Chính vì da và mắt có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi con người và quan trọng với trẻ mầm non, người lớn phải giải thích rõ ràng và giáo dục truyền đạt để cho trẻ biết cách bảo
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em
HÀ NỘI - 2019
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em
Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Thị Việt Nga
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô khoa Giáo Dục Mầm Non, khoa Sinh – KTNN đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô Nguyễn Thị Việt Nga –
Người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình học tập
và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô giáo và các em học sinh trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã tận tình giúp đỡ
em trong thời gian em thực tập ở trường Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Kính mong được sự góp ý kiến của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, Tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Thu Thùy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài: “Một số biện pháp chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc” là kết quả mà em đã
nghiên cứu qua đợt kiến tập hằng năm và đợt thực tập cuối năm.Trong quá trình nghiên cứu em có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả khác Tuy nhiên, đó chỉ là cơ sở để em rút ra những vấn đề cần tìm hiểu ở
đề tài của mình.Đây là kết quả của riêng cá nhân em, hoàn toàn không trùng với kết quả của các tác giả khác
Em xin chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà nội, Tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Thu Thùy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp 4
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.2 Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi 9
1.2.3 Cấu tạo và chức năng của da và mắt 13
1.2.4 Thực trạng da và mắt của trẻ mầm non 17
1.2.5 Vai trò của việc chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi trong trường mầm non 20
1.3 Thực trạng của việc chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương – Phúc yên – Vĩnh phúc 21
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP CHĂM SÓC DA VÀ MẮT CHO TRẺ MẦM NON 3 – 4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG 25
Trang 62.1 Một số kĩ năng chăm sóc da cần thiết cho trẻ 25
2.1.1 Ý nghĩa của việc vệ sinh da cho trẻ 25
2.1.2 Các trang thiết bị vệ sinh da cần thiết cho trẻ mầm non 25
2.1.3 Một số cách chăm sóc vệ sinh thường xuyên cho da của trẻ 27
2.1.4 Một số bệnh về da và biện pháp phòng bệnh cơ bản 29
2.1.5 Chế độ dinh dưỡng cho da 30
2.1.6 Một số cách chăm sóc da cho trẻ hằng ngày 30
2.2 Kĩ năng chăm sóc mắt 31
2.2.1 Giữ sạch mắt hằng ngày cho trẻ 31
2.2.2 Vệ sinh mắt khi hoạt động 32
2.2.3 Một số bệnh về mắt và biện pháp phòng bệnh cơ bản 32
2.2.4 Chế độ dinh dưỡng cho mắt 34
2.2.5 Một số cách chăm sóc vệ sinh thường xuyên cho mắt của trẻ hằng ngày 34
2.3 Một số cách chăm sóc da và mắt thường gặp ở trẻ 3 – 4 tuổi ở trường Mầm Non Hùng Vương 35
2.3.1 Trẻ bị bỏng, trầy xước da 36
2.3.2 Trẻ bị trầy xước chấn thương ở mắt 39
2.4 Các hoạt động chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non 3 – 4 tuổi ở trường Mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 42
2.4.1 Hoạt động chăm sóc da và mắt thông qua hoạt động học tập 43
2.4.2 Hoạt động chăm sóc da và mắt cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi 45 2.4.3 Hoạt động chăm sóc da và mắt cho trẻ thông qua hoạt động sinh hoạt hằng ngày 46
2.4.4 Phối hợp với gia đình 48
2.5 Ví dụ về hoạt động chăm sóc da và mắt cho trẻ 49
Trang 7CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58
3.1 Mục đích thực nghiệm 58
3.2 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 58
3.3 Nội dung thực nghiệm 58
3.4 Tiến hành thực nghiệm 59
3.4.1 Xác định yêu cầu cần đạt 59
3.4.2 Chuẩn bị thực nghiệm 60
3.4.3 Tiến hành thực nghiệm 60
3.4.4 Đánh giá 60
3.5 Kết quả thực nghiệm 61
3.5.1 Đánh giá lần 1: Mức độ trẻ bị đau trầy xước chấn thương ở da cho trẻ khi đánh giá lần 1 61
3.5.2 Đánh giá lần 2: Mức độ trẻ bị trầy xước chấn thương ở da cho trẻ khi đánh giá lần 2 62
3.5.3 Đánh giá lần 3: Mức độ trẻ bị trầy xước chấn thương ở da cho trẻ khi đánh giá lần 3 63
KẾT LUẬN SƯ PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 8Trẻ mầm non đang là giai đoạn phát triển rất mạnh mẽ về các mặt thể chất và tinh thần là giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách Vì vậy, đây là
độ tuổi thích hợp nhất để giáo dục trẻ Đặc biệt, ở độ tuổi này, các vấn đề về da
và mắt của trẻ đang được rất nhiều các bậc phụ huynh quan tâm và chú ý Vậy làm thế nào để chăm sóc da và mắt thật tốt cho trẻ và tránh được các tai nạn về
da và mắt Đây đang là vấn đề rất thiết thực và được rất nhiều người quan tâm
Hiện nay, nền kinh tế ở Tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và ở Thành Phố Phúc Yên nói riêng đang rất phát triển nên nhu cầu quan tâm, chăm sóc trẻ của các bậc phụ huynh cũng tăng lên Hiện nay, có nhiều tác nhân ảnh hưởng đến da và mắt như: Môi trường đang bị ô nhiễm, một số bệnh lây lan đến da và mắt hay chấn thương thường gặp cho da và mắt mà trẻ thường hay gặp trong các hoạt động, vui chơi, sinh hoạt hằng ngày
Ở độ tuổi 3 - 4 tuổi trẻ đã có những nhận thức cơ bản về bản thân, trẻ có thể làm theo sự hướng dẫn của người lớn nhưng vẫn cần sự giúp đỡ Để trẻ có một cơ thể khỏe mạnh và phát triển đầy đủ cả về mặt thể chất lẫn tinh thần thì đây là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển về mọi mặt của đứa trẻ sau này Vì vậy việc chăm sóc cho trẻ luôn được đặt lên số một Mỗi một cá nhân
Trang 9trẻ phải luôn được quan tâm chăm sóc để đảm bảo đáp ứng nhu cầu chu đáo về nhu cầu cho sự phát triển Việc chăm sóc da và mắt cho trẻ là việc làm rất quan trọng và thiết thực, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt hằng ngày của mỗi đứa trẻ Nếu như trẻ được chăm sóc và giáo dục tốt thì trẻ sẽ khỏe mạnh có sức khỏe tốt và phát triển tốt Việc chăm sóc da và mắt của trẻ ở các trường mầm non hiện nay đang được rất nhiều các giáo viên quan tâm Vậy làm thế nào để da và mắt của trẻ luôn thực sự khỏe mạnh Làm thế nào để truyền đạt và giáo dục tốt cho trẻ biết cách chăm sóc và biết cách bảo vệ da và mắt của mình thật hiệu quả Hiện nay việc chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non nói chung và trẻ 3 – 4 tuổi nói riêng rất quan trọng và đang nhận được nhiều sự quan tâm chú ý từ các bậc phụ huynh, giáo viên
Qua nhiều đợt đi kiến tập và thực tập chúng tôi nhận thấy rằng, việc chăm sóc da và mắt cho trẻ ở trường mầm non nói chung và trẻ ở độ tuổi 3 –
4 tuổi nói riêng vẫn còn rất nhiều hạn chế Vì vậy, từ những lí do trên chúng
tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương – Phúc yên – Vĩnh Phúc” làm đề
tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn về chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi để đưa ra một số biện pháp chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non 3 – 4 tuổi Trường mầm non Hùng Vương – Phúc yên – Vĩnh Phúc
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu các cơ sở khoa học về chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non,
và một số biện pháp chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non
Tìm hiểu thực trạng chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non 3 – 4 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Đưa ra một số biện pháp chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non 3 – 4 tuổi
Tổ chức thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ da, mắt cho trẻ mầm non 3 –
4 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Trang 104 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non 3 – 4 tuổi
4.2 Khách thể nghiên cứu
Trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non Hùng Vương – Phúc yên – Vĩnh Phúc
5 Giả thuyết khoa học
Nếu chỉ ra và vận dụng tốt các biện pháp chăm sóc da và mắt cho trẻ thì
sẽ giúp trẻ khỏe mạnh ngăn ngừa được các bệnh tật các tai nạn cho da và mắt
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của việc chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi
Nghiên cứu về các tài liệu có liên quan đến việc chăm sóc da và mắt cho trẻ để làm cơ sở lí thuyết cho đề tài nghiên cứu Thu thập các thông tin, tổng hợp và khái quát tài liệu có liên quan đến lí luận và thực tiễn của vấn đề
da và mắt để nghiên cứu làm cơ sở lí luận cho đề tài
6.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tìm hiểu việc tổ chức các hoạt động nhằm rèn luyện và phát triển kĩ năng chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi
Tìm hiểu các biện pháp nhằm giúp cho việc rèn luyện và phát triển kĩ năng chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi đạt hiệu quả cao
Trang 117 Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, thì khóa luận của tôi gồm những chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Biện pháp chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non 3 – 4 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
8 Những đóng góp mới của đề tài
Bổ sung cơ sở lí luận và hệ thống hóa về việc chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi
Đánh giá được thực trạng việc chăm sóc da và mắt cho trẻ tại trường mầm non cụ thể để từ đó nêu ra được nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp
Xây dựng và thiết kế một số hoạt động giáo dục, giáo án tiêu biểu để lồng ghép tích hợp trong việc giáo dục chăm sóc da và mắt cho trẻ
Trang 12NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Da và mắt đóng vai trò rất quan trọng của mỗi người,giúp con người có thể nhận thức nhận biết và phân biệt được các sự vật hiện tượng, môi trường xung quanh trong cuộc sống Chính vì da và mắt có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi con người và quan trọng với trẻ mầm non, người lớn phải giải thích rõ ràng và giáo dục truyền đạt để cho trẻ biết cách bảo vệ và chăm sóc da và mắt của mình Cho nên, có rất nhiều công trình trên thế giới và ở Việt Nam đã nghiên cứu về công trình này
1.1.1 Trên thế giới
Trong một bài viết của tiến sĩ Robert G.Mayer đã nhấn mạnh vào vấn đề
“Tại sao phải đầu tư vào chương trình chăm sóc và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi coi đây là một phần của chiến lược cơ bản, cũng như trước khi xây dựng một tòa nhà ta cần phải xây dựng một cái nền tảng đá vững chắc trên
cơ sở đó làm nền tảng xây nên toàn bộ công trình kiến trúc” [5] Cũng giống như trước khi một em bé bắt đầu đi học cũng cần có một nền tảng tương tự và vững chắc
Trẻ ở độ tuổi từ 2 – 5 tuổi là thời điểm hoàn hảo, thuận lợi để đặt ra các nền tảng về các vấn đề cơ bản cho việc chăm sóc – giáo dục – vệ sinh cá nhân cho trẻ như: dạy trẻ vệ sinh tay chân, rửa mặt, lau mắt, tắm gội, dạy trẻ biết cách phòng tránh xử lí khi gặp các vấn đề thường gặp ở da và mắt, luôn đảm bảo an toàn cho da và mắt Làn da của trẻ rất nhạy cảm, trẻ có thể cảm nhận được qua các giác quan cảm giác với các thuộc tính bên ngoài như: sờ, nắm,
áp sát với các đồ vật xung quanh Làn da còn như là một áo ráp để bao bọc toàn bộ cơ thể và bảo vệ cơ thể trẻ tránh khỏi các tác nhân gây hại
Nếu một đứa trẻ đến trường với một miếng băng trên đầu gối thì người lớn phải nói chuyện với chúng về sự ảnh hưởng và tầm quan trọng của các vết trầy
Trang 13xước trên cơ thể, dạy trẻ biết giữ gìn cho cơ thể khỏe mạnh và mạnh mẽ tạo ra bầu không khí dễ chịu để trẻ nghỉ ngơi, dạy trẻ có những hiểu biết cụ thể rõ ràng về cơ thể của mình để giáo dục trẻ biết cách bảo vệ da không bị trầy xước
Theo Johnson’s – khoa học về chăm sóc trẻ em Ông đã xây dựng các chuẩn mực về việc chăm sóc trẻ trên khắp thế giới, ông đã cho rằng: “Thị giác
là một trong những giác quan phát triển hoàn thiện cuối cùng của bé khi nằm trong bụng người mẹ và bé phát triển cả ngay sau khi chào đời Vì vậy, ngay khi sinh ra trẻ chỉ nhìn các sự vật trong hai sắc đen trắng, cùng với các sắc độ xám trung gian, sau khoảng 4 tháng trẻ sẽ nhìn thấy thêm các màu sắc khác Việc chăm sóc mắt cho trẻ là vô cùng quan trọng và cần thiết mà người lớn cần quan tâm chú ý từ khi trẻ mới lọt lòng vì: Trẻ sơ sinh chỉ tập trung được trong phạm vi ngắn” [5]
Giao tiếp bằng mắt là một phần của nền tảng phát triển giao tiếp và xã hội, trẻ thể hiện được những cảm xúc tình cảm thông qua đôi mắt thể hiện được tình cảm của mình với đối tượng được giao tiếp
Mắt có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận biết và phân biệt các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh góp phần xác định định hướng cho mọi hoạt động của con người trở nên nhanh chóng và chính xác Đôi mắt dễ dàng phát hiện ra sự giống và khác nhau về màu sắc, hình dạng, kích cỡ, sự vận động,… và cho phép con người phân biệt được sự tương đồng hay khác nhau của các sự vật hiện tượng Sau đó, các thông tin sự việc mắt nhìn thấy sẽ được
xử lí và được truyền về não
Vì vậy việc chăm sóc và bảo vệ mắt cho trẻ là việc làm vô cùng quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nhìn của trẻ Người lớn cần chăm sóc vệ sinh mắt sạch sẽ cho trẻ đảm bảo độ an toàn cho mắt giúp mắt hoạt động có hiệu quả
1.1.2 Ở Việt Nam
“Việt nam là một trong số các quốc gia đã tham gia tích cực vào quá trình soạn thảo Công ước (1979 – 1989) và là nước thứ hai trên toàn thế giới và là
Trang 14nước đầu tiên ở khu vực Châu Á đã phê chuẩn công ước (khôn bảo lưu) 1990) Công ước với nội dung thiết thực tiến bộ và nhân đạo, phù hợp với truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em, cũng như phù hợp với Hiến Pháp và các luật có liên quan đến trẻ
(20-2-em Sau khi phê chuẩn công ước, nhà nước ta đã tiến hành nhiều hành động thiết thực, kịp thời để triển khai công ước” [2]
“Tác giả Lê Thanh Vân với giáo trình Sinh lí học trẻ em đã đề cập đến
đặc điểm phát triển sinh lí ở trẻ em lứa tuổi mầm non như sau: Đặc điểm phát triển của hệ thần kinh, đặc điểm phát triển của các cơ quan, hệ cơ quan, hệ vận động, hệ tuần hoàn,… Dựa trên cơ sở phân tích về các đặc điểm phát triển sinh
lí của trẻ qua các thời kì, tác giả đã chỉ ra những yêu cầu sư phạm cần thiết và thiết thực trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non Giúp cho chúng ta có thể hiểu được đặc điểm, nhu cầu cũng như sự phát triển của trẻ ở mỗi thời kì, để có những phương pháp chăm sóc giáo dục phù hợp với trẻ” [4]
“Tác giả Hoàng Thị Phương với giáo trình Vệ sinh trẻ em đã nghiên cứu
đến các vấn đề chăm sóc và vệ sinh cho trẻ Tác giả đã chỉ ra đối tượng, nhiệm
vụ và phương pháp nghiên cứu của mình Chăm sóc vệ sinh trẻ em đã xây
dựng nên các hệ thống các biện pháp nhằm củng cố bảo vệ sức khỏe của trẻ cũng như giúp trẻ có cơ thể phát triển khỏe mạnh, hài hòa cân đối và toàn diện Cuốn sách tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc chăm sóc vệ sinh, củng cố sức khỏe của trẻ ở lứa tuổi mầm non Từ
những cơ sở ấy, tác giả Hoàng Thị Phương đã đưa ra các nội dung chăm sóc
và vệ sinh cho trẻ mầm non, đặc biệt là nội dung Chăm sóc, vệ sinh da và mắt
cho trẻ giúp cho trẻ luôn được vệ sinh sạch sẽ, đảm bảo độ an toàn cho da và
mắt và bảo vệ cho da và mắt luôn khỏe mạnh và phát triển toàn diện Hiện nay, việc chăm sóc da và mắt cho trẻ là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng để giúp trẻ có đủ sức khỏe – trí tuệ giúp cho sự phát triển sau này của trẻ trở thành những mầm non tương lai của đất nước” [4] Việc chăm sóc da và mắt cho trẻ cần được quan sát, tiến hành chăm sóc thường xuyên Không những góp phần giáo dục trẻ biết cách chăm sóc bảo vệ
Trang 15da và mắt của mình, mà còn giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách ngay
từ khi còn nhỏ
Ngoài ra, có nhiều các nghiên cứu công trình về vấn đề chăm sóc da và mắt cho trẻ để giáo viên và các bậc phụ huynh có thể nắm được tình trạng, cũng như là sức khỏe của trẻ để có những giải pháp chăm sóc giáo dục vệ sinh tốt nhất giúp trẻ phát triển hài hòa và toàn diện
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về chăm sóc
Chăm sóc là những hành động cần thiết mà người chăm sóc phải làm
để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của người được chăm sóc theo cách mà họ mong muốn
Hiểu theo một cách khác chăm sóc là sự quan tâm chu đáo đến sức khỏe
và tình trạng của người bệnh Chăm sóc tốt để giúp cho người bệnh mau khỏe mạnh
=> “Chăm sóc trẻ là hoạt động thường xuyên săn sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và theo dõi quá trình phát triển của trẻ nhỏ, thể hiện qua những cử chỉ, hành động ân cần chăm sóc”
1.2.1.2 Khái quát về da
Da là bộ phận có diện tích rộng nhất và bao bọc toàn bộ cơ thể Tình trạng của da sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cơ thể, đồng thời cũng tác động chính đến làn da [5]
Da có 3 lớp: Lớp biểu bì, lớp trung bì và lớp hạ bì
Da là cơ quan của hệ bài tiết, giúp cho sự bài tiết mồ hôi là nguồn cung cấp vitamin D quan trọng, cần thiết cho cơ thể của mõi con người Ngoài ra, chức năng chính của da đó là điều hòa cơ thể bảo vệ cơ thể và giữ cho cơ thể
có nhiệt độ thân nhiệt ổn định [4]
Trang 16Da là hệ thống loại bỏ các chất thải lớn nhất của cơ thể Loại bỏ các độc
tố được giải phóng ra bên ngoài cơ thể thông qua các tuyến mồ hôi và qua lỗ chân lông
=> “Da bao bọc toàn bộ cơ thể là ranh giới ngăn cách các cơ quan bên trong
cơ thể với môi trường bên ngoài Có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại các tác động, tác nhân của môi trường bên ngoài như: (tia cực tím, chất ô nhiễm, vi khuẩn,…)”
1.2.1.3 Khái quát về mắt
“Mắt là một cơ quan đáp ứng với ánh sáng và có nhiều chức năng khác nhau là một cơ quan cảm giác Các tế bào que và nón trong võng mạc cho phép sự cảm nhận ánh sáng và khả năng nhìn có ý thức bao gồm: Phân biệt màu sắc, hình dáng và cảm nhận về chiều sâu Mắt người có thể phân biệt được 10 triệu màu khác nhau và nhiều khả năng là có thể nhận biết một photon đơn lẻ” [5]
“Mắt người là một phần của não hình thành từ tuần thứ 3 của phôi kì dưới dạng 2 túi thị nguyên thủy, phát triển và lồi dần ra phía trước tạo thành võng mạc, thể thủy tinh và các thành phần hoàn chỉnh khác Cặp mắt là một trong năm giác quan quan trọng, giúp con người quan sát và kiểm soát môi trường chung quoanh Con người có khả năng dùng mắt để liên hệ, trao đổi thông tin với nhau thay lời nói Do đó, trong văn học mắt thường được gọi là
cử sổ tâm hồn” [5]
“Mắt là cơ quan phân tích thị giác rất nhạy cảm và quan trọng Mắt nhận được tới 80% - 90% các thông tin từ ngoài vào não Vì vậy, mắt cần được bảo
vệ, giữ gìn và chăm sóc chu đáo” [4]
Mắt là cửa sổ tâm hồn giúp cho khả năng nhìn được tường minh rõ ràng, mắt phân biệt được các đặc điểm sự vật hiện tượng một cách chính xác, phân biệt được sự giống và khác nhau cũng như phân biệt được: hình dạng, kích thước, màu sắc,… Vì vậy, mắt cần được chăm sóc và bảo vệ
1.2.2 Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi
Trang 17“Trẻ em ở lứa tuổi mầm non có đời sống tâm – sinh lý rất đa dạng và phong phú Ở giai đoạn này, trẻ có những đặc điểm những quy luật phát triển hết sức độc đáo và thú vị không giống như bất cứ một giai đoạn nào sau này
Cụ thể, hiện nay sự phát triển của trẻ mầm non 3 tuổi có một số đặc điểm sau”:
1.2.2.1 Đặc điểm tâm lí
Sự thay đổi hoạt động chủ đạo của trẻ 3 – 4 tuổi
“Hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non được thay đổi theo từng độ tuổi.Trẻ
ở độ tuổi mẫu giáo 3 – 4 tuổi hoạt động chủ đạo là hoạt động vui mà trung tâm
là trò chơi đóng vai theo chủ đề Trò chơi mô phỏng diễn biến lại các hoạt động sinh hoạt hằng ngày, các công việc của người lớn và phản ánh những mối quan hệ qua lại tác động các mối quan hệ giữa họ trong xã hội Qua trò chơi trẻ hiểu được mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình và hiểu được những thuận lợi và khó khăn của mỗi công việc trong xã hội mà trẻ được vui chơi đóng vai Thông qua hoạt động vui chơi trẻ bắt đầu dần hình thành nhân cách con người” [3]
Tuy nhiên, ở độ tuổi này các hoạt động vui chơi chỉ mới bước đầu chuyển sang giai đoạn ở vị trí chủ đạo nên trẻ mới đang ở dạng sơ khai đơn giản của hoạt động vui chơi (do vốn sống của trẻ còn hạn chế và ít ỏi nên việc
mô phỏng diễn đạt lại đời sống xã hội của người lớn vẫn còn rất nhiều hạn chế mà ban đầu mới chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản thông qua việc mô phỏng trò chơi)
Xuất hiện tiền đề của sự phát triển nhân cách
“Sự hình thành thế giới nội tâm và ý thức bản ngã (sự hình thành cấu tạo tâm lý bên trong) Ở trẻ đã xuất hiện nội tâm riêng – hình thành cấu tạo tâm lý bên trong Hành động của trẻ dễ bị thế giới nội tâm chi phối, cuối tuổi ấu nhi trẻ đã có thể hành động có mục đích” [3]
“Thế giới nội tâm của trẻ ấu nhi đã hình thành nhưng vẫn chưa ổn định
và còn rất mong manh: Trẻ thích được khen và thường tỏ thái độ xấu hổ khi gặp người lạ,…
Trang 18Sự tự ý thức của trẻ còn thể hiện ở chỗ trẻ muốn tìm hiểu muốn khám phá
về bản thân của mình và mong muốn mình trong tương lai sẽ ra sao” [3]
Sự xuất hiện tự ý thức: Trẻ bắt đầu ý thức được mình là một con người riêng biệt khác với những người xung quanh, trẻ tự so sánh mình với người có những đặc điểm khác nhau về cơ thể: Chiều cao, cân nặng, Các hành động
và sự vận động của trẻ thường xuyên biến đổi vì thế giới nội tâm ở trẻ còn chưa ổn định
Nguyện vọng độc lập và khủng hoảng của tuổi lên 3
“Bước vào độ tuổi mẫu giáo, ý thức bản ngã được xác định rõ ràng cho phép trẻ thực hiện các hành động một cách có chủ tâm hơn Vì vậy các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt Ở trẻ 3 tuổi thì cái tôi xuất hiện kèm theo khùng hoảng của tuổi lên 3 do các yếu tố: Xuất hiện thế giới nội tâm và ý muốn riêng của mình Nguyện vọng độc lập phát triển mạnh trong khi khả năng của trẻ còn yếu, nguyện vọng độc lập phát triển mạnh trong khi quan điểm của người lớn vẫn chưa thay đổi (người lớn cho rằng trẻ chưa làm được
gì, cần phải giúp đỡ và bảo vệ trẻ)” [3] Vì vậy trẻ thường tỏ ra bướng bỉnh ngang ngạnh với người lớn mà còn làm những việc mà người lớn không đồng
ý không cho phép, làm những việc người lớn không cho làm, cấm đoán hoặc bảo làm 1 đằng trẻ làm một nẻo thích tự làm theo ý thích riêng của mình, trẻ thường tỏ thái độ phản kháng chống đối lạivới người nào hay gần gũi quá chăm sóc chúng Trẻ thường tỏ thái độ bướng bỉnh, ích kỉ
Chính vì thế, người lớn cần phải có những giải pháp biện pháp để khắc phục kịp thời cho trẻ như: Người lớn nên tôn trọng tính độc lập của trẻ để có những phương pháp hướng dẫn trẻ tự làm một số việc vừa sức của mình Người lớn cần kiên trì giáo dục, định hướng kịp thời và nhận thấy khả năng và
sự thay đổi tích cực của trẻ; Cần bình tĩnh khắc phục, giáo dục uốn nắn trẻ một cách nhẹ nhàng, không cấm đoán áp đặt trẻ, không nên chiều chuộng quá mức, luôn tạo điều kiện để trẻ bộc lộ tình cảm của mình ra bên ngoài
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 3 - 4 tuổi
“Là hoàn thiện sự thông hiểu lời nói của người lớn
Trang 19Sự hình thành ngôn ngữ tích cực ở trẻ: Đến 3 tuổi trẻ có thể nói được những câu phức tạp hơn một chút, nói đúng ngữ pháp hơn đó là thể hiện qua việc trẻ đã đạt đến một mức độ nào đó trong sự phát triển ngôn ngữ nhờ sự quan sát, hướng dẫn từ phía của người lớn
Trẻ biểu lộ thể hiện sự giận dỗi, không hài lòng thông qua các hành vi,
cử chỉ như: Không thích thì trẻ sẽ ném, vứt đập vỡ, nói “không ” khi không đồng ý với cùng quan điểm của người lớn
Mối quan hệ tác động qua lại về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua việc phát triển trí tuệ và lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ là tác động đồng thời, song song với nhau” [3]
Trí tuệ phát triển lĩnh hội ngôn ngữ
“Tóm lại: Ở độ tuổi của trẻ ngôn ngữ thực sự trở thành phương tiện để giao tiếp thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất, giúp trẻ tiếp thu những kinh nghiệm để tìm hiểu thế giới xung quanh và để phát triển chức năng tâm lý khác: Tri giác, TN, TD, TT,… Đồng thời sự phát triển ngôn ngữ cũng chịu ảnh hưởng của các quá trình tâm lý đó” [3]
Người lớn nói chuẩn, thì sẽ tập cho trẻ phát âm chuẩn, sửa lỗi ngôn ngữ cho trẻ, kích thích trẻ tích cực giao tiếp với những người xung quanh
Sự xuất hiện động cơ hành vi
“Trong hành vi của trẻ dần dần đã có sự biến đổi lớn Đó chính là sự nảy sinh động cơ như: Những động cơ gắn liền với ý thích muốn được như người lớn.Những động cơ gắn liền với quá trình chơi có tác động khá mạnh
mẽ thúc đẩy hành vi của trẻ Những động cơ nhằm làm cho người lớn vui lòng
và yêu mến cũng bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trẻ thực hiện những hành động tích cực” [3]
“Ở lứa tuổi của trẻ là thời điểm khởi đầu của quá trình giúp trẻ hình thành nhân cách Chính vì vậy, mọi thứ chưa được hình thành sẽ được hình thành từ đây Do đó các nhà giáo dục giáo viên và các bậc phụ huynh phải chủ động trong việc hướng sự phát triển của trẻ theo đúng hướng theo mục đích giáo dục của mình sao cho phù hợp” [3]
Trang 20Do đó ở giai đoạn này giáo viên và phụ huynh phải hướng vào việc hình thành những kĩ năng chăm sóc da và mắt cho trẻ phải hướng giáo dục một số biện pháp chăm chăm sóc da và mắt cho trẻ thông qua các hoạt động vui chơi
và hoạt động học tập trên lớp để giáo dục trẻ
1.2.2.2 Đặc điểm sinh lý
Các cơ quan và các hệ cơ quan phát triển hoàn thiện hơn ở lứa tuổi nhà trẻ
Trẻ khỏe mạnh, phát triển hài hòa cân nặng và chiều cao
Cơ thể của trẻ 3 – 4 tuổi còn non nớt, sức đề kháng còn yếu ớt, nhạy cảm với các tác động của môi trường bên ngoài xã hội Trẻ dễ mắc các bệnh truyền nhiễm các bệnh về da và mắt,
“Khả năng vận động của trẻ ngày càng khéo léo, uyển chuyển linh hoạt, thành thạo hơn, trẻ đã biết phối hợp nhịp nhàng giữa tay và chân với nhau Khả năng nhận thức và trí tuệ của trẻ ngày càng phát triển và hoàn thiện Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của trẻ, trẻ đã tiếp thu được một lượng kiến thức lớn về thế giới xung quanh do đó trẻ được trực tiếp quan sastcasc sự vật hiện tượng xung quanh, trẻ sờ thấy, nhìn thấy và nghe thấy hoặc do người lớn kể lại qua các câu chuyện hay qua tranh ảnh, phim ảnh Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt cơ bản, chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy - hình tượng” [3]
Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo ham tìm tòi học hỏi, khám phá thế giới xung quanh và luôn sáng tạo Vì vậy, giáo viên cần tổ chức cho trẻ trực tiếp tham gia vào nhiều các hoạt động khác nhau để giúp trẻ có thể phát triển toàn diện đầy đủ các kĩ năng, giáo viên cần tạo ra môi trường phong phú,lành mạnh và kích thích cho trẻ hoạt động tích cực và hiệu quả
1.2.3 Cấu tạo và chức năng của da và mắt
1.2.3.1 Cấu tạo và chức năng của da
Trang 21Cấu tạo của da Chức năng của da
1 Lớp biểu bì : Hay còn gọi là lớp bảo vệ là
lớp da ngoài cùng mà chúng ta có thể nhìn
và chạm vào được, lớp biểu bì giúp bảo vệ
da tránh khỏi các độc tố, vi khuẩn từ môi
trường bên ngoài
Để bảo vệ và ngăn sự phát triển của vi khuẩn và các hóa chất bên ngoài
2 Lớp bì: Có chức năng nuôi dưỡng và hỗ
trợ gồm có lớp bì nằm dưới lớp biểu bì giúp
cho việc cung cấp chất các dinh dưỡng cho
phần biểu bì
Giúp cho sự bài tiết, giúp điều hòa thân nhiệt cơ thể và giúp da
có thể trao đổi chất một cách dễ dàng, giúp cho sự bài tiết chất nhờn để da không bị khô nứt nẻ, giúp diệt khuẩn cho cơ thể và bảo vệ cơ thể
3 Lớp mỡ dưới da: La lớp mỡ chứa mỡ dự
trữ, có vai trò cách nhiệt
Gồm có:
Giúp bảo vệ cơ có tác dụng giữ nhiệt và cách nhiệt trong cơ thể, góp phần điều hòa thân nhiệtcơ thể luôn ổn định
Chức năng của da bao gồm có các chức năng: Chức năng bảo vệ, chức năng cảm giác, chức năng bài tiết và đào thải, chức năng hấp thụ, chức năng
hô hấp, chức năng điều hòa thân nhiệt
Chức năng bảo vệ: Nhờ có cấu trúc chặt chẽ, lớp sừng dẻo dai giúp cho việc bảo vệ các cơ quan và các hệ cơ quan bên trong chống lại được các tác nhân có hại cho cơ thể từ môi trường bên ngoài
Trang 22Chức năng cảm giác: Nhờ vào các hệ thống dây thần kinh lan tỏa và phân
bố dày đặc trong các lớp da trong cơ thể giúp cơ thể nhận biết và phân biệt được các cảm giác rõ ràng như: Nóng, lạnh, đau, rát,…
Chức năng bài tiết và đào thải các chất độc hại ra ngoài cơ thể: Da giúp cho sự bài tiết mồ hôi và bã nhờn Qua các tuyến mồ hôi thì một số các chất độc hại trong cơ thể sẽ được thải bỏ Qua các tuyến bã nhờn chất nhờn tiết ra tạo thành lớp màng mỏng giúp chống khô da làm cho làn da mềm mại hơn và đồng thời một số các chất độc cũng được đào thải ra ngoài cơ thể
Chức năng hấp thụ: Da có khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng rất tốt nhờ vào các lỗ chân lông trên da và khe hở các tế bào
Chức năng hô hấp: Da là cơ quan hỗ trợ của thận và phổi trong nhiệm vụ đào thải khí cacbonic ra ngoài cùng với phổi giúp trao đổi Oxy và Cacbonic với môi trường bên ngoài
Chức năng điều hòa thân nhiệt: Da tham gia vào điều hòa thân nhiệt giúp cho thân nhiệt ổn định nhờ sự co giãn các mạch máu và qua sự bài tiết mồ hôi
“Vào mùa lạnh cơ thể phản ứng bằng cách co mạch máu dưới da dồn máu vào bên trong hạn chế việc tỏa nhiệt giúp giữ ấm cho cơ thể Mùa nóng cơ thể phản ứng bằng cách giãn mạch làm máu dồn ra ngoại vi, tăng tỏa nhiệt, tăng bài tiết mồ hôi giúp cơ thể được mát dễ chịu”
1.2.3.2 Cấu tạo chức năng của mắt
Cấu tạo của mắt bao gồm: Cấu tạo bên trong và cấu tạo bên ngoài
Cấu tạo bên ngoài: Nhìn ở bên ngoài đôi mắt bao gồm các bộ phận như: Lông mày, lông mi, mí mắt, tròng trắng, tròng đen,…
Cấu tạo bên trong Bao gồm: thủy tinh thể và võng mạc là hai bộ phận có vai trò quan trọng nhất để đảm bảo được các chức năng nhìn – chức năng thị lực của mắt
“Thủy tinh thể là một bộ phận của nhãn cầu, là một thấu kính trong suốt nằm ở phía bên trong mắt 2 mặt lồi trong suốt dày 4mm rộng 9mm, được bao bởi một màng bán thấm đối với nước và chất điện giải
Trang 23Võng mạc là lớp màng thần kinh cực mỏng ở đáy mắt, giữ vai trò cảm nhận ánh sáng và chuyển chúng thành tín hiệu thần kinh để truyền lên não phân tích
Hoàng điểm: Còn gọi là điểm vàng là phần quan trọng của võng mạc, nơi tập trung nhiều tế bào thị giác
Tế bào biểu mô sắc tố võng mạc: Là nơi tiếp nối và nhận tín hiệu trực tiếp từ 2 loại tế bào thị giác là tế bào nón và tế bào que” [5]
Chức năng của các bộ phận của mắt
Mi mắt / lông mi Có chức năng bảo vệ mắt
Kết mạc Che phủ nhãn cầu, chống việc nhiễm
Thủy dịch Giúp nuôi dƣỡng thể thủy tinh và giác
mạc và giữ hình dạng cho giác mạc
Thể thủy tinh Giúp cho việc hội tụ ánh sáng, giúp
cho khả năng nhìn đƣợc tốt hơn
Dịch kính Là lấp đầy khoảng cách giữa thể thủy
tinh và võng mạc và giữ hình dạng nhãn cầu
Võng mạc Giúp cảm thụ ánh sáng truyền vào
Trang 24Bộ phận Chức năng
mắt
Thị thần kinh Giúp trong việc nối con mắt với não
và giúp trong việc dẫn truyền các tín hiệu thần kinh
Cơ chế hoạt động của mắt
Để hiểu một cách rõ ràng và đơn giản hơn thì cơ chế hoạt động của mắt tương tự giống như các chức năng và các hoạt động cơ chế của chiếc máy ảnh Sau khi hoạt động nhiều trong ngày, mắt cần được nghỉ nghơi
“Mắt có hệ thấu kính bao gồm giác mạc và thủy tinh thể Ánh sáng sau khi được khúc xạ qua giác mạc và thủy tinh thể sẽ hội tụ trên võng mạc của mắt Tại đây, tín hiệu ánh sáng sẽ được các tế bào cảm thụ ánh sáng trên võng mạc chuyển thành tín hiệu thần kinh Sau đó, tín hiệu đó được truyển đến não thông qua hệ thần kinh thị giác và được xác nhận là hình ảnh tại não bộ Đây chính là cơ chế hoạt động của mắt để bạn nhìn thấy một vật nào đó” [5]
Lớp da ngoài cùng của biểu bì hay còn gọi là lớp sừng thì mỏng hơn và các tế bào được sắp xếp một cách ít chặt chẽ hơn so với làn da của người trưởng thành Tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn thì hoạt động ít hơn rất nhiều do
đó các màng hydrolipid (một dạng nhũ tương nước và chất béo bao bọc và bảo
vệ bề mặt da) và các axit bảo vệ (phần nước của màng hydrolipid – có tính chất axit nhẹ) thì vẫn còn rất yếu kết quả là”:
Trang 25Làn da của trẻ em thì có ít sức đề kháng hơn của so với người trưởng thành và đặc biệt nhạy cảm đối với các loại chất kích thích, hóa học hay các tác động của môi trường tác động của các chất hóa học, tác động vật lí hay do
vi khuẩn: Khi các chất độc hại này tiếp xúc với trẻ làn da của trẻ thì thẩm thấu
sẽ nhanh và dễ dàng xuyên thấu đến lớp da sâu hơn, gây ảnh hưởng xấu, bất lợi đến làn da của trẻ
Làn da của trẻ nói chung và trẻ 3 – 4 nói riêng thì đặc biệt nhạy cảm với tia UV hơn rất nhiều so với người lớn
Rất là khó khi thay đổi điều chỉnh nhiệt độ cơ thể của trẻ em vì:
Các vùng bề mặt ngoài da khi tiếp xúc của cơ thể trẻ thì khá là rộng so với tổng diện tích cơ thể, vì vậy chúng dễ bị mất nhiệt và có thể thay đổi nhiệt
độ cơ thể và thân nhiệt cơ thể đột ngột
Các hoạt động của tuyến mồ hôi ở trẻ em thì không nhiều như ở người lớn, ở trẻ em giảm rất nhiều so với ở người lớn nên khi ở nhiệt độ cao thì không thể bù nước
Hệ thống sự lưu thông máu ở làn da trẻ em thì chưa được định hình rõ ràng và chư được định hình một cách toàn diện, do đó chúng phản ứng thích ứng với sự thay đổi của nhiệt độ rất chậm bằng cách co giãn và co thắt mạch máu
Điều này tác rất nhiều đến trẻ, làm cho trẻ đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết nhất là khi thời tiết thay đổi khắc nghiệt và đột ngột
Viêm da cơ địa giống như bệnh chàm Atopic thường hay gặp ở trẻ khi gặp thời tiết thay đổi đột ngột ảnh hưởng đến cơ thể của trẻ hay do cơ thể trẻ
bị rối loạn không thích nghi được và là một trong các căn bệnh về da phổ biến nhất ở trẻ em hiện nay “Có đến khoảng từ10% đến 20% trẻ em trên toàn cầu
bị ảnh hưởng bởi căn bệnh này và có 1/3 các trường hợp mắc bệnh này sẽ hết dần tuy nhiên ở một số trường hợp khác thì bệnh này sẽ kéo dài cho đến khi trưởng thành” Vì vậy cần có những cách chăm sóc hiệu quả và kịp thời cho trẻ
Trang 261.2.4.2.Tình trạng mắt của trẻ mầm non
Ngay từ khi sinh ra, mắt của trẻ đã có thể nhìn thấy mọi vật xung quanh
và đã có thể thực hiện đầy đủ các chức năng của cơ quan thị giác
Khối lượng mắt của trẻ nhỏ, chỉ nặng khoảng từ 2 – 4g (ở người lớn nặng khoảng 6 – 8g) Sau khi sinh, khối lượng mắt của trẻ chỉ tăng lên từ 2 – 3 lần
và tăng nhanh nhất trong năm đầu tiên Khi trẻ được 3 – 4 tuổi, thì lúc này, khối lượng mắt gần bằng với khối lượng mắt của người trưởng thành
Cầu mắt ở trẻ em mầm non nhỏ hơn so với cầu mắt ở người lớn Lúc mới sinh, đường kính cầu mắt chỉ là 16mm Cầu mắt phát triển nhanh chóng trong năm đầu tiên, đến 3 – 4 tuổi thì kích thước cầu mắt đạt từ 23 – 25cm, đạt gần bằng cầu mắt của người lớn Trọng lượng cầu mắt lúc mới sinh là từ 2 – 4g đến khi trưởng thành đạt lên tới 8g
Ở trẻ mầm non, độ hội tụ còn kém nhưng thủy tinh thể có khả năng đàn hồi lớnhơn Khi trẻ em nhìn gần quá lâu và nhìn thường xuyên, thủy tinh thể
sẽ có tật phồng lên và khi ấy trẻ chỉ nhìn rõ được vật khi ở gần
Khả năng thu nhận kích thích ánh sáng:
Trẻ 2 tuổi đã có thể biết được các màu cơ bản như: Xanh, đỏ, trắng, đen Nhưng không biết gọi tên các màu đó cũng như chưa biết phân biệt các màu
Trẻ 3 tuổi đã biết tên các màu sắc, biết phân biệt các màu cơ bản và có thể xếp các hình đơn giản đa dạng
Trẻ 4 tuổi có thể vẽ các hình theo yêu cầu nhưng chỉ ở mức độ đơn giản như: vẽ hình tròn, hình vuông,… và nhìn chăm chú vào một vật bằng sự phối hợp nhịp nhàng của hai mắt
Trẻ 5 tuổi đã biết phân biệt được màu trung gian (vd: màu xanh da trời, xanh lá cây) và biết sắp xếp các hình cơ bản theo nhiều đề bài
Như vậy: “Mắt thực hiện chức năng nhìn, quan sát, thu nhận lại hình ảnh của sự vật, màu sắc, sau đó để chuyển vào não để xử lí và lưu trữ Trẻ càng
Trang 27lớn, thì khả năng thu nhận và phân biệt kích thước, hình dạng, màu sắc càng phong phú và phụ thuộc vào sự luyện tập của trẻ hằng ngày”
1.2.5 Vai trò của việc chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi trong trường mầm non
“Việc chăm sóc da và mắt cho trẻ là một trong những nhiệm vụ vấn đề quan trọng nhất và được thực hiện tiến hành và thực hành trực tiếp trong quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ, nhằm đảm bảo và bảo vệ sức khỏe của trẻ và giúp trẻ phát triển cân đối đầy đủ và toàn diện”
Ở độ tuổi 3 – 4 tuổi là độ tuổi trẻ thích tham gia các hoạt động vui chơi, chạy nhảy thích khám phá mọi vật xung quanh thế giới bên ngoài nên trong khi chơi trẻ chưa ý thức được những việc làm cũng như hành động cũng như hành vi của mình nên trẻ thường vui chơi hết mình Vì vậy, cần hình thành cho trẻ việc chăm sóc thân thể đúng cách cụ thể là việc chăm sóc da và mắt cho trẻ
là việc làm giữ gìn, bảo vệ sức khỏe của trẻ, giúp trẻ phòng tránh được nhiều các loại bệnh tật, nhiều những tác nhân xấu từ môi trường
Cũng như giáo dục lao động, thì việc chăm sóc bản thân đặc biệt là chăm sóc da và mắt cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giáo dục trẻ phát triển toàn diện Ngoài việc dạy trẻ bằng lí thuyết hay giáo viên trực tiếp làm công tác chăm sóc da và mắt cho trẻ, thì sau khi giáo viên thực hiện các thao tác làm mẫu chăm sóc da và mắt cho trẻ để trẻ quan sát, thì giáo viên cũng nên cho trẻ thực hiện các thao tác chăm sóc da và mắt để cho trẻ tự trải nghiệm tự phục vụ chăm sóc da và mắt của mình dưới sự hướng dẫn và dám sát của cô Giúp cho trẻ không những tự chữa lành vết thương cho mình mà còn biết cách để chữa lành vết thương cho bạn, giúp cho sức khỏe của trẻ được tăng cường, da và mắt được an toàn và khỏe mạnh và trẻ sẽ cảm thấy vui hơn khi tự mình làm được một điều gì đó, ngay cả khi đó là việc làm rất nhỏ
để trẻ tự phục vụ bản thân như: Rửa mặt, rửa tay,… mà không cần có người lớn bên cạnh Giúp cho trẻ biết lợi ích của công việc đối với mình cũng như đối với người khác
Trang 28“Chăm sóc da và mắt cho trẻ mầm non có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc chăm sóc và đảm bảo độ an toàn cho da và của trẻ Ở lứa tuổi này, các cơ quan và các hệ cơ quan trong cơ thể của trẻ tất cả đang phát triển rất nhanh và mạnh mẽ nhưng chưa hoàn thiện nên rất dễ mắc các bệnh về da và mắt, hay bị các kích thích từ môi trường tác động làm ảnh hưởng đến da mắt
Do đó, nếu không được chăm sóc, giáo dục, giữ gìn vệ sinh cẩn thận thì trẻ sẽ mắc các bệnh liên quan đến da và mắt rất cao” Chính vì vậy, việc chăm sóc
da và mắt cho trẻ là vô cùng cần thiết và quan trọng vì nó giúp cho trẻ khỏe mạnh và phát triển toàn diện Để trẻ hiểu và biết cách thực hiện các thao tác cơ bản về việc chăm sóc da và mắt của trẻ hằng ngày như: Trẻ có thể tự rửa mặt,
tự rửa tay,…Thậm chí trẻ có thể biết một số cách xử lý vết thương ngoài da Hay trẻ biết nhờ sự giúp đỡ của người lớn khi gặp khó khăn về mắt và da, vì tuổi của trẻ còn quá nhỏ nên trẻ chỉ tự chăm sóc về da và mắt cho mình một cách đơn giản, còn các vấn đề liên quan đến da và mắt của trẻ thì luôn cần sự giúp đỡ từ phía người lớn
Hiện nay, trẻ ở độ tuổi mầm non rất hay mắc các bệnh ngoài da và mắt như: dị ứng, mụn nhọt, đau mắt,…do yếu tố thời tiết hay do trẻ nô đùa quá mức ra mồ hôi mà chưa vệ sinh sạch sẽ cũng sẽ ảnh hưởng đến da Vì vậy giáo viên phải thường xuyên quan tâm đến trẻ đặc biệt là khâu vệ sinh da: Rửa mặt, rửa tay chân sạch sẽ Hay trong khi chơi, trẻ hay nô đùa, chạy nhảy làm trầy xước làm ảnh hưởng đến da và mắt gây chấn thương Giáo viên nên kịp thời
xử lí vết thương và nên đưa trẻ đến trạm y tế gần nhất để khám kiểm tra và chữa cho trẻ để đảm bảo độ an toàn về thân thể cho trẻ
Việc chăm sóc da và mắt cho trẻ là vô cùng quan trọng, các bậc phụ huynh cần quan tâm ngay từ khi trẻ mới lọt lòng và giáo viên cũng cần phải quan tâm đặc biệt đến da và mắt của trẻ trong quá trình học tập ở trường mầm non Vì da và mắt đều là những bộ phận rất quan trọng đối với trẻ nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động và sinh hoạt hằng ngày của trẻ
1.3 Thực trạng của việc chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương – Phúc yên – Vĩnh phúc
Trang 29“Ngành học Giáo dục mầm non đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng và vị trí trong ngành giáo dục và ngày càng nhận được sự quan tâm, góp
ý của Đảng và nhà nước và các cấp chính quyền trong việc đầu tư chăm lo cho Giáo dục mầm non Chăm sóc da và mắt cho trẻ là việc làm hết sức cần thiết
và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo, chăm sóc giáo dục trẻ có đầy đủ sức khỏe – trí tuệ để trở thành những mầm non tương lai của đất nước Trong xu thế hội nhập, đổi mới mạnh mẽ của giáo dục mầm non hiện nay với mục tiêu chủ yếu là phát triển năng lực chung cho trẻ, các hoạt động giáo dục ở trẻ mầm non phải hướng tới việc dạy trẻ biết cách học như thế nào, phát huy tối đa tính chủ động, ham học hỏi để trẻ phát triển toàn diện hài hòa
cả về mặt Trí tuệ và Thể chất”
1.3.1 Vài nét về trường mầm non Hùng Vương
Trường Mầm non Hùng Vương được thành lập ngày 30-06 -2006 Nằm trên địa bàn tổ 10 phường Hùng Vương ở thị xã Phúc Yên Tỉnh Vĩnh Phúc Khi mới thành lập, ngôi trường còn rất đơn sơ, giản đơn, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, hạn chế, cán bộ giáo viên nhân viên còn ít Nhưng trải qua thời gian không ngại những vất vả khó khăn các cô luôn thực hiện tốt các công tác chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ, luôn ươm những hạt giống tri thức cho đất nước Tuy trường mới thành lập được 13 năm nhưng cho đến hiện tại, trường đã có rất nhiều những thay đổi rất lớn về mặt giáo dục và nhà trường Trường đã được nhà nước công nhận là “Trường chuẩn quốc gia ” và hiện nay quy mô của nhà trường đã được mở rộng hơn rất nhiều cụ thể là: Với tổng số trẻ là 450 trẻ với 16 nhóm lớp trong đó:
- Khối nhà trẻ gồm 3 lớp: Từ nhà trẻ A1 đến nhà trẻ A3
- Khối 3 – 4 tuổi gồm 4 lớp: Từ 3 – 4 tuổi A1 đến 3 – 4 tuổi A4
- Khối 4 – 5 tuổi gồm 5 lớp: Từ 4 – 5 tuổi A1 đến 4 – 5 tuổi A5
- Khối 5 – 6 tuổi gồm 4 lớp: Từ 5 – 6 tuổi A1 đến 5 – tuổi A4
Tất cả 16/16 lớp nhóm lớp đều thực hiện tốt chương trình “Đổi mới các hình thức chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ ” đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ khi đến trường
Trang 30Sau 13 năm xây dựng và trưởng thành, số lượng quản lí và cán bộ giáo viên nhân viên trong nhà trường hiện nay là 43 cán bộ Đội ngũ giáo viên hiện nay có 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn nghiệp vụ sư phạm, đội ngũ giáo viên luôn tâm huyết tận tình với nghề, chăm sóc – giáo dục và nuôi dưỡng trẻ bằng chính cái “Tâm” của chính mình
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: Trẻ được học trong môi trường nhà trường khang trang, thoáng mát, sạch sẽ và đầy đủ với đầy đủ các phòng học, trang thiết bị nhằm phục vụ cho công tác chăm sóc – nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Trẻ đến trường đầy đủ và được học tập và vui chơi cùng với các bạn
và cô giáo Năm 2017 trường được công nhận là trường đạt chuẩn quốc gia
1.3.2 Thực trạng của việc chăm sóc da và mắt cho trẻ 3 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương
“Qua hai kì thực tập tại trường mầm non Hùng Vương, ở thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Bản thân tôi đã thấy được thực trạng việc chăm sóc da
và mắt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở trường Mầm Non Hùng Vương nói riêng và với độ tuổi 3 – 4 tuổi nói chung như sau”:
“Việc thực hiện chăm sóc da và mắt cho trẻ trong toàn trường nói chung
và trẻ 3 tuổi nói riêng luôn được giáo viên và nhà trường chú trọng và quan tâm Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể giáo viên trong trường đã ý thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc da và mắt cho trẻ trong tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ Việc rèn luyện thói quen chăm sóc da và mắt cho trẻ đạt được những ưu, nhược điểm như sau”:
Trang 31cụ y tế như: Thuốc rỏ mắt, bộ dụng cụ y tế, dầu gió, khăn mặt có kí hiệu riêng
đủ cho mỗi trẻ một chiếc, cốc uống nước cho trẻ đầy đủ, xà phòng,…
Có mối quan hệ mật thiết giữa phụ huynh và nhà trường Do địa bàn trường nằm trong khu vực thị xã và nền kinh tế ở Phúc Yên cũng đang rất phát triển và ổn định nên hầu hết các gia đình đều có điều kiện đầy đủ để chăm lo cho trẻ và quan tâm đến việc chăm sóc da và mắt cho trẻ hằng ngày Hầu hết, phụ huynh có nhận thức đúng về mục đích, yêu cầu của công tác chăm sóc da
và mắt ở trẻ, và phối hợp tốt với giáo viên và nhà trường để chăm sóc tốt cho trẻ Mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình luôn được quan tâm và chú trọng
Hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm thì vẫn còn có những hạn chế trong việc chăm sóc da và mắt cho trẻ Ví dụ như do các hoạt động trong ngày của trẻ rất nhiều trẻ vừa học vừa chơi và số lượng trẻ trong một lớp đông và tham gia nhiều vào các hoạt động học trong ngày nên cô vừa dạy học và vừa chăm sóc trẻ nên đôi khi không thể bao quát được hết tất cả các trẻ trong các hoạt động chăm sóc da
và mắt cho trẻ như đã định Đôi khi rửa tay trước khi ăn mà không cần dùng
xà phòng, rửa mặt không đủ các bước, chưa xử lí hiệu quả với các trường hợp trẻ bị trầy xước da và bị chấn thương ở mắt,…Tuy nhiên, các hạn chế tồn tại trên là do điều kiện khách quan đem lại Về cơ bản, thì việc thực hiện chăm sóc da và mắt cho trẻ trong nhà trường vẫn được thực hiện tốt và hiệu quả
Một số tai nạn thường gặp ở da và mắt ở trẻ
Các vấn đề thường gặp ở trẻ trong trường mầm non nói chung và ở độ tuổi 3 – 4 tuổi nói riêng thường là các vấn đề về da và mắt Do nhu cầu vận động vui chơi của trẻ ở độ tuổi này thường rất lớn nên các vấn đề thường gặp
ở da và mắt của trẻ như: Trẻ bị xây xát trầy xước, chấn thương và bị đau ở da
và mắt do bị ngã, va chạm gây nguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến da và mắt
Vì vậy, cần phải có biện pháp hợp lí để chăm sóc và bảo vệ cho da và mắt luôn thực sự khỏe mạnh
Trang 32CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP CHĂM SÓC DA VÀ MẮT CHO TRẺ MẦM NON 3 – 4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG 2.1 Một số kĩ năng chăm sóc da cần thiết cho trẻ
2.1.1 Ý nghĩa của việc vệ sinh da cho trẻ
Da có vai trò quan trọng đối với cơ thể của mỗi con người và có tầm quan trọng rất lớn đối với mỗi trẻ nhỏ, nó như một lớp màn chắn để bao bọc toàn bộ cơ thể và bảo vệ cơ thể và giữ cho cơ thể có nhiệt độ ổn định và giúp cho sự bài tiết mồ hôi của mỗi trẻ, da còn đảm nhận nhiệm vụ trao đổi chất,…
Vệ sinh da nhằm giữ cho làn da khỏe mạnh sạch sẽ đảm bảo vệ sinh phòng tránh được các bệnh tật, đặc biệt là phòng tránh được các bệnh ngoài da cho trẻ và phòng tránh các bệnh đường ruột do vi khuẩn truyền qua tay bẩn của trẻ khi trẻ chơi cùng với nhau, hay do thức ăn không đảm bảo vệ sinh đưa vào miệng Vì vậy cần giáo dục và phòng tránh để giúp trẻ bảo vệ, giữ gìn chăm sóc và vệ sinh da sạch sẽ cho trẻ để trẻ có một làn da khỏe mạnh và đảm bảo
an toàn cho trẻ
Trẻ 3 tuổicòn nhỏ nên khả năng nhận thức còn ít ỏi, trẻ chưa tự ý thức được bản thân khi vui chơi với bạn bè nên trẻ thường vui chơi hết mình, trẻ chạy nhảy làm toát mồ hôi gây khó chịu cho da thậm chí trẻ còn bị chấn thương ở da khiến cho trẻ bị đau và trầy xước ở da, vệ sinh cá nhân không sạch sẽ cũng là nguyên nhân khiến cho trẻ bị mẩn ngứa, dễ bị viêm nhiễm, làn
da của trẻ thì mỏng manh và mềm mại Vì vậy, sau các hoạt động trên lớp giáo viên phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ cho trẻ như: Cho trẻ rửa chân tay sạch
sẽ, đảm bảo an toàn cho làn da của trẻ,… giáo viên tắm rửa sạch sẽ cho trẻ, chuẩn bị các trang thiết bị cần thiết để tắm cho trẻ; Xây dựng chế độ dinh dưỡng dành cho da và chăm sóc bảo vệ làn da hợp lí
2.1.2 Các trang thiết bị vệ sinh da cần thiết cho trẻ mầm non
Trẻ 3 tuổi còn nhỏ, vốn hiểu biết còn ít ỏi nên chưa thể nào tự lựa chọn các trang thiết bị để vệ sinh da cho bản thân Vì vậy, khi ở lớp trẻ nhờ hoàn toàn vào sự giúp đỡ của giáo viên Giáo viên lựa chọn những thiết bị sản phẩm
Trang 33phù hợp để phục vụ cho việc tắm rửa vệ sinh cá nhân cho trẻ và đảm bảo độ an toàn cho trẻ
Ở lớp do thời gian không có nhiều mà các hoạt động của trẻ trong ngày thì nhiều và do số lượng trẻ ở một lớp rất đông Nên trong thực tế sau mỗi hoạt động vui chơi, hay các hoạt động tham quan ngoài trời, giáo viên chỉ cho trẻ
vệ sinh từng bộ phận trên cơ thể như: Rửa tay, rửa chân, rửa mặt,… sau các hoạt động mà không thể tắm cho từng trẻ được
Giáo viên chỉ tắm gội sạch sẽ cho trẻ trong trường hợp như: Trẻ bị đánh
đổ thức ăn vào người, trẻ bị nôn chớ, hay do một số nguyên nhân khác mà tắm cho trẻ Còn trong thực tế việc tắm cho trẻ thường diễn ra ở nhà và các bậc phụ huynh sẽ trực tiếp tắm cho con em mình Nhưng ở lớp vẫn phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ các trang thiết bị vệ sinh cho trẻ để có thể xử lí trong mọi trường hợp
Các trang thiết bị để vệ sinh cho trẻ
Cô cần chuẩn bị các trang thiết bị có sẵn tại lớp như: Chậu tắm, ca múc nước, xà phòng, khăn tắm,…
Chậu tắm dành cho trẻ: Giáo viên lựa chọn chậu có kích thước, hình dáng phù hợp với trẻ, chọn chậu có chất liệu an toàn như: Chậu nhựa,… giúp cho việc tắm gội ở trẻ diễn ra một cách dễ dàng thuận tiện và an toàn với trẻ
Ca múc nước: Dùng để múc nước tắm cho trẻ Lưu ý, khi chọn ca múc nước thì phải chọn ca có kích cỡ vừa tay cầm và khi múc nước tắm, giáo viên múc nước với lượng vừa phải để tắm cho trẻ để đảm bảo độ an toàn cho trẻ trong khi tắm
Vòi hoa sen: Nếu không sử dụng chậu tắm và ca múc nước, giáo viên có thể dùng vòi hoa sen để tắm cho trẻ, khi tắm cho trẻ bằng vòi hoa sen tránh để vòi nước chảy mạnh vào mặt và da của trẻ Vì như thế, sẽ làm trẻ bị sặc nước
và gây đau rát da nên xả nước từ từ đảm bảo độ an toàn cho trẻ
Khăn tắm: Giáo viên sử dụng khăm tắm lớn có lông sợi mịn để sau khi cho trẻ tắm xong, giáo viên lấy khăn lau và thấm lau người cho trẻ Khi lau
Trang 34người cho trẻ xong, giáo viên giặt khăn sạch sẽ, phơi khô dưới ánh nắng của mặt trời
Các loại mĩ phẩm dùng để tắm cho trẻ
Việc lựa chọn các loại mỹ phẩm cũng khiến cho làn da của trẻ trở nên mịn màng và sạch sẽ hơn Giáo viên có thể chọn các loại mỹ phẩm tắm gội cho trẻ bao gồm: Dầu gội, sửa tắm, xà phòng thơm, để phục vụ cho việc tắm giặt ở trẻ
Các loại dụng cụ khác: (bàn chải, cắt móng tay, tăm bông,…) thường dùng
sau khi tắm cho trẻ
2.1.3 Một số cách chăm sóc vệ sinh thường xuyên cho da của trẻ
Làm vệ sinh từng phần trên cơ thể có nghĩa là chỉ làm sạch những bộ phận trên cơ thể của trẻ thực sự cần được rửa ráy vệ sinh sạch sẽ như: các vùng mặt, cổ, hai bàn tay, chân,vùng bẹn, Cần phải coi việc làm vệ sinh từng phần trên cơ thể là một nếp sinh hoạt hằng ngày của trẻ (buổi sáng, buổi chiều
và trước khi đi ngủ khi ở nhà và sau hoạt động ngoài trời khi ở lớp) Đây là cách giữ gìn vệ sinh tốt nhất có thể thay thế cho việc tắm rửa, hay do thời tiết quá lạnh, mà trẻ vẫn được sạch sẽ Hầu hết, việc làm vệ sinh từng phần trên
cơ thể của trẻ thường được diễn ra ở nhà Ở lớp chỉ diễn ra sau các hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời, giáo viên cho trẻ rửa mặt, rửa tay, rửa chân sạch sẽ
Cách rửa mặt: Giáo viên lấy khăn rửa mặt cho trẻ: Lau các bộ phận trên mặt của trẻ như: Lau mắt lau các kẽ mắt sau đó lau xuống mũi cho trẻ, lau quanh miệng và hai bên má và trán cho trẻ bằng khăn ướt sau đó lau phía sau hai tai cho trẻ Sau đó giặt sạch khăn sạch sẽ
Cách rửa tay: Cho trẻ xả sạch tay với nước sạch để làm ướt tay sau đó lấy xà phòng trà lên tay của trẻ lấy hai tay trà vào nhau và cho trẻ rửa tay theo các bước: Dùng các ngón tay và lòng bàn tay rửa sạch từng ngón tay của bàn tay này và bàn tay bên kia, sau đó dùng lòng bàn tay chà sát lên cổ tay và mu của bàn tay kia và ngược lại, dùng các đầu của ngón tay của bàn tay này miết vào các kẽ giữa để rửa sạch các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại Cho trẻ
Trang 35chụm 5 đầu ngón tay của bàn tay này trà sát vào lòng bàn tay của tay kia xoay
đi xoay lại và ngược lại Cuối cùng cho trẻ xả sạch tay với xà phòng cho sạch
sẽ, hết sạch xà phòng dưới vòi nước sạch Và cho trẻ lau khô tay với khô tay với khăn sạch Và cho trẻ rửa chân tay sách sẽ sau các hoạt động vui chơi trong ngày
Tắm: Là việc làm diễn ra thường xuyên của trẻ khi ở nhà, các bậc phụ huynh thường tắm cho trẻ sau các hoạt động trong ngày Đây là việc làm diễn
ra hằng ngày làm một nếp sinh hoạt hằng ngày của trẻ mỗi ngày để trẻ luôn được vệ sinh sạch sẽ và khỏe mạnh
Do các vấn đề vệ sinh tắm cho trẻ luôn được các giáo viên nhắc nhở phụ huynh vệ sinh tắm rửa sạch sẽ cho trẻ vào mỗi ngày Vì ở lớp, giáo viên vừa dạy học, vừa chăm sóc giáo dục nên không thể nào tắm cho từng trẻ một được Nên giáo viên chỉ tắm gội cho trẻ sạch sẽ trong các trường hợp trẻ bị nôn chớ thức ăn, hay do trẻ đánh đổ thức ăn vào người, hay do các vấn đề khác về vệ sinh,… Trong các trường hợp phải tắm cho trẻ ở lớp, thì giáo viên thực hiện tắm cho trẻ thực hiện đầy đủ các quy trình các bước trong khi tắm và phải đầy
đủ các trang thiết bị khi tắm và giáo dục trẻ hiểu được tầm quan trọng của việc tắm rửa vệ sinh sạch sẽ hằng ngày cho trẻ
Một số quy tắc an toàn trong khi tắm
1 Tuyệt đối không bao giờ để trẻ tắm trong bồn tắm một mình
2 Tuyệt đối không được để trẻ tự đứng dậy hay đi lại trong bồn tắm
3 Tuyệt đối không bao giờ được xả nước nóng trực tiếp khi trẻ đang ở trong bồn tắm Kiểm tra nhiệt độ của nước đảm bảo an toàn với lượng nước vừa đủ và ấm để tắm cho trẻ, cần phải pha nước nóng với nước lạnh cho hợp lí
để đảm bảo nước vừa ấm rồi mối xối nước
4 Nếu dùng các vòi nóng lạnh thì điều chỉnh nhiệt độ của nước cho phù hợp bằng cách vặn sẵn vòi nóng lạnh trước khi cho trẻ vào bồn tắm hay chậu tắm Và xả nước từ từ, không xả nước mạnh vào mặt trẻ
Trang 365 Đảm bảo nhà tắm phải được bố trí gọn gàng khô ráo thoáng mát, tránh việc để trẻ đi lại trong khi tắm và không để nền nhà chơn ướt đảm bảo
độ an toàn của trẻ trong khi tắm
2.1.4 Một số bệnh về da và biện pháp phòng bệnh cơ bản
Bệnh mụn nhọt ngoài da
Nguyên nhân: Bệnh do vi khuẩn tụ cầu, liên cầu và các vi khuẩn gây mủ gây ra trẻ bị ngứa, sốt, quấy khóc, ăn ngủ khém, không được vệ sinh sạch sẽ Mụn nhọt thường phát sinh nhiều vào mùa hè, gây ngứa
Biện pháp: Cô giữ gìn vệ sinh da cho trẻ sạch sẽ, mặc quần áo thoáng mát vào mùa hè Cho trẻ chơi ở những nơi sạch sẽ
Cắt móng tay cho trẻ, luôn giữ bàn tay sạch sẽ cho trẻ Tắm giặt sạch sẽ cho trẻ
Thường xuyên dọn dẹp đồ dùng đồ chơi lớp học sạch sẽ và thông thoáng lớp học
Bệnh ghẻ
Nguyên nhân: Do kí sinh trùng ghẻ gây nên Bệnh lây lan khắp mọi nơi, đặc biệt là vào mùa đông bệnh lây lan từ trẻ này sang trẻ khác qua tiếp xúc: Chơi với nhau, nằm gần nhau, mặc chung quần áo
Do vệ sinh cá nhân kém Trẻ không được vệ sinh, tắm rửa chu đáo
Trang 37Bệnh tay – chân – miệng
Nguyên nhân: Bệnh thường lây lan theo đường tiêu hóa, bệnh do vius gây nên đó là typ enterovirus thuộc nhóm enterovirus A
Do vệ sinh cá nhân chưa sạch sẽ, vệ sinh môi trường yếu kém, chưa trang
bị cho trẻ kĩ năng vệ sinh phù hợp
Chế độ sinh hoạt hằng ngày chưa đảm bảo vệ sinh
Biện pháp: Hằng ngày giữ vệ sinh tay chân cho trẻ sạch sẽ Khuyến khích trẻ rửa tay thường xuyên với xà phòng
Giáo viên vệ sinh đồ dùng đồ chơi vệ sinh lớp học, môi trường sạch sẽ, giặt chăn chiếu sạch sẽ cho trẻ ngủ
Giáo dục trẻ biết vệ sinh sạch sẽ cho bản thân
Kết hợp với phụ huynh để vệ sinh cho trẻ sạch sẽ
2.1.5 Chế độ dinh dưỡng cho da
Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ không những giúp cho
cơ thể của trẻ tăng cường sức đề kháng mà còn giúp cho làn da của trẻ luôn được khỏe mạnh để ngăn ngừa các loại bệnh tật một cách tốt nhất
Chế độ ăn uống đầy đủ và hợp lí đảm bảo cung cấp cho trẻ đầy đủ các dưỡng chất cần thiết để cho trẻ phát triển, khôn lớn Đặc biệt, cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ
Cho trẻ ăn đa dạng thực phẩm chứa các loại vitamin: có trong thịt, cá, trứng, sữa, Các loại rau, củ, quả Đặc biệt, cho trẻ ăn nhiều hoa quả: Cam, chuối,dưa ,… và uống đủ nước
Tắm nắng vào buổi sáng sớm cũng là biện pháp tốt để xây dựng chế độ dinh dưỡng cho da, giúp hấp thụ lượng vitamin D, khiến cho làn da của trẻ luôn được khỏe mạnh hồng hào mà còn giúp cho hệ xương phát triển
2.1.6 Một số cách chăm sóc da cho trẻ hằng ngày
Trẻ 3 tuổi chưa có nhận thức tốt về việc tự vệ sinh, vệ sinh cá nhân hay chưa biết cách chăm sóc và bảo vệ da cho mình Nên khi giáo viên không