1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp việt nam nghiên cứu trường hợp thành phố hà nội

184 144 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tại bàn Từ việc tổng quan nghiên cứu và thông qua nghiên cứu trên một số các trang web có uy tín như https://scholar.google.com.vn/, http://search.proquest.com/, http://www.s

Trang 1

-H Néi, N¡M 2019

Trang 2

!"#$#%

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:

1 PGS TS NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

2 TS HOÀNG THỊ MINH CHÂU

H Néi, N¡M 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Phạm Thị Mỹ Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời cảm ơn đầu tiên tác giả xin được gửi đến các thầy cô giáo Viện Ngân hàng Tài chính của trường Đại học Kinh tế quốc dân đã luôn nhiệt tình tư vấn và hỗ trợ trong suốt quá trình nghiên cứu Luận án Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế quốc dân, tập thể sư phạm Viện Đào tạo Sau đại học, đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành được luận án Đặc biệt, tác giả muốn dành tình cảm và lời cảm ơn sâu sắc nhất tới hai giảng viên hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Thị Thùy Dương và TS Hoàng Thị Minh Châu đã luôn sát cánh bên tác giả, có những hỗ trợ, định hướng nghiên cứu và tư duy khoa học rõ ràng trong những năm tháng tác giả thực hiện nghiên cứu này

Để hoàn thành luận án, không thể thiếu sự giúp đỡ của bạn bè, của các doanh nghiệp, của các thầy cô giáo trong trường, sự hỗ trợ của bạn bè, người thân đã cổ vũ và tạo động lực để tác giả vượt qua khó khăn Cuối cùng, xin được gửi tặng kết quả cho gia đình thân yêu đã đồng hành cùng tác giả trong quá trình nghiên cứu Chính sự yêu thương, chia sẻ và niềm tin của mọi người là động lực to lớn cho tác giả hoàn thành Luận án

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận án

Phạm Thị Mỹ Linh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ ix

GIỚI THIỆU CHUNG 1

1 Giới thiệu về luận án 1

2 Sự cần thiết của đề tài 1

3 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu 2

3.1 Mục tiêu tổng quát 2

3.2 Mục tiêu cụ thể 3

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Nghiên cứu tại bàn 4

5.2 Nghiên cứu định tính 4

5.3 Nghiên cứu định lượng 4

5.4 Kết cấu của luận án 4

Kết luận phần giới thiệu chung 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam 7

1.2 Tổng quan nghiên cứu trên thế giới 10

1.2.1 Các hướng nghiên cứu về tuân thủ thuế 11

1.2.2 Các mô hình trong nghiên cứu tuân thủ thuế 14

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế 20

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 25

Kết luận chương 1 26

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 27

2.1 Các khái niệm 27

2.2 Phân loại tuân thủ thuế 30

2.3 Các lý thuyết được sử dụng trong các nghiên cứu tuân thủ thuế 33

2.3.1 Lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng 33

2.3.2 Lý thuyết triển vọng 34

Trang 6

2.3.3 Thuyết kỳ vọng 35

2.3.4 Lý thuyết răn đe 36

2.3.5 Lý thuyết hành động hợp lý 36

2.3.6 Lý thuyết thể chế thiếu quy tắc (Institutional Anomie Theory (IAT)) 39

3.3.7 Lý thuyết Người đại diện 39

2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 40

2.5 Các giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam 42

Kết luận chương 2 50

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 51

3.1 Nghiên cứu định tính 51

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu định tính 51

3.1.2 Kết quả nghiên cứu định tính 52

3.1.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu điều chỉnh sau nghiên cứu định tính 54

3.2 Nghiên cứu định lượng 56

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng 56

3.2.2 Thang đo các biến 57

3.2.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 63

3.2.4 Chọn mẫu nghiên cứu chính thức 64

Kết luận chương 3 65

CHƯƠNG 4: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 66

4.1 Thống kê mô tả đối tượng phỏng vấn trong mẫu nghiên cứu 66

4.2 Thực trạng tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội 75

4.2.1 Khái quát về Cục thuế Hà Nội và các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội 75

4.2.2 Cơ sở pháp lý đánh giá hoạt động tuân thủ thuế của người nộp thuế 76

4.2.3 Thực trạng tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội từ số liệu của cơ quan thuế 78

4.2.4 Thực trạng tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội từ đánh giá của các doanh nghiệp nộp thuế 89

4.3 Kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 92

4.3.1 Đánh giá độ tin cậy các thang đo bằng Cronbach’s alpha 93

4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 97

Trang 7

4.3.3 Mô hình hồi quy đa biến đánh giá tác động các nhân tố tới hành vi tuân thủ

thuế của người nộp thuế 103

4.3.4 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) của các biến độc lập 113

4.3.5 Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 118

Kết luận chương 4 134

CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ TỔNG KẾT 135

5.1 Một số kiến nghị 135

5.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế 135

5.1.2 Hoàn thiện công tác quản lý thuế 137

5.2 Các đóng góp của luận án 144

5.3 Các hạn chế của luận án 146

5.4 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 147

Kết luận chương 5 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 149

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

PHỤ LỤC 163

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tóm tắt định nghĩa các biến 41

Bảng 2.2: Tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu 49

Bảng 3.1: Các giả thuyết nghiên cứu sau nghiên cứu định tính 55

Bảng 3.2: Trình tự thực hiện nghiên cứu định lượng 56

Bảng 3.3: Bảng tóm tắt các thang đo 61

Bảng 4.1: Thông tin về doanh nghiệp đã tham gia khảo sát 66

Bảng 4.2: Bảng thống kê các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 76

Bảng 4.3: Bảng thống kê công tác tuyên truyền năm 2014, 2015, 2016, 2017 79

Bảng 4.4: Bảng thống kê công tác hỗ trợ DN năm 2014, 2015, 2016, 2017 80

Bảng 4.5: Đánh giá tuân thủ kê khai thuế của người nộp thuế 82

Bảng 4.6: Đánh giá tuân thủ thanh toán thuế của người nộp thuế 84

Bảng 4.7: Đánh giá tuân thủ báo cáo của người nộp thuế 86

Bảng 4.8: Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của biến tuân thủ thuế bắt buộc 93 Bảng 4.9: Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của biến tuân thủ thuế tự nguyện 93

Bảng 4.10: Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của biến Khả năng bị kiểm tra 94

Bảng 4.11: Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của biến Xử phạt 95

Bảng 4.12: Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của biến Danh tiếng 95

Bảng 4.13: Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của biến Chuẩn mực xã hội 96

Bảng 4.14: Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của biến Đạo đức thuế 96

Bảng 4.15: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến Khả năng bị kiểm tra 97

Bảng 4.16: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến Xử phạt 98

Bảng 4.17: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến Chuẩn mực xã hội 98

Bảng 4.18: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến Đạo đức thuế 99

Bảng 4.19: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến Danh tiếng 99

Bảng 4.20: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến Tuân thủ bắt buộc 100

Bảng 4.21: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến Tuân thủ tự nguyện 100

Bảng 4.22: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến Tuân thủ thuế 101

Bảng 4.23: Kết quả phân tích nhân tố khám phá đồng thời các biến 101

Bảng 4.24: Kết quả tải về các nhân tố sau khi xoay các ma trận 102

Bảng 4.25: Bảng phân tích hồi quy các biến độc lập với biến tuân thủ thuế bắt buộc 103

Bảng 4.26: Bảng phân tích hồi quy các biến độc lập với biến tuân thủ thuế tự nguyện 104

Bảng 4.27: Bảng phân tích hồi quy biến tuân thủ thuế với biến tuân thủ thuế tự nguyện 104 Bảng 4.28: Bảng phân tích hồi quy biến tuân thủ thuế với biến tuân thủ thuế bắt buộc 105 Bảng 4.29: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 105

Bảng 4.30: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 105

Bảng 4.31: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 106

Bảng 4.32: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 106

Trang 10

Bảng 4.33: Bảng phân tích hiện tượng đa cộng tuyến của các biến nghiên cứu 106

Bảng 4.34: Bảng phân tích hiện tượng đa cộng tuyến của các biến nghiên cứu 107

Bảng 4.35: Bảng phân tích hiện tượng đa cộng tuyến của các biến nghiên cứu 107

Bảng 4.36: Bảng phân tích hiện tượng đa cộng tuyến của các biến nghiên cứu 107

Bảng 4.37: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 108

Bảng 4.38: Bảng phân tích hiện tượng đa cộng tuyến của các biến nghiên cứu 108

Bảng 4.39: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 109

Bảng 4.40: Bảng phân tích hiện tượng đa cộng tuyến của các biến nghiên cứu 110

Bảng 4.41: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 111

Bảng 4.42: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 111

Bảng 4.43: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 112

Bảng 4.44: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 112

Bảng 4.45: Kết quả ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn 113

Bảng 4.46: Bảng kết quả sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu thực tế sau khi móc nối e3 và e5 114

Bảng 4.47: Kết quả ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn sau khi móc nối e3 và e5 115

Bảng 4.48: Kết quả ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn sau khi móc nối e2 và e4 117

Bảng 4.49: Bảng kết quả sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu thực tế sau khi móc nối e2 và e4 117

Bảng 4.50: Bảng kết quả sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu thực tế 118

Bảng 4.51: Bảng kết quả sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu thực tế 120

Bảng 4.52: Kết quả ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn cuả toàn bộ các biến trong mô hình 120

Bảng 4.53: Bảng kết quả sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu thực tế 121

Bảng 4.54: Bảng các trọng số hồi quy 123

Bảng 4.55: Bảng các trọng số hồi quy chuẩn hóa (Standardized Regression Weights) 125

Bảng 4.56: Bảng các trọng số hồi quy chuẩn hóa (Standardized Regression Weights) 127 Bảng 4.57: Bảng phân tích hồi quy các biến độc lập với biến tuân thủ thuế bắt buộc 129

Bảng 4.58: Bảng phân tích hồi quy các biến độc lập với biến tuân thủ thuế tự nguyện 129

Bảng 4.59: Bảng phân tích hiện tượng đa cộng tuyến của các biến nghiên cứu 130

Bảng 4.60: Bảng phân tích hiện tượng đa cộng tuyến của các biến nghiên cứu 130

Bảng 4.61: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 130 Bảng 4.62: Bảng phân tích mức độ phù hợp của mô hình thông qua phân tích ANOVA 131

Bảng 4.63: Bảng kết quả sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu thực tế 131

Bảng 4.64: Bảng các trọng số hồi quy chuẩn hóa (Standardized Regression Weights) 133

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ Biểu đồ:

Biểu đồ 4.1: Ý kiến của người nộp thuế về chính sách thuế 68

Biểu đồ 4.2: Đánh giá của doanh nghiệp về thủ tục hành chính thuế 69

Biểu đồ 4.3: Đánh giá về hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế 70

Biểu đồ 4.4: Đánh giá các hình thức xử phạt và mức xử phạt vi phạm thuế 71

Biểu đồ 4.5 : Đánh giá sự am hiểu nghĩa vụ và pháp luật thuế của người nộp thuế 72

Biểu đồ 4.6: Mức độ hài lòng về công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 73

Biểu đồ 4.7: Đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế với công chức thuế 74

Hình vẽ: Hình 1.1 Mô hình tuân thủ thuế của Strumpel 16

Hình 1.2: Mô hình Tài chính Tư lợi 18

Hình 1.3: Mô hình Fischer mở rộng 18

Hình 1.4: Mô hình hiểu biết về thuế 19

Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lí (TRA) 37

Hình 2.2: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) 38

Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất 41

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu sau nghiên cứu định tính 55

Hình 4.1: Kết quả đánh giá sự phù hợp của toàn bộ mô hình 116

Hình 4.2: Mô hình kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (lần 1) 118

Hình 4.3: Mô hình kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (mô hình đã chuẩn hóa) 119

Hình 4.4: Mô hình kiểm định giả thuyết nghiên cứu 122

Hình 4.5: Các giả thuyết đã được kiểm định 126

Hình 4.6: Mô hình kiểm định giả thuyết nghiên cứu có thêm biến sở hữu 132

Trang 12

GIỚI THIỆU CHUNG

1 Giới thiệu về luận án

Luận án Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt

đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng, hình, chữ viết tắt, giới thiệu chung về luận

án, nội dung của luận án và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung chính của luận án bao gồm 5 chương, trong đó: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu; Chương 2: Cơ

sở lý luận, mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu; Chương 3: Thiết kế nghiên cứu; Chương 4: Bối cảnh nghiên cứu và phân tích dữ liệu nghiên cứu; Chương 5: Kiến nghị và tổng kết Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế Phương pháp nghiên cứu chính là kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích định lượng với kỹ thuật phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) Với nghiên cứu trên mẫu lớn kết hợp với phỏng vấn chuyên gia, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố nghiên cứu đến tuân thủ thuế Kết quả nghiên cứu là cơ sở

đề xuất các giải pháp làm tăng tuân thủ thuế của người nộp thuế

2 Sự cần thiết của đề tài

Thuế được coi là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, là công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy đầu tư, kiềm chế lạm phát, bảo

hộ nền sản xuất trong nước, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, phân phối lại của cải, thu nhập trong xã hội Xu thế chung của ngành thuế các nước trên thế giới đều muốn cải thiện mối quan hệ giữa người thu thuế và người nộp thuế từ quan hệ “đối đầu” sang quan hệ “bạn đồng hành” cùng thực hiện nhiệm vụ chung cho Nhà nước Để thực hiện được mục tiêu đó, ngành thuế Việt Nam đã có những thay đổi về phương thức và cách thức tổ chức thu thuế, từ cơ chế tổ chức thu thuế theo hình thức “thông báo thuế” đến cơ chế người nộp thuế tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về kê khai, nộp thuế Cơ chế tự tính, tự khai thuế vốn được coi là cơ chế quản lý thuế tiên tiến được

áp dụng ở nhiều nước trên thế giới nhưng trong trường hợp người nộp thuế không tuân thủ thuế tốt cùng với năng lực quản lý thuế yếu kém, không thể phát hiện các gian lận của người nộp thuế, cơ chế tự khai, tự nộp sẽ không phát huy hiệu quả ngược lại còn làm thất thoát số tiền thu thuế của ngân sách Nhà nước Nhiều quốc gia hiện nay hướng vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế Mục đích của của chiến lược này là tìm ra các nhân tố có tác động mạnh đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp quản lý thu thuế hiệu quả đặc biệt tập trung

Trang 13

tăng cường tính tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp và làm thay đổi hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp

Hà Nội vừa là thủ đô, vừa là trung tâm kinh tế đầu tàu của cả nước Theo số liệu

từ Vietnam Report, mặc dù xếp thứ hai về số lượng doanh nghiệp sau TP Hồ Chí Minh trong Top 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp nhiều nhất nhưng

tỷ lệ nộp thuế của các doanh nghiệp tại Hà Nội cao hơn TP Hồ Chí Minh và chiếm gần 40% trong bảng xếp hạng 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam Trong 3 năm gần đây, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới tại Hà Nội không ngừng tăng lên Theo Tổng số liệu từ cục thống kê thành phố Hà Nội, năm 2017, Hà Nội có 24.545 doanh nghiệp thành lập mới, nhiều đứng thứ 2 cả nước Ước tính, năm

2018, Hà Nội cấp giấy chứng nhận thành lập mới cho 25.742 doanh nghiệp nâng tổng

số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội lên 255.280 doanh nghiệp Nghiên cứu, đánh giá các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế để từ đó có cách ứng xử phù hợp, hiệu quả trong thực tiễn điều hành quản lí thuế là nhiệm vụ cốt lõi của cơ quan quản lý thuế Hà Nội

Mặt khác, thông qua hình thức phỏng vấn các chuyên gia và qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy Hà Nội, ngoài việc là trung tâm kinh tế lớn thứ hai cả nước, hầu hết các doanh nghiệp lớn tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Bắc đều có chi nhánh, công ty con, cơ sở trực thuộc hoặc văn phòng đại diện tại thủ đô Hà Nội Cũng thông qua phỏng vấn sâu tác giả ghi nhận, các đơn vị trong cùng hệ thống, cùng đơn vị thường có hành vi nộp thuế, tuân thủ thuế như nhau Điều này khiến cho mẫu nghiên cứu của tác giả tại Hà Nội mang tính đại diện cao

Nghiên cứu về tuân thủ thuế đã được thực hiện nhiều nhưng chiều tác động và mức độ ảnh hưởng còn chưa thống nhất, có sự khác biệt ở từng bối cảnh nghiên cứu cụ thể Tại Việt Nam, nghiên cứu về tuân thủ thuế có sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp phương pháp định lượng còn chưa nhiều

Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến

tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội làm đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội Trên cơ sở

Trang 14

kết quả nghiên cứu, đề xuất kiến nghị để hoàn thiện chính sách, pháp luật về thuế nhằm tăng cường tuân thủ thuế của người nộp thuế

3.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các lý thuyết gốc về tuân thủ thuế và các nhân

tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế

(2) Nghiên cứu ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội

(3) Thông qua kiểm định mô hình nghiên cứu trên mẫu nghiên cứu, kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố với nhân tố tuân thủ thế trong nền kinh tế đang chuyển đổi ở Việt Nam để tìm ra sự khác biệt với các nghiên cứu tại các nền kinh tế

đã phát triển

(4) Gợi ý một số đề xuất giúp hoàn thiện chính sách, pháp luật về thuế; đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý thuế tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong tuân thủ pháp luật thuế

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án tập trung trả lời một số câu hỏi nghiên cứu sau:

- Tuân thủ thuế là gì? Các hướng tiếp cận nghiên cứu tuân thủ thuế? Các lý thuyết gốc và các nhân tố trong các nghiên cứu về tuân thủ thuế?

- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tuân thủ thuế tự nguyện, tuân thủ thuế bắt buộc, tuân thủ thuế và mức độ ảnh hưởng?

- Thực trạng tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội?

- Những khuyến nghị nào cho các nhà hoạch định chính sách thuế và cơ quan thuế nhằm tăng cường hành vi tuân thủ thuế đặc biệt tập trung vào tăng cường tuân thủ

tự nguyện của doanh nghiệp?

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nhân tố khả năng bị kiểm tra thuế, xử phạt, chuẩn mực xã hội, danh tiếng doanh nghiệp, đạo đức thuế, sở hữu, tuân thủ tự nguyện, tuân thủ bắt buộc

Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu tại bàn

Từ việc tổng quan nghiên cứu và thông qua nghiên cứu trên một số các trang web có uy tín như https://scholar.google.com.vn/, http://search.proquest.com/, http://www.sciencedirect.com … Trong mỗi nghiên cứu, tác giả tìm hiểu các nội dung như: Cơ sở lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu, các nhân tố trong nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những thành tựu và những hạn chế của nghiên cứu; tổng kết các hướng nghiên cứu chính về tuân thủ thuế trên thế giới, các lý thuyết gốc được sử dụng trong các nghiên cứu từ đó nêu được khoảng trống nghiên cứu, xây dựng hướng nghiên cứu của đề tài, làm rõ các khái niệm của nhân tố tuân thủ thuế cũng như các nhân

tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế, xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu sơ bộ

5.2 Nghiên cứu định tính

Dựa vào mô hình nghiên cứu được xây dựng ở bước trên, tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia tư vấn xây dựng chính sách thuế, nhân viên cơ quan thuế và những doanh nghiệp đang thực hiện các nghĩa vụ thuế để đánh giá sự phù hợp của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu, đưa ra ý kiến nên thêm hoặc bỏ nhân tố nào cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Kết quả của bước này sẽ giúp tác giả xây dựng được mô hình nghiên cứu phù hợp hơn với bối cảnh nghiên cứu, điều chỉnh các thang đo của các biến làm cho chúng có độ tin cậy và giá trị hội tụ cao hơn

Phỏng vấn người nộp thuế để tìm hiểu thực trạng tuân thủ thuế của các doanh nghiệp hiện nay theo đánh giá của người nộp thuế

5.3 Nghiên cứu định lượng

Sử dụng bảng hỏi được xây dựng từ tổng quan và các bước nghiên cứu trước để tiến hành thu thập số liệu trên diện rộng với quy mô mẫu lớn, kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu Một số các công cụ nghiên cứu định lượng được tác giả sử dụng như: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; Phân tích hồi quy

đa biến; Phân tích phương sai; Phân tích sợ bộ dữ liệu bằng phân tích nhân tố EFA; Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, Phân tích nhân tố khẳng định CFA và Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

5.4 Kết cấu của luận án

Luận án bao gồm 5 chương, cụ thể:

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU: Khái quát các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới, các hướng nghiên cứu và các mô hình nghiên cứu đã được áp dụng Từ đó tìm ra được khoảng trống nghiên cứu

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU: Đưa ra các khái niệm về thuế, tuân thủ thuế, trốn thuế, tránh thuế Nêu các cách phân loại thuế, các lý thuyết gốc được sử dụng trong các nghiên cứu về tuân thủ thuế Xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU: Trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án

Chương 4: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU: Trình bày thực trạng tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội từ số liệu của cơ quan thuế và từ nhận định của người nộp thuế Trên cơ sở phân tích số liệu sơ cấp thu thập được từ khảo sát, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích số liệu định lượng qua phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để đánh giá mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu, kết hợp với phân tích dữ liệu định tính để trả lời cho các giả thuyết và đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận án

Chương 5: KIẾN NGHỊ VÀ TỔNG KẾT: Trên cơ sở số liệu nghiên cứu, luận

án đã chứng minh các giả thuyết và đưa ra những bình luận làm cơ sở cho những vận dụng thực tế Bên cạnh đó, luận án còn gợi ý những đề xuất giúp tăng cường tuân thủ thuế của người nộp thuế

Trang 17

Kết luận phần giới thiệu chung

Nội dung chính của phần giới thiệu chung nói lên tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu của luận án Quy trình nghiên cứu của luận án, cấu trúc của luận án cũng như tóm tắt điểm đóng góp mới của luận án được trình bày ở chương 1 để người đọc có thể theo dõi một cách rõ ràng và logic cho vấn đề nghiên cứu

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về tuân thủ thuế Trong luận án tiến sỹ kinh tế: Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (nghiên cứu tình huống của Hà Nội), NCS Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) đã nghiên cứu tuân thủ thuế dựa trên lý thuyết về hành vi tuân thủ của Braithwaite Theo Braithwaite, hành vi tuân thủ được chia thành 4 cấp độ là từ chối, miễn cưỡng, chấp nhận, cam kết Từ lý thuyết trên, tác giả đã nghiên cứu tổng quát hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội và chia hành vi tuân thủ thuế thành hai xu hướng tuân thủ thuế rõ rệt Xu hướng thứ nhất là xu hướng tích cực Xu hướng thứ hai là xu hướng tiêu cực và chủ yếu là miễn cưỡng tuân thủ Tuy nhiên có rất ít doanh nghiệp có hành vi tự nguyện tuân thủ thuế Khi nghiên cứu nhân tố quy mô doanh nghiệp với tuân thủ thuế, tác giả nhận thấy có sự ảnh hưởng thuận chiều của 2 nhân tố này Những doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ (dưới 10 lao động và vốn dưới 1 tỷ đồng) chủ yếu là miễn cưỡng tuân thủ thuế với tỷ lệ 67%, chỉ 20% là tuân thủ nghĩa vụ thuế; 4,7% là “ cam kết” còn mức độ “từ chối” là lớn hơn

nhiều so với nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn Khi quy mô tăng lên, doanh nghiệp

có xu hướng tuân thủ tích cực và giảm dần xu hướng tuân thủ tiêu cực Theo quy mô lao động có trên 44% doanh nghiệp từ 10-200 lao động ở cấp độ chấp nhận, cấp độ miễn cưỡng giảm xuống 37% Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn (>200 lao động và vốn >10 tỷ đồng) tình trạng tuân thủ thuế cải thiện hơn Có đến 25% số doanh nghiệp này cam kết hợp tác với cơ quan thuế, thậm chí còn thay mặt cơ quan thuế để

khuyến khích đối tượng nộp thuế khác Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân tố loại hình

doanh nghiệp với nhân tố tuân thủ thuế tác giả đã thấy rằng các doanh nghiệp có vốn Nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện hành vi tuân thủ thuế tích cực Ngược lại, các doanh nghiệp tư nhân, các công ty TNHH và các công ty cổ

phần thường có xu hướng tuân thủ tiêu cực

Trong bài báo nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp tư nhân - Xét trên khía cạnh nộp thuế đúng hạn của TS Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân đăng trên Tạp chí Công Nghệ & Ngân hàng (2012) tác giả đã dựa trên mô hình của Mohd và Ahmad (2011) từ đó thay đổi, bổ sung một

số biến đo lường nhằm giải thích chặt chẽ mức độ ảnh hưởng của các biến đó tác động đến mô hình Tác giả bài báo sử dụng phương pháp hồi quy phi tuyến tính nghiên cứu trên mẫu là 170 doanh nghiệp tư nhân ở thành phố Hồ Chí Minh để chứng minh sự

Trang 19

liên quan giữa biến phụ thuộc là khả năng nộp thuế đúng hạn của doanh nghiệp, các biến độc lập là doanh thu, nợ, tổng tài sản Từ mô hình trên tác giả đã thấy lợi nhuận trước thuế (EBT) có quan hệ ngược chiều với hành vi nộp thuế đúng hạn và ngược với

kỳ vọng của mô hình nghiên cứu Nhân tố tổng thuế phải nộp có quan hệ ngược chiều với hành vi nộp thuế đúng hạn Kết quả của tác giả phù hợp với nghiên cứu của Friedland và các tác giả (1987) về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế về khía cạnh trốn thuế thu nhập Nhân tố ngành nghề cũng có quan hệ ngược chiều với hành vi tuân thủ thuế Phần lớn, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại hàng hóa được mua đi, bán lại là chính, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các hàng hóa trong và ngoài nước, việc chạy đua theo doanh thu và lợi nhuận trong tình hình kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, sự khó khăn trong việc huy động vốn trong các ngân hàng, lãi suất cho vay áp dụng cho các doanh nghiệp tương đối cao hơn mức phạt nộp chậm tiền thuế vào NSNN, áp lực thanh toán đối với các khoản phải trả đúng hạn như lãi vay, thanh toán cho người bán, hàng tồn kho là những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách đối với Nhà nước cụ thể là việc nộp thuế đúng hạn, đôi khi chưa được quan tâm đúng mức Tuy nhiên, phương pháp hồi quy đa biến tác giả sử dụng trong nghiên cứu mới chỉ ra được có sự tác động một chiều của các biến độc lập với biến phụ thuộc, chưa chỉ ra được sự tác động ở chiều ngược lại, chưa tính toán được sai số đo lường, tính toán được các biến tiềm ẩn và biến quan sát một cách rõ ràng

Nghiên cứu “Xoay quanh vấn đề người nộp thuế và tuân thủ thuế” của tác giả Đặng

nghiên cứu có liên quan đến vấn đề tuân thủ thuế của người nộp thuế, tổng quan một số nhân

tố có ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ chưa thực hiện kiểm định liệu các nhân tố có tác động đến tuân thủ thuế hay không

thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015) trên tạp chí Tài chính xác định được các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động của từng yếu tố đến sự tuân thủ thuế của người nộp thuế là các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất đóng trên địa bàn TP HCM Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố độc lập tác động đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp bao gồm (1) cấu trúc hệ thống thuế; (2) đặc điểm doanh nghiệp; (3) chất lượng quản trị công; (4) chất lượng dịch vụ thuế; (5) ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp; (6) các chuẩn mực xã hội; (7) các yếu tố kinh tế Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số đề xuất chính sách thuế nhằm tăng cường tuân thủ thuế của doanh nghiệp

Trang 20

Trong luận án tiến sĩ “Nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp thuế ở Việt Nam” của Lèng Hoàng Minh 2017 tác giả sử dụng phương pháp khảo sát, đối chiếu, phân tích, đánh giá… để chỉ đánh giá thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế của NNT ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2016 và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đó Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ thuế của NNT ở Việt Nam thời gian tới và các điều kiện cần thiết đảm bảo thực hiện thành công các giải pháp đó

Trong bài báo: Ảnh hưởng của chính sách thuế đến tuân thủ thuế: Kết quả khảo sát và một số kiến nghị của ThS Nguyễn Hoàng và PGS, TS Đào Thị Phương Liên đăng trên tạp chí Kinh tế và Phát triển (2013), từ kết quả khảo sát trên 200 doanh nghiệp, tác giả đã thống kê mẫu, đánh giá nhân tố và đưa ra kiến nghị với doanh nghiệp, với người nộp thuế và cơ quan thuế Điểm hạn chế của bài báo là phương pháp nghiên cứu vẫn chỉ dừng ở thống kê mô tả, từ đó đưa ra nhận định và

đề xuất giải pháp

Trong nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập của doanh nghiệp - Nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của Bùi Ngọc Toản (2017) trên Tạp chí khoa học - Đại học Huế sử dụng phương pháp phân tích yếu tố khám phá (EFA), phân tích mô hình hồi quy bội nhằm nhận dạng và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy yếu tố đặc điểm của cơ quan thuế tác động mạnh nhất đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Việc đưa thêm yếu tố mới này và có ý nghĩa thống kê đã tạo nên điểm mới của bài nghiên cứu so với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây

Nhìn chung, các nghiên cứu về tuân thủ thuế tại Việt Nam trước đây chưa nghiên cứu một cách tổng thể các nhóm nhân tố đến hành vi tuân thủ thuế tại Việt Nam Đa số các nghiên cứu về tuân thủ thuế ở Việt Nam trước đây chỉ dừng lại ở mức độ thống kê, mô tả, chưa đưa ra được các bằng chứng khoa học về xu hướng hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế còn chưa nhiều Phạm vi nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây chỉ hạn chế trên một phạm vi một quận, một huyện hoặc chỉ nghiên cứu một khía cạnh của việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp, chưa nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế trên phạm vi rộng Nhân tố danh tiếng doanh nghiệp cũng là nhân tố được đề cập rất hạn chế trong các nghiên cứu trước đây Do vậy, mối quan

Trang 21

hệ, các tác động hay những kết quả của vấn đề này dường như cũng chưa được kiểm chứng, đánh giá đầy đủ

Xuất phát từ tình hình trên, tác giả muốn thực hiện nghiên cứu về các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp từ cách tiếp cận các lý thuyết: Kinh

tế, tâm lý, xã hội, đặc điểm doanh nghiệp trong đó tác giả muốn tập trung nghiên cứu

và kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố khả năng bị kiểm tra thuế, xử phạt, đạo đức thuế, chuẩn mực xã hội hay danh tiếng của người nộp thuế đến nhân tố tuân thủ thuế tại Việt Nam

Bên cạnh đó, tác giả thực hiện nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định nhân tố tác động và chiều tác động đến tự nguyện tuân thủ hay bắt buộc tuân thủ của người nộp thuế

1.2 Tổng quan nghiên cứu trên thế giới

Vào thập niên 80, những nghiên cứu về hành vi trốn thuế và không tuân thủ thuế rất phát triển ở Mỹ cùng với mối quan tâm của chính phủ Mỹ về “Thất thu thuế” (tax gap) Tanzi và Shome (1993) trong thời kỳ này Tax gap được định nghĩa là sự chênh lệch giữa khoản tiền thuế mà người nộp thuế phải đóng và khoản tiền thuế họ thực sự đóng và đóng đúng hạn cho Chính Phủ Đây có thể coi là số tiền thất thu thuế của Chính Phủ trong một khoảng thời gian nhất định (Andreoni và cộng sự, 1998) Tiền thuế thất thu được xem là hậu quả của ba dạng hoạt động: Không nộp hồ sơ khai thuế (Nonfiling); Khai thiếu tiền thuế phải đóng (Underreporting) bao gồm việc khai không đủ nguồn lợi tức kiếm được (understating income), hoặc khai các khoản thuế giảm nhiều hơn số tiền đáng phải khai (overstating deductions); Không đóng đủ số tiền thuế đã khai (Failure to fully pay reported taxes owed) Cùng với nhu cầu thực tế của các Chính phủ trong nỗ lực khuyến khích tăng cường tính tự giác tuân thủ thuế của người nộp thuế, rất nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về vấn đề này đã được thực hiện Xem xét từ quá khứ đến hiện tại, có hai xu hướng nghiên cứu để tiếp cận các vấn đề về tuân thủ thuế đó là cách tiếp cận dựa trên các nhân tố kinh tế và cách tiếp cận dựa trên các nhân tố hành vi Khi tiếp cận bằng phương pháp kinh tế, các nhà nghiên cứu áp dụng các khái niệm kinh tế, trong khi các phương pháp tiếp cận hành vi

áp dụng các khái niệm từ các ngành như tâm lý học và xã hội học Các xu hướng tiếp cận trên được tác giả tổng kết lại trong mục tiếp theo

Trang 22

1.2.1 Các hướng nghiên cứu về tuân thủ thuế

1.2.1.1 Nghiên cứu tuân thủ thuế dựa vào các lý thuyết kinh tế:

Theo ý kiến của rất nhiều chuyên gia nghiên cứu về thuế và tuân thủ thuế trên thế giới, người được xem là tiên phong nghiên cứu về vấn đề trốn thuế và tuân thủ thuế là (Allingham và Sandmo, 1972) và (Srinivasan, 1973) Lý thuyết thỏa dụng được

áp dụng và phát triển bởi Allingham & Sandmo (1972) và (Srinivasan, 1973) được xem như những nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng đầu tiên trên thế giới về hành vi trốn thuế Trong nghiên cứu “Income tax evasion: A theoretical theory analysis”, Allinghan & Sandmo giả định người trốn thuế sẽ được tối đa hóa lợi ích trong các báo cáo về thuế và sự tuân thủ thuế khi những lợi ích kinh tế mà trốn thuế mang lại sẽ nhiều hơn những chi phí Allingham và Sandmo (1972) cho rằng người nộp thuế luôn cố gắng tìm cách tối đa hóa lợi ích thu nhập chịu thuế của họ và việc này chịu tác động bởi nhân tố chi phí tuân thủ và lợi ích của việc trốn thuế Người nộp thuế có thể sẽ lựa chọn việc mạo hiểm trốn tránh tất cả hoặc một phần thu nhập thực tế nếu không bị kiểm tra hồ sơ thuế Tuy nhiên, trong trường hợp bị kiểm tra, việc tuân thủ lại tốt hơn bởi vì khi thanh toán một khoản tiền phạt do trốn thuế sẽ làm giảm thu nhập hơn nhiều so với một khoản thanh toán tiền thuế Theo lý thuyết của Allingham

và Sandmo (1972), quyết định tuân thủ phụ thuộc vào bốn nhân tố chính: Thu nhập thực tế của người nộp thuế, thuế suất, xác suất kiểm toán ( hay xác suất bị kiểm tra thuế) và xử phạt Tác giả giả định người trốn thuế sẽ được tối đa hóa lợi ích trong các báo cáo thuế và sự tuân thủ thuế vì những lợi kinh tế do trốn thuế mang lại nhiều hơn các chi phí phải trả Từ các quan sát của mình, phân tích qua các mô hình toán học, tác giả đã nhận thấy có mối liên hệ theo chiều dương (+) giữa nhân tố xử phạt và sự gia tăng kiểm tra thuế với việc tăng mức thu nhập thực tế mà người chịu thuế kê khai Nhiều nghiên cứu thực nghiệm áp dụng lý thuyết của Allingham & Sandmo sau này cũng khẳng định rằng các biện pháp trừng phạt và khả năng bị kiểm toán sẽ có tác dụng làm giảm bớt việc không tuân thủ thuế (Pate và Hamilton, 1992), (Jackson và Jaouen, 1989), (Shanmugam, 2003), (Dubin, 2007), (Alm và cộng sự, 1992b), (Baldry, 1986), (Webley, 1991) Điểm hạn chế trong lý thuyết của Allingham & Sandmo (1972) là giả định Xác suất kiểm toán (hay xác suất bị kiểm tra) thuế là không đổi mà thực tế thì nhân tố này là không hoàn toàn ngẫu nhiên Ví dụ ở Mỹ, khả năng bị kiểm toán lại bị phụ thuộc vào số thu nhập của người nộp thuế được báo cáo Từ lý thuyết của Allingham & Sandmo (1972), một số nhà nghiên cứu đã phát triển lý thuyết tổng quát hơn trong đó khả năng bị kiểm tra thuế là một hàm của biến thu nhập được báo cáo và được xác định một cách liên kết với việc gian lận thuế như một phần của sự cân

Trang 23

bằng Lý thuyết này không chỉ giúp dự đoán về sự tuân thủ thuế mà còn giúp cơ quan thuế xây dựng một kế hoạch kiểm tra thuế tối ưu Hầu như tất cả các nghiên cứu về tuân thủ thuế sau đó, tiếp cận từ các nhân tố về kinh tế đều sử dụng lý thuyết được phát triển bởi Allingham & Sandmo trong đó nhân tố khả năng bị kiểm toán và xử phạt trong nhiều nghiên cứu được coi là hai nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến việc tuân thủ thuế (Sour, 2001) trong nghiên cứu của mình cũng cho rằng tăng khả năng bị kiểm toán và tăng xử phạt sẽ khuyến khích việc tuân thủ thuế Tuy nhiên, Sour (2001) còn phát hiện ra rằng lý thuyết của Allingham về tăng cường trừng phạt và kiểm toán thuế

để tăng tuân thủ thuế đến một độ nhất định sẽ có một mối quan hệ ngược chiều (-) giữa thuế suất và tuân thủ thuế, lúc này dường như sự tương tác giữa chính phủ với người nộp thuế và việc cung cấp những dịch vụ công cộng có chất lượng của chính Phủ lại có tác động tích cực (+) tới việc tuân thủ thuế của người nộp thuế Mặc dù vậy, điểm hạn chế trong nghiên cứu của (Sour, 2001) là giả định xác suất bị phát hiện gian lận thuế là ngoại sinh và độc lập với thu nhập được báo cáo Trong thực tế, mức độ tuân thủ phụ thuộc vào khả năng bị kiểm tra thuế Đồng thời, khả năng bị kiểm tra thuế phụ thuộc vào mức độ thu nhập kê khai Do đó, về nguyên tắc, sẽ là không thích hợp để xem xét khả năng phát hiện gian lận thuế như là một biến ngoại sinh để giải thích việc tuân thủ Tuy nhiên, trong ngắn hạn, sẽ là khó khăn cho chính phủ để tác động nhiều đến biến này Bởi vậy, phương pháp của nghiên cứu này chỉ phù hợp trong ngắn hạn Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng không xem xét một thực tế là mỗi loại thu nhập có một xác suất

bị kiểm tra khác nhau Mặc dù có nhiều ưu thế trong việc xác định các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế nhưng các nghiên cứu tuân thủ thuế tiếp cận bằng các lý thuyết kinh tế lại không đề cập đến nhân tố đạo đức, tâm lý của người nộp thuế Các phương pháp nghiên cứu từ góc nhìn của các lý thuyết kinh tế luôn giả định rằng nhân tố đạo đức kinh doanh không quan trọng trong các quyết định tuân thủ thuế Trên thực tế, bên cạnh những nhân tố về lợi ích kinh tế, việc tuân thủ thuế còn chịu tác động rất lớn bởi nhân tố tâm lý, đạo đức… của người nộp thuế Bởi vậy, các nhà khoa học lại tiếp tục nghiên cứu những tác động của các nhân tố tâm lý, xã hội đến nhân tố tuân thủ thuế của người nộp thuế

1.2.1.2 Nghiên cứu tuân thủ thuế dựa vào các lý thuyết về xã hội, tâm lý, hành vi

Ở mặt đối diện, nhiều nghiên cứu về tuân thủ thuế lại được dựa trên lý thuyết về

xã hội và tâm lý (Elffers và cộng sự, 1987), (Murphy, 2004), (Tan, 1998), (Hite, 1997)

và (Torgler và Murphy, 2004) Các nghiên cứu này cho rằng, nhân tố con người mới là nhân tố quyết định đến quyết định tuân thủ thuế Theo hiểu biết của tác giả, Torgler là một trong những tên tuổi đầu tiên, nổi tiếng nhất nghiên cứu nhân tố tuân thủ thuế từ

Trang 24

góc nhìn của lý thuyết hành vi, lý thuyết về xã hội, tâm lý (Torgler, 2002), (Cummings

và cộng sự, 2009), (Torgler, 2003a), (Alm và Torgler, 2011), (Torgler, 2005b; Torgler

và cộng sự, 2008; Alm và Torgler, 2006), (Frey và Torgler, 2007), (Torgler, 2005a)….Torgler (2003b) dựa trên quan sát của mình tại Costa Rica và Thụy Sỹ đã nhận thấy rằng những chuẩn mực đạo đức về tuân thủ thuế trong xã hội có ảnh hưởng tích cực đến hành vi tuân thủ thuế được đo lường bằng sự nhận thức tuân thủ thuế của những người nộp thuế khác và thông tin về việc trốn thuế của người nộp thuế khác Tiếp tục kiểm định mối quan hệ giữa nhân tố lòng tin của người nộp thuế vào Chính Phủ và hệ thống luật pháp, tác giả thấy có mối tương quan mạnh mẽ giữa các nhân tố trên với thái độ nộp thuế của người chịu thuế Khi so sánh kết quả quan sát về mức độ tuân thủ thuế giữa Costa Rica và Thụy sỹ, tác giả nhận thấy có sự khác biệt Mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế ở Costa Rica cao hơn đáng kể so với Thụy Sỹ Các kết quả thực nghiệm cho thấy hành vi tuân thủ thuế của các nền văn hóa khác nhau là khác nhau Một điều thú vị trong nghiên cứu của Torgler đã chỉ ra là sự ép buộc không

có tác dụng tích cực với tuân thủ thuế như cách dự đoán tội phạm kinh tế truyền thống

dự báo Thậm chí còn có một mối tương quan nghịch giữa cưỡng chế và tuân thủ thuế Việc bị kiểm tra thuế có ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ đến việc tuân thủ thuế hơn mức

độ hình phạt Điểm hạn chế của phương pháp tiếp cận này như (Andreoni và cộng sự, 1998) nói là các biến về tâm lý và thái độ của người nộp thuế là không có sẵn trong các tờ khai thuế và trong các báo cáo kiểm toán mà phải được thu thập từ việc khảo sát

và bất lợi lớn của dữ liệu khảo sát là chúng được dựa trên tự báo cáo, những thông tin được cung cấp nhiều khi không chính xác và thái độ người được phỏng vấn nhiều khi không ổn định

1.2.1.3 Nghiên cứu tuân thủ thuế kết hợp lý thuyết kinh tế và các lý thuyết về xã hội, tâm lý, hành vi

Theo hướng hiện đại, rất nhiều nghiên cứu về tuân thủ thuế dựa trên cả nhân tố kinh tế và nhân tố tâm lý, xã hội Molero và Pujol (2012) nghiên cứu hành vi trốn thuế

từ việc phân tích chi phí tâm lý của người nộp thuế Mô hình (Molero và Pujol, 2012) đưa ra là sự phát triển thêm từ mô hình của Allingham & Sandmo (1972) được tác giả thêm vào một số nhân tố phi kinh tế như nhân tố “danh tiếng” cho thấy mối quan hệ giữa tuân thủ thuế và ý thức thuế (Molero và Pujol, 2012) giả định rằng người nộp thuế có đạo đức tốt sẽ không có ý định gian lận thuế ngay cả khi họ biết rằng sẽ có thể thu được lợi ích kinh tế rõ ràng nếu làm vậy Tuy nhiên, mô hình (Molero và Pujol, 2012) đưa ra mới chỉ được kiểm tra thực nghiệm trên mẫu nghiên cứu là các sinh viên

Trang 25

Thực tế, đối tượng chính để thực hiện các quy định pháp luật về thuế chủ yếu là không phải là các sinh viên mà là các doanh nghiệp

(Alm và cộng sự, 1992b) cho rằng để khuyến khích người dân tuân thủ thuế các Chính Phủ có thể coi việc phát hiện và trừng phạt là điểm khởi đầu hợp lý nhưng đó sẽ không phải là là một điểm kết thúc tốt đẹp Thay vào đó, điều cần thiết là một cách tiếp cận đa chiều trong đó nhấn mạnh việc thực thi, cũng như các phần thưởng cho việc tuân thủ thuế tốt hơn, việc sử dụng tiền thuế một cách khôn ngoan và thái độ trách nhiệm khi tiêu mỗi đồng thuế của người dân Nói cách khác, tuân thủ thuế có thể được giải thích bằng rất nhiều nhân tố như các nhân tố động lực hành vi cá nhân, các nhân

tố vượt trên cả phương pháp tội phạm kinh tế thông thường bao gồm lý thuyết về hành

vi được đề xuất bởi nhà tâm lý học, xã hội học, và các nhà khoa học xã hội khác Nghiên cứu các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế của người nộp thuế vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu

1.2.1.4 Tiếp cận việc tuân thủ thuế dựa trên nghiên cứu các đặc điểm của doanh nghiệp

Các nhân tố nội tại của doanh nghiệp hay là các đặc điểm riêng của doanh nghiệp và các nhân tố về nhân khẩu hoc cũng có những ảnh hưởng nhất định đến mức

độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp (Abdul-Jabbar và Pope, 2008), (Hanousek và

Palda, 2003), (Torgler, 2002) Đặc điểm doanh nghiệp được thể hiện bởi các thuộc tính như tính phức tạp của cơ cấu tổ chức doanh nghiệp; loại hình doanh nghiệp; quy

mô doanh nghiệp; thời gian hoạt động của doanh nghiệp; hiệu quả hoạt động kinh doanh, tuổi và giới tính của chủ doanh nghiệp Các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra bằng chứng rằng phụ nữ thường ít gian lận thuế hơn nam giới cũng như người lớn tuổi tuân thủ thuế tốt hơn người trẻ

1.2.2 Các mô hình trong nghiên cứu tuân thủ thuế

Nghiên cứu vê tuân thủ thuế đã có từ hơn 40 năm nay Rất nhiều mô hình và lý thuyết đã được áp dụng với mục đích hiểu rõ hơn, đầy đủ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế Theo thời gian, những mô hình nghiên cứu về tuân thủ thuế

đã chuyển đồi dần từ các mô hình nghiên cứu dựa trên những nhân tố thuần kinh tế sang hướng nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố tâm

lý, xã hội Nhìn chung, các nghiên cứu về tuân thủ thuế dựa trên 3 mô hình lý thuyết

đó là mô hình kinh tế-trừng phạt, các mô hình kinh tế-tâm lý và mô hình hành vi Dưới đây, tác giả sẽ trình bày một số mô hình lý thuyết tiêu biểu nhằm giúp hiểu rõ hơn một

Trang 26

số biến kinh tế và phi kinh tế đang được sử dụng trong các mô hình nghiên cứu về tuân thủ thuế hiện nay

* Mô hình tài chính tư lợi của Becker

Hành vi tuân thủ với những nhân tố kinh tế đã được (Becker, 1968) áp dụng trong nghiên cứu thực nghiệm sử dụng các nhân tố tội phạm và khung hình phạt Trong cách tiếp cận của mình, Becker đã được giả định rằng hành vi tuân thủ thuế được xác định bằng những lợi ích bằng tiền thu lại Các cá nhân sẽ phạm pháp nếu lợi ích hoặc phần thưởng

họ nhận được lớn hơn so với những gì sẽ có thể bị mất thông qua các hoạt động hợp pháp Người nộp thuế sẽ trốn thuế miễn là hậu quả của việc bị bắt và bị trừng phạt thấp hơn so với số tiền trốn được Mô hình của (Becker, 1968) là cơ sở quan trọng để (Allingham và Sandmo, 1972) phát triển mô hình chính thức về phân tích hành vi trốn thuế

* Mô hình trốn thuế của Allingham and Sandmo

Mô hình răn đe là mô hình chính thức đầu tiên được phát triển bởi (Allingham

và Sandmo, 1972) để nghiên cứu về tuân thủ thuế Nó là một phần mở rộng, được phát triển bởi mô hình tài chính tư lợi của (Becker, 1968) Các nhân tố quyết định sự tuân thủ, theo mô hình này bao gồm hai nhân tố này, thuế suất và xác suất bị kiểm toán Mô hình này cho thấy xác suất bị kiểm toán tỷ lệ thuận với mức độ tuân thủ thuế nghĩa là một khi xác xuất bị kiểm toán càng tăng thì mức độ tuân thủ thuế cũng tăng theo Trong những năm 1970, nghiên cứu bắt đầu mở rộng các mô hình bằng cách kết hợp các nhân tố khác, để hiểu những quyết định phù hợp, bao gồm cả các công việc của Cowell (1985) và Weiss (1976)

1.2.2.2 Mô hình kinh tế-tâm lý Mô hình tuân thủ thuế của Strumpel

Mô hình kinh tế đã bị chỉ trích gay gắt từ các nhà tâm lý học và xã hội học Có

ý kiến cho rằng mô hình kinh tế cho rằng quyết định của người nộp thuế được hoàn toàn dựa vào việc tối đa hóa lợi ích tài chính và kinh tế Thực tế, có nhiều nhân tố khác

có thể ảnh hưởng đến quyết định của người nộp thuế, chẳng hạn như các nhân tố tâm

lý và xã hội học Những hạn chế của cách tiếp cận này đã mở đường cho sự phát triển

Trang 27

của các mô hình kinh tế-tâm lý tuân thủ thuế Các mô hình này được xây dựng trên cơ

sở các nhân tố tâm lý, người nộp thuế không còn chỉ luôn coi trọng yếu tố tối đa hóa lợi ích mà động lực nộp thuế của người nộp thuế còn dựa vào những yếu tố như niềm tin, đạo đức, cảm xúc…

Mô hình nghiên cứu tuân thủ thuế được phát triển trong nghiên cứu của (Hessing

và cộng sự, 1988) Mô hình Strumpel đã lấy được hai nhân tố chính: sự nghiêm khắc của đánh giá và sự sẵn sàng hợp tác của cơ quan thuế có thể làm tăng mức độ tuân thủ của người nộp thuế Sự nghiêm khắc của đánh giá đo lường số thuế và số tiền phạt trong khi sự sẵn lòng hợp tác của cơ quan thuế liên quan đến thái độ và nhận thức của các cá nhân đối với hệ thống thuế (Kinsey, 1991) Hai nhân tố tác động đến tuân thủ thuế của Strumpel được mô tả trong hình 1.3 dưới đây Biến của sự sẵn sàng hợp tác có tác động tích cực đến tuân thủ thuế Biến sự nghiêm khắc của đánh giá có hai tác dụng trái ngược

về việc tuân thủ thuế Mối quan hệ tích cực trực tiếp với tuân thủ thuế bị ảnh hưởng bởi thuế suất, xử phạt và biến số kinh tế khác trong khi mối quan hệ tiêu cực bị ảnh hưởng bởi mức độ quan liêu tham gia quá trình nộp thuế hoặc các biến phi kinh tế khác

Hình 1.1 Mô hình tuân thủ thuế của Strumpel

Nguồn: Hessing và cộng sự (1988)

1.2.2.3 Mô hình hành vi

Phương pháp nghiên cứu tuân thủ thuế dựa trên lý thuyết hành vi có thể được xem là bước tiến đáng kể trong các nghiên cứu về tuân thủ thuế Có ý kiến cho rằng sự hiểu biết về tuân thủ đã vượt xa những nhân tố răn đe và các yếu tố kinh tế như mô tả trong các mô hình kinh tế Để những nghiên cứu về tuân thủ thuế chính xác hơn, các nhà nghiên cứu đã đưa vào mô hình nghiên cứu của mình các nhân tố cần khám phá như nhân tố tâm lý, đạo đức và nhân tố ảnh hưởng xã hội đến hành vi tuân thủ thuế (Feld và Frey, 2007) coi tuân thủ thuế như một hợp đồng thuế tâm lý đã vượt ra ngoài

mô hình răn đe truyền thống và giải thích tinh thần thuế như một tương tác phức tạp giữa người nộp thuế và chính phủ Cách tiếp cận nghiên cứu về tuân thủ thuế dựa trên

(+)

(+)

Trang 28

các lý thuyết hành vi có một bước tiến lớn giúp việc hiểu biết về tuân thủ thuế mang tính toàn diện hơn Vì vậy, lý thuyết về hành vi cũng như các khía cạnh tâm lý khác như tinh thần, khuyến khích, và cảm xúc giữa người nộp thuế và cơ quan thuế được khám phá để hiểu hành vi tuân thủ và đạt được sự tuân thủ tốt hơn (Feld và Frey, 2007; Bobek và cộng sự, 2007) Các mô hình hành vi chủ yếu dựa vào 2 lý thuyết hành vi là Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và Lý thuyết hành động có kế hoạch (TPB) Mô hình hành vi khác về thuế ví dụ như mô hình Fischer được phát triển trên

cơ sở các nhân tố hành vi, được áp dụng trong các nghiên cứu tuân thủ thuế khác

* Mô hình Vogel

(Vogel, 1974) đã phát triển một mô hình lý thuyết để khám phá những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi trốn thuế Mô hình lý thuyết này dựa trên một nghiên cứu khảo sát đã được thực hiện vào năm 1969 do viện nghiên cứu khảo sát thuộc cục thống kê trung ương Thụy Điển thực hiện Vogel chỉ ra ba nhân tố quyết định của đạo đức thuế, nguyện vọng và trốn thuế đó là (i) Chỉ báo trao đổi, (ii) Chỉ báo định hướng xã hội, và (iii) chỉ báo các cơ hội bất hợp pháp Chỉ báo trao đổi so sánh gánh nặng thuế của cá nhân với các dịch vụ chính phủ người chiu thuế nhận được Nó được giả định rằng việc trao đổi trở nên ít thuận lợi cho cá nhân bởi vì thu nhập tăng lên cùng với việc thuế cận biên cũng tăng, trong khi các dịch vụ xã hội nhận được không thay đổi thậm trí có thể là

ít hơn Định hướng xã hội đề cập đến các tầng lớp xã hội và hiểu biết của về hệ thống thuế Chỉ báo định hướng xã hội cho biết sự nhận thức các quy định về thuế, sự tham gia của các thành viên và việc làm công cộng Đối với chỉ báo cơ hội bất hợp pháp, giả định rằng sự tự làm chủ và những người có thu nhập ngoài lương không chịu thuế tại nguồn

đã có nhiều cơ hội hơn để trốn thuế Liên hệ với người trốn thuế, đây cũng là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến trốn thuế Theo (Vogel, 1974) hành vi tuân thủ của một cá nhân chịu ảnh hưởng bởi người khác hoặc một nhóm người khác bởi vì cá nhân đó hy vọng một phản ứng tích cực từ người khác Một cá nhân thường làm theo hành vi của một người hoặc nhóm người khác bởi vì hành vi này thường sẽ có được sự đồng thuận của người khác và hành vi đó cũng phù hợp với những giá trị của cá nhân đó Bởi vậy, trong mô hình Vogel, ngoài nhân tố tuân thủ bắt buộc là một nhân tố quan trọng đối với người nộp thuế thì chuân mực xã hội, niềm tin và cảm nhận về sự công bằng cũng là những nhân tố có tác động mạnh đến hành vi tuân thủ thuế

* Mô hình Fischer

Từ lý thuyết của Allingham & Sandmo (1972), (Fischer và cộng sự, 1992) đã xây dựng nên mô hình tài chính tư lợi như sau:

Trang 29

Hình 1.2: Mô hình Tài chính Tư lợi

Nguồn: Fischer, Wartick và Mark (1992)

Tuy nhiên, mô hình trên không phản ánh được đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế (Jackson và Milliron, 1986a) từ nghiên cứu một các toàn diện tổng quan tuân thủ thuế đã xác định ra 14 nhân tố quan trọng có tác động đến tuân thủ thuế, những nhân tố này được sắp xếp lại bởi Fischer và cộng sự (Fischer và cộng sự, 1992) thành 4 nhóm nhân

tố trong mô hình mở rộng gọi là mô hình Fischer 4 nhóm nhân tố này bao gồm

- Nhóm nhân tố về nhân khẩu học như tuổi, giới tính, giáo dục

- Nhóm nhân tố về cơ hội không tuân thủ thuế như mức thu nhập, nguồn thu nhập và nghề nghiệp

- Nhóm nhân tố về thái độ và nhận thức như sự công bằng của hệ thống thuế, ảnh hưởng của những người xung quanh

- Nhóm nhân tố về cấu trúc thuế, hệ thống thuế như: Sự phức tạp của hệ thống thuế, khả năng bị phát hiện gian lận thuế và xử phạt, mức thuế suất Như vậy, mô hình tuân thủ thuế Fischer là mô hình có sự kết hợp giữa các nhân

tố kinh tế, xã hội học, tâm lý học và được minh họa bởi mô hình sau đây:

Hành vi tuân thủ thuế

Trang 30

Mô hình Fischer đã được nhiều nghiên cứu sử dụng và đã có những biến đổi cho phù hợp như (Chau và Leung, 2009), (Chan và cộng sự, 2000)

* Mô hình hiểu biết về thuế

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhân tố hiểu biết về thuế là một nhân

tố quan trọng có ảnh hưởng đến quyết định tuân thủ thuế của người nộp thuế Người nộp thuế có kiến thức thuế có nhiều khả năng tuân thủ thuế tốt hơn sơ với người nộp thuế có ít hiết biết hơn về thuế (Eriksen và Fallan, 1996; Hofmann và cộng sự, 2008)

Sự phát triển của các nghiên cứu nhân tố sự hiểu biết về thuế bắt nguồn từ một thực tế

là rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế Chính sách trên chỉ có thể thực hiện được khi người nộp thuế có đủ hiểu biết về thuế để có thể tuân thủ thuế Mặc dù không có mô hình tuân thủ thuế toàn diện có thể được liên kết cụ thể với các kiến thức về thuế, các nghiên cứu khám phá sự hiểu biết về thuế thường được kết hợp với các nhân tố tuân thủ thuế khác trong mô hình tuân thủ thuế như mô hình của (Loo và cộng sự, 2009), mô hình (Palil, 2010) Hình 1.4 dưới đây là một ví dụ về mô hình nghiên cứu tuân thủ thuế trong đó nhấn mạnh nhân tố sự hiểu biết về thuế Ngoài sự hiểu biết về thuế, các nhân tố không kém phần quan trọng khác được đề cập đến là nhân tố khả năng bị kiểm toán, nhận thức về sự chi tiêu của chính phủ, những căng thẳng và khó khăn về tài chính và ảnh hưởng của nhóm người đưa ra

ý kiến tham khảo với hành vi tuân thủ thuế (Palil, 2010)

Hình 1.4: Mô hình hiểu biết về thuế

Nguồn: Palil (2010)

Khả năng bị kiểm toán

Trang 31

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế

Tổng quan nghiên cứu cho thấy, tuân thủ thuế có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ Mối quan tâm chính của các chính phủ là các cá nhân và tổ chức trong xã hội thực hiện nghĩa vụ thuế thực hiện tốt các quy định về thuế không phụ thuộc động cơ tuân thủ thuế Mặc dù vậy, hành vi tuân thủ thuế có thể là kết quả các các động cơ khác nhau Nếu các lý thuyết kinh tế coi người nộp thuế là những người có lý trí, sẽ đặt bài toán kinh tế về tuân thủ thuế để cân nhắc giữa lợi ích và chi phí cũng như sẽ cân nhắc các kết quả có thể xảy ra thì các lý thuyết về tâm lý, xã hội lại xem tuân thủ thuế như một sản phẩm của sự tương tác giữa người nộp thuế với các chuẩn mực đạo đức xã hội, các giá trị và các định chế Quan điểm tâm lý học cho rằng việc tuân thủ thuế là một chức năng của động lực người nộp thuế, ý định và thái độ cá nhân nhằm thực hiện một nghĩa vụ pháp lý Một số cơ sở lý luận (ví dụ, lý thuyết răn đe) đã cố gắng để kết hợp cả hai quan điểm xã hội các vấn đề kinh tế (Weber, 1978) - một nhà kinh tế và xã hội học, một nhà tư tưởng cổ điển đã nhận thức được bản chất kép của việc tuân thủ này Theo ông, đứng trên phương diện kinh tế, ông thừa nhận rằng con người thường hành động khi có những lợi ích về kinh tế, và cố gắng tránh tuân thủ thuế nếu có cơ hội Cùng quan điểm trên, (Friedman, 1970), người đại diện cho lý thuyết trách nhiệm xã hội cho rằng doanh nghiệp vốn là một chủ thể vô tri vô giác do con người tạo ra Do đó, doanh nghiệp không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức vốn chỉ có con nguời mới có và nhiệm vụ chính của doanh nghiệp là vì lợi nhuận Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, (Weber, 1978) cũng cho rằng hành vi của con người có những logic riêng và nhiều khi không chỉ là vì những lợi ích kinh tế Ngoài các lý thuyết xã hội và kinh tế, một loạt các nghiên cứu thực nghiệm trong các ngành khoa học xã hội đã phân tích các nhân tố quyết định sự tuân thủ: tâm lý học tội phạm, xã hội học, tài chính hành vi, hành vi xã hội nghiên cứu về tuân thủ thuế đã được thực hiện Trong khuôn khổ luận án này, tác giả nêu ra một số nhân tố và nhóm nhân tố có trong đa số các nghiên cứu trên thế giới và phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án

1.2.3.1 Nhóm nhân tố kinh tế

Nhóm nhân tố kinh tế trong mối quan hệ với hành vi tuân thủ thuế liên quan đến chi phí và lợi ích khi thực hiện nghĩa vụ thuế (Loo, 2006) (Hasseldine, 1993) Song và (Song và Yarbrough, 1978a) giả định rằng người nộp thuế là những con người kinh tế có lý trí, có thể tính toán được lợi ích và chi phí của việc trốn thuế Các nhân tố tuân thủ thuế liên quan đến nhân tố kinh tế có thể kể đến như mức thuế suất, hoạt động kiểm tra thuế, nhu cầu chi tiêu của chính phủ

Trang 32

Thuế suất: Là một trong những cơ sở tính thuế quan trọng nhất, thuế suất được coi như “linh hồn” của một sắc thuế, có ảnh hưởng trực tiếp đến số thuế phải nộp Tanzi (1980) đã chỉ ra mối quan hệ giữa trốn thuế và thuế suất cận biên, ông cho rằng mức thuế suất có tác động tích cực đến việc nắm giữ tiền và hành vi trốn thuế tăng theo cùng với mức thuế suất cận biên Charles T Clotfelter (1983) chỉ ra nhân tố thuế suất cận biên có quan hệ nhạy cảm và cùng chiều với việc trốn thuế (Jackson và cộng

sự, 1988), (Mason và Calvin, 1984) khẳng định rằng giảm thuế suất cận biên sẽ tạo điều kiện gia tăng tuân thủ thuế Nghĩa là, mức thuế suất càng cao thì người nộp thuế càng có xu hướng trốn thuế Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm của (Collins và Plumlee, 1991) lại cho thấy mức thuế suất càng cao sẽ càng khiến cho người nộp thuế

ít tuân thủ thuế hơn (Alm và cộng sự, 1995) áp dụng các kỹ thuật thực nghiệm để khám phá những yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi trốn thuế ở Tây Ban Nha Các đối tượng đã phải đối mặt với ba cấp độ khác nhau của mức thuế suất theo tỷ lệ (10%, 30% và 50%) Kết quả cho thấy mức thuế suất cao hơn dẫn đến mức độ tuân thủ lớn hơn (tương ứng 14%, 24% và 31%) Kết quả tiêu cực tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của (Alm và cộng sự, 1990) cho người nộp thuế Jamaica

việc tuân thủ thuế của người nộp thuế đã được chứng minh trong rất nhiều các nghiên cứu (Alm và cộng sự, 1992b), (Andreoni và cộng sự, 1998), (Dubin và cộng sự, 1990)… Nhân tố khả năng bị kiểm tra thuế hay chính là khả năng cơ quan thu thuế sẽ phát hiện

ra hành vi không tuân thủ thuế của người nộp thuế (Jackson và Milliron, 1986a) sẽ góp phần ngăn chặn sớm các ý định trốn thuế (Allingham và Sandmo, 1972) và (Srinivasan, 1973) được xem như một trong những người sử dụng phương pháp định lượng đầu tiên trên thế giới để nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi trốn thuế và khả năng bị kiểm tra thuế Trong nghiên cứu “Income tax evasion: a theoretical theory analysis” Allingham

& Sandmo giả định người trốn thuế sẽ được tối đa hóa lợi ích trong các báo cáo thuế và

sự tuân thủ thuế vì những lợi ích tài chính trốn thuế mang lại lớn hơn những chi phí tài chính Từ các quan sát của mình, phân tích qua các mô hình toán học, tác giả đã nhận thấy có mối liên hệ theo chiều dương (+) giữa nhân tố xử phạt và sự gia tăng khả năng

bị kiểm tra thuế với việc tăng mức thu nhập thực tế mà người chịu thuế kê khai Một số nghiên cứu khác cho rằng các cuộc kiểm toán có tác động tích cực đến việc hạn chế gian lận thuế (Jackson và Jaouen, 1989; Shanmugam, 2003; Dubin, 2004) Những phát hiện này cho thấy rằng trong các hệ thống tự đánh giá, kiểm toán thuế có thể đóng một vai trò thiết yếu nhằm tăng cường sự tuân thủ tự nguyện Tần suất kiểm tra và sự kỹ lưỡng của các cuộc kiểm tra có thể sẽ khiến người nộp thuế phải thận trọng hơn trong việc hoàn

Trang 33

thành tờ khai thuế, báo cáo tất cả các thu nhập và xác định đúng nghĩa vụ nộp thuế, kê khai thuế Ngược lại, người nộp thuế chưa bao giờ bị kiểm tra có thể bị cám dỗ để kê khai thấp hơn thu nhập thực tế và gian lận các khoản khấu trừ thuế Cùng kết quả nghiên cứu (Pommerehne và Weck-Hannemann, 1996) cho rằng tuân thủ thuế cao hơn ở những nơi mà xác suất bị kiểm tra xảy ra nhiều hơn Tuy nhiên, xác suất bị kiểm tra tác động đến sự tuân thủ có xu hướng tăng lên ở những người có thu nhập cao Kết quả nghiên cứu của (Blumenthal và cộng sự, 2001) lại ngược lại với (Pommerehne và Weck-Hannemann, 1996), những người tham gia được nghiên cứu tại Hà Lan thì trốn thuế nhiều hơn khi xác suất kiểm tra thấp và với tỷ lệ kiểm tra cao hơn thì hành vi trốn thuế ít hơn Nghiên cứu của (Muehlbacher và Kirchler, 2010), (Kastlunger và cộng sự, 2009),(Kastlunger và cộng sự, 2013) cũng chỉ ra rằng dường như nỗi sợ hãi khi đón nhận việc có thể bị kiểm tra có tác động mạnh mẽ đến việc tuân thủ thuế hơn là số tiền

có thể bị phạt trên số thuế trốn được Tuy đây là nhân tố đã được xác định có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tuân thủ thuế nhưng (Jackson và cộng sự, 1984) cho rằng nhân tố này chỉ thật sự có tác dụng nếu người nộp thuế nhận định xác suất bị kiểm tra là rất lớn

Mặc dù nhân tố thanh kiểm tra luôn là nhân tố có tác động mạnh mẽ đến tuân

thủ thuế và được chứng minh ở rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhưng (Kennedy và

Anyaduba, 2014) trong nghiên cứu “Impact of Tax Audit on Tax Compliance in Nigeria” lại chỉ ra rằng khả năng bị kiểm tra thuế không có tác động không đáng kể đến văn hóa tuân thủ thuế vốn được coi là thấp ở Nigernia Một điểm thú vị trong nghiên cứu của Togler (2003) đã chỉ ra là sự ép buộc không có tác dụng tích cực với tuân thủ thuế như cách dự đoán tội phạm kinh tế truyền thống dự báo Thậm chí còn có một mối tương quan nghịch giữa cưỡng chế và tuân thủ thuế Khả năng bị kiểm tra thuế có ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ đến việc tuân thủ thuế hơn mức độ các hình phạt

sự sau này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi tuân thủ Xử phạt là khái niệm gần với khái niệm trách nhiệm pháp lý vốn được coi là một loại quan hệ đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) và chủ thể vi phạm, trong đó nhà nước

có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật và chủ thể đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần do hành vi của mình gây ra

Xử phạt được áp đặt bằng những sự trừng phạt nhằm mục đích thực thi các nghĩa vụ pháp lý Nó được xem là nòng cốt của trật tự luật pháp (Schwartz và Orleans, 1967) (Swistak, 2016) cho rằng xử phạt thuế là một trong những công cụ có thể được

sử dụng để ngăn chặn việc trốn thuế một cách hiệu quả Cũng giống như nhân tố xác

Trang 34

suất bị kiểm tra thuế, xác suất càng cao thì hành vi trốn thuế càng giảm, thì với biến số này, mức tiền phạt càng cao thì việc trốn thuế càng trở nên nhiều rủi ro hơn cho người nộp thuế, do đó, họ sẽ hạn chế hành vi trốn thuế Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho rằng mức tiền phạt quá cao có thể sẽ gây ra những tác dụng không mong muốn, thậm chí làm cho hành vi trốn thuế tăng lên (Minor, 1978; Tittle, 1980; Spicer và Lundstedt, 1976) thông qua các nghiên cứu của mình đã đưa ra kết quả là nhân tố xử phạt không ảnh hưởng đến nhân tố tuân thủ thuế của người nộp thuế trong khi (Grasmick và Scott, 1982) lại cho thấy kết quả nhân tố xử phạt có ảnh hưởng rất lớn đến tuân thủ thuế Nghiên cứu của (Friedland, 1982) cho thấy xử phạt cao hay thấp đều có mức độ ảnh hưởng tương đương đến nhân tố tuân thủ thuế Tuy nhiên, nghiên cứu của Friedland cũng cho thấy tiền phạt lớn với xác suất bị phát hiện thấp sẽ có tác động mạnh mẽ hơn xử phạt thấp và khả năng bị phát hiện cao

thuế do nghĩa vụ của mình để tuân thủ các luật thuế có liên quan của một quốc gia (Fischer và cộng sự, 1992) “Chi phí tuân thủ thuế doanh nghiệp” là thuật ngữ dùng để chỉ giá trị của các nguồn lực chi tiêu của người nộp thuế của công ty trong việc tuân thủ với chi phí tuân thủ thuế bao gồm các chi phí nội bộ (giá trị thời gian của nhân viên công ty về các vấn đề thuế), chi phí bên ngoài (phí trả để các chuyên gia thuế bên ngoài) và các chi phí phát sinh (các mặt hàng văn phòng phẩm, máy tính, điện thoại và tranh tụng chi phí)

1.2.3.2 Nhóm nhân tố hành vi, xã hội

lating, có nghĩa là quy tắc, sợi chỉ xuyên suốt (Macionis, 2009) định nghĩa chuẩn mực đạo đức xã hội “là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưng, mà qua đó xã hội định hướng hành vi của các thành viên Người ta thấy chuẩn mực có trong đạo đức theo nghĩa các tiêu chuẩn hành vi Nói đến chuẩn mực là nói đến một sự đánh giá, phán xử: cái gì phù hợp chuẩn mực tức là bình thường, cái gì ngược với chuẩn mực là lệch chuẩn, bất hình thường” (Cialdini và Trost, 1998) đưa ra định nghĩa chuẩn mực xã hội

là những quy tắc và tiêu chuẩn được hiểu bởi các thành viên của một nhóm, và điều đó hướng dẫn và/hoặc hạn chế hành vi xã hội mà không cần sự ép buộc của pháp luật Bốn loại chuẩn mực xã hội được xác định bởi (Cialdini và Trost, 1998) là: Định mức

mô tả, quy phạm mệnh lệnh, chuẩn chủ quan và chuẩn cá nhân Định mức mô tả có

liên quan với những gì mọi người thực sự làm Nó đề cập đến nhận thức của "các hành động phổ biến nhất thực sự được trưng bày trong một nhóm xã hội” ví dụ như số lượng và tần suất của việc uống rượu phần lớn được hình thành từ những quan sát việc

Trang 35

tiêu thụ rượu của người khác Park và Smith cho thấy các chỉ tiêu mô tả có thể được cảm nhận cả ở mức độ cá nhân và xã hội và được coi là "niềm tin cá nhân về sự phổ biến của các hành vi" Định mức mô tả là những tiêu chuẩn phát triển ra khỏi quan sát làm thế nào những người khác thực sự cư xử trong các tình huống cụ thể Chuẩn mực mệnh lệnh, mặt khác, chỉ rõ những gì nên được thực hiện và do đó các quy tắc đạo đức của nhóm Chuẩn chủ quan liên quan cụ thể đến mong đợi (tức là, quy phạm mệnh lệnh) của nhóm tham khảo khác (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) Cuối cùng, chuẩn cá nhân là quan điểm của chính mình hoặc mong đợi các hành vi thích hợp, có thể phát sinh từ chủ quan và/hoặc chuẩn mô tả

thuế, mà do "đạo đức công dân" làm cho người nộp thuế thực hiện theo, trái ngược với

"động lực bên ngoài", còn được gọi là tác động răn đe, trong đó người nộp thuế nộp vì

sợ sự trừng phạt mà phải tuân thủ thuế Đạo đức thuế còn được coi là "một nghĩa vụ đạo đức để nộp thuế" hoặc "một niềm tin vào việc đóng góp cho xã hội bằng cách trả thuế” Nó cũng được định nghĩa là "sự tồn tại của một động lực nội tại để nộp thuế" (Torgler, 2003a; Torgler, 2004), (Torgler và Schneider, 2009; Torgler, 2005b) (Song

và Yarbrough, 1978a) đưa ra định nghĩa đạo đức thuế là một hành vi chuẩn mực chỉ đạo các công dân với tư cách là người nộp thuế trong mối quan hệ với chính phủ Nói cách khác, đạo đức thuế có thể được hiểu là một khái niệm dùng để mô tả các nguyên tắc đạo đức hay các giá trị của mỗi cá nhân đối với việc thanh toán tiền thuế (Torgler

và Murphy, 2004)

để con người thực hiện hành vi là động cơ xây dựng hình ảnh cho bản thân (image concern) Giữ gìn danh tiếng và hình ảnh cũng là một trong những nguyên tắc sống còn của rất nhiều doanh nghiệp hiện nay bởi trong kinh doanh bên cạnh các chiến lược

để tăng doanh thu và lợi nhuận, các doanh nghiệp cũng rất quan tâm đến việc khách hàng cảm nhận thế nào về đạo đức và danh tiếng của công ty vì đó là nhân tố quan trọng để khách hàng tin tưởng và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp (Turban và Greening, 1997) cho rằng, đối với khách hàng, việc doanh nghiệp thực hiện các trách nhiệm xã hội của mình sẽ nâng cao hình ảnh và danh tiếng của doanh nghiệp Ngược lại, để giữ gìn hình ảnh và danh tiếng của mình các doanh nghiệp cần phải thực hiện các trách nhiệm xã hội và một trong các trách nhiệm đó là phải tuân thủ quy định của pháp luật và nộp thuế

Danh tiếng của doanh nghiệp được (Gotsi và Wilson, 2001) định nghĩa là sự đánh giá chung của các bên liên quan về doanh nghiệp (Long-Tolbert, 2000) lại đưa ra

Trang 36

định nghĩa danh tiếng của doanh nghiệp là sự đánh giá tổng thể của các bên liên quan tới doanh nghiệp dựa trên những việc làm của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và

kể cả những hành động có thể dự đoán trong tương lai

Nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế Mỹ năm 1992, sở thuế

vụ Mỹ cho rằng 91.7% các báo cáo về thu nhập chịu thuế đã báo cáo là các báo cáo thật

Từ kết quả đó, (Andreoni và cộng sự, 1998) đưa ra giả thiết hoặc là người nộp thuế có thể có xu hướng đánh giá quá cao cả xác suất và cường độ của hình phạt, hoặc có thể sợ

sự kỳ thị xã hội hoặc thiệt hại đến danh tiếng của họ nếu họ bị coi như những kẻ gian lận thuế Nghiên cứu của (Kim, 2003) cũng cho rằng, người nộp thuế lo sợ sự kỳ thị của xã hội hoặc bị phá hỏng danh tiếng nếu bị xem là những người gian lận thuế

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Từ tổng quan nghiên cứu, tác giả nhận thấy các khoảng trống sau:

Thứ nhất, tuân thủ thuế và các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế đã được các học giả phương tây nghiên cứu từ khá sớm và vẫn tiếp tục nghiên cứu trong những năm gần đây Đã có nhiều nhân tố và nhóm nhân tố được chứng minh có những ảnh hưởng đến nhân tố tuân thủ thuế nhưng dường như mức độ ảnh hưởng, chiều ảnh hưởng đến nhân tố tuân thủ thuế trong các kết quả thực nghiệm vẫn còn chưa có sự thống nhất mà có sự khác nhau trong từng ngữ cảnh nghiên cứu

Thứ hai, mặc dù tuân thủ thuế đã được các học giả nước ngoài nghiên cứu từ lâu nhưng chưa có nhiều học giả nghiên cứu nhân tố danh tiếng hay hình ảnh của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế

Thứ ba, các nghiên cứu về tuân thủ thuế trước đây chủ yếu được thực hiện ở

Mỹ và các nước phương tây như Australia, the United Kingdom, New Zealand là những quốc gia có nền kinh tế phát triển, hạ tầng đồng bộ và hệ thống các văn bản pháp luật thuế khá ổn định, các nghiên cứu về tuân thủ thuế ở các nước có nền kinh

tế chuyển đổi như Việt Nam vẫn còn hạn chế Bởi vậy, nghiên cứu này có thể được xem là đã góp phần làm phong phú thêm các nghiên cứu giữa các nền văn hóa (Richardson và Sawyer, 2001) và tăng cường sự hiểu biết về tuân thủ thuế tại các nước đang phát triển (Andreoni và cộng sự, 1998; Chau và Leung, 2009) Nhân tố sở hữu là nhân tố đặc thù của các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt nam cũng chưa được nghiên cứu nhiều

Thứ tư, trong phần lớn các nghiên cứu trước đây, phương pháp thư khảo sát thực nghiệm và thư khảo sát quản lý đã chi phối phương pháp tiếp cận để tìm hiểu các nhân

tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế Tuy nhiên, theo đề nghị của những nghiên cứu

Trang 37

trong tổng quan, những nhân tố mới có tác động quyết định đến hành vi tuân thủ thuế cần được khám phá thêm qua các phương pháp khác ví dụ như phương pháp nghiên cứu định tính (Torgler, 2003a) hoặc kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng để có được những phát hiện mới hoặc cung cấp nhiều giải thích hơn cho hiện tượng được nghiên cứu (McKerchar, 2003)

Thứ năm, các nghiên cứu về tuân thủ thuế ở Việt Nam vẫn còn hạn chế và chủ yếu mang tính thống kê, mô tả Phạm vi nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây chỉ hạn chế trên một phạm vi một quận, một huyện hoặc chỉ nghiên cứu một khía cạnh của việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện mối quan hệ giữa các nhóm nhân tố đến tuân thủ thuế trên phạm vi rộng Do vậy, mối quan

hệ, các tác động hay những kết quả của vấn đề này dường như cũng chưa được kiểm chứng, đánh giá đầy đủ

Thứ sáu, có rất ít các nghiên cứu về tuân thủ thuế trước đây phân biệt giữa tuân thủ thuế bắt buộc và tuân thủ thuế tự nguyện và cũng không khám phá sự khác biệt giữa hành vi tuân thủ thuế bắt buộc và hành vi tuân thủ thuế tự nguyện Nghiên cứu này đóng góp thêm sự hiểu biết về tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc

Kết luận chương 1

Trong chương 1, tác giả đã trình bày được một số nội dung sau:

Thứ nhất, đã trình bày được tổng quan các nghiên cứu về Tuân thủ thuế tại Việt Nam và thế giới

Thứ hai, đã khái quát được các hướng nghiên cứu về tuân thủ thuế đã và đang được áp dụng trong các nghiên cứu hiện nay

Thứ ba, đưa ra một số mô hình về tuân thủ thuế đã và đang được áp dụng trong các nghiên cứu về tuân thủ thuế

Thứ tư, kể tên được một số nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế

Thứ năm, tìm ra được một số khoảng trống nghiên cứu

Trong chương 2, tác giả sẽ hệ thống lại cơ sở lý luận về tuân thủ thuế Tập trung làm rõ các khái niệm, các lý thuyết gốc được áp dụng trong các nghiên cứu vê tuân thủ thuế, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết nghiên cứu

Trang 38

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.1 Các khái niệm

Thuế: Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định thuế ra đời từ khi có nhà nước, hoạt

động của nhà nước đòi hỏi phải có cơ sở vật chất nhất định để đảm bảo cho sự tồn tại

và hoạt động của mình Bởi vậy nhà nước đã dùng quyền lực của mình để bắt các tổ chức, cá nhân nộp thuế cho nhà nước Đã có rất nhiều định nghĩa về thuế:

Theo giáo trình thuế của Học viện tài chính 2009: “Thuế là một khoản đóng góp

bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm phục vụ cho mục đích công cộng.”

Theo giáo trình thuế của Đại học Kinh tế quốc dân 2002: “Thuế là khoản đóng

góp theo quy định của pháp luật mà Nhà nước bắt buộc mọi tổ chức và cá nhân phải

có nghĩa vụ nộp vào Ngân sách Nhà nước.”

Thuế là một hiện tượng xã hội gắn liền với phạm trù nhà nước và pháp luật Nhà nước nào khi thành lập đều phải xây dựng hệ thống thuế để tạo nguồn thu cho mình Tuy nhiên, có được hệ thống thuế tốt nhưng không tuân thủ thuế tốt bao gồm cả từ phía người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế thì hiệu quả thu thuế cũng không cao

đưa ra khái niệm đầu tiên về tuân thủ thuế Ông định nghĩa tuân thủ thuế là hành vi khai chính xác, đúng thời hạn và toàn bộ số tiền thuế mà không cần sự ép buộc của Cơ quan quản lý thuế Mặc dù khái niệm này đã bao hàm hành vi tuân thủ có chủ ý và không có chủ ý nhưng nó chưa làm rõ liệu việc nói 1 vị thế thuế mạnh về một vấn đề không rõ ràng có đại diện được cho việc không tuân thủ thuế nếu cơ quan thuế không

xử phạt sau đó (Roth và Scholz, 1989) đưa ra khái niệm tốt hơn về tuân thủ thuế và đã giải quyết được vấn đề này đó là Tuân thủ với các quy định báo cáo thuế nghĩa là người nộp thuế phải nộp tất cả các tờ khai thuế yêu cầu vào thời điểm thích hợp và các

tờ khai thuế phải báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế theo luật thuế, các quy định, và các quyết định của tòa án áp dụng vào thời điểm kê khai thuế

(Braithwaite và Wirth, 2001) đưa ra định nghĩa về tuân thủ thuế "Tuân thủ có nghĩa là người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ theo quy định của luật thuế, các quy định

và các quyết định của tòa án” (Verboon và Van Dijke, 2007) cho rằng tuân thủ thuế là

sự sẵn lòng của người dân để tuân thủ cơ quan thuế bằng việc trả tiền thuế (Franzoni, 1998) cho rằng tuân thủ thuế nghĩa là (i) báo cáo trung thực về nghĩa vụ thuế, (ii) thực

Trang 39

hiện tốt các nghĩa vụ pháp lý về thuế, (iii) nộp cáo báo cáo thuế đúng hạn và (iiii) thanh toán tiền thuế đúng hạn (Franzoni, 1998) còn cho rằng phần lớn những người trốn thuế đều rơi vào trường hợp thứ nhất Hầu như các hành vi không tuân thủ thuế rơi vào trường hợp người nộp thuế không khai báo toàn bộ và chỉ khai báo một phần nghĩa vụ thuế của họ (Braithwaite và Wirth, 2001) đưa ra định nghĩa đơn giản hơn: Tuân thủ thuế có nghĩa là thanh toán các khoản nợ thuế theo luật thuế và chuẩn mực

kế toán Cùng quan điểm với (James và Alley, 1999), (Braithwaite và Wirth, 2001), (Roth và Scholz, 1989) cho rằng tuân thủ thuế là nộp tất cả tờ khai thuế cần thiết đúng hạn và trả tiền thuế theo quy định của luật thuế Tuy tuân thủ thuế là một khái niệm khá phổ cập ngay từ khi thuế ra đời nhưng để đưa ra một định nghĩa chung về tuân thủ thuế lại không đơn giản như mọi người vẫn thường nghĩ Theo (Andreoni và cộng sự, 1998), tuân thủ thuế là một khái niệm có tính lỏng vì có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau từ những quan điểm khác nhau Trong lý thuyết tài chính công, tuân thủ thuế liên quan đến các vấn đề về công bằng và hiệu quả Trong lý thuyết tổ chức, nó liên quan đến vấn đề về ông chủ và người đại diện (the principal-agent problem), nơi mà các tập đoàn và các cố vấn của họ liên tục cung cấp những thông tin không đối xứng và thu nhập của tập đoàn và các khoản nợ thuế Lý thuyết tâm lý học khẳng định rằng một cảm giác xấu hổ và tội lỗi có thể buộc người nộp thuế phải tuân thủ, trong khi các lý thuyết xã hội học cho rằng nhận biết của người nộp thuế và việc các tổ chức xã hội tuân thủ thuế thế nào sẽ ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của họ (Song và Yarbrough, 1978) (Lamb và cộng sự, 2004) cho rằng tuân thủ thuế là một chủ đề liên ngành đòi hỏi phải có một sự hiểu biết về chung về nhiều lĩnh vực như: pháp luật, kế toán, kinh

tế, chính sách công cộng và khoa học chính trị (Alm và cộng sự, 1992a) đưa ra một

khái niệm được hiểu một cách đơn giản nhất, tuân thủ thuế được hiểu là việc báo cáo

cộng sự, 1992b) hoặc là việc cho thanh toán các khoản nợ thuế theo quy định của luật thuế và kế toán (James và Alley, 1999) Tác giả nhận thấy, khái niệm của (Alm và cộng sự, 1992a) đã bao quát được hết hàm ý của hành vi tuân thủ thuế và phù hợp với các quy định về pháp luật thuế ở Việt Nam nên tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của (Alm

và cộng sự, 1992a) trong nghiên cứu của mình

Khái niệm về tuân thủ thuế được các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hướng nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế Mặc

dù việc tuân thủ thuế có thể xem như là hành vi bắt buộc đối với mỗi cá nhân và tổ chức trong xã hội nhưng các nhà nghiên cứu luôn muốn đi sâu tìm hiểu ý định đằng sau hành vi tuân thủ thuế đó là tuân thủ tự nguyện hay bắt buộc bởi theo (Kirchler và

Trang 40

Wahl, 2010) ẩn sau ý định hành vi tuân thủ thuế có thể là hành vi tự nguyện tuân thủ của người nộp thuế hoặc bị ép phải tuân thủ của cơ quan thuế Kirchler phân biệt tự nguyện tuân thủ là người nộp thuế khởi phát ý định tuân thủ các luật thuế còn tuân thủ thuế bắt buộc là kết quả của của các hoạt động ép buộc tuân thủ Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thuyết rằng hầu hết doanh nghiệp về bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cưỡng chế, hoặc lo sợ có sự cưỡng chế của cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế (Andreoni và cộng sự, 1998) cho rằng việc tuân thủ thuế nên được định nghĩa là sự sẵn lòng của người nộp thuế, sự chấp hành pháp luật về thuế để có được trạng thái cân bằng nền kinh tế của một quốc gia hoặc là việc chấp hành kê khai tất cả thu nhập chịu thuế chính xác và thanh toán tất cả các loại thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không phải chờ đợi, theo dõi hành động từ cơ quan có thẩm quyền (Singh, 2003), (James và Alley, 1999) (Kirchler và cộng sự, 2008) cho rằng việc tuân thủ tự nguyện phần lớn được quyết định bởi sự tin tưởng của người nộp thuế đối với cơ quan thuế trong khi tuân thủ bắt buộc chủ yếu dựa vào sức mạnh của chính quyền Sự tin tưởng của người nộp thuế với cơ quan thuế được (Wahl và cộng sự, 2010) định nghĩa là một quan điểm chung của cá nhân và các nhóm xã hội cho rằng cơ quan thuế là nhân từ và làm việc có lợi cho lợi ích chung (Kirchler và cộng sự, 2008) cho rằng sự tin tưởng lẫn nhau giữa cơ quan thuế và người nộp thuế sẽ hình thành một mối quan hệ hòa hảo

mà ở đó các nhà chức trách tin rằng người nộp thuế nộp thuế trung thực, và do đó chính quyền đối xử với họ một cách lịch thiệp và tôn trọng Đổi lại, các đối tượng nộp thuế tin tưởng rằng cơ quan cung cấp dịch vụ tốt cho họ, và do đó họ phải đóng thuế một cách công bằng Trong khi đó, sức mạnh của cơ quan thuế được định nghĩa là nhận thức của người nộp thuế về khả năng phát hiện sai phạm và các biện pháp trừng phạt của cơ quan thuế với tội phạm về thuế Hai nhân tố trên có tác động quyết định đến việc tuân thủ tự nguyện và tuân thủ bắt buộc của người nộp thuế

Sẽ không có gì phải tranh luận nếu chỉ coi tuân thủ thuế là việc báo cáo đúng và

đủ số thuế phải nộp đúng thời hạn Tuy nhiên, thực tế, tuân thủ thuế còn bao gồm rất nhiều việc như: Tính thuế, kê khai thuế, cất giữ chứng từ theo đúng quy định, nộp tiền thuế và giải trình việc tính thuế… Trong quá trình thực hiện kê khai, nộp thuế có thể xuất hiện những sai sót có chủ ý hoặc những sai sót không chủ ý do bất cẩn hoặc thiếu hiểu biết về thuế Những sai lầm có chủ ý trên một số được gọi là trốn thuế, một số được gọi là tránh thuế

kinh tế tội phạm, được định nghĩa là việc sử dụng các phương thức mà luật pháp

Ngày đăng: 22/08/2019, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abdul-Jabbar Hijattulah và Jeff Pope (2008), “Effects of the Self-Assessment System on the Tax Compliance Costs of Small and Medium Enterprises in Malaysia”, Journal Austl, Tax F., Số 23,tr 289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of the Self-Assessment System on the Tax Compliance Costs of Small and Medium Enterprises in Malaysia”, "Journal Austl, Tax F
Tác giả: Abdul-Jabbar Hijattulah và Jeff Pope
Năm: 2008
2. Ajzen Icek (1985), “From intentions to actions: A theory of planned behavior”, Trong Action control, Nhà xuất bản Springer, tr 11-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: From intentions to actions: A theory of planned behavior”, "Trong Action control
Tác giả: Ajzen Icek
Nhà XB: Nhà xuất bản Springer
Năm: 1985
3. Ajzen Icek (1991), “The theory of planned behavior”, Journal Organizational Behavior and Human Decision Processes, Số 50 (2),Tr 179-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The theory of planned behavior”, "Journal Organizational Behavior and Human Decision Processes
Tác giả: Ajzen Icek
Năm: 1991
4. Ajzen Icek và Martin Fishbein (1975), Belief, attitude, intention and behavior: An introduction to theory and research, Nhà xuất bản Reading, MA: Addison- Wesley Sách, tạp chí
Tiêu đề: Belief, attitude, intention and behavior: "An introduction to theory and research
Tác giả: Ajzen Icek và Martin Fishbein
Nhà XB: Nhà xuất bản Reading
Năm: 1975
5. Ajzen Icek và Martin Fishbein (1980), Understanding attitudes and predicting social behaviour. Englenwood Cliffs, NJ: Prentice-Hall, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding attitudes and predicting social behaviour
Tác giả: Ajzen Icek và Martin Fishbein
Năm: 1980
6. Akhand MD Zakir Hossain (2012), Coercion or Persuasion? Making Large Corporations Tax Compliant in Bangladesh, Đại học University of Birmingham Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coercion or Persuasion? Making Large Corporations Tax Compliant in Bangladesh
Tác giả: Akhand MD Zakir Hossain
Năm: 2012
7. Allingham Michael G và Agnar Sandmo (1972), “Income tax evasion: A.theoretical analysis”, Journal of Public Economy 1, Số 38(2), Tr 323-338 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Income tax evasion: A.theoretical analysis”, "Journal of Public Economy 1
Tác giả: Allingham Michael G và Agnar Sandmo
Năm: 1972
8. Alm James (1991), “A perspective on the experimental analysis of taxpayer reporting”, Journal The Accounting Review, Số 66(3),Tr 577-593 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A perspective on the experimental analysis of taxpayer reporting”, "Journal The Accounting Review
Tác giả: Alm James
Năm: 1991
9. Alm James (1998), Tax Compliance and Administration, Số Working Paper, University of Colorado at Boulder Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tax Compliance and Administration
Tác giả: Alm James
Năm: 1998
10. Alm James và Benno Torgler (2006), “Culture differences and tax morale in the United States and in Europe”, Journal of Economic Psychology, Số 27(2),Tr 224-246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture differences and tax morale in the United States and in Europe”, "Journal of Economic Psychology
Tác giả: Alm James và Benno Torgler
Năm: 2006
11. Alm James và Benno Torgler (2011), “Do ethics matter? Tax compliance and morality”, Journal of Business Ethics, Số 101(4),Tr 635-651 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Do ethics matter? Tax compliance and morality”, "Journal of Business Ethics
Tác giả: Alm James và Benno Torgler
Năm: 2011
12. Alm James, Betty Jackson và Michael McKee (1992a), “Institutional uncertainty and taxpayer compliance”, Journal The American economic review, Số 82(4),tr 1018-1026 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Institutional uncertainty and taxpayer compliance”, "Journal The American economic review
13. Alm James, Betty R Jackson và Michael McKee (1992b), “Estimating the determinants of taxpayer compliance with experimental data”, National tax journal, tr 107-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimating the determinants of taxpayer compliance with experimental data”, "National tax journal
14. Alm James, Gary H McClelland và William D Schulze (1999), “Changing the social norm of tax compliance by voting”, Journal Kyklos, Số 52 (2), tr 141-171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changing the social norm of tax compliance by voting”, "Journal Kyklos
Tác giả: Alm James, Gary H McClelland và William D Schulze
Năm: 1999
15. Alm James, Isabel Sanchez và Ana De Juan (1995), “Economic and noneconomic factors in tax compliance”, Journal Kyklos, Số 48(1), tr 1-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic and noneconomic factors in tax compliance”, "Journal Kyklos
Tác giả: Alm James, Isabel Sanchez và Ana De Juan
Năm: 1995
16. Alm James, Roy Bahl và Matthew N Murray (1990), “Tax structure and tax compliance”, Journal The Review of Economics and Statistics, tr 603-613 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tax structure and tax compliance”, "Journal The Review of Economics and Statistics
Tác giả: Alm James, Roy Bahl và Matthew N Murray
Năm: 1990
17. Anderson James C và David W Gerbing (1988), “Structural equation modeling in practice: A review and recommended two-step approach”, Journal Psychological bulletin, Số 103(3), tr 411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Structural equation modeling in practice: A review and recommended two-step approach”, "Journal Psychological bulletin
Tác giả: Anderson James C và David W Gerbing
Năm: 1988
18. Andreoni James, Brian Erard và Jonathan Feinstein (1998), “Tax compliance”, Journal of economic literature, Số 36 (2), tr 818-860 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tax compliance”, "Journal of economic literature
Tác giả: Andreoni James, Brian Erard và Jonathan Feinstein
Năm: 1998
19. Baldry Jonathan C (1986), “Tax evasion is not a gamble: A report on two experiments”, Journal Economics Letters, Số 22(4), tr 333-335 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tax evasion is not a gamble: A report on two experiments”, "Journal Economics Letters
Tác giả: Baldry Jonathan C
Năm: 1986
20. Baldry Jonathan C (1987), “Income tax evasion and the tax schedule: Some experimental results”, Journal Public Finance= Finances publiques, Số 42(3), tr 357-383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Income tax evasion and the tax schedule: Some experimental results”, "Journal Public Finance= Finances publiques
Tác giả: Baldry Jonathan C
Năm: 1987

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w