTC: Bộ Tài chính

CMA: Phân tích chi phí tối thiểu - Cost minimum analysis:CBA: Phân tích chi phí lợi ích - Cost benifit analysis:CEA: Phân tích chi phí hiệu quả - Cost eneficient analysis:CUA: Phân tích chi phí thỏa dụng - Cost utility analysis:QALY: Chất lượng cuộc sống - Quality adjusted life year:TTB: Trang thiết bị

NATSEM: National Centre for Social and Economic Modelling

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thông tin chung của Bệnh viện và Khoa sản 42Bảng 3.2 Chỉ số khám, chữa bệnh của Bệnh viện và Khoa sản 43Bảng 3.3 Chi - thu tài chính của Bệnh viện và Khoa sản 44Bảng 3.4 Chi phí đầy đủ đẻ thường và đẻ mổ tại Bệnh viện Thanh Nhàn,

năm 2016 45Bảng 3.5 Các thành phần và cơ cấu chi phí trung bình đẻ thường tại Bệnh

viện Thanh Nhàn năm 2016 46Bảng 3.6 Phân bổ chi phí trung bình cho dịch vụ đẻ thường tại Bệnh viện

Thanh Nhàn năm 2016 48Bảng 3.7 Thành phần và cơ cấu chi phí trung bình đẻ mổ lần 1 tại Bệnh

viện Thanh Nhàn năm 2016 50Bảng 3.8 Phân bổ chi phí trung bình theo dịch vụ đẻ mổ lần 1 tại Bệnh viện

Thanh Nhàn năm 2016 51Bảng 3.9 Thành phần và cơ cấu chi trung bình phí đẻ mổ lần 2 tại Bệnh

viện Thanh Nhàn năm 2016 53Bảng 3.10 Phân bổ chi phí trung bình theo dịch vụ đẻ mổ lần 2 tại Bệnh

viện Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 55Bảng 3.11 Giá dịch vụ đẻ thường và đẻ mổ tại Bệnh viện Bệnh viện Thanh

Nhàn năm 2016 55Bảng 3.12 Các dịch vụ và cơ cấu giá đẻ thường tại Bệnh viện Thanh Nhàn 56Bảng 3.13 Cơ cấu giá đẻ mổ (giá trung bình) tại Bệnh viện Thanh Nhàn 57Bảng 3.14 Cơ cấu chi trả BHYT cho ca đẻ lần 1 theo hạng thẻ 58Bảng 3.15 Cơ cấu chi trả BHYT cho ca đẻ lần 2 theo hạng thẻ 59Bảng 3.16 Cơ cấu chi trả BHYT cho ca đẻ thường theo hạng thẻ KCB ban

đầu 60

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Phương pháp phân bổ trực tiếp 6Hình 1 2: Phương pháp phân bổ từng bước 7

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ năm 2000 đến nay, các bệnh viện công lập đang có sự chuyển đổi cơchế tài chính mạnh mẽ thông qua thực hiện các chủ trương “xã hội hóa” vàgiao quyền tự chủ tài chính Quá trình chuyển đổi này vẫn đang diễn ra và gặpphải nhiều vấn đề về cơ chế quản lý, chính sách tài chính, kiểm soát chi phí ytế,… mà được các nhà hoạch định chính sách y tế và xã hội rất quan tâm

Đến nay, hầu hết các bệnh viện trung ương và khoảng 70% bệnh việntỉnh, huyện đã thực hiện tự chủ tài chính, trong đó có 4 bệnh viện trung ương

đã tự chủ toàn bộ chi phí thường xuyên và số còn lại tự chủ một phần Trongquá trình này, các đơn vị đã áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế các chi phíkhông cần thiết, tăng các dịch vụ có chênh lệch cao và khoán mức thu chi chotừng khoa, phòng Khoản thu một phần viện phí được để lại cho cơ sở khám,chữa bệnh sử dụng theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày25/4/2006 của Chính phủ Từ năm 2006, cơ chế “khoán ngân sách 3 năm”mang yếu tố khuyến khích hiệu quả đã dần được áp dụng ở các bệnh việncông

Theo quan điểm hiện nay, bệnh viện được coi là một doanh nghiệpcông ích, cung ứng các dịch vụ sức khỏe, chuyển hướng hoạt động y tế từphục vụ sang cung cấp dịch vụ Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổicăn bản trong cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp nói chung vàđơn vị sự nghiệp y tế nói riêng thông qua Nghị định 85/2012/NĐ-CP, Nghịđịnh 16/2015/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm tạo sựchủ động cho các đơn vị trong việc nâng cao chất lượng hoạt động để phục vụnhân dân bằng cách tăng cường quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp y tế.Bên cạnh, cơ cấu giá thu của hoạt động khám, chữa bệnh đã được tính đúng,tính đủ và bao gồm cả yếu tố thị trường (Nghị định 16/2015/NĐ-CP, Thông

tư số 37/2015/TTLT-BYT-BTC) Tính đúng, tính đủ giá viện phí sẽ giúpgiảm gánh nặng ngân sách Toàn bộ ngân sách dùng để hỗ trợ hoạt động chongành y tế trước đây sẽ được chuyển sang để hỗ trợ, chăm lo cho sức khỏengười dân thuộc hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, tiến tới bảo hiểm y tế

Trang 11

(BHYT) toàn dân, liên thông khám, chữa bệnh BHYT tuyến huyện trên địabàn cả nước, sau đó tiếp tục sẽ liên thông khám, chữa bệnh BHYT tuyến tỉnh

dự kiến vào năm 2021

Tại Việt Nam, với sự gia tăng chi phí y tế ngày càng lớn đã trở thànhvấn đề nổi cộm của lĩnh vực tài chính y tế, việc tăng cường quản lý chi phí y

tế là ưu tiên của Bộ Y tế các quốc gia và của nhiều cơ sở Y tế

Đẻ mổ và đẻ thường là các trường hợp chiếm tỷ trọng lớn khám, chữabệnh BHYT cả về tần suất và chi phí tại các bệnh viện tuyến quận, huyện TạiViệt Nam cụ thể tại các Bệnh viện hạng I chi phí đẻ mổ, đẻ thường trung bìnhtại mỗi nơi là khác nhau, chưa có sự thống nhất, gây khó khăn về mặt kinh tếđối với sản phụ khi lựa chọn dịch vụ tại Bệnh viện Tại Canada, chi phí trungbình cho một trường hợp đẻ thường là 2.700 USD và đẻ mổ là 4.600 USD Tại Mỹ, chi phí trung bình cho một trường hợp đẻ thường là 3.347 USD và đẻ

mổ là 4.655 USD Như vậy, tổng chi phí y tế cho một trường hợp đẻ mổthường cao gấp 2 lần so với trường hợp đẻ thường Vì vậy, việc lựa chọnphương thức thanh toán hợp lý, kiểm soát chặt chẽ chỉ định điều trị, can thiệp

y tế phù hợp trở thành mối quan tâm đặc biệt của xã hội nhằm kiểm soát tốtchi phí y tế, góp phần hạn chế sự gia tăng chi phí y tế, giảm bội chi quỹBHYT và sử dụng nguồn lực tài chính hạn chế một cách có hiệu quả

Hiện nay, Bệnh viện Thanh Nhàn đang hướng đến tự chủ tài chính theo

xu hướng chung, câu hỏi đặt ra cho Bệnh viện Thanh Nhàn khi tự chủ tàichính thì BHYT của người dân sử dụng khi khám chữa bệnh có được Bệnhviện tiếp nhận và chi trả không, chi trả như thế nào? Đối với việc sinh đẻ củasản phụ Bệnh viện Thanh Nhàn chi trả theo Bảo hiểm y tế theo cơ chế nào, cólợi cho sản phụ hay có lợi cho quỹ BHYT? Vậy chúng tôi tiến hành nghiên

cứu: “Bảo hiểm y tế chi trả cho ca đẻ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm

2016 và các yếu tố liên quan” với mục tiêu:

Mục tiêu 1: Mô tả chi phí Bảo hiểm y tế thanh toán cho ca đẻ tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016

Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến chi phí Bảo hiểm y tế thanh toán cho ca đẻ tại bệnh viện Thanh Nhàn.

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm cơ bản về chi phí

1.1.1 Khái niệm chi phí

Chi phí hay còn gọi là giá thành, là toàn bộ chi phí mà cơ sở cung cấp

dịch vụ phải bỏ ra để chi trả cho nhân công, vật tư, thiết bị, nhà xưởng và phíquản lý hành chính để có thể cung cấp được một dịch vụ nào đó

Ví dụ: chi phí của một trường hợp mổ bao gồm các bộ phận cấu thành sau:

- Lương, thưởng, phụ cấp, các khoản đóng góp nghĩa vụ khác (bảohiểm ) cho các nhân viên y tế có liên quan đến ca mổ

- Chi phí nghiên cứu học và đào tạo phục vụ khám, chữa bệnh

- Thuốc, máu, dịch truyền, phim, vật tư tiêu hao phục vụ trực tiếpngười bệnh

- Tiền điện, nước, điện thoại và các chi phí hậu cần khác

- Chi phí hành chính, quản lý

- Chi phí sửa chữa, duy tu trang thiết bị, máy móc

- Khấu hao nhà cửa, trang thiết bị

Tính chi phí đầy đủ cho dịch vụ y tế là một công việc phức tạp Hiểu rõ

về giá dịch vụ y tế là một yếu tố rất quan trọng giúp các nhà quản lý đánh giáhiệu quả hoạt động của Bệnh viện và có cơ sở để xác định giá dịch vụ thực tế.Chi phí của một loại hàng hóa, dịch vụ là trị giá của nguồn lực được sửdụng để sản tạo ra hàng hoá, dịch vụ đó Nói cách khác, chi phí là phí tổn phảichịu khi sản xuất hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Trong lĩnh vực y tế, chi phí y tế là giá trị của nguồn lực được sửdụng để tạo ra một dịch vụ y tế cụ thể hoặc một loạt các dịch vụ (như mộtchương trình y tế)

Trang 13

Để thuận tiện và cũng để có thể so sánh được, các chi phí thường đượcthể hiện dưới dạng tiền tệ, số tiền tệ đó có thể thể hiện nguồn lực thực được

sử dụng ,

Có nhiều quan điểm khác nhau về chi phí Đối với người cung cấp dịch

vụ, chi phí là tất cả các khoản người sử dụng cần phải chi trả trên cơ sở đãtính đúng, tính đủ của việc chuyển giao dịch vụ Đối với người bệnh, chi phí

là tổng số tiền mà người bệnh phải có, để trả trực tiếp cho các dịch vụ, cộngthêm các chi phí khác cần phải bỏ ra trong thời gian dưỡng bệnh và mất mát

do nghỉ ốm gây nên

1.1.2 Phân loại chi phí

Trong y tế, khi phân tích chi phí cho các chương trình/ hoạt động chăm sócsức khỏe, các chi phí được chia thành: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp: Những chi phí trực tiếp của các

hoạt động y tế trong khi điều trị một bệnh nhân thường bao gồm: thuốc, hóachất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế Chi phí gián tiếp là chi phí không trựctiếp ấn định vào hoạt động điều trị của một bệnh nhân bao gồm: chi phí laođộng hành chính, Chi phí vận hành, Khấu hao nhà và tài sản cố định dùngchung, Khấu hao TTB các cận lâm sàng, Khấu hao TTB các lâm sàng vàKhấu hao trang thiết bị phòng mổ

Chi phí đầu tư và chi thường xuyên: Chi đầu tư là những mục chi phí

thông thường phải trả một lần, ngay từ khi bắt đầu một dự án hay một canthiệp y tế Đó thường là các khoản chi phí lớn và có giá trị sử dụng trên mộtnăm Ví dụ chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định: Xe cộ,máy móc, trang thiết bị khác (cả tiền thuế, kho bãi, thuê phương tiện vận

chuyển và chi phí lắp đặt ), chi phí đào tạo ban đầu Chi phí thường xuyên

là những chi phí xảy ra nhiều lần, lặp đi lặp lại trong một năm hoặc nhiềunăm Ví dụ: chi lương, thưởng, phụ cấp cho cán bộ, chi duy tu bảo dưỡng, sửachữa trang thiết bị, mua phụ tùng, vật tư thay thế, thuốc men

Chi phí cố định và chi phí biến đổi: Chi phí cố định là những hạng

mục chi phí không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về qui mô hoạt động

Trang 14

trong năm Ví dụ: Nếu một phòng khám có 5 nhân viên y tế có thể khámngoại trú tối đa cho 100 BN một ngày, thì dù một ngày có 2 BN hay có 100

BN, chi phí nhà xưởng văn phòng, tiền điện chiếu sáng vẫn không thay đổi

Chi phí biến đổi là những chi phí phụ thuộc trực tiếp vào qui mô sản xuất và

cung cấp dịch vụ Ví dụ: Chi phí bông cồn gạc khi khám 10 BN một ngày tạiphòng khám khác với chi phí đó khi khám cho 50 BN trong một ngày.Vềngắn hạn, qui mô cung cấp dịch vụ càng lớn, tổng chi phí biến đổi càng lớn.Quy mô cung cấp dịch vụ càng nhỏ, tổng chi phí biến đổi càng nhỏ Do chiphí cố định không đổi, chi phí trung bình để tạo ra một sản phẩm, trong mộtqui mô nhất định, phụ thuộc vào chi phí biến đổi Nếu chi phí biến đổi trungbình giảm khi quy mô tăng, chi phí trung bình cho một sản phẩm cũnggiảm theo, khi đó người ta nói dịch vụ đó có tính kinh tế nhờ qui số tiền

mà người mua, hoặc người bệnh, phải trả khi họ sử dụng dịch vụ

1.2 Khái niệm về viện phí

Viện phí là khái niệm riêng của Việt Nam và một số nước trong quá

trình chuyển đổi nền kinh tế Viện phí là hình thức chi trả trực tiếp các chi phíkhám, chữa bệnh tại thời điểm người bệnh sử dụng dịch vụ y tế hay nóicách khác là khoản chi phí mà người bệnh phải trả từ tiền túi của mình khi

sử dụng dịch vụ y tế

Giá của dịch vụ là số tiền mà người mua, hoặc người bệnh, phải trả khi

họ sử dụng dịch vụ Đứng về nguyên tắc, giá chính là viện phí ở Việt Nam

hiện nay Tuy nhiên, trên thực tế, viện phí không thể hiện hết số tiền màngười bệnh phải bỏ ra khi sử dụng dịch vụ vì họ còn phải bỏ thêm nhiều tiền

để mua những loại thuốc và dịch vụ không được quy định trong khung viện

phí Ngoài ra, người bệnh còn phải trả một khoản tiền phí ngầm cho các nhân

viên y tế Giá của dịch vụ có thể cao hoặc thấp hơn chi phí (giá thành) củadịch vụ đó Đối với hầu hết các dịch vụ y tế tại cơ sở Nhà nước ở Việt Nam,giá thấp hơn giá thành của dịch vụ rất nhiều

Giá của dịch vụ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giá thành, độ khan

hiếm của dịch vụ đó (quan hệ cung cầu), các chiến lược bán hàng Trong y tế,

Trang 15

nó còn phụ thuộc vào các mục tiêu xã hội mà một đất nước lựa chọn chongành y tế, các quyết định của Nhà nước.

1.3 Một số phương pháp sử dụng để tính toán chi phí Bệnh viện

1.3.1 Phương pháp phân bổ trực tiếp

Phương pháp phân bổ trực tiếp là phương pháp được sử dụng rộng rãinhất trong phân bổ giá bộ phận hỗ trợ Phương pháp này phân bổ chi phí của

bộ phận hỗ trợ trực tiếp đến các phòng ban điều hành Ưu điểm cơ bản củaphương pháp này là nó đơn giản Phương pháp này không đòi hỏi phải dựđoán công việc hỗ trợ của bộ phận hỗ trợ Do nhược điểm này, phương pháptrực tiếp không phải là phương pháp chính xác và khách quan về phân bổ chiphí

Hình 1.1: Phương pháp phân bổ trực tiếp 1.3.2 Phương pháp phân bổ từng bước

Phương pháp phân bổ từng bước cũng được gọi là phương pháp phân bổliên tiếp Phương pháp này cho phép hạch toán một phần của các dịch vụđược cung cấp bởi bộ phận hỗ trợ cho các phòng ban Việc áp dụng phương

Trang 16

pháp phân bổ từng bước đòi hỏi các bộ phận hỗ trợ phải được sắp xếp theothứ tự giảm dần độ hỗ trợ.

Việc phân bổ được bắt đầu từ bộ phận có tỷ lệ hỗ trợ cao nhất trong tất

cả các phòng ban hỗ trợ, các phân bổ tiếp theo được thực hiện với các phòngban có tỷ lệ hỗ trợ giảm dần cho đến phân bổ cuối cùng là khoa lâm sang.Theo phương pháp phân bổ từng bước thì một khi chi phí của một bộ phận hỗtrợ đã được phân bổ, thì sẽ không được phân bổ trở lại mà chỉ được phân bổcho bộ phận hỗ trợ có tỷ lệ hỗ trợ tiếp theo

Phương pháp phân bổ từng bước được xem là chính xác hơn và kháchquan hơn so với phương pháp phân bổ trực tiếp, nhưng nó không nhậ ra tất cảcác dịch vụ tương ứng được cung cấp bởi các phòng ban hỗ trợ

Hình 1 2: Phương pháp phân bổ từng bước

Các đơn vị phát sinh chi phí bao gồm khoa điều trị trực tiếp (phòng mổ,sản, v.v.), khoa cận lâm sàng và hỗ trợ (chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm,dược, duy tu sửa chữa, điện nước), và khối hành chính (quản lý, kế toán, kếhoạch) Chi phí lao động của mỗi đơn vị phát sinh chi phí bao gồm chi lương,phụ cấp, tiền thưởng cho tất cả cán bộ của khoa, phòng

Trang 17

Chi phí khấu hao nhà cửa hàng năm thường được phân bổ cho các đơn

vị phát sinh chi phí, tỷ lệ với diện tích của đơn vị, cộng với chi phí khấuhao trang thiết bị (TTB) sử dụng (thiết bị xét nghiệm, thiết bị phòng mổ,v.v…) Chi phí gián tiếp (ví dụ: hành chính, vận hành) thường được phân

bổ cho các đơn vị phát sinh chi phí, tỷ lệ với chi phí lao động Thôngthường số liệu có sẵn trong các bệnh viện được sử dụng để phân bổ chiphí của những khoa cận lâm sàng khác nhau (ví dụ: chẩn đoán xétnghiệm, dược) Kết quả ước tính chi phí điều trị của những khoa điều trịtrực tiếp được tính bằng cách chia tổng chi phí của từng khoa cho mộtphương thức đầu ra thích hợp (ví dụ: số ngày nằm điều trị nội trú)

Bảng 1.1 Các loại chi phí

Chi phí quản lý, điều hành

Chi phí trung tâm

Chi phí gián

tiếp

Nhân công Nhà xưởng TTB Vận hành

Nhân công Nhà xưởng TTB Vận hành

Chi phí nhân công (lương)

Chi lương hàng năm cho cán bộ y tế của những khoa lâm sàng,cận lâm sàng và cán bộ hỗ trợ (hành chính, tài vụ, phục vụ ) Tất cảcác khoản thu nhập bao gồm: lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, phụcấp làm ngoài giờ, phụ cấp nghề nghiệp, tiền thưởng và các khoản chikhác cho cán bộ được lấy từ sổ sách kế toán

Khấu hao trang thiết bị

Trang 18

Tổng giá trị nguyên gốc mua tài sản cố định (không phải giá trị còn lại củatài sản) được thu thập từ báo cáo tài sản cố định tại phòng tài vụ của Bệnh viện.Trong báo cáo này, Bệnh viện liệt kê từng tài sản cố định; được cập nhật hằngnăm khi có đầu tư tài sản cố định mới hoặc sửa chữa lớn theo kế hoạch Từngtài sản cố định của Bệnh viện được liệt kê theo từng khoa bao gồm cả khốihành chính và được thống kê vào phiếu điều tra theo giá mua gốc năm mua,thời gian đưa vào sử dụng Giá trị của nhà cửa tại thời điểm xây dựng và bất kỳsửa chữa lớn nào cũng đều được bổ sung vào danh sách Các chi phí này gọi làchi phí khấu hao và tách được riêng cho các khoa lâm sàng, khoa cận lâm sàng

và tài sản sử dụng chung cho Bệnh viện

Chi phí vận hành

Tổng chi phí vận hành được thu thập từ phòng tài vụ của Bệnh viện Cácchi phí này được thống kê chi tiết vào phiếu điều tra Bệnh viện Chi phí vậnhành bao gồm điện, nước, nhiên liệu, vật tư văn phòng, viễn thông liên lạc,vận chuyển nguyên vật liệu, duy trì và sửa chữa tài sản cố định, đi lại, họphành, hội nghị, học tập, đào tạo và nghiên cứu khoa học

Phương pháp phân bổ trực tiếp là dễ hiểu và áp dụng nhiều nơi khácnhau, tuy nhiên phương pháp phân bổ từng bước mang lại kết quả phân bổvượt trội hơn do nó có phân bổ cho các bộ phận dịch vụ

Nghiên cứu chi phí của tác giả Yukcu và Ozkaya (2010) đã khẳng địnhrằng phương pháp phân bổ trực tiếp là một phương pháp được sử dụng rộngrãi nhất do sự đơn giản về khái niệm và thực tiễn của nó, 43% các công ty Úc

và 58% doanh nghiệp Nhật Bản tuyên bố rằng họ áp dụng phương pháp phân

bổ trực tiếp, trong khi đó 3% ở Úc và 27% doanh nghiệp Nhật Bản áp dụngphương pháp phân bổ bổ từng bước cho các bộ phận dịch dịch vụ

Một khảo sát khác gần đây của Szychta (2002) cho thấy phương phápphân bổ từng bước được sử dụng rộng rãi hơn phương pháp phân bổ trực tiếp(14/39 doanh nghiệp; 7/39 doanh nghiệp)

Trang 19

Nghiên cứu về chi phí của tác giả Mills và cộng sự ở Ma-la-uy, Russell

và cộng sự ở Xan Lu-xia, và tác giả Raymond và cộng sự ở Bê-li-xê đã đưa

ra ví dụ về phương pháp phân bổ từng bước, phân bổ chi phí trực tiếp và giántiếp qua các đơn vị phát sinh chi phí Tuy nhiên, những nghiên cứu này mớichỉ tính được các chi phí tài chính, phân chia bệnh viện ra các đơn vị phátsinh chi phí và phân tích phân bổ các nguồn lực, nhưng không xác định đượccách các nguồn lực được sử dụng thực sự trong việc điều trị bệnh nhân “Chíphí” cuối cùng đơn giản là phân bổ tổng ngân sách, và bị giới hạn vì khôngliên kết cụ thể đầu vào với sản xuất ra dịch vụ

Một nghiên cứu gần đây của Căm-pu-chia cũng sử dụng phương phápphân bước, nhưng chi tiêu cho cán bộ y tế được ấn định trực tiếp cho dịch vụđầu ra (sáu nhóm ngày điều trị nội trú ở bệnh viện huyện) bằng số liệu đượcthu thập qua quan sát trực tiếp và phỏng vấn về tỷ lệ thời gian lao động đượcdành cho các nhóm điều trị Tuy nhiên, tất cả những chi phí trực tiếp và giántiếp khác được phân bổ cho các đầu ra dựa vào các quyền số giả thiết Cáchtiếp cận này cho phép so sánh chi phí bình quân một ngày nằm viện giữa cácbệnh viện huyện trên cơ sở đầu ra của sáu nhóm ngày điều trị này, nhưng lạikhông cho phép tất cả chi phí trực tiếp (ví dụ thuốc và vật tư tiêu hao) đượcphân bổ cho các bệnh nhân cụ thể cho từng nhóm bệnh

Tại Lào, phương pháp phân bước tương tự cũng được đưa ra để ước tínhchi phí trung bình cho một số dịch vụ nhất định (như ca mổ loại đặc biệt, ca

đẻ thường) thay vì tính chi phí bình quân một ngày điều trị nội trú theo cáclâm sàng Một sáng kiến cải tiến của nghiên cứu này so với các nghiên cứutương tự là sử dụng chi phí kinh tế thay vì chi phí tài chính, để đo lường chiphí thời gian lao động của cán bộ y tế Phương pháp phân bước chuẩn được

sử dụng để phân bổ chi tiêu của bệnh viện cho các đơn vị phát sinh chi phí(dịch vụ trực tiếp, hỗ trợ và hành chính), và phân bổ thời gian dành cho KCBcủa cán bộ y tế sẽ được ước lượng từ phỏng vấn, quan sát trực tiếp hoặcphương pháp đo lường thời gian khác Một hệ thống tính toán tiếp nhận kép

đã được đề xuất cho bệnh viện thí điểm để cải thiện được khả năng theo dõi

Trang 20

và kiểm tra các chi tiêu, nhưng nó không được thiết kế để theo dõi chi phí đầuvào sử dụng cho mỗi bệnh nhân theo các dịch vụ cụ thể.

Ở Việt Nam, chi phí điều trị trong bệnh viện chỉ mới được ước tính mộtcách tổng quát, tương đối, việc phân tích chi phí điều trị bằng phương phápphân bổ từng bước đang còn hạn chế về số lượng đề tài, đặc biệt trong việctính toán chi phí cho một trường hợp đẻ thường hay đẻ mổ, điều này gây khókhăn cho bảo hiểm tính toán và thanh toán với Bệnh viện, thường theo cơ chế

áp đặt, bất lợi cho người bệnh Tuy nhiên gần đây, chương trình hợp tác y tếViệt Nam và Thụy Điển đã thực hiện một dự án thành phần chính sách y tếnhằm nghiên cứu chi phí điều trị một số nhóm bệnh tại bệnh viện đa khoatuyến tỉnh (2005), nghiên cứu này đã tính toán chi phí điều trị bằng phươngpháp phân bổ từng bước (Step-down), đây là một nghiên cứu tiến hành tại 30bệnh viện đa khoa tỉnh ở các vùng khác nhau trong cả nước, kết quả củanghiên cứu cho thấy tổng chi phí trung bình để mổ đẻ thường là 1,6 triệuđồng, và chi phí này khác biệt lớn giữa các sản phụ, số ngày nằm viện trungbình Bằng phương pháp kết hợp tính toán chi phí từ trên xuống và từ dướilên, trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Minh và Nguyễn Thị Mai An(2009) tại bệnh viện Thanh Oai, cho thấy chi phí trung bình một trường hợp

mổ đẻ là 3.908.453 đồng, cao hơn các bệnh còn còn lại trong cùng nghiêncứu, nghiên cứu còn chỉ ra rằng cơ cấu chi phí của mổ đẻ cao nhất là thuốc vàvật tư tiêu hao (48,7%) Khi so sánh chi phí sinh đẻ với chi phí điều trị cácbệnh ngoại khoa khác, thì ta thấy chi phí này vẫn còn thấp hơn, điển hìnhtrong nghiên cứu của tác giả Võ Văn Thắng và Hồ Thanh Phong (2010) tạibệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai, tổng chi phí trung bình điều trị các bệnhngoại khoa là 7.732.606 ± 5.620.758 đồng

Phương pháp phân bổ từng bước có thể được sử dụng như một công cụhữu ích để kiểm tra các nguồn lực được phân bổ trong một bệnh viện và cóquan hệ với các nhóm đầu ra thông qua các đơn vị phát sinh chi phí, phươngpháp này thường dẫn đến sai sót do nhiều người giả định sai lầm rằng chi tiêuhàng năm tương đương với chi phí hàng năm

Trang 21

Một số phương pháp tính toán phổ biến bao gồm: i) tính chi tiêu hàngnăm cho tài sản cố định như chi phí hàng năm; ii) tính chi tiêu mua thuốc vàvật tư y tế tiêu hao vẫn còn trong kho cuối năm là chi phí của năm đó Ngoài

ra, cách đo lường đầu ra thường dựa vào số bệnh nhân được điều trị Vì vậy,chi phí bình quân một bệnh nhân tăng lên khi kinh phí cho chi thường xuyênhoặc kinh phí xây dựng cơ bản tăng lên, hoặc khi số bệnh nhân được cơ sở y

tế điều trị giảm đi Khi tổng ngân sách bị cắt giảm hoặc tỷ lệ sử dụng dịch vụtăng, “chi phí” trung bình cho mỗi bệnh nhân giảm

Nếu không có thông tin chi tiết hơn về các chi phí trực tiếp và gián tiếpcủa tất cả các đầu vào được sử dụng cho điều trị từng bệnh nhân cụ thể, ở bất

kỳ tỷ lệ sử dụng dịch vụ nào, thì các kết quả ước tính sử dụng phương phápphân bước có thể bị sai lệch Sự phân bổ chi tiêu hàng năm cho mỗi bệnhnhân nội trú vẫn được tính toán, nhưng tổng chi phí thực sự của các đầu vàođược sử dụng để điều trị một bệnh nhân bị một nhóm bệnh cụ thể không được

đo lường độc lập với số bệnh nhân được điều trị

1.4 Bảo hiểm y tế tại Việt Nam

1.4.1 Khái niệm Bảo hiểm y tế

- BHYT: là bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sựđóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe,khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân"

- BHYT trước hết là một nội dung của BHXH - một trong những bộ phậnquan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xãhội Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ưu đãi xã hội) và

hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động củaBHXH nói chung, đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn

xã hội Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy, cho nên ở mọiQuốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổchức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH Đó cũng là một cơ sở quantrọng để phân biệt giữa BHXH về y tế và bảo hiểm tư nhân về y tế

Trang 22

1.4.2.Lịch sử ra đời của Bảo hiểm Y tế Việt Nam

- Việt Nam bắt đầu thực hiệnChính sách BHYT từ năm 1992 Theo Điều

lệ BHYT được ban hành kèm theo Nghị định số 299/NĐ/CP của Chính phủ,BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế; BHYT các tỉnh và ngành trực thuộcBHYT Việt Nam Đến năm 1998, thực hiện Nghị định số 58/1998/NĐ-CP củaChính phủ, BHYT Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống

cơ quan BHYT từ trung ương đến địa phương và BHYT ngành để quản lý vàthực hiện chính sách BHYT Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhấttrên phạm vi cả nước Từ ngày 01/01/2003, BHYT sát nhập vào Bảo hiểm xãhội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan tổ chức thực hiện chínhsách BHYT Đến ngày 08/8/2005 Chính phủ đã có Quyết định thành lập VụBHYT thuộc Bộ Y tế để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT

- Kỳ họp thứ 4, vào ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá XII đã thông quaLuật BHYT và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 và ngày này đã đượcThủ tướng Chính phủ quyết định là Ngày BHYT Việt Nam (theo Quyết định

số 823/QĐ-TTg ngày 16/6/2009) Nội dung của Luật BHYT đã cơ bản khắcphục được những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính

y tế để từng bước tiến tới mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo địnhhướng công bằng, hiệu quả và phát triển

- BHYT là một chính sách xã hội mới ở nước ta, cũng như các quốc giakhác, BHYT ở nước ta nhằm thực hiện các mục tiêu sau:

- Một là: Tạo nguồn kinh phí để bổ sung cho nguồn ngân sách hạn hẹpcấp cho hệ thống y tế nhà nước Huy động sự đóng góp của chủ sử dụng vàngười lao động để hình thành quỹ tập trung của BHYT, nguồn quỹ này được

sử dụng cùng với nguồn ngân sách cấp cho các cơ sở y tế từ Trung ương đếnđịa phương để nâng cao chất lượng KCB cho người tham gia BHYT;

- Hai là: Giảm bớt gánh nặng về tài chính cho người lao động khi bịbệnh nặng phải sử dụng các dịch vụ y tế có chi phí cao, thông qua việc chi trảtrước qua quỹ BHYT;

Trang 23

- Ba là: Góp phần thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ,thông qua tái phân phối thu nhập qua mức đóng BHYT theo phần trăm (%)trên thu nhập;

1.4.3 Các loại hình Bảo hiểm Y tế tại Việt Nam

- Hiện nay ở Việt Nam có 2 loại hình Bảo hiểm y tế:

- Bảo hiểm y tế xã hội, mang tính xã hội không vì mục đích lợi nhuận vàđược Nhà nước tổ chức thực hiện theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12ngày 14/11/2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế

số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 Mọi người dân phải bắt buộc tham giaBHYT theo Luật BHYT

- Bảo hiểm y tế thương mại, mang tính kinh doanh, hoạt động có lợinhuận theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 vàLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010 Hiện tại có nhiều doanh nghiệp Bảo hiểm trong nước

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai loại hình BHYT này

1.4.4 Tầm quan trọng tham gia Bảo hiểm Y tế

- Việc tham gia BHYT mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực cho ngườidân, nhất là các gia đình có mức thu nhập thấp khi chẳng may đau ốm Thamgia BHYT thì tùy theo các nhóm đối tượng, được quỹ BHYT thanh toán100% hoặc 95% hoặc 80% chi phí khám chữa bệnh nội và ngoại trú với cácdanh mục thuốc và dịch vụ kỹ thuật do Bộ Y tế quy định

- Quyền lợi của người có thẻ BHYT ngày càng được đảm bảo Hàngnăm, ngành Bảo hiểm Xã hội và Y tế đã có sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời từviệc triển khai hợp đồng đến việc tổ chức khám chữa bệnh tại các cơ sở, giảiquyết kịp thời những vấn đề vướng mắc, phát sinh, tạo điều kiện thuận lợi chongười bệnh

- Tuy nhiên, thực tế hiện nay, không phải ai cũng hiểu hết được giá trịcủa tấm thẻ BHYT Chỉ tới khi bị bệnh tật, tai nạn, nhất là khi không may bịbệnh nặng, chi phí vượt ngoài khả năng chi trả thì lúc bấy giờ người bệnh mớinghĩ đến giá trị của việc tham gia BHYT Qua đó cho thấy, nhiều người còn

Trang 24

chưa ý thức được quyền lợi được hưởng từ BHYT, hiểu được tầm quan trọngcủa việc tham gia BHYT.

- BHYT là một chính sách quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội, thamgia vào chống đói nghèo do bệnh tật gây ra BHYT cũng là một nguồn tàichính rất quan trọng dành cho chăm sóc sức khỏe nhất là khi tình hình ngânsách của Nhà nước không đủ để bao cấp hoàn toàn cho chăm sóc sức khỏe.BHYT là sự chia sẻ, cưu mang hữu hiệu nhất giữa người có điều kiện vàngười khó khăn BHYT là một giải pháp ưu việt trong một hệ thống chăm sócsức khỏe cộng đồng Với ý nghĩa đó, mọi người dân, đặc biệt là các bạn đoànviên thanh niên hãy tích cực đi đầu trong việc tham gia BHYT vì sức khỏe, vì

an sinh xã hội, vì hạnh phúc mọi người

1.4.5 Nguyên tắc cơ bản của Bảo hiểm Y tế

Bảo hiểm Y tế được thực hiện theo 05 nguyên tắc sau (Trích Điều 3, Luật Bảo hiểm Y tế):

1 Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT

2 Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương,tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vựchành chính

3 Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm

vi quyền lợi của người tham gia BHYT

4 Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người thamgia BHYT cùng chi trả

5 Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch,bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ

Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn, loại trừ mục tiêulợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT Hoạtđộng BHXH về y tế không có khoản thu lợi nhuận và đương nhiên không vìmục đích lợi nhuận

1.4.6 Sử dụng thẻ Bảo hiểm Y tế trong khám chữa bệnh

1.4.6.1 Điều kiện hưởng của thẻ Bảo hiểm Y tế

Trang 25

Khi đi khám bệnh, chữa bệnh:

Phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờtùy thân có ảnh hợp lệ Đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ xuất trình thẻ BHYTcòn giá trị sử dụng

Trường hợp cấp cứu:

Được tiếp nhận tại bất kỳ cơ sở khám, chữa bệnh (KCB) nào và phảixuất trình thẻ BHYT cùng với giấy tùy thân chứng minh nhân thân hợp lệtrước khi ra viện Trong quá trình điều trị phát hiện và phải điều trị một sốbệnh thì điều trị tại nơi cơ sở KCB được tính đúng tuyến

Trường hợp chuyển tuyến điều trị:

Được chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định trong trường

hợp cơ sở KCB BHYT vượt quá khả năng điều trị hoặc các dịch vụ kỹ thuậtđơn vị không triển khai thực hiện Người bệnh phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y

tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có ảnh hợp lệ và giấychuyển viện của cơ sở KCB chuyển tuyến

Trường hợp thanh toán chi phí vận chuyển người bệnh:

Đối tượng là" sĩ quan hạ sĩ quan, người làm công tác cơ yếu ; Người cócông với cách mạng; Thân nhân người có công với cách mạng (cha đẻ, mẹ đẻ,con, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ); Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diệnbảo trợ bảo trợ hàng tháng;" thì được quỹ BHYT thanh toán chi phí vậnchuyển 2 chiều trong trường hợp chuyển tuyến kỹ thuật

Trường hợp khám lại:

Theo yêu cầu điều trị: Người tham gia BHYT phải có giấy hẹn khám lại của

cơ sở KCB Giấy hẹn khám lại chỉ sử dụng cho 1 lần thực hiện khám chữa bệnh

1.4.6.2 Mức hưởng thẻ Bảo hiểm Y tế

Thanh toán tại các bệnh viện, cơ sở KCB BHYT đúng tuyến:

Người tham gia đi KCB có xuất trình thẻ BHYT , giấy tờ tùy thân chứngminh hợp lệ tại cơ sở KCB ban đầu hoặc cơ sở KCB BHYT khác có giấychuyển viện được thanh toán như sau:

a Sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (KCB) thông thường:

Trang 26

- 100% chi phí KCB đối với đối tượng: Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và

sĩ quan, hạ sĩ quan; Người có công cách mạng; Trẻ em dưới 6 tuổi; chi phíKCB đối với trường hợp chi phí cho một lần KCB thấp hơn 15% mức lương

cơ sở (lương tối thiểu chung) và KCB tại tuyến xã; Người thuộc diện hưởngtrợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dântộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đặc biệtkhó khăn

- 95% chi phí KCB đối với đối tượng: Người đang hưởng lương hưu, trợcấp mất sức lao động hàng tháng; Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; Thânnhân người có công với cách mạng

- 80% chi phí KCB đối với các đối tượng khác

b Khi sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn được thanh toán như sau :

- 100% chi phí KCB không giới hạn tỷ lệ thanh toán đối với: Trẻ emdưới 6 tuổi; Người hoạt động cách mạng trước 1945; người hoạt động cáchmạng từ 01/01/1945 đến trước 19/8/1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng;Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B,bệnh binh khi điều trị vết thương, thương tật tái phát

- 100% chi phí đối với: sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩquan chuyên môn kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dânnhưng không vượt quá 40 tháng lương cơ sở (lương tối thiểu chung) cho mộtlần sử dụng dịch vụ kỹ thuật Phần còn lại do cơ quan, đơn vị quản lý đốitượng chi trả

- 100% chi phí đối với: Người có công với cách mạng nhưng không vượtquá 40 tháng lương cơ sở (lương tối thiểu chung) cho một lần sử dụng dịch vụ

kỹ thuật quy định tại Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT/BYT-BTC.

- 95% chi phí đối với: Người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàngtháng; Thân nhân người có công với cách mạng trừ nhóm đối tượng quy địnhđiểm i khoản 3, điều 12 Luật BHXH số 46/2014; Người thuộc hộ gia đình cậnnghèo

- 80% chi phí dành cho đối tượng và nhóm đối tượng khác

Trang 27

Thanh toán tại các bệnh viện, cơ sở KCB BHYT không đúng cơ sở đăng

ký KCB ban đầu hoặc không theo tuyến chuyên môn kỹ thuật (trừ trường hợp cấp cứu) được thanh toán như sau:

- 60% chi phí đối với trường hợp KCB tại cơ sở KCB tuyến tỉnh;

- 40% chi phí đối với trường hợp KCB tại cơ sở KCB trực thuộc Trung Ương

b Thanh toán trực tiếp chi phí KCB BHYT tại cơ quan BHXH:

- KCB tại cơ sở y tế không ký hợp đồng KCB BHYT; đi KCB tại cơ sở y tế

có ký hợp đồng KCB BHYT nhưng không đủ thủ tục KCB: Người bệnh tựthanh toán chi phí KCB với cơ sở y tế, sau đó mang chứng từ đến cơ quanBHXH để thanh toán Căn cứ dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh được cung cấp,tuyến chuyên môn kỹ thuật của cơ sở y tế và chứng từ hợp lệ, cơ quanBHXH thanh toán cho người bệnh chi phí thực tế nhưng tối đa không vượt

quá mức quy định tại Phụ lục kèm theo Thông tư liên tịch BYT-BTC

37/2015/TTLT-1.4.6.3 Bảo hiểm y tế chi trả cho bệnh viện

Phương thức bảo hiểm y tế chi trả chi phí dịch vụ bệnh viện là cách thức

để ngân sách từ quỹ bảo hiểm hoàn trả phần chi phí của bệnh viện đã tiêu tốncho hoạt động cung cấp dịch vụ y tế Mỗi phương thức hoàn phí đều có những

ưu điểm, hạn chế và có ảnh hưởng khác nhau đến tính hiệu quả sử dụng nguồnlực, chất lượng dịch vụ được bệnh viện cung cấp và mức độ sử dụng dịch vụ củangười dân

Trang 28

Cho phép quản lý tập trung cao

Hiệu quả thấp

Khoán

tổng quỹ

Các dịch vụ hoặc các trường hợp (bất kỳ loại nào) trong một giai đoạn xác định

Cho tính năng động cao

Nguy cơ hạn chế thái quá dịch vụ cần thiết

Phí theo

dịch vụ

Quy trình và dịch vụ đơn lẻ

Thúc đẩy năng suất cung cấp dịch vụ nói chung (đặc biệt

là dịch vụ có lợi nhuận lớn)

Gia tăng lạm dụng dịch

vụ gây lãng phí nguồn lực

Không hỗ trợ kiểm soát gia tăng chi phí y tế Định suất Tất cả các dịch vụ y

tế cho một người cho một giai đoạn cụ thể, thường là 1 năm

Tăng hiệu quả thông qua tiết kiệm dịch vụ và loại bỏ lạm dụng dịch vụ

do bên cung cấp

Chuyển gánh nặng hành chính và rủi ro tài chính sang phía bệnh viện – Nguy cơ vỡ quỹ lớn

Nguy cơ hạn chế thái quá dịch vụ cần thiết Chi trả

Tăng hiệu quả thông qua tiết kiệm dịch

vụ và loại bỏ lạm dụng dịch vụ do bởi bên cung cấp

Yêu cầu chi phí đầu tư cho xây dựng mức phí

và cập nhật liên tục

Hai hình thức bảo hiểm y tế hiện đang áp dụng chi trả cho dịch vụ bệnh

viện ở Việt Nam là Phí dịch vụ và Định suất, bắt đầu thử nghiệm Chi trả trọn gói theo trường hợp bệnh.

1.5 Quá trình hình thành và phát triển chính sách viện phí ở Việt Nam

Trong quá trình đổi mới hệ thống y tế Việt Nam từ năm 1989 đến nay,

đã có nhiều chính sách nhằm huy động nguồn tài chính khác nhau cho y tế

Trang 29

như: chính sách thu một phần viện phí, BHYT, xã hội hóa, tự chủ tài chính…Tuy nhiên Đảng và Nhà nước vẫn giữ quan điểm ưu tiên đầu tư từ ngân sáchNhà nước cho y tế.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006 đã chỉ rõ: “Tăngđầu tư của Nhà nước và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cấpmạng lưới y tế cơ sở và hệ thống y tế, có chính sách trợ giúp các đối tượngchính sách, người nghèo, người có thu nhập thấp được tiếp cận dịch vụ y tế;phát triển hệ thống y tế dự phòng, trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi ngườidân có khả năng phòng bệnh và rèn luyện sức khỏe Nghị quyết 46-NQ/TWcủa Bộ chính trị ngày 23/02/2005 nêu rõ: “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhỏe nhân dân là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng vàNhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển

- Giai đoạn trước 1989: Không thực hiện chính sách thu viện phí, mọingười dân khi đến các cơ sở khám, chữa bệnh đều không phải trả tiền

- Giai đoạn 1989 đến 1995: Bắt đầu áp dụng chính sách thu một phầnviện phí theo các văn bản:

+ Quyết định 45-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc thu một phầnviện phí và quy định đối tượng thu, đối tượng miễn

+ Thông tư 14-TTLB thông tư liên bộ Tài chính và Y tế hướng dẫn cụthể các nội dung của Quyết định 45

+ Năm 1992, BHYT được chính thức đưa vào Hiến pháp Nước Cộnghoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại điều 39 “ thực hiện BHYT là tạo điềukiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ ’’ Nghị định 299/HĐBTngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành điều lệBHYT, Nghị định này được thay thế bằng Nghị định 58/1998-CP ngày13/8/1998 Việc BHYT Việt Nam nắm được chi phí thực điều trị các nhómbệnh là rất cần thiết để tính được chính xác mệnh giá BHYT

-Từ 1995 đến nay, việc thu viện phí được áp dụng theo:

+ Nghị định 95/NĐ-CP của Chính phủ về thu một phần viện phí đó lànhững đối tượng không thuộc diện được miễn nộp một phần viện phí như:

Trang 30

không có thẻ BHYT hoặc có thẻ BHYT mà muốn khám theo yêu cầu, thaythế QĐ 45-HĐBT quy định cụ thể các nội dung thu, các đối tượng, tỷ lệhạch toán nguồn thu với 15% chi cho khen thưởng, 85% chi phí chi chophục hồi.

+ Thông tư liên bộ số 20 của 4 Bộ (Ban Vật giá Chính phủ, Bộ Y tế,

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính) quy định thu phí bệnhnhân nội trú theo ngày điều trị trung bình

+ Thông tư số 14 ngày 30/9/1995 thông tư liên bộ: Ban Vật giá Chínhphủ, Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính hướng

dẫn cụ thể về thu một phần viện phí “Một phần viện phí là một phần trong tổng chi phí cho việc khám, chữa bệnh Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc, dịch truyền, máu, hoá chất, xét nghiệm, phim X quang, vật tư tiêu hao thiết yếu

và dịch vụ khám, chữa bệnh; không tính khấu hao tài sản cố định, chi phí sửa chữa thường xuyên, chi phí hành chính, đào tạo, nghiên cứu học, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn”, huỷ bỏ Thông tư liên Bộ số 20/TTLB

ngày 23-11-1994 Bộ Y tế - Tài chính - Lao động TBHXH - Ban Vật giá Chínhphủ hướng dẫn thực hiện nghị định số 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ vềviệc thu một phần viện phí, quay lại hình thức thu phí theo dịch vụ

+ Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy địnhquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập đã trao quyền tự chủnhiều hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh góp phần tổchức lại và nâng chất lượng dịch vụ khám bệnh và chữa bệnh, qua đó tăngnguồn thu nhập cho cán bộ viên chức và tăng cường quỹ đầu tư phát triển củacác đơn vị y tế công lập Như vậy, trong bối cảnh các cơ sở y tế đang hướngtới thực hiện Nghị định này của Chính phủ, thông tin về chi phí đầy đủ củacác dịch vụ y tế là cơ sở để các Bệnh viện hạch toán thu chi

+ Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sáchkhuyến khích xã hội hóa đối với các họat động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề,văn hóa, y tế, thể thao, môi trường nhằm khuyến khích các nguồn lực xã hội đầu

tư cho ngành y tế về cơ sở vật chất, liên doanh liên kết đầu tư máy móc

Trang 31

+ Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ về cơ chếhoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giádịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập.Nghị định phân nhóm các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và đưa ra lộ trìnhthực hiện nghị định đến năm 2018 chi phí được tính đầy đủ 7 cấu thành giádịch vụ.

+ Thông 03/2006/TTLT-BYT-BTC-BLĐTB&XH ngày 26/01/2006 củaliên bộ Bổ sung thông tư liên bộ số 14/TTLB ngày 30/9/1995 của liên bộ BanVật giá Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tàichính hướng dẫn thực hiện việc thu một phần viện phí

+ Thông tư 04/2012/TTL-BYT-BTC ngày 29/02/2012 của liên bộ vềban hành mức tối đa khung giá một số dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trongcác cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước

+ Thông tư 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của liên bộ quyđịnh thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT giữa các bệnh việncùng hạng trên toàn quốc

1.5.1 Cơ cấu viện phí Bệnh viện

Viện phí là hình thức chi trả trực tiếp các chi phí khám, chữa bệnh tạithời điểm người bệnh sử dụng dịch vụ y tế hay nói cách khác là khoản chi phí

mà người bệnh phải trả từ tiền túi của mình khi sử dụng dịch vụ y tế

Ở Việt Nam, các bệnh viện công được ngân sách nhà nước cấp dưới dạngngân sách một lần và BHYT sẽ chi trả các dịch vụ y tế cho bệnh nhân tham giaBHYT Các bệnh viện nhận được viện phí dưới hình thức thanh toán từ tiền túitrực tiếp từ bệnh nhân (khoảng 60% tổng chi phí) Đối với khám, chữa bệnhBHYT, chi phí sẽ được BHYT chi trả theo phương thức phí dịch vụ

Theo nghị định 85/2012/NĐ-CP giá dịch vụ y tế (viện phí) bao gồm cácchi phí trực tiếp và gián tiếp, cụ thể như sau:

* Các chi phí trực tiếp

Trang 32

- Chi phí về thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế (bao gồm cả chiphí bảo quản, hao hụt theo định mức được cơ quan có thẩm quyền quy định);

- Chi phí về điện, nước, nhiên liệu, xử lý chất thải, vệ sinh môi trường;

- Tiền lương, phụ cấp, các khoản đóng góp theo chế độ; chi phí thuênhân công thuê ngoài; chi phí đặc thù tối đa không quá 50% chi phí tiềnlương của dịch vụ;

- Chi phí duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản cố định, mua sắm thay thếcông cụ, dụng cụ trực tiếp sử dụng để thực hiện dịch vụ kỹ thuật;

- Khấu hao tài sản cố định theo chế độ áp dụng đối với doanh nghiệpnhà nước; chi phí chi trả lãi tiền vay theo các hợp đồng vay vốn, huy độngvốn để đầu tư, mua sắm trang thiết bị để thực hiện dịch vụ (nếu có) Đượctính và phân bổ vào chi phí của các dịch vụ sử dụng nguồn vốn này

* Chi phí gián tiếp

- Chi phí của bộ phận gián tiếp, các chi phí hợp pháp khác để vậnhành, bảo đảm hoạt động bình thường của Bệnh viện

- Chi phí đào tạo, nghiên cứu học để ứng dụng các kỹ thuật mới

Cụ thể giá dịch vụ y tế (viện phí) bao gồm các chi phí như sau:

Thuốc, máu, dịch truyền và vật tư tiêu hao

Viện phí bao gồm chi phí thuốc, máu, dịch truyền và vật tư tiêu haophục vụ cho người bệnh do bệnh viện cung cấp để điều trị bệnh nhân Phòng

Kế toán - Tài chính của bệnh viện ghi lại tên, dạng, số lượng, chi phí đơn vị

và tổng chi phí của tất cả các loại thuốc được dùng cho mỗi bệnh nhân tronghoá đơn thanh toán khi xuất viện (cả bệnh nhân trả viện phí trực tiếp, bệnhnhân được BHYT thanh toán và bệnh nhân được miễn giảm viện phí) Tương

tự, vật tư tiêu hao (như bơm, kim tiêm, bông băng), máu, dịch truyền cũngđược liệt kê chi tiết trong hoá đơn thanh toán khi xuất viện Căn cứ vào nhữngthông tin này, nghiên cứu đã thu thập số liệu về tổng chi phí cho từng hạngmục thuốc, máu, dịch truyền và vật tư tiêu hao, sử dụng phiếu điều tra chotừng bệnh nhân trong mẫu hoặc được nhập trực tiếp từ hoá đơn thanh toán khixuất viện vào từng mục trong phần mềm Microsoft Excel

Trang 33

Thuốc và vật tư tiêu hao mua ngoài bệnh viện

Có nhiều trường hợp bệnh viện không cung cấp đủ các loại thuốc, vật

tư tiêu hao để điều trị cho bệnh nhân, và bệnh nhân phải mua thêm thuốc vàvật tư ngoài bệnh viện Trong trường hợp này, bệnh viện thường ghi lại tên,

số lượng thuốc và vật tư tiêu hao do bệnh nhân được yêu cầu mua dựa theođơn (hoặc bệnh án) của bác sĩ điều trị Những trường hợp không theo nguyêntắc này đã bị loại khỏi nghiên cứu

Chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm

Hoá đơn thanh toán khi xuất viện và bệnh án ghi rõ số lượng, loại vàchi phí cho từng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh (chiếu chụp X quang, siêu âm,nội soi, v.v…), xét nghiệm (huyết học, giải phẫu, sinh hoá, vi sinh, v.v ) và

số ngày điều trị nội trú theo lâm sàng Thông tin này được thống kê vàophiếu điều tra của từng bệnh nhân Viện phí do bệnh nhân chi trả cho nhữngdịch vụ chẩn đoán này cũng được ghi lại, trừ tiền giường vì chi phí tiềngiường không dựa vào chi phí thực đầy đủ

Trong đó, thông tin về bệnh nhân được thu thập trong nghiên cứu chiphí BHYT chi trả tại Bệnh viện

- Trong nghiên cứu chỉ thu thập thông tin của bệnh nhân phẫu thuật loại

1, loại 2 và loại 3, không có bệnh nhân phẫu thuật loại đặc biệt

- Chẩn đoán cuối cùng

- Danh sách đầy đủ tất cả các loại thuốc, máu, dịch truyền và vật tư tiêuhao được sử dụng, cùng với số lượng và giá Giá thuốc, máu, dịch truyền vàvật tư tiêu hao được tính theo giá ghi trên bệnh án, theo qui định thì đây là giámua vào của bệnh viện

Trang 34

- Thông tin về số lượng và giá trị của vật tư tiêu hao sử dụng khi phẫu thuật.

- Danh sách đầy đủ về thuốc, máu, dịch truyền và vật tư tiêu hao đượcbác sỹ kê đơn và đi mua bên ngoài nhưng không có trong hoá đơn thanh toánkhi ra viện, bao gồm số lượng và giá thuốc, máu, dịch truyền, vật tư tiêu haotheo giá bán lẻ tại địa phương

- Tên, số lượng và giá dịch vụ chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm thựchiện cho bệnh nhân theo từng mục riêng lẻ như chụp X quang, siêu âm, nộisoi, CT scan, huyết học, sinh hoá và vi sinh

1.6 Đẻ thường và đẻ mổ

1.6.1 Khái niệm đẻ thường và đẻ mổ

Chuyển dạ đẻ là một quá trình sinh lý làm cho thai và phần phụ của thaiđược đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ

Một cuộc chuyển dạ đẻ xảy ra từ đầu tuần lễ thứ 38 (259 ngày) đến cuốituần thứ 42 (293 ngày), trung bình là 40 tuần lễ (280 ngày) gọi là đẻ đủ tháng.Khi đó thai nhi đã trưởng thành và có khả năng sống độc lập ngoài tử cung

Đẻ non tháng là tình trạng gián đoạn thai nghén khi thai có thể sống được.Chuyển dạ đẻ non xảy ra khi tuổi thai từ 28 tuần lễ (196 ngày) đến 37 tuần lễ

Đẻ già tháng là hiện tượng chuyển dạ xảy ra sau hai tuần lễ so với ngày

dự kiến đẻ Gọi là thai già tháng khi tuổi thai quá 42 tuần lễ (300 ngày)

Đẻ thường là cuộc chuyển dạ diễn ra bình thường theo sinh lý

Đẻ khó là cuộc chuyển dạ đẻ mà các giai đoạn của cuộc đẻ, các thànhphần tham gia vào cuộc đẻ (thai nhi đặc biệt là các đường kính của đầu thainhi, khung chậu và phần mềm của người mẹ, cơn co tử cung ) diễn ra khôngbình thường, cần sự can thiệp của người thầy thuốc

Mổ lấy thai là phẫu thuật mở tử cung ra để lấy thai, rau và màng rau theođường rạch trên bụng hoặc qua túi cùng âm đạo trong một số ít trường hợp

1.6.2 Quy trình đẻ thường

- Ghép nhóm theo mã ICD-10: 080 Xử trí tích cực giai đoạn 3 của

chuyển dạ là các thao tác chủ động của người đỡ đẻ tác động giai đoạn sau

Trang 35

khi sổ thai để giúp rau bong và sổ ra ngoài nhanh hơn, nhằm phòng ngừa chảymáu sau đẻ.

Theo dõi sau đẻ

1.6.3 Một số tai biến khi đẻ thường

Rau tiền đạo: là bánh rau bám ở đoạn dưới và cổ tử cung, nó chặn phíatrước cản trở đường ra của thai nhi khi chuyển dạ Rau tiền đạo là một trongnhững bệnh lý của bánh rau về vị trí bám Nó gây chảy máu trong ba thángcuối của thời kỳ thai nghén, trong chuyển dạ và sau đẻ Rau tiền đạo có khảnăng gây tỷ lệ tử vong và mắc bệnh hoặc cho mẹ và con, do chảy máu và đẻnon

Vỡ tử cung: là một tai biến sản khoa, rất nguy hiểm cho thai và mẹ, nếu khôngphát hiện và xử lý kịp thời sẽ gây tử vong cho mẹ và cho thai nhi Có thể vỡ tử cungtrong khi có thai nhưng thường gặp vỡ tử cung trong khi chuyển dạ

1.6.4 Quy trình đẻ mổ

Ghép nhóm theo mã ICD-10: O82 Đẻ mổ (Phẫu thuật lấy thai là phẫuthuật nhằm lấy thai ra khỏi tử cung sau khi mở bụng và mở tử cung) Sauphẫu thuật phải có quá trình chăm sóc kỷ như: Cho thuốc giảm đau, cho sảnphụ uống, ăn sớm (uống, thức ăn lỏng khi chưa trung tiện, ăn bình thường khi

đã có trung tiện), vận động sớm, cho con bú sớm, kháng sinh điều trị (nếucần) Đẻ mổ luôn có nguy cơ xảy ra biến chứng trong hoặc sau khi phẫu thuậtnhư: Chảy máu; Chấn thương thai nhi; Chấn thương ruột; Rạch vào bàngquang; Thắt vào niệu quản; Nhiễm trùng vết mổ, tiểu khung, viêm phúc mạctoàn thể, nhiễm trùng huyết; Chảy máu do nhiễm trùng vết mổ tử cung

Các bước tiến hành

Trang 36

Thì 1 Mở bụng:

Thì 2 Mở phúc mạc đoạn dưới tử cung.

Thì 3 Rạch ngang cơ tử cung đoạn dưới đến màng ối

Thì 4 Lấy thai và rau:

Tiêm tĩnh mạch chậm (qua dây truyền) 10 đơn vị oxytocin

Thì 8: Lấy máu và lau âm đạo.

Theo dõi sau phẫu thuật.

Chăm sóc.

 Cho thuốc giảm đau sau phẫu thuật

 Cho sản phụ uống, ăn sớm (uống, thức ăn lỏng khi chưa trung tiện, ănbình thường khi đã có trung tiện)

 Vận động sớm

 Cho con bú sớm

 Kháng sinh điều trị (nếu cần)

Biến chứng trong phẫu thuật

 Chảy máu

 Chấn thương thai nhi

 Chấn thương ruột

 Rạch vào bàng quang

 Thắt vào niệu quản

Biến chứng sau phẫu thuật

 Nhiễm trùng vết mổ, tiểu khung, viêm phúc mạc toàn thể, nhiễm trùng huyết

 Chảy máu do nhiễm trùng vết mổ tử cung

Trang 37

1.6.5 Một số tai biến khi đẻ mổ

Tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong chu sinh ở các trường hợp đẻ mổ cao hơn sovới các trường hợp đẻ thường.Tỷ lệ tử vong mẹ trong mổ đẻ tăng gấp 4 lần sovới đẻ thường, ngay cả mổ chủ động tỷ lệ tử vong mẹ tăng 2,84 lần Cácnguyên nhân của những nguy cơ trong đẻ mổ là do tai biến gây tê mê, do chảymáu, nhiễm trùng, tổn thương đường tiết niệu, do thuyên tắc mạch Ngoài ra,sẹo mổ trên tử cung có thể bị nứt trong những thai kỳ sau, bệnh lạc nội mạc tửcung, dính ruột, tắc ruột, nhau tiên tiền đạo (tăng nguy cơ 1,7 lần) , nhau càirăng lược , nhau bong non , thai ngoài tử cung , đặc biệt thai đóng ở eo tửcung ngay vết mổ ngang cũ Khả năng có thai lần sau cũng sẽ giảm hơn sovới đẻ thường

Trong nghiên cứu này, đẻ thường được định nghĩa là cuộc chuyển dạdiễn ra bình thường theo sinh lý Chuyển dạ đẻ là một quá trình sinh lý làmcho thai và phần phụ của thai được đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ

Mổ lấy thai được định nghĩa là phẫu thuật mở tử cung ra để lấy thai, rau

và màng rau theo đường rạch trên bụng hoặc qua túi cùng âm đạo trong một

số ít trường hợp

Trong đó, đẻ thường và đẻ mổ mà Bệnh viện đang thực hiện bao gồm (1)

đẻ thường ngôi chỏm, (2) đẻ thường ngôi ngược, (3) mổ lấy thai cho một thai,(4) mổ lấy thai chủ động, và (5) mổ lấy thai cấp cứu

1.7 Giới thiệu về Bệnh viện Thanh Nhàn

1.7.1 Thông tin chung về Bệnh viện Thanh Nhàn

Bệnh viện Thanh Nhàn là bệnh viện đa khoa hạng I, thực hiện khám vàđiều trị cho hàng chục ngàn lượt bệnh nhân thuộc nhiều loại đối tượng khácnhau bệnh viện đã xây dựng hoàn chỉnh hai chuyên khoa đầu ngành là Nộikhoa và Chẩn đoán hình ảnh Với tổng số cán bộ công chức và viên chức đạtgần 1.000 người, đến nay Bệnh viân Thanh Nhàn đã trở thành một trongnhững bệnh viện có quy mô lớn và hiện đại của Thủ đô

Khởi đầu từ bệnh xá Mai Hương được xây dựng tại đầu ngõ Mai Hương(nay là phố Hồng Mai), quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, năm 1958 mới chỉ có

Trang 38

căn nhà 5 gian, 5 giường bệnh và 16 cán bộ công nhân viên do bác sĩ Liênlàm Bệnh xá trưởng Năm 1964, phát triển thành Bệnh viện Hai Bà Trưng.Đến năm 1967, hoàn thành xây dựng và cải tạo quy mô 45 giường do bác sĩPhan Văn Diễm làm Bệnh viện trưởng, lúc đó bệnh viện có 65 cán bộ côngnhân viên Năm 1972, bệnh viện bắt đầu xây dựng với quy mô 600 giườngbệnh trên diện tích 50.000m2 ở phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, HàNội Với quy mô và tần xuất khám chữa bệnh vào loại lớn nhất lúc bấy giờ,bệnh viện phát triển thành một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh với nhiệm vụ vềđầu ngành nội khoa Quyết định số 184/QĐ-TCCB ngày 10-11-1992 củaGiám đốc Sở Y tế Hà Nội đã chuyển Khối nội cùng 87 CBCNV của Bệnhviện Việt Nam - Cu-ba về Bệnh viện Hai Bà Trưng Sau đó được đổi tênthành Bệnh viện Thanh Nhàn.

Hiện nay, bệnh viện đã áp dụng kỹ thuật lâm sàng và cận lâm sàng đểcấp cứu, chẩn đoán và điều trị bệnh nhân Bệnh viện được giao chỉ tiêu 480giường, nhưng đã thực hiện được 680 giường Mặc dù vượt chỉ tiêu kế hoạchnhưng do bệnh viện có nhiều giải pháp chống quá tải nên bệnh nhân nằm việnkhông phải nằm ghép Ngoài ra, vào những giờ cao điểm, bệnh viện còn điềuđộng bác sĩ xuống khoa khám bệnh để giải quyết kịp thời cho người bệnh.Trong nhiều năm, bệnh viện không để ra sai sót chuyên môn trong chẩn đoán

và điều trị Bệnh viện nhận được nhiều ý kiến khen và thư khen của Chủ tịchnước, Thủ tướng Chính phủ và không có thư khiếu nại của người bệnh, giađình người bệnh Hằng ngày có tới 6.000 lượt người giao dịch với bệnh viện,điều này cũng cho thấy nhân lực và vật lực đã đáp ứng nhu cầu khám chữabệnh cho nhân dân, cũng như phản ánh năng lực quản lý điều hành của lãnhđạo bệnh viện

Mang tên mới trong suốt hơn mười năm qua và không ngừng đổi mới,nâng cao nghiệp vụ, sẵn sàng với khẩu hiệu “Phục vụ tốt nhất có thể”, Bệnhviện Thanh Nhàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của ngành y tế, thực hiện đúnglời Bác Hồ dạy: “Lương y như từ mẫu – Thầy thuốc như mẹ hiền”

1.7.2 Cơ cấu tổ chức Bệnh viện Thanh Nhàn

Ban Giám đốc

Trang 39

Các phòng chức năng

Cơ cấu bộ máy các phòng chức năng Bệnh viện Thanh Nhàn gồm:Phòng Tổ chức Cán bộ; Phòng Kế hoạch - Tổng hợp; Phòng Tài chính Kếtoán; Phòng Hành chính - Quản trị; Phòng Điều dưỡng; Phòng Vật tư – Trangthiết bị y tế; Phòng Chỉ đạo tuyến – Đào tạo và Phòng Công nghệ thông tin

Khối Ngoại – Sản bao gồm Ngoại Tổng quát – Ung bướu, Sản, Tai Mũi - Họng, Răng – Hàm - Mặt, Mắt, Ngoại Chấn thương chỉnh hình, NgoạiTiết niệu – Nam khoa, Ngoại Thần kinh và Ngoại Lồng ngực - Mạch máu.Khối cận lâm sàng gồm Vi sinh, Sinh hóa - Miễn dịch, Huyết học -Truyền máu và Chẩn đoán hình ảnh

-Khối hậu cần gồm Kiểm soát nhiễm khuẩn, Dược và Dinh dưỡng

Giới thiệu Khoa Sản, Bệnh viện Thanh Nhàn

Khoa Sản, Bệnh viện Thanh Nhàn được thành lập từ ngày đầu thành lậpBệnh viện, ban đầu, nguồn nhân lực còn thiếu thốn, lãnh đạo Bệnh viện cùnglãnh đạo bắt đầu chiêu mộ các bác sĩ ở khắp cả nước để bổ sung nhân sự cùngkhoa Sản vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu

Từ chặng đường phát triển, Bệnh viện và Sản đã đạt được quá trình pháttriển vững vàng về chuyên môn và toàn diện Sản, Bệnh viện Thanh Nhàn đãđược xếp loại bệnh viện hạng I với đội ngũ 10 BS, 25 NHS và 80 giườngbệnh đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe và KCB cho người dân trong quậncũng như các vùng lân cận phía đông thành phố

Trang 40

 Hỗ trợ và giảng dạy sinh viên thực tập tại khoa.

Hoạt động chuyên môn:

 Với đội ngũ 10 BS, 30 NHS, kỹ thuật viên và 80 giường bệnh đáp ứngnhu cầu chăm sóc sức khỏe và KCB cho người dân trong quận cũng như cácvùng lân cận của thành phố

 Khoa Sản hiện nay điều trị được hầu hết các bệnh về phụ như phẫuthuật nội soi u nang buồng trứng, u xơ tử cung, thai ngoài tử cung, mổ sa sinhdục, điều trị rong kinh, rong huyết, viêm nhiễm phụ khoa…

 Thực hiện tốt các kỹ thuật chuyên môn như sanh thường, sanh khó vàphẫu thuật mổ lấy thai

 Khoa Sản đã phối hợp với Phẫu thuật – Gây mê hồi sức triển khai dịch

vụ đẻ không đau, góp phần giảm sự đau đớn và mệt mỏi của sản phụ trongquá trình sinh đẻ làm tăng tỉ lệ sanh thường đảm bảo tốt sức khỏe và giảmbiến chứng cho mẹ và bé

 Khoa Sản cũng đã triển khai các loại hình dịch vụ như: sinh dịch vụ,

mổ dịch vụ, phòng dịch vụ với giá cả phù hợp với mức sống của người dân

Ngày đăng: 23/08/2019, 08:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Goerge Porter Purvis, Nguyễn Thị Hồng Hà, Nguyễn Xuân Thành và cộng sự (2011), Chương 4: Quản lý tài chính bệnh viện, Một số kiến thức cơ bản về quản lý bệnh viện, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến thức cơ bản về"quản lý bệnh viện
Tác giả: Goerge Porter Purvis, Nguyễn Thị Hồng Hà, Nguyễn Xuân Thành và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
15. Phạm Thị Hoa Hồng (2006), Các chỉ định mổ lấy thai, Bài giảng sản phụ khoa, Nhà xuất bản Y học, tr. 105 - 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sản phụ"khoa
Tác giả: Phạm Thị Hoa Hồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
16. Mai Thị Huế (2006), Vỡ tử cung, Bài giảng sản phụ khoa, Nhà xuất bản Y học, tr. 153 - 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sản phụ khoa
Tác giả: Mai Thị Huế
Nhà XB: Nhà xuất bản Yhọc
Năm: 2006
17. Nguyễn Việt Hùng (2006), Sinh lý chuyển dạ, Bài giảng sản phụ khoa, Nhà xuất bản Y học, tr. 84-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sản phụ khoa
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2006
18. Lương Ngọc Khuê và cộng sự (2012) Xác định mức độ ảnh hưởng của chi trả viện phí lên kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam. Hội nghị khoa học Kinh tế Y tế lần thứ II. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị khoa học Kinh tế Y tế"lần thứ II
19. Dương Huy Liệu, Nguyễn Hoàng Long, Sarah Bales và cộng sự (2005), Nghiên cứu chi phí điều trị một số nhóm bệnh tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, Dự án thành phần chính sách y tế, Chương trình hợp tác y tế Việt Nam - Thuỵ Điển, Bộ Y tế, 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chi phí điều trị một số nhóm bệnh tại bệnh viện đa khoa tuyến"tỉnh
Tác giả: Dương Huy Liệu, Nguyễn Hoàng Long, Sarah Bales và cộng sự
Năm: 2005
20. Hoàng Văn Minh (2012), Khái niệm, phân loại và tính toán chi phí y tế, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm, phân loại và tính toán chi phí y tế
Tác giả: Hoàng Văn Minh
Năm: 2012
21. Hoàng Văn Minh, Nguyễn Thị Mai An (2013), "Phân tích chi phí điều trị một số bệnh thường gặp tại bệnh viện huyện Thanh Oai, Hà Nội, 2009", Tạp chí Y học Thực hành, 878 (7), tr. 147 - 150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chi phí điều trị mộtsố bệnh thường gặp tại bệnh viện huyện Thanh Oai, Hà Nội, 2009
Tác giả: Hoàng Văn Minh, Nguyễn Thị Mai An
Năm: 2013
22. Võ Văn Thắng, Hồ Thanh Phong (2011), "Nghiên cứu chi phí điều trị nội trú của người bệnh có bảo hiểm y tế tại Khoa Ngoại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai", Tạp chí Y học Thực hành, 774 (7/2011), tr. 63-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chi phí điều trị nội trúcủa người bệnh có bảo hiểm y tế tại Khoa Ngoại Bệnh viện đa khoa tỉnhĐồng Nai
Tác giả: Võ Văn Thắng, Hồ Thanh Phong
Năm: 2011
13/5/2008 về "Kết quả giám sát thực hiện chính sách pháp luật về xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân".TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả giám sát thực hiện chính sách pháp luật về xã hội hóacông tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
26. Acharya, J., Kaehler N., Marahatta S. B., et al. (2016), "Hidden Costs of Hospital Based Delivery from Two Tertiary Hospitals in Western Nepal", PloS one, 11 (6), pg. e0157746 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hidden Costs ofHospital Based Delivery from Two Tertiary Hospitals in Western Nepal
Tác giả: Acharya, J., Kaehler N., Marahatta S. B., et al
Năm: 2016
27. Canadian Institute for Health Information (2006), Giving birth in Canada the costs Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giving birth in Canada the
Tác giả: Canadian Institute for Health Information
Năm: 2006
28. CLARK, L., MUGFORD M., PATERSON C. (1991), "How does the mode of delivery affect the cost of maternity care?", BJOG: An International Journal of Obstetrics & Gynaecology, 98 (6), pg. 519-523 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How does the mode ofdelivery affect the cost of maternity care
Tác giả: CLARK, L., MUGFORD M., PATERSON C
Năm: 1991
29. Fabricant, S. (2002), Cost analysis of essential health services in Cambodia, 30. Fawsitt, C. G., Bourke J., Greene R. A., et al. (2013), "At what price? A cost-effectiveness analysis comparing trial of labour after previous caesarean versus elective repeat caesarean delivery", PloS one, 8 (3), pg. e58577 Sách, tạp chí
Tiêu đề: At what price? A cost-effectiveness analysis comparing trial of labour after previous caesareanversus elective repeat caesarean delivery
Tác giả: Fabricant, S. (2002), Cost analysis of essential health services in Cambodia, 30. Fawsitt, C. G., Bourke J., Greene R. A., et al
Năm: 2013
31. Garrison, R. H., Noreen E. W., Brewer P. C., et al. (2010), "Managerial accounting", Issues in Accounting Education, 25 (4), pg. 792-793 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerialaccounting
Tác giả: Garrison, R. H., Noreen E. W., Brewer P. C., et al
Năm: 2010
32. Gilliam, M., Rosenberg D., Davis F. (2002), "The likelihood of placenta previa with greater number of cesarean deliveries and higher parity", Obstetrics &Gynecology, 99 (6), pp. 976-980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The likelihood of placenta previawith greater number of cesarean deliveries and higher parity
Tác giả: Gilliam, M., Rosenberg D., Davis F
Năm: 2002
33. Họger, R. M., Daltveit A. K., Hofoss D., et al. (2004), "Complications of cesarean deliveries: rates and risk factors", American journal of obstetrics and gynecology, 190 (2), pp. 428-434 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Complications ofcesarean deliveries: rates and risk factors
Tác giả: Họger, R. M., Daltveit A. K., Hofoss D., et al
Năm: 2004
34. Harper, M. A., Byington R. P., Espeland M. A., et al. (2003), "Pregnancy Related Death and Health Care Services", Obstetrics & Gynecology, 102 (2), pp. 273-278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PregnancyRelated Death and Health Care Services
Tác giả: Harper, M. A., Byington R. P., Espeland M. A., et al
Năm: 2003
35. Healthcare, T. (2007), "The healthcare costs of having a baby", Santa Barbara, CA Sách, tạp chí
Tiêu đề: The healthcare costs of having a baby
Tác giả: Healthcare, T
Năm: 2007
37. Hsia, R. Y., Antwi Y. A., Weber E. (2014), "Analysis of variation in charges and prices paid for vaginal and caesarean section births: a cross-sectional study", BMJ open, 4 (1), pg. e004017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis of variation in chargesand prices paid for vaginal and caesarean section births: a cross-sectionalstudy
Tác giả: Hsia, R. Y., Antwi Y. A., Weber E
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w