“ Phương pháp thực nghiệm ”-“Tiến hành khảo sát việc thực hiện các kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng .” - “Tổ chức các hoạt động nhằm hình thành và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
ĐÀM THỊ TUYẾT
“ RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON 5 - 6 TUỔI
TẠI TRƯỜNG MẦM NON TÍCH SƠN -
VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC ”
“ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em ”
HÀ NỘI - 2019
Trang 2“TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON”
======
ĐÀM THỊ TUYẾT
“ RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON 5 - 6 TUỔI
TẠI TRƯỜNG MẦM NON TÍCH SƠN -
VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC ”
“ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em ”
“ Người hướng dẫn khoa học ”
Trang 3“LỜI CẢM ƠN”
“ Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 Các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Mầm non, khoa Sinh - KTNN đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường, tạo điều kiện để em có cơ hội tìm hiểu và hoàn thành khóa luận tốt nghiêp này.”
“ Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Nguyễn Thị Việt Nga - Người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp “
“Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, cũng như các cô giáo và các em học sinh trường mầm non Tích Sơn - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại trường.”“Trong quá trình nghiên cứu không trxánh khỏi những hạn chế và thiếu sót Kính mong được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài khóa luận của em được hoàn thiện hơn.”
“ Em xin chân thành cảm ơn!”
“ Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện”
“Đàm Thị Tuyết”
Trang 4“LỜI CAM ĐOAN””
“ “Em xin cam đoan đề tài “ Rèn lyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Tích Sơn - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”là kết quả mà em đã nghiên cứu qua các đợt kiến tập hàng năm và thực tập năm cuối.Trong quá trình nghiên cứu em có sử dụng một số tài liệu của một số nhà nghiên cứu và một số tác giả khác.Tuy nhiên”những tài“liệu
đó chỉ là cơ sở để em rút ra những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Đây
là kết quả của riêng cá nhân em, hoàn toàn không trùng với kết quả của các tác giả khác ”
Em xin chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện
“Đàm Thị Tuyết”
Trang 5
“DANH MỤC BẢNG BIỂU”
Bảng 3.1 Mức độ rèn luyện và phát triển các kĩ năng rửa tay cho trẻ đạt
đƣợc sau khi đánh“giá lần 1 75
"Bảng 3.2 Mức độ rèn luyện và phát triển kĩ năng rửa tay cho trẻ đạt đƣợc sau khi đánh giá lần 2 76Bảng 3.3 Mức độ rèn luyện và phát triển kĩ năng tửa tay cho trẻ đạt
đƣợc sau khi đánh giá lần 3 77
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN I PHẦNMỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp của đề tài 5
8 Cấu trúc khóa luận 5
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu 6
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 7
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2.1.1 Khái niệm về vệ sinh 7
1.2.1.2 Khái niệm về dinh dưỡng 10
1.2.2.Đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi 12
1.2.3 Đặc điểm KNVS cá nhân và dinh dưỡng của trẻ 5 - 6 tuổi 16
1.2.4 Yêu cầu và điều kiện khi chăm sóc vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ 17
1.3 Thực trạng rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ Mầm non 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Tích Sơn - Vĩnh Yên - 20
Vĩnh Phúc 20
Trang 8CHƯƠNG 2 RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON 5 - 6 TUỔI TẠI
TRƯỜNG MẦM NON TÍCH SƠN - VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC 23
2.1 Một số kĩ năng trong vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cần phát triển cho trẻ 23
2.1.1 Kĩ năng rửa tay bằng xà phòng 23
2.1.2 Kĩ năng tự rửa mặt 25
2.1.3 Kĩ năng chải răng hàng ngày 26
2.1.4 Kĩ năng che miệng 27
2.1.5.Kĩ năng giữ quần áo đầu, tóc gọn gàng 28
2.1.6 Kĩ năng ăn uống vệ sinh 29
2.2 Một số phương pháp tổ chức rèn luyện và phát triển KN vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Tích Sơn - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 32
2.2.1 Tổ chức rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ trong các hoạt động học tập 32
2.2.2 Rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ trong hoạt động vui chơi 36
2.2.3 Rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày 38
2.2.4 Tổ chức thông qua việc phối hợp với gia đình trẻ 40
2.3 Ví dụ minh họa 42
2.3.1 Kĩ năng rửa tay bằng xà phòng thông qua hoạt động học tập 42
2.3.2 Kĩ năng tự rửa mặt 46
2.3.3 Kĩ năng ăn uống vệ sinh 55
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71
Trang 93.1 Mục đích thực nghiệm 71
3.2 Lựa chọn đối tƣợng thực nghiệm 71
3.3 Nội dung thực nghiệm 71
3.4 Tiến hành thực nghiệm 73
3.4.1 Các yêu cầu cần đạt 73
3.4.2 Chuẩn bị thực nghiệm 73
3.4.3 Tiến hành thực nghiệm 73
3.4.4 Đánh giá 74
3.5 Kết quả thực nghiệm 75
3.5.1 Đánh giá lần 1: Rèn luyện và phát triển kĩ năng rửa tay cho trẻ 75
3.5.2 Đánh giá lần 2: Rèn luyện và phát triển kĩ năng rửa tay trẻ 76
3.5.3 Đánh giá lần 3: Rèn luyện và phát triển kĩ năng rửa tay cho trẻ” 77
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 79
PHẦN IV.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU
“1 Lí do chọn đề tài
Danh ngôn:
“ Trong tất cả những món quà của tự nhiên dành cho loài người, còn gì
ngọt ngào hơn con trẻ ”
( Marcus Tullius Cicera )
Trẻ em là món quà quý giá nhất mà tạo hóa ban tặng cho loài người, mỗi đứa trẻ chính là niềm hy vọng, vừa là lời hứa hẹn của nhân loại về một tương lai tươi sáng và có thể đưa đất nước hội nhập được với thế giới Trẻ em- những mầm xanh mới sẽ không ngừng vươn lên làm chủ và phát huy được những gì tinh túy nhất của cả nhân loại Do vậy xã hội vô cùng quan tâm đến việc phát huy, nâng cao chất lượng và trang bị cho trẻ những hành trang vững chắc để cho trẻ bước vào đời một cách tự tin
“Từ lọt lòng cho đến 6 tuổi là một quãng đời có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung của trẻ em Đúng như L.N.Tônxtôi đã nhận
định khi nhấn mạnh ý nghĩa của thời kì đó rằng:“ Tất cả những cái gì mà đứa
trẻ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng một phần trăm những cái đó mà thôi” Đây chính là giai đoạn vàng, đóng vai trò quan
trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ Trẻ em ở thời kì này có đặc điểm là rất dễ uốn nắn và có nhịp độ phát triển rất nhanh Trẻ đã có khả năng học tập, tiếp thu những tri thức bên ngoài để hình thành những hiểu biết và giao tiếp với xã hội
Việc được hưởng sự chăm sóc và giáo dục tốt ngay từ khi còn nhỏ góp phần tạo nên những nền móng vững chắc cho sự phát triển của trẻ về sau Hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm lý, sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính chất nền tảng và những kĩ năng sống cần thiết với lứa
Trang 11tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở những cấp học tiếp theo
Trong đó,“việc giúp trẻ rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển toàn diện nhân cách con người về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất và thẩm mỹ Giáo dục cho trẻ thói quen tự phục vụ đơn giản giúp trẻ biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, ăn uống đủ chất và hợp lí, phòng chống bệnh tật Giúp trẻ hình thành những tri thức sơ đẳng khác nhau, những biểu tượng, những khái niệm đúng
về hành vi vệ sinh cũng như những hiện tượng khác của cuộc sống xung quanh trẻ Thông qua đó trẻ có thể tự rèn luyện cho bản thân những thái độ đúng đắn chuẩn mực với mọi hành vi,“việc làm và điều chỉnh những cảm xúc của bản thân.”
“Việc giúp trẻ rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng có”
vai trò vô cùng quan trọng nó góp phần hình thành ở trẻ các phẩm chất đạo đức tốt thông qua việc hình thành những tình cảm, “cảm xúc của bản thân Từ
đó trẻ sẽ có tinh thần trách nhiệm với công việc được giao, đồng thời rèn cho trẻ tính kiên trì, tự giác, và có ý thức cao trong mọi hoạt động.”
Ngay từ những năm tháng đầu đời,“việc tác động vào tâm hồn trẻ những tình cảm tốt đẹp, những hành vi có văn hóa là những điều vô cùng quan trọng giúp trẻ nhanh nhẹn, khéo léo, tích cực và hứng thú với mọi hoạt động hướng tới phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ “Giúp trẻ hiểu được cách tự bảo vệ bản thân tránh khỏi những tác động xấu từ môi trường, xã hội Trẻ sẽ hiểu và biết cách bảo vệ mình, hình thành tính tự giác cho bản thân, giúp đỡ bạn bè và những người xung quanh.”
Trang 12Là một giáo viên mầm non trong tương lai, với những kiến thức được trau dồi tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và những điều tiếp thu được trong quá trình kiến tập tại trường mầm non, em nhận thấy rằng việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ là một việc làm vô cùng ý nghĩa và khách quan.”Vì vậy
em lựa chon nghiên cứu đề tài “Rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá
nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi tại trường Mầm non Tích Sơn
- Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
“Đưa ra một số biện pháp giúp rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi tại trường Mầm non Tích Sơn.”
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
3.2 Tìm hiểu thực trạng rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ Mầm non 5 - 6 tuổi tại trường Mầm non Tích Sơn - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
3.3 Đưa ra một số biện pháp và thiết kế giáo án nhằm giúp trẻ MN 5 - 6 tuổi rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá
nhân và dinh dưỡng cho trẻ Mầm non
4.2 Khách thể nghiên cứu: Trẻ 5 - 6 tuổi tại trường Mầm non Tích Sơn -
Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp rèn luyện cho trẻ có hiệu quả sẽ phát triển được các kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng qua đó tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách toàn diện
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của việc rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ MGL
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan làm cơ sở lý thuyết cho đề tài Thu thập, tổng hợp và khái quát hóa tài liệu liên quan đến lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu làm cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 “ Phương pháp nghiên cứu thực tiến ”
- Tìm hiểu việc tổ chức các hoạt động nhằm rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ lớp MGL
- Tìm hiều các biện pháp nhằm giúp cho việc rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ đạt được hiệu quả cao
Trang 146.4 “ Phương pháp thực nghiệm ”
-“Tiến hành khảo sát việc thực hiện các kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ”
- “Tổ chức các hoạt động nhằm hình thành và phát triển kĩ năng vệ sinh
cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ MGL tại lớp thực nghiệm.”
- “Đánh giá mức độ hình thành và rèn luyện kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ MGL sau thực nghiệm ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.”
6.5 Phương pháp đàm thoại
- Tiến hành đàm thoại với trẻ về việc thực hiện các kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng: Đã biết tự rửa tay chưa? Rửa tay khi nào? Tại sao cần phải rửa tay? Khi ho, ngáp, hắt hơi phải làm gì? Tại sao?
-“Đề xuất các biện pháp rèn luyện, thiết kế và xây dựng được một số hoạt động hoạt động học tập, giáo án tiêu biểu về việc lồng ghép, tích hợp trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi
8 Cấu trúc khóa luận
“ Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương.”
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Tích Sơn - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Chương 3 “Thực nghiệm sư phạm
Trang 15“ PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU”
1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người nói chung và trẻ Mầm non nói riêng, cơ thể“có thể phát triển khỏe mạnh”được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chăm sóc vệ sinh và chế độ dinh dưỡng hợp lí.“Để giúp trẻ khỏe mạnh, có thói quen vệ sinh văn minh và phòng chống bệnh tật thì việc làm này”cần“có sự kiên trì, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình từ phía giáo viên, sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường, sự đầu tư trang thiết bị chăm sóc vệ sinh
và các điều kiện thuận tiện cho hoạt động vệ sinh của trẻ.”
“ Để đạt hiệu quả trong công tác giúp trẻ rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ MGL thì những người làm công tác GD cần phải tiến hành thu thập thông tin, phỏng vấn,”trò chuyện và quan sát các hoạt động hàng ngày của trẻ, tạo tình huống để trẻ có cơ hội trải nghiệm và“không cảm thấy bỡ ngỡ, đồng thời trao đổi với phụ huynh để biết thêm thông tin về trẻ.”
Đời sống con người ngày càng được nâng cao, điều kiện kinh tế được”
cải thiện vì vậy việc đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học được chú trọng Mỗi phòng học luôn đảm bảo điều kiện tốt nhất để trẻ có thể rèn luyện
và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng như: Xà phòng đủ cho trẻ dùng, mỗi trẻ phải có khăn mặt,”bàn chải đánh răng, cốc uống nước riêng, khăn mặt giặt sạch sẽ hằng ngày phơi dưới ánh nắng mặt trời, mỗi tuần được trần nước sôi hai lần.“Nhà vệ sinh cho trẻ luôn được sạch sẽ, thoáng mát, nguồn nước phải sạch, có chậu rửa, vòi nước” thuận tiện cho trẻ thực hiện các KNVS Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo viên luôn tạo tâm thế thoải mái, tự nhiên cho trẻ bằng cách chào hỏi thân thiện, lôi cuốn trẻ bằng các trò chơi,“bài thơ, câu đố, đồng dao hay những mẩu truyện ngắn liên quan Xây
Trang 16“dựng các giáo án và đưa ra những sáng kiến kinh nghiệm có thể áp dụng một cách thiết thực nhất Các biện pháp rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng được lồng ghép trong tất cả các hoạt động của trẻ ở trường, các đồ dùng, đồ chơi được sáng tạo rất phong phú với màu sắc bắt mắt để cho trẻ”
quan sát và trải nghiệm
“Khi làm mẫu, giáo viên thực hiện các thao tác một cách chậm dãi, chính xác, đúng trình tự và kết hợp với giảng giải để trẻ có thể quan sát và thực hiện đúng Cho trẻ thực hiện nhiều lần và kết hợp sửa sai cho trẻ Tạo ra những tình huống mà trẻ có thể gặp trong đời sống hàng ngày và gợi ý trẻ thực hiện.”
Công cuộc chăm sóc và giáo dục trẻ em là hết sức cần thiết, có ý nghĩa
vô cùng quan trọng và cần phải được tiến hành thường xuyên Góp phần hình thành và phát triển nhân cách trẻ ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, tạo nên những con người mới với đủ năng lực và hội tụ những”phẩm chất tốt
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về vệ sinh
1.2.1.1.1 Khái niệm thói quen vệ sinh ”
Thói quen vệ sinh được hình thành từ kĩ xảo Để hiểu rõ hơn về khái niệm này cũng như quá trình hình thành của nó thì chúng ta cần phải tiến hành phân tích dựa trên các cơ sở nghiên cứu và nắm được bản chất thế nào
là”“ Kĩ xảo vệ sinh”
Kĩ xảo vệ sinh
“Theo như những nghiên cứu về vận động có chủ định của Sechênôv và Palôv thì, kĩ xảo là kết quả của những hành động tự động hóa trong một hoạt động nào đó và đặc biệt là luôn có sự tham gia của ý thức trong suốt quá trình
Trang 17hình thành.“Nhờ sự điều khiển có chủ định đó mà qua quá trình hoạt động các
kĩ xảo dần dần được củng cố và hoàn thiện hơn.”
Kĩ xảo được hình thành qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Hiểu cách làm
Trẻ cần phải hiểu và nắm được mỗi hành động gồm có những thao tác nào? Trình tự thực hiện các thao tác đó như thế nào? Và cách tiến hành các thao tác cụ thể [5]
+ Giai đoạn 2: Hình thành kĩ năng
“Trẻ cần hiểu rõ và biết cách vận dụng các tri thức đã biết để tiến hành các hành động cụ thể nào đó Trẻ cần phải có sự tập trung chú ý, có ý chí và biết vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện
+ Giai đoạn 3: Hình thành kĩ xảo
Trẻ cần biết cách biến những hành động có ý chí thành các hành động
tự động hóa thông qua việc luyện tập nhiều lần, thường xuyên để giảm thiểu
sự tham gia của ý thức vào các hành động
=> Có thể thấy rằng kĩ xảo vệ sinh là những kĩ xảo hướng tới việc bảo
vệ và củng cố sức khỏe con người Về bản chất, kĩ xảo vệ sinh thuộc nhóm kĩ xảo vận động [5]
Khái niệm “ Thói quen vệ sinh”
“Thói quen vệ sinh có nội dung tâm lý ổn định và thường gắn với nhu cầu cá nhân thường dùng để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ra trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và các quan hệ xã hội nhất định và khi đã trở thành thói quen thì mọi hoạt động tâm lý trở nên ổn định, cân bằng và khó loại bỏ [5].”
“Mọi phẩm chất nhân cách đã được hình thành, phát triển trong những điều kiện ổn định, trên nền tảng thói quen Do vậy, cần phải tạo ra các tình
Trang 18huống ổn định để hình thành những phẩm chất nhân cách tốt Đồng thời, cũng cần phải thay đổi điều kiện sống để củng cố thói quen trong điều kiện mới.”
“Trong giáo dục trẻ, cần làm cho các hành động trong học tập, vui chơi,
vệ sinh cá nhân vừa là kĩ xảo, vửa trở thành thói quen Muốn làm được điều
đó cần phải đảm bảo các điều kiện như: trẻ phải được thực hiện các hành”
động vệ sinh trong cuộc sống hàng ngày;”trong“qúa trình thực hiện, phải kiểm tra việc thực hiện của trẻ và dạy trẻ tự kiểm tra các hành động của chúng; các biện pháp khen thưởng, trách phạt được sử dụng trong quá trình”
giáo“dục phải phù hợp với đặc điểm nhận thức và tình cảm của trẻ nhỏ; phải tạo ra nhiều tình huống để củng cố thói quen [5].”
Ở lứa tuổi này, trẻ đã tự nhận thức được bản thân và cảm nhận được mọi thứ xung quanh vì vậy việc rèn luyện thói quen vệ sinh cho trẻ là hết sức cần thiết Vấn đề này rất cần sự quan tâm của của cộng đồng giúp trẻ rèn luyện những thói quen trong cuộc sống để trẻ có thể hòa nhập và hoàn thiện bản thân mình
=> Để trở thành thói quen vệ sinh, thì trẻ phải được thực hiện các hành động vệ sinh một cách thường xuyên, liên tục
+ Kĩ năng là một cái gì đó có được nhờ học tập, thử nghiệm
+Kĩ năng là khả năng vận dụng các tri thức khoa học thu thập được vào thực tiễn để có thể thực hiện tốt một việc gì đó.”
Trang 19+ Kĩ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được và những thói quen, kinh nghiệm
“Để hình thành kĩ năng thì khi tiến hành một hành động nào đó, ta cần phải xác định mục đích của nó, sau đó chỉ ra và giúp người học hiểu được cách thức thực hiện này, trình tự thực hiện và cung cấp các biểu tượng về kĩ thuật hoàn thành chúng Người có kĩ năng về hành động nào phải”có tri thức
về“hành động đó, hành động đúng theo yêu cầu và đạt kết quả trong một điều
kiện khác nhau Từ những định nghĩa trên ta rút ra được rằng “ kĩ năng ” có
được là do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó theo định hướng rõ ràng và có chủ đích.”
“Vì vậy khái niệm “kĩ năng vệ sinh” có thể được hiểu là năng lực hay
khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động về
vệ sinh dựa trên những hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân nhằm đạt được kết quả như mong đợi.”
1.2.1.2 Khái niệm về dinh dưỡng
Khái niệm “ Tình trạng dinh dưỡng”
“Tình trạng dinh dưỡng có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm, cấu trúc, các chỉ tiêu hóa sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu nhu cầu dinh dưỡng.”
“Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Số lượng và chủng loại thực phẩm cần
để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy thuộc vào lứa tuổi, giới tính, tình trạng sinh lý ( Ví dụ: thời kì có thai, cho con bú ).”
“Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe Khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn
đề về sức khỏe hoặc vấn đề về dinh dưỡng.”
Trang 20Khái niệm “Suy dinh dưỡng”
- Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết
làm ảnh hưởng đến quá trình sống, hoạt động và tăng trưởng của cơ thể
- Suy dinh dưỡng có thể xảy ra do giảm lượng cung cấp, tăng tiêu thụ dưỡng chất”hoặc cả hai.“Trẻ được xem là có nguy cơ suy dinh dưỡng nếu đứng cân liên tục trong vòng 3 tháng, đường phát triển cân nặng theo tuổi đi theo hướng nằm ngang Trẻ suy dinh dưỡng nếu đường phát triển cân nặng theo tuổi bên dưới đường – 2SD trên biểu đồ
Biểu đồ đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ 5-9 tuổi:
Chỉ số BMI theo tuổi với Z- Score
< -3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ nặng
< -2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ vừa ”
< -3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, mức độ nặng
< -2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, mức độ vừa
+ Cân nặng theo tuổi
+ Chiều cao theo tuổi
Trang 21+ Cân nặng theo chiều cao
Khái niệm “thừa dinh dưỡng”
Thừa dinh dưỡng hay còn gọi là béo phì Đó là tình trạng các chất dinh dưỡng không thể chuyển hóa hết và tích tụ lại trong cơ thể dưới dạng mỡ trắng.“Tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân tới mức ảnh hưởng đến sức khỏe và vận động.”
“ Người bị béo phì ngoài thân hình phì nộn, nặng nề, khó coi còn có nguy
cơ mắc các bệnh như rối loạn lipit máu, tăng huyết áp, sỏi mật, tiểu đường, xương khớp, thậm chí là ung thư Hiện nay tình hình thừa cân, béo phì đang tăng lên với tốc độ báo động không những ở các quốc gia phát triển mà ở cả”
các“quốc gia đang phát triển.”
1.2.2 Đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi
“Muốn rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ cần dựa vào đặc điểm tâm - sinh lý của bản thân trẻ để việc giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao, góp phần giúp trẻ hoàn thiện bản thân mình.”
* “Đặc điểm tâm lý”
“Giai đoạn từ 5 - 6 tuổi, các quá trình tâm lý cùng với các phẩm chất cá nhân ngày càng phát triển và hoàn thiện theo sự lớn lên của lứa tuổi Ở giai đoạn này những cấu trúc tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành, trẻ đã biết tự nhận thức về bản thân, biết điều chỉnh suy nghĩ và hành động”
của mình,“biết thể hiện sự quan tâm đến mọi người.”
“ Một đặc điểm tâm lý quan trọng ở độ tuổi này là ý thức về bản ngã (Cái tôi) Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điểu khiển và điều chỉnh hành vi của mình dần phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội,”ngoài ra“còn cho phép trẻ thực hiện các hành động có chủ tâm hơn Nhờ đó mà các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt.”
Trang 22Trẻ mong muốn được làm người lớn, được làm những việc như người lớn.“Trẻ thực hiện các hành động một cách độc lập, biết tự phục vụ, thích tìm tòi để khám phá thế giới xung quanh Hoạt động và sở thích của trẻ xoay quanh gia đình và nhà trường, trẻ thích chơi đồ chơi cũng như biết chia sẻ đồ chơi với các bạn Trí tưởng tượng của trẻ ở giai đoạn này rất phong phú do tác”động của những câu chuyện kể đã được nghe vì vậy trẻ thường thích chơi các trò chơi qua trí tưởng tượng ví dụ như: bé gái thường thích chơi nấu ăn, chăm sóc búp bê, đóng vai Bé trai thì lại thích được chơi với robot, siêu nhân “Điều này cho thấy trí tưởng tượng và khả năng nhận thức của trẻ ngày càng phát triển hơn khi trẻ được tham gia vào các trò chơi có sự phân chia vai chơi.”
“Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái
mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình.”Những bé“trai thường bắt chước những hành vi, cử chỉ của đàn ông, còn bé gái thì bắt chước dáng điệu của phụ nữ Hiện tượng này phản ánh vào trò chơi rất rõ: Con trai đóng vai bộ đội, công an, bảo vệ, con gái thì đóng vai người nội trợ, bán hàng [7].”
“Ở trẻ bắt đầu xuất hiện tình cảm bạn bè Đời sống cảm xúc, tình cảm
ổn định hơn, mức độ phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh.”Các“sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các lứa tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau được hình thành như: Tình cảm mẹ con, ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với người thân, với người lạ ”
“ Tuổi mẫu giáo nhỡ tư duy trực quan - hình tượng phát triển mạnh đã giúp trẻ giải quyết một số bài toán thực tiễn, tuy vậy để đáp ứng với khả năng
và nhu cầu phát triển của trẻ cuối tuổi mẫu giáo thì cần phải phát triển thêm”
Trang 23một“kiểu tư duy trực quan hình tượng mới đó là kiểu tư duy trực quan - sơ đồ Kiểu tư duy này tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là điều kiện cần”
thiết“để lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của việc tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ với những thuộc tính sinh động của chúng để đạt tới tri thức khái quát [7].”
“Các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ về cấu tạo và chức năng hoạt động của nó như tính độc lập sáng tạo, tính linh hoạt mềm dẻo,”tính mục đích “Tư duy của trẻ dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan và hiện thực hơn Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian
và các quan hệ xã hội từ đó trẻ có ý thức về ý nghĩ, tình cảm và có trách nhiệm đối với hành vi của mình.”
“Nhiều phẩm chất chú ý của trẻ đã được phát triển, trẻ biết hướng ý thức của mình vào các đối tượng cần cho vui chơi, học tập hoặc lao động tự phục
vụ Trẻ có khả năng chú ý chủ định từ 37- 51 phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ.”Trẻ có thể phân“phối được sự chú ý vào 2, 3 đối tượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động Thời điểm này di chuyển chú ý của trẻ nhanh, nếu sự hướng dẫn di chuyển chú ý tốt sẽ giúp sự hứng thú của trẻ dần dần được phân hóa và bền vững hơn Sự phân tán chú ý ở trẻ còn”
mạnh,“nhiều khi trẻ không tự chủ được do xung lực bản năng chi phối Do vậy cần thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp dẫn hơn.”
“Trẻ MGL đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện
mà trẻ kể Trẻ thường dùng những ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến Ngược lại khi giận dữ trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh.”
Trang 24“Khả năng này được thể hiện khá rõ khi trẻ kể những câu chuyện mình thích cho người khác nghe [7].”
“Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về về khả năng giao tiếp, trẻ
có thể nói những câu đầy đủ, có thể hiểu được những câu nói dài của người khác Vốn từ của trẻ MGL tích lũy được khá phong phú không những chỉ danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên từ Trẻ nắm được vốn trong tiếng mẹ”
đẻ“đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày [7].”
Cuối tuổi mẫu giáo là một bước ngoặt quan trọng để chuẩn bị cho trẻ bước vào bậc học tiếp theo.“Hoạt động vui chơi không còn giữ vị trí chủ đạo
mà thay vào đó là sự nảy sinh của hoạt động học Trẻ đã có những tiền đề cần thiết của sự chín muồi đến trường về các mặt tâm sinh lí, nhận thức, ngôn ngữ
và tâm thế để trẻ có thể thích nghi với môi trường học tập mới.”
* Đặc điểm sinh lí
“Vào thời kì này sự phát triển của cơ thể trẻ diễn ra chậm hơn giai đoạn trước: Cân nặng trung bình hàng năm tăng từ 1- 1,5kg, chiều cao trung bình tăng từ 5 - 8cm Lúc này chức năng các bộ phận bắt đầu hoàn thiện hơn và có
sự thay đổi rõ rệt về chất lượng phát triển:”
+ “Hệ thần kinh: ngày càng phát triển và dần hoàn thiện Số lượng và khả năng họat động của các tế bào thần kinh tăng lên Quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển giúp trẻ có thể tiến hành và duy trì hoạt động trong thời gian lâu hơn.”
+ “Hệ tiêu hóa: ngày càng hoàn thiện, sự tăng cường của các men tiêu hóa giúp trẻ có thể tiêu hóa và hấp thụ thức ăn một cách tốt hơn.”
+ “Hệ cơ, xương ( vận động): hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển và trẻ có thể tự điều khiển một số động tác khéo léo hơn Bộ xương vững chắc hơn, các cơ bắp phát triển mạnh, trẻ 5 - 6 tuổi tỉ lệ cơ chiếm 27% thể trọng Lúc này cơ quan điều khiển vận động được tăng cường do vậy trẻ có”
Trang 25“thể thực hiện các vận động đòi hỏi sự phối hợp khéo léo của đôi bàn tay, chân và toàn thân như: đi đứng, chạy nhảy, leo trèo hay các hoạt động tạo hình vẽ, nặn, cắt, xé dán ”
+ “Cơ quan phát âm cũng dần phát triển và hoàn thiện trẻ đã biết nói những câu dài, nói lời hay, biết bộc lộ cảm xúc thông qua lời nói do vậy ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ ở giai đoạn này.”
1.2.3 Đặc điểm KNVS cá nhân và dinh dưỡng của trẻ 5 - 6 tuổi
Độ tuổi MGL là giai đoạn cuối cùng của trẻ em lứa tuổi mầm non Ở giai đoạn này, những cấu trúc tâm lí đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây.“Nó nối tiếp những thành tựu, những kinh nghiệm trong thao tác của trẻ từ đó giúp trẻ có thể dễ dàng thực hiện chúng một cách thuần thục
Ở trẻ MGL việc thực hiện các kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng như: rửa tay sạch sẽ, đánh răng, rửa mặt, giữ gìn quần áo, đầu tóc gọn gàng, ăn uống
có” văn hóa “đã được thực hiện nhưng chưa thực sự nghiêm túc và đúng quy trình, bên cạnh đó còn có một số trẻ chưa chú ý và chưa biết cách thực hiện.” “Theo những nghiên cứu về đặc điểm phát triển của trẻ em lứa tuổi mầm non thì ở độ tuổi 5 - 6 trẻ đã có thể tự ý thức được việc mình làm nhưng chưa cao ví dụ như việc rèn luyện kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng.” Nguyên nhân cơ bản nhất“đó là do đặc điểm tâm lí của trẻ mầm non là sự tập trung chú ý chưa cao nên việc thực các thao tác vệ sinh tự phục vụ bản thân cũng như về dinh dưỡng chưa đạt được kết quả như mong đợi.”Trẻ chưa thể thực hiện thành thạo“các thao tác đơn giản như : rửa tay theo đúng các bước và thời gian, sử dụng các dụng cụ chải răng, rửa mặt chưa theo đúng quy trình và
kĩ thuật Não bộ trẻ còn non nớt vì vậy trẻ chưa thể hình thành những biểu tượng đúng đắn” từ những khái niệm để có thể vận dụng vào việc thực hiện tốt việc vệ sinh cá nhân Hầu như trẻ thường ham vui hoặc phân tâm vào
Trang 26những hoạt động khác nên việc vệ sinh chưa được thực hiện một cách tự giác
mà phải được sự nhắc nhở và sự hướng dẫn của cô giáo
Ông cha ta ngày xưa có câu “ Học ăn, học nói, học gói, học mở” có
nghĩa rằng mỗi con người muốn trưởng thành đều phải học hỏi rất nhiều, đơn giản từ những điều nhỏ bé nhất như ăn uống.“Và lứa tuổi mầm non chính là giai đoạn mà ta dễ dàng uốn nắn, giáo dục nề nếp trong ăn uống nhất Việc giáo dục hành vi ăn uống có văn hóa giúp trẻ ý thức được rằng:”
+ Nên vệ sinh trước và sau khi ăn ra sao?
+ Sử dụng các dụng cụ ăn uống như thế nào?
+“Khi ăn phải như thế nào?
+ Nên ăn và tránh ăn những loại thức ăn nào?”
“Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số trẻ khi ăn uống còn chưa biết cách giữ vệ sinh, xúc thức ăn quá nhiều làm rơi vãi thức ăn, không ăn thức ăn hoặc rau xanh, không biết sử dụng các dụng cụ ăn uống, hay việc thực hiện rửa tay, lau miệng trước và sau khi ăn, Vì vậy việc giáo dục KNVS cá nhân và dinh”
dưỡng cho trẻ là hết sức quan trọng và cần thiết
Thông qua việc luyện tập thường xuyên, sự hướng dẫn, nhắc nhở của cô giáo và các hoạt động trải nghiệm trẻ sẽ tự đúc kết cho mình những kinh nghiệm để có thể vận dụng, thực hiện tốt những yêu cầu về vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng.“Ngoài sự giáo dục và hướng dẫn tận tình của cô giáo thì cũng cần phải có sự kiên trì và cố gắng của bản thân trẻ mới đem lại hiệu quả cao.”
1.2.4 Yêu cầu và điều kiện khi chăm sóc vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ
Trong mỗi thời kì phát triển của con người đều có những đặc điểm tâm sinh lý riêng của giai đoạn đó, do vậy nhu cầu đòi hỏi về chăm sóc vệ sinh và dinh dưỡng cho cơ thể ở mỗi thời kỳ là khác nhau.“Nuôi dưỡng đảm bảo nhu cầu các chất dinh dưỡng và chế độ chăm sóc vệ sinh ở mỗi thời kỳ giúp cho
cơ thể phát triển khỏe mạnh và toàn diện Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng”
Trang 27chính là những việc cần thiết phải làm nhằm thỏa mãn nhu cầu và sự mong đợi của người chăm sóc về mọi mặt, trong đó chú trọng đến chế độ dinh dưỡng,“chăm sóc vệ sinh và môi trường sống lành mạnh đảm bảo phát triển tốt cả về sức khỏe, trí tuệ ”
“ Việc thường xuyên giáo dục thói quen vệ sinh và dinh dưỡng sẽ tạo cho trẻ những thói quen tốt có lợi cho sức khỏe Nhưng để thực hiện điều đó thì không phải chỉ ngày một ngày hai là làm được mà phải có quá trình nhắc nhở, thực hành, rèn luyện và duy trì thường xuyên.”Muốn việc thực hiện ở trẻ đạt kết“quả cao thì giáo viên phải là tấm gương về giữ gìn vệ sinh và chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người xung quanh để trẻ học tập
và làm theo, không làm lây lan bệnh tật sang trẻ và cộng đồng.”
“Giáo viên luôn phải đảm bảo chức năng hướng dẫn, tổ chức các hoạt động nhận thức cho trẻ Không chỉ truyền thụ tri thức mà chủ yếu là tổ chức quá trình hoạt động cho trẻ, thông qua đó trẻ sẽ lĩnh hội được tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.”Để thực hiện tốt chức năng tổ chức các hoạt động cho trẻ đòi hỏi người giáo viên phải“nắm vững các kiến thức, kĩ năng, quy trình và thiết
kế xây dựng hoạt động đó một cách cụ thể và phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ Cô phải hướng dẫn trẻ thực hiện bằng cách trình bày mẫu kết hợp giảng giải [1].”
“Giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ được tiến”
hành theo nguyên tắc 3 không đó là: không cẩu thả, không vội vàng, không hình thức.“Đảm bảo sự cân bằng giữa các hoạt động và nghỉ ngơi, tránh quá sức đối với trẻ Kết hợp lồng ghép với các hoạt động của trẻ, thông qua các bài thơ, bài hát, câu chuyện dễ nhớ hoặc từ hiện tượng thực tế nhằm giúp trẻ hứng thú hơn và không cảm thấy khô khan, bị áp đặt Ví dụ như:”
+ “Giáo dục thói quen rửa mặt, rửa tay sạch sẽ giáo viên đưa vào đó các bài thơ, bài hát như: “ Rửa mặt như mèo”, “ Anh Tý sún”, “ Mẹ ơi cô dạy” ”
Trang 28Giáo dục thói quen có văn hóa trong ăn uống qua bài thơ , bài hát: “ Giờ ăn” “ Rau ăn lá”
+ “Thường xuyên có ý thức duy trì vệ sinh sạch sẽ nhà ở, môi trường xung quanh trẻ Các lớp học phải có chế độ vệ sinh thường xuyên, gắn trách nhiệm cụ thể cho từng giáo viên trong lớp như: mở cửa thông thoáng phòng, quét nhà sạch sẽ, lau chùi bàn ghế, đồ dùng, đồ chơi Định kì tổng vệ sinh”
theo quy định
+ “Cần tạo môi trường đầy đủ, thuận lợi để việc giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ đạt hiệu quả cao như: Trẻ phải có đồ dùng
vệ sinh cá nhân có kí hiệu riêng biệt ( khăn mặt, khăn tay, bàn chải đánh răng,
ca cốc, giày dép ); đồ dùng cá nhân của trẻ được để ở chỗ quy định” mà trẻ
có thể lấy và dễ dàng cất đi
“Thông qua các hoạt động khác nhau ở trường mầm non giúp trẻ hiểu và nắm vững được những kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cơ bản và cần thiết để trẻ thực hiện tốt chúng Những kĩ năng cơ bản đó được hình thành trong suốt quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc và rèn luyện có khoa học ở gia”
đình, cũng như ở trường mầm non.“Vì vậy khi tiến hành rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ cần chú ý tới việc: đảm bảo điều kiện vệ sinh và tạo cảm giác an toàn cho trẻ; tránh lối áp đặt, gò ép trẻ em vào chuẩn của người lớn mà phải xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của trẻ;khi“thực hiện phải đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo dựa vào điều kiện và đặc điểm tâm sinh lí của từng trẻ; đảm bảo trẻ tham gia hoạt động một cách tích cực và thoải mái Chú ý đảm bảo theo đúng trình tự, tránh xáo trộn nhằm tạo dựng thói quen, nề nếp trong việc vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ.”
“Việc trẻ chấp hành nghiêm chỉnh các kĩ năng vệ sinh và dinh dưỡng thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày như: ăn, ngủ, vui chơi, học tập và lao động Giúp cho cơ thể trẻ phát triển khỏe mạnh, phòng tránh được một số”
Trang 29bệnh.“Trẻ thực hiện chế độ sinh hoạt theo đúng trình tự và thời gian giúp cho việc giáo dục trẻ diễn ra thuận lợi và dễ dàng hơn.”
“Điều đặc biệt quan trọng khi giáo dục và rèn luyện KNVS và dinh dưỡng cho trẻ đó là việc hình thành ở trẻ những tình cảm, thái độ như: Có ý thức, thích thú và hứng khởi khi tiến hành các hoạt động vệ sinh Biết đồng tình ủng hộ những bạn có thói quen văn hóa vệ sinh tốt, biết góp ý với những”
bạn chưa thực hiện tốt “Để công tác giáo dục và rèn luyện cho trẻ đạt hiệu quả cao thì cần có sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội Sự phối hợp thống nhất, hài hòa giữa gia đình và nhà trường, tạo cho trẻ một điều kiện tốt để trẻ củng cố
và vận dụng những kĩ năng đã có vào cuộc sống một cách tốt nhất.”
1.3 “Thực trạng rèn luyện và phát triển KNVS cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ Mầm non 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Tích Sơn - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”
Trường mầm non Tích Sơn nằm trên địa bàn phường Tích Sơn Trường được thành lập vào tháng 12 năm 1982 theo Quyết định số 9 3 TCCB ngày
5 12 1982 của Chủ tịch UBND thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố Vĩnh Yên) với tên gọi trường Mẫu giáo mầm non Năm 2 11 trường mầm non Tích Sơn chuyển đổi từ loại hình trường bán công sang trường công lập theo Quyết định số 1787 QĐ-CT ngày 11 5 2 11 của UBND thành phố Vĩnh Yên Trường có diện tích 2.560m2
với 10 phòng học và các công trình nhà điều hành, nhà bếp… Số học sinh trong toàn trường là 325 học sinh có tất cả 1 nhóm lớp, trong đó có 2 nhóm trẻ 24- 36 tháng tuổi; 2 lớp 3- 4 tuổi; 3 lớp 4- 5 tuổi; 3 lớp 5- 6 tuổi.“Trường có tổng số 25 cán bộ, giáo viên; 2 nhân viên là nhân viên kế toán và nhân viên y tế Trình độ chuyên môn của GV, CB-VC: 1 % trên chuẩn Đội ngũ giáo viên trong trường có nhiều kinh nghiệm giảng dạy.”
Trang 30“Trong khoảng thời gian 7 tuần thực tập được học tập và rèn luyện tại trường mầm non Tích Sơn bản thân em đã học tập và rút ra được nhiều điều
bổ ích Em đã nhận thấy được một số điểm mạnh trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ như sau:”
“rường mầm non Tích Sơn có bề dày thành tích và kinh nghiệm trong công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ, cũng như việc tổ chức các hoạt động khác Việc rèn luyện và phát triển KNVS và dinh dưỡng cho trẻ được tích hợp vào tất cả các hoạt động trong ngày ở trường mầm non”
và đem lại những hiệu quả tốt.“Điều đó đã được thể hiện ở một số mặt như:”
+ Thuận lợi:
Đội ngũ giáo viên của nhà trường luôn yêu nghề, mến trẻ, có nhiều năm công tác,“tích cực tham gia vào các lớp học đào tạo nên trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, nhiều năm liền là giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp huyện Đặc biệt là đã có nhiều năm tham gia chăm”
sóc nuôi dạy trẻ các độ tuổi nên các giáo viên nắm rất rõ các“đặc điểm tâm- sinh lý của trẻ Do vậy việc rèn luyện và phát triển các kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ luôn được quan tâm chú trọng và thực hiện tốt.”
“Cơ sở vật chất: trường lớp sạch đẹp, khang trang, đầy đủ các loại đồ dùng, đồ chơi phục vụ các hoạt động giáo dục Nhà trường đã trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại như máy chiếu, ti vi, hệ thống camera; các đồ dùng,
đồ chơi phục vụ cho việc rèn luyện và phát triển kĩ năng vệ sinh cá nhân và”
dinh dưỡng như: các mô hình, dụng cụ vệ sinh, xô, chậu, hệ thống nước sạch, công trình vệ sinh khép kín đảm bảo vệ sinh
“Ngôi trường cũng là trung tâm của phường nên rất thuận tiện cho việc đưa đón trẻ của phụ huynh học sinh.”
Trang 31“Đặc điểm tâm lí trẻ ổn định, phát triển bình thường, đa số trẻ ngoan ngoãn, nghe lời cô giáo Trẻ nhận thức nhanh, tham gia tích cực vào các hoạt động của cô giáo tổ chức.”
“Nhận thấy 1 % phụ huynh đã thực sự quan tâm và nhận thức đúng đắn về mục đích và yêu cầu của công tác chăm sóc và coi trọng tới vấn đề vệ sinh, sức khỏe của trẻ Gia đình luôn có sự tin tưởng và phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm lớp và nhà trường.”
“Do hạn chế về thời gian hoặc do ý thức tự giác chưa cao nên việc rửa tay trước khi ăn, sau khi chơi với đồ chơi đồ dùng chỉ được hiện sơ qua như : rửa tay mà không dùng xà phòng, không lau khô tay; rửa mặt, chải răng không thực hiện đủ các bước, hay việc không ăn một số thức ăn mà trẻ không thích.” “Phụ huynh của trẻ làm ở nhiều ngành nghề khác nhau nên thời gian để giáo viên và phụ huynh trò chuyện và trao đổi về tình hình sức khỏe cũng như
vệ sinh của trẻ không được nhiều.”
=> “Tuy nhiên hầu hết các mặt hạn chế, tồn tại là do điều kiện khách quan, về cơ bản việc thực hiện giáo dục, rèn luyện kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng đã được thực hiện khá tốt Đa số trẻ tham gia tích cực vào các”
hoạt động mà cô tổ chức;“Trẻ nắm được các quy trình và cách thực hiện các
kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng Hầu hết trẻ đạt được các mục tiêu đề
ra.”
Trang 32“CHƯƠNG 2 RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON 5 - 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON TÍCH SƠN - VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC”
2.1 Một số kĩ năng trong vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cần phát triển cho trẻ
Dạy trẻ kĩ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng không chỉ đơn thuần là việc đảm bảo cho trẻ trông thật chỉn chu bề ngoài mà đó chính là một cách hiệu quả trong“việc bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng chống bệnh tật Việc
vệ sinh đúng cách có vai trò đặc biệt quan trọng đối với trẻ em trong độ tuổi đến trường nói chung và trẻ em mầm non nói riêng Phần lớn các bệnh ở trẻ thường lây lan từ trường học, nơi mà vi khuẩn phát tán một cách”cực kì nhanh chóng từ trẻ này sang trẻ khác Việc giáo dục cho trẻ về vệ sinh và dinh dưỡng“đúng cách ngay từ nhỏ sẽ giúp trẻ có được những thói quen tốt và điều đặc biệt là trẻ sẽ tự biết cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho bản thân mình Việc làm này cần phải được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi.”
“Vậy làm thế nào để giúp trẻ luôn khỏe mạnh, sạch sẽ, và luôn duy trì được việc vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng?”
2.1.1 “ Kĩ năng rửa tay bằng xà phòng ”
Phần lớn các hoạt động hàng ngày của con người đều được thực hiện bằng đôi bàn tay và đây cũng chính“là bộ phận phát tán vi khuẩn nhiều hơn bất cứ nơi nào trên cơ thể Vì vậy việc rửa tay vô cùng quan trọng và đặc biệt cần thiết trong việc đảm bảo vệ sinh Ở trẻ nhỏ hầu như chưa có ý thức về việc rửa tay nên cần phải rèn luyện cho trẻ thói quen rửa tay thường xuyên”
và ghi nhớ nó như một hoạt động không thể thiếu hàng ngày
- “Trước tiên, chúng ta cần giải thích cho trẻ biết tại sao cần phải rửa tay? Để cho đôi bàn tay thơm tho, sạch sẽ, được mọi người yêu mến, giúp cơ”
Trang 33thể khỏe mạnh và không bị bệnh Vì bàn tay sờ, cầm nắm nhiều đồ vật, vật dụng có chứa nhiều bụi bẩn và vi khuẩn, nếu không rửa tay sạch sẽ thì khi ta dùng tay để cầm thức ăn vi khuẩn sẽ sâm nhập vào thức ăn, nước uống qua tay bẩn dễ dàng đi vào và gây bệnh cho cơ thể
- “Khi nào cần rửa tay? Trẻ cần biết rửa tay khi tay bẩn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi chơi ”
- Cách rửa tay: Cần hướng dẫn cho trẻ các thao tác, thứ tự các thao tác
từ khâu chuẩn bị đến tiến hành“(xắn tay áo, vặn vòi nước, nhúng tay vào nước
và xát xà phòng, xoa tay vào nhau cho đến khi tạo bọt, rửa sạch xà phòng, vẩy nước và lau khô tay ) Trẻ cần nắm rõ yêu cầu và thực hiện đúng các bước rửa tay.”
“ Dưới đây là 6 bước rửa tay đơn giản mà hiệu quả để loại bỏ vi khuẩn gây bệnh:”
“Bước 1: Xắn tay áo, làm ướt tay, thoa xà phòng vào tay, sau đó xoa hai
lòng bàn tay với nhau để tạo bọt
Bước 2: Dùng các ngón tay và lòng bàn tay này cuộn và xoay từng ngón
tay của bàn tay kia và ngược lại.”
“Bước 3: Dùng lòng bàn tay này chà xát chéo lên mu bàn tay kia và
ngược lại.”
“Bước 4: Dùng đầu ngón tay của bàn tay này miết vào các kẽ giữa các
ngón của bàn tay kia để các kẽ ngón tay được làm sạch và ngươc lại.”
“Bước 5: Chụm 5 đầu ngón tay của bàn tay này cọ vào lòng bàn tay của
bàn tay kia bằng cách xoay đi, xoay lại”
“Bước 6: Xả tay dưới vòi nước sạch cho đến khi hết xà phòng, sau đó
dùng khăn hoặc giấy sạch lau khô tay.”
Trang 34“Sau khi thực hiện xong cần cất đồ dùng vệ sinh vào đúng nơi quy định, Tuy nhiên trình tự một số thao tác rửa tay sẽ thay đổi khi người lớn rửa tay cho trẻ.”
2.1.2 Kĩ năng tự rửa mặt
- “Rèn thời gian quen rửa mặt cho trẻ.”
- “Trẻ cần nắm được tại sao cần phải rửa mặt? ( Rửa mặt để được mọi người yêu mến, cho mặt sạch sẽ trông xinh đẹp, đáng yêu và không bị bệnh ).”
- “Trẻ biết khi nào cần rửa mặt? ( cần rửa mặt trước và sau khi ngủ dậy, khi đi ra ngoài về bụi bẩn, khi mặt bẩn ).”
-“Cách rửa mặt: Rửa trước những nơi cần giữ sạch nhất rồi đến vùng kế”
tiếp Dùng khăn sạch thấm nước, vắt ráo nước, trải khăn lên bàn tay rồi dùng từng góc khăn lau từng bộ phận của mặt.“Đầu tiên từ khóe mắt ra đuôi mắt, rửa sống mũi và miệng, trán, hai má và cằm sau đó lật khăn, lau lại cổ, gáy
và hai bên vành tai Cuối cùng là biết vò khăn, vắt khô, phơi ở vị trí nhất định
và ngay ngắn trên giá phơi.”
- Trẻ cần nhận biết được đâu là khăn của mình thông qua các kí hiệu và
có ý thức giữ gìn vệ sinh Thực hiện một cách nghiêm túc theo đúng quy trình sau:
“Bước 1: Trải khăn trên hai tay, đỡ khăn bằng lòng bàn tay và cổ tay Bước 2: Dùng ngón trỏ trái lau mắt trái, dùng ngón trỏ phải lau mắt
phải Lau từ đầu mắt đến đuôi mắt.”
“Bước 3: Dịch chuyển khăn lên phía trên lau sống mũi, dịch khăn lau
miệng và cằm.”
“Bước 4: Gấp đôi khăn lau trán má từng bên (nửa khăn phía trên lau
trán và má trái, nửa khăn phía dưới lau trán và má phải).”
“Bước 5: Gấp đôi khăn lần nữa lau cổ và gáy.”
Trang 35“Bước 6: Lật mặt sau khăn, tay trái lấy một nửa khăn ngoáy lỗ tai và lau
vành tai trái, tay phải dùng nửa khăn còn lại ngoáy lỗ tai và lau vành tai phải.”
“ Bước 7: Dùng hai mép góc khăn ngoáy hai lỗ mũi (Chú ý luôn để da
mặt tiếp xúc với vùng khăn sạch).”
2.1.3 Kĩ năng chải răng hàng ngày
“Bệnh sâu răng ở trẻ nhỏ ngày càng trở nên phổ biến, để đảm bảo sức khỏe răng miệng cho trẻ nên dạy trẻ những kĩ thuật chải răng cơ bản, bao gồm
cả sự cần thiết của việc tạo thói quen vệ sinh răng miệng cho trẻ ngay từ nhỏ.”
“Trẻ cần biết chải răng đúng cách, đúng quy trình, vì lười không đánh răng sẽ gây những bệnh về nha khoa và làm cho hơi thở có mùi hôi khó chịu.”
- “Trẻ cần biết tại sao phải đánh răng: cho răng thơm tho sạch sẽ, được mọi người yêu mến, cho răng khỏe đẹp và không bị sâu ”
- “Lúc nào cần đánh răng: buổi sáng sau khi thức dậy, buổi tối trước khi
đi ngủ, sau khi ăn, ”
- “Cách chải răng: rửa sạch bàn chải, lấy thuốc ra bàn chải, súc miệng; đặt bàn chải nghiêng một góc 3 - 45 độ so với mặt răng; chải hàm trên theo hướng từ trên xuống, hàm dưới từ dưới lên, mặt nhai đưa bàn chải đi lại vuông góc với mặt răng; súc miệng thật kĩ, rửa sạch bàn chải, vẩy ráo nước”
và“cất các dụng cụ vệ sinh vào đúng nơi quy định.”
- Trẻ nắm được các bước chải răng đúng cách:
“Bước 1: Rửa sạch bàn chải, lấy một lượng kem vừa phải lên lòng bàn
chải, sau đó súc miệng.”
“Bước 2: Chải mặt ngoài của răng”
“Chải tất cả mặt ngoài răng hàm trên và hàm dưới bằng cách: Đặt lòng bàn chải chà sát với viền lợi so với trục răng, chải hàm trên hất xuống, hàm dưới hất lên hoặc rung nhẹ bàn chải lên xuống, hoặc xoay tròn, mỗi vùng răng chải 1 lần.”
Trang 36“Bước 3: Chải mặt trong của răng
Chải theo chiều từ hàm trên hất xuống, hàm dưới hất lên hoặc xoay tròn tại chỗ Di chuyển bàn chải đến vùng răng kế tiếp và thực hiện lại động tác trên.”
Bước 4: Chải mặt nhai của răng
Đặt lòng bàn chải vuông góc với mặt nhai và kéo đi kéo lại 1 lần
Bước 5: Chải lưỡi
“Chải lưỡi từ trong ra ngoài bằng bàn chải răng thông thường hoặc bằng dụng cụ chải lưỡi chuyên dụng để loại bỏ các vi khuẩn tạo mùi hôi Hai mục đích chính của việc chải răng hiệu quả phải là: làm sạch răng và xoa nắn nướu Thời gian đủ để chải sạch răng là khoảng 2 – 3 phút.”
“Bước 6: Làm sạch khoang miệng và lưỡi
Súc miệng với nước Rửa sạch bàn chải và đánh lại răng một lượt mà không sử dụng kem đánh răng.”
“Bước 7: Súc miệng thật sạch, rửa sạch bàn chải, vẩy khô, cắm vào cốc,
cán để ở phía dưới, lông bàn chải ở phía trên.”
- “Tiến hành rèn luyện kĩ năng vệ sinh răng miệng cho trẻ thông qua hoạt động rèn kĩ năng sống Giúp trẻ có những trải nghiệm thực tế và thực hiện tốt chúng.”
2.1.4 Kĩ năng che miệng
“Giáo dục hành vi văn hóa vệ sinh là thực sự cần thiết cho trẻ, giúp trẻ
có thể thực hiện chúng một cách văn minh và lịch sự Trong đó, việc làm không thể thiếu đó là rèn cho trẻ kĩ năng che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp.”
- “Trẻ cần biết tại sao cần phải che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp: Vì khi chúng ta ho, hắt hơi, ngáp thì những vi khuẩn sẽ dễ lây lan sang người khác nên cần phải dùng tay che miệng để đảm bảo vệ sinh và đó cũng là phép lịch
sự tối thiểu cần có Nên dạy trẻ khi cảm thấy có biểu hiện chuẩn bị ho, hắt”
Trang 37hơi, ngáp thì cần phải biết dùng tay để che miệng lại Có thể dùng 1 tay hoặc
cả hai bàn tay để che miệng, việc làm này giúp giữ gìn vệ sinh chung nơi công cộng và không làm ảnh hưởng đến người khác
2.1.5 “ Kĩ năng giữ quần áo đầu, tóc gọn gàng ”
“ Rèn kĩ năng giữ gìn quần áo sạch sẽ, gọn gàng ”.
- “Giáo viên cần giảng giải cho trẻ biết tại sao cần mặc quần áo sạch sẽ, gọn gàng: Để giữ cho quần áo luôn đẹp và mới, trông xinh xắn và được mọi người yêu mến ”
- “Trẻ cần biết cách giữ cho quần áo sạch sẽ (không ngồi lê trên sàn đất hoặc bôi bẩn vào quần áo, thường xuyên tắm rửa và thay quần áo ).”
- “Trẻ cần biết lúc nào nên mặc thêm hoặc cởi bớt quần áo, khi trời lạnh hoặc nóng hơn, khi vận động nhiều, khi đi ra ngoài đường hoặc vào nhà, trước và sau khi ngủ, trước và sau khi tắm rửa Phải giữ quần áo gọn gàng, sạch sẽ Nên mặc quần áo phù hợp với thời tiết, không mặc quần áo ẩm ướt,”
bẩn, rách, đứt cúc đi học hay khi đi ra ngoài
-“Trẻ cần nắm được quy trình, cách thay quần áo: cởi quần áo theo thứ
tự từ cởi bỏ cúc, tháo từng ống tay, ống chân; mặc quần áo theo thứ tự mặc từng ống tay, ống quần và sau đó là cài cúc, kéo khóa lên.”
- “Trẻ cần biết và thực hiện mặc quần áo theo đúng thứ tự các bước:”
Bước 1: Cần phải xác định được đâu là mặt trái - mặt phải, đâu là mặt
trước - mặt sau để khi mặc không bị nhầm lẫn
Bước 2: Tiến hành mặc
+ Đối với áo chui: xỏ lần lượt từng tay vào ống tay áo, sau đó giơ áo lên qua đầu và luồn đầu vào cổ áo, rồi kéo xuống
+ Với áo khoác: Trước tiên, ta xỏ lần lượt tùng tay vào ống tay áo sau
đó“kéo 2 vạt áo để 2 vạt áo bằng nhau, một tay giữ khóa, tay kia khéo léo”
Trang 38“luồn nửa khóa bên kia vào đầu khóa, một tay giữ đầu khóa phía dưới, tay kia
từ từ kéo khóa áo lên.”
+ Cách mặc quần: Đầu tiên phải ngồi xuống ghế hoặc xuống giường để giữ thăng bằng không bị ngã, rồi lần lượt xỏ chân vào từng ống quần Sau đó kéo lên
“Bước 3: Chỉnh sửa cho quần áo chỉnh chu, ngay ngắn.”
Rèn kĩ năng chải tóc gọn gàng
"Hầu hết trẻ em thường ghét việc chải tóc và gội đầu vì chúng làm cho trẻ cảm thấy phiền toái và khó chịu Vì vậy cần phải giáo dục và rèn luyện cho trẻ kĩ năng chải tóc gọn gàng như một thói quen hàng ngày Chải đầu cũng là bài học vệ sinh thân thể trẻ cần phải học.”
- “Trẻ cần biết tại sao phải chải tóc: để đầu tóc gọn gàng, giúp tóc suôn mượt, sạch sẽ vệ sinh và được mọi người yêu mến ”
- “Khi nào cần chải tóc: khi ngủ dậy, trước khi đi chơi, ra đường, khi tóc rối xù ”
- “Cách chải tóc: Cầm lược chải cho tóc suôn, rẽ ngôi và chải sang hai bên hoặc chải hất từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, Đối với bé trai tóc ngắn nên chỉ cần chải suôn, còn với bé gái do tóc dài nên cần chải suôn sau đó thắt bím hoặc buộc gọn lại để tóc không bị rối xù.”
2.1.6 Kĩ năng ăn uống vệ sinh
* “ Kĩ năng kể tên một số thức ăn cần có trong bữa ăn hàng ngày ”
“Ăn uống là hoạt động cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng cho
cơ thể để cơ thể phát triển khỏe mạnh, vì vậy giáo dục dinh dưỡng cho trẻ là việc làm rất quan trọng.”
- “Trẻ cần nhận biết được các bữa ăn trong ngày ở nhà trường cũng như
ở nhà của trẻ: Bữa sáng, bữa trưa, bữa xế và bữa tối Nhận biết các loại thức
ăn trong bữa chính và bữa phụ.”
Trang 39-“Nhận biết và kể tên được một số món ăn có trong bữa ăn hàng ngày như: Cháo, súp, canh bí, canh rau ngót, thịt đậu sốt cà chua, trứng kho, tôm, thịt gà rang, thịt kho trứng, Biết được các chất dinh dưỡng có trong thức ăn.”
-“Cho trẻ làm quen với tháp dinh dưỡng để trẻ nhận biết và nói được tên thực phẩm và các nhóm thực phẩm như: thực phẩm giàu chất đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin và muối khoáng Nhận biết được các thực phẩm có nguồn gốc từ: động vật, thực vật Một số loại thực phẩm có cách ăn và chế”
biến“khác nhau: luộc, xào, nấu, kho, hay ăn sống ”
- “Trẻ cần hiểu được lợi ích và tác hại của việc ăn uống thừa hoặc thiếu chất dinh dưỡng đối với cơ thể Giới thiệu và cho trẻ thử những món ăn mới
và các loại thức ăn khác nhau, hình thành thái độ vui lòng chấp nhận và có hứng thú trong ăn uống, ăn đa dạng các loại thực phẩm không kén chọn thức”
ăn.“Cần dạy cho trẻ biết ăn, uống nhiều loại thực phẩm khác nhau sẽ giúp cơ thể mau lớn, khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, thông minh, học giỏi Trẻ hiểu được nếu ăn ít, ăn không đủ các loại thức ăn, thức ăn không sạch sẽ, trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng, ốm đau bệnh tật.”
* Kĩ năng nhận biết và không ăn, uống một số thứ có hại cho sức khỏe
“Khi giáo dục về sức khỏe dinh dưỡng cho trẻ thì giáo viên cần tiến hành cho trẻ quan sát hình ảnh một số loại thực phẩm độc hại như: thực phẩm chứa nhiều chất phẩm màu, độc hại, ôi thiu, hình ảnh trẻ bị ngộ độc thức ăn, hình ảnh trẻ bị còi xương do ăn uống thiếu chất ” Để trẻ có thể nhận biết và không ăn những thực phẩm đó
Trẻ cần nhận biết các thực phẩm và biết điều gì sẽ xảy ra với cơ thể nếu trẻ ăn những thực phẩm như:
+ Thức ăn quá hạn sử dụng
Mỗi loại thực phẩm đều có thời gian sử dụng của nó, không chỉ các loại thực phẩm đóng hộp mà cả các loại thực phẩm tươi, đã nấu chín Các loại
Trang 40thực phẩm quá hạn bị nấm mốc rất độc hại cho cơ thể và làm tăng cao nguy
cơ mắc bệnh ung thư, đặc biệt là các loại ngũ cốc, ngô, lạc mốc
+ Đồ chiên nướng
Đồ ăn chiên nướng thường có mùi thơm, kích thích vị giác và rất dễ ăn Tuy nhiên, việc nướng thịt ở nhiệt độ cao có thể sản sinh ra một số chất như: hydro cacbon thơm, dioxin, axit amin dị vòng có khả năng gây đột biến gen
và một số loại tế bào
+ Đồ ăn chứa nhiều chất béo
Chất béo cần thiết trong chế độ dinh dưỡng của mỗi người, tuy nhiên nếu cơ thể dung nạp quá nhiều chất béo, đặc biệt là chất béo có nguồn gốc động vật thì rất có hại cho cơ thể.“Đây là một trong những nguyên nhân gây béo phì, tăng huyết áp và dẫn đến bệnh tiểu đường trầm trọng Đáng sợ hơn
đó là các bệnh liên quan khác như bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư trực tràng, ung thư dạ dày ”
+ Ăn quá nhiều đồ ngọt
Ăn quá nhiều thực phẩm ngọt như bánh, kẹo, nước ngọt không chỉ làm tăng nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, gan nhiễm mỡ, mà còn tăng nguy cơ một số bệnh ung thư ở các cơ quan như thực quản, ruột non, dạ dày
+ Ăn quá mặn
Ăn mặn không chỉ gây hại cho tim mạch, hệ tiêu hóa mà tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày
+ Đồ uống có ga hoặc chứa cồn và các chất kích thích như: nước ngọt,
rượu bia, cà phê
“Trẻ cần được dạy nhận biết một số biểu hiện của các bệnh liên quan tới
ăn uống không hợp vệ sinh như: tiêu chảy, ngộ độc thực phẩm Ngoài ra, nên dạy trẻ biết cách chọn thức ăn và bảo quản thức ăn một cách đơn giản”