I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY LIÊN DOANH TNHH HẢI HÀ - KOTOBUKI I.1 Lịch sử ra đời của công ty: Liên doanh TNHH Hải Hà - Kotobuki ra đời là kết quả của dự án liên doanh giữa hai doanh nghiệp lớn trong ngành sản xuất bánh kẹo, Công ty Bánh kẹo Hải Hà của Việt Nam và tập đoàn Kotobuki của Nhật Bản. Công ty Bánh kẹo Hải Hà thành lập năm 1960 với tư cách là doanh nghiệp Nhà nước, chuyên sản xuất, kinh doanh bánh kẹo phục vụ nhu cầu trong nước. Đến năm 1992, nền kinh tế nước ta dần hồi phục sau nghị quyết đại hội Đảng VI (năm 1986), đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu cầu lương thực, thực phẩm theo đó tăng mạnh. Tại thời điểm này, nhờ những nỗ lực mạnh mẽ của toàn thể Công ty bánh kẹo Hải Hà đã trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực đang đeo đuổi. Năm 1992 là năm Nhà nước xúc tiến việc thực hiện chính sách mở cửa với nhiều điều khoản ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài. Tiềm lực mạnh, thị trường mở cùng với môi trường kinh doanh thuận lợi đã thúc đẩy Công ty tiến hành dự án liên doanh với các tập đoàn mạnh của nước ngoài để tăng nhanh sản xuất kinh doanh. Tập đoàn Kotobuki là một tập đoàn đa quốc gia của Nhật Bản. Hiện nay, tập đoàn có quan hệ liên doanh với rất nhiều quốc gia trên thế giới trong nhiều lĩnh vực ngành nghề. Tuy nhiên thế mạnh của tập đoàn chính là sản xuất kinh doanh bánh kẹo. Tuy nhiên thế mạnh của tập đoàn chính là sản xuất kinh doanh bánh kẹo, ở Việt Nam tập đoàn đã thực hiện 3 dự án liên doanh trong lĩnh vực này. Trong đó có dự án liên doanh với Công ty bánh kẹo Hải Hà. Liên doanh TNHH Hải Hà - Kotobuki được ký quyết định thành lập vào ngày 24/12/1993, chính thức đi vào hoạt động ngày 1/5/1994 với chức năng chủ yếu là sản xuất kinh doanh bánh kẹo. Cụ thể: - Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước trên các lĩnh vực về công nghiệp chế biến bánh, kẹo. - Xuất khẩu các sản phẩm bánh, kẹo - Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của Công ty. - Thực hiện chức năng hoạt động, Công ty phải ứng đối với những đặc điểm riêng của một ngành sản xuất kinh doanh bánh kẹo như sau: - Bánh kẹo thuộc nhóm hàng lương thực thực phẩm chế biến - Bánh kẹo là hàng hoá tiêu dùng có tính thường xuyên (chỉ sau hàng hoá nhu yếu phẩm) - Sản phẩm thường có giá trị đơn vị nhỏ nhưng cồng kềnh, có thời hạn sử dụng ngắn. - Chu kỳ sống của sản phẩm ngắn - Sản phẩm dễ bị sao chép - Tính thay thế của sản phẩm cao - Sản phẩm tiêu dùng theo mùa vụ - Người tiêu dùng thường bị hấp dẫn mạnh bởi sản phẩm mới và Ýt trung thành với nhãn hiệu sản phẩm - Quyết định mua thường được đưa ra ngay tại nơi bán ( mua không có kế hoạch, có kế hoạch và bị hấp dẫn bởi cách trưng bày sản phẩm, kiểu dáng bao gói sản phẩm, giới thiệu của người bán hàng…) - Đối tượng tiêu dùng sản phẩm đa dạng, tuỳ từng loại sản phẩm có đối tượng thể là người lớn tuổi, người trưởng thành hay trẻ em… không phân biệt giới tính. Số vốn góp ban đầu quy ra giá trị tiền mặt (gồm thiết bị máy móc, nhà xưởng, quyền sử dụng đất đai) là 4 triệu USD do hai bên đóng góp, trong đó vốn của phía Kotobuki chiếm 70%. Lực lượng cán bộ công nhân viên chính thức ban đầu gồm một số cán bộ có năng lực của Công ty bánh kẹo Hải Hà chuyển sang, tuyển chọn mới và đại diện của tập đoàn Kotobuki dưới sự điều h
Trang 1BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY LIÊN DOANH TNHH
HẢI HÀ - KOTOBUKI
I.1 Lịch sử ra đời của công ty:
Liên doanh TNHH Hải Hà - Kotobuki ra đời là kết quả của dự án liêndoanh giữa hai doanh nghiệp lớn trong ngành sản xuất bánh kẹo, Công ty Bánhkẹo Hải Hà của Việt Nam và tập đoàn Kotobuki của Nhật Bản
Công ty Bánh kẹo Hải Hà thành lập năm 1960 với tư cách là doanhnghiệp Nhà nước, chuyên sản xuất, kinh doanh bánh kẹo phục vụ nhu cầu trongnước Đến năm 1992, nền kinh tế nước ta dần hồi phục sau nghị quyết đại hộiĐảng VI (năm 1986), đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu cầu lươngthực, thực phẩm theo đó tăng mạnh Tại thời điểm này, nhờ những nỗ lực mạnh
mẽ của toàn thể Công ty bánh kẹo Hải Hà đã trở thành một trong những doanhnghiệp hàng đầu trong lĩnh vực đang đeo đuổi Năm 1992 là năm Nhà nước xúctiến việc thực hiện chính sách mở cửa với nhiều điều khoản ưu đãi nhằmkhuyến khích đầu tư nước ngoài Tiềm lực mạnh, thị trường mở cùng với môitrường kinh doanh thuận lợi đã thúc đẩy Công ty tiến hành dự án liên doanh vớicác tập đoàn mạnh của nước ngoài để tăng nhanh sản xuất kinh doanh
Tập đoàn Kotobuki là một tập đoàn đa quốc gia của Nhật Bản Hiện nay,tập đoàn có quan hệ liên doanh với rất nhiều quốc gia trên thế giới trong nhiềulĩnh vực ngành nghề Tuy nhiên thế mạnh của tập đoàn chính là sản xuất kinhdoanh bánh kẹo Tuy nhiên thế mạnh của tập đoàn chính là sản xuất kinh doanhbánh kẹo, ở Việt Nam tập đoàn đã thực hiện 3 dự án liên doanh trong lĩnh vựcnày Trong đó có dự án liên doanh với Công ty bánh kẹo Hải Hà
Liên doanh TNHH Hải Hà - Kotobuki được ký quyết định thành lập vàongày 24/12/1993, chính thức đi vào hoạt động ngày 1/5/1994 với chức năng chủyếu là sản xuất kinh doanh bánh kẹo Cụ thể:
Trang 2- Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước trên các lĩnh vực về côngnghiệp chế biến bánh, kẹo
- Xuất khẩu các sản phẩm bánh, kẹo
- Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuấtcủa Công ty
- Thực hiện chức năng hoạt động, Công ty phải ứng đối với những đặcđiểm riêng của một ngành sản xuất kinh doanh bánh kẹo như sau:
- Bánh kẹo thuộc nhóm hàng lương thực thực phẩm chế biến
- Bánh kẹo là hàng hoá tiêu dùng có tính thường xuyên (chỉ sau hàng hoánhu yếu phẩm)
- Sản phẩm thường có giá trị đơn vị nhỏ nhưng cồng kềnh, có thời hạn sửdụng ngắn
- Chu kỳ sống của sản phẩm ngắn
- Sản phẩm dễ bị sao chép
- Tính thay thế của sản phẩm cao
- Sản phẩm tiêu dùng theo mùa vụ
- Người tiêu dùng thường bị hấp dẫn mạnh bởi sản phẩm mới và Ýt trungthành với nhãn hiệu sản phẩm
- Quyết định mua thường được đưa ra ngay tại nơi bán ( mua không có kếhoạch, có kế hoạch và bị hấp dẫn bởi cách trưng bày sản phẩm, kiểu dáng baogói sản phẩm, giới thiệu của người bán hàng…)
- Đối tượng tiêu dùng sản phẩm đa dạng, tuỳ từng loại sản phẩm có đốitượng thể là người lớn tuổi, người trưởng thành hay trẻ em… không phân biệtgiới tính
Số vốn góp ban đầu quy ra giá trị tiền mặt (gồm thiết bị máy móc, nhàxưởng, quyền sử dụng đất đai) là 4 triệu USD do hai bên đóng góp, trong đóvốn của phía Kotobuki chiếm 70%
Lực lượng cán bộ công nhân viên chính thức ban đầu gồm một số cán bộ
Trang 3diện của tập đoàn Kotobuki dưới sự điều hành của Tổng giám đốc người ViệtNam
Bảng 1: Cơ cấu góp vốn của Công ty
(1000 USD) % vốn gópCông ty Hải Hà (quyền sử dụng đất và máy
Tập đoàn Kotobuki (tiền mặt và thiết bị sản
(Nguồn: Văn phòng Công ty )
I.2 Quá trình phát triển của Công ty:
Năm 1994, Công ty bắt đầu tiến hành công việc sản xuất kinh doanh với
4 dây chuyền sản xuất, kẹo cứng, snack chiên, snack nổ, bánh tươi Tuy nhiên,trong giai đoạn này chỉ dây chuyền sản xuất kẹo cứng mang lại hiệu quả, cácdây chuyền sản xuất khác tuy đều rất hiện đại, có công suất lớn song còn khaithác cầm chừng Nguyên nhân là do Công ty không thể nhập được phần mềmsản xuất, các dây chuyền nhập về chỉ được chuyên gia nơi bán chỉ dẫn nhữngthao tác cơ bản đÓ vận hành, còn các tính năng khác, cán bộ kỹ thuật của Công
ty phải tự mày mò tìm Vừa sản xuất kinh doanh, vừa nghiên cứu ứng dụng máymóc thiết bị đã hạn chế không Ýt hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.Mặt khác, do Công ty mới thành lập nên việc tiếp cận thị trường có nhiều khókhăn, sản lượng tiêu thụ hàng hoá thấp, hiệu quả kinh doanh chưa cao
Năm 1995, Công ty nhập thêm dây chuyền sản xuất bánh Cookies Thờigian này, hoạt động kinh doanh của Công ty đã đi dần vào ổn định, công suấtmáy móc thiết bị tăng cao đáng kể, thị trường đã biết đến sản phẩm Hải Hà -Kotobuki nên doanh thu tăng mạnh gấp hơn hai lần so với năm 1994 (đạt 38,2
tỷ đồng)
Trang 4Năm 1996 Công ty đưa tiếp dây chuyền kẹo cao su, kẹo Sôcôla vào sảnxuất Các dây chuyền sản xuất khác tiếp tục được cải thiện, nâng cao năng suấtđáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên của thị trường.
Năm 1997, sau khi họp bàn, đánh giá hiệu quả hoạt đồng, hội đồng quảntrị của Công ty đã quyết định thay Tổng giám đốc là người của phía KotobukiNhật Bản, ông Tetsuya Suzuki và tiến hành tổ chức lại sản xuất Sự thay đổi này
đã mang đến cho Công ty những thành công đáng kể, nhãn hiệu Hải Hà Kotobuki đã xuất hiện nhiều trên thị trường toàn quốc, nhiều nhất là ở Hà Nội.Thời gian này Công ty cũng nhập thêm dây chuyền sản xuất kẹo que để mởrộng thêm chủng loại sản phẩm
-Năm 2000, nhận thấy thị trường đang có xu hướng tăng mạnh đồ ănkiêng, Công ty đã nhập thêm dây chuyền sản xuất kẹo Isomalt, mở rộng dãy sảnxuất vốn đã rất đa dạng của đơn vị mình
Đến nay, tuy trên thị trường xuất hiện rất nhiều nhãn hiệu sản phẩm bánhkẹo mới song sản phẩm của Công ty vẫn có được chỗ đứng tốt Nhãn hiệu Hải
Hà - Kotobuki được thị trường đánh giá là có chất lượng cao, mẫu mã kháphong phú, đẹp, giá cả dễ chấp nhận, đặc biệt là sản phẩm bánh tươi được thịtrường đặc biệt là ưa chuộng
II CÁC ĐIỀU KIỆN BÊN TRONG CỦA CÔNG TY LIÊN DOANH
TNHH HẢI HÀ - KOTOBUKI II.1 Mô hình cơ cấu tổ chức Công ty :
Doanh nghiệp: Công ty liên doanh Hải Hà - Kotobuki
Tên giao dịch: Công ty liên doanh TNHH Hải Hà - Kotobuki
(Joint Venture of Hai Ha - Kotobuki Company)
Trụ sở chính: 25 Trương Định - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Điện thoại: 84.4 8631 764 Fax: 844.8632 501
Website: http//:www.haiha-kotobuki.com.Việt Nam
Năm thành lập: 1993
Trang 5Chi nhỏnh thành phố Hồ Chớ Minh:
Lụ 13, số 3 phố Chợ Lớn, Phường 11, Quận 6, TP Hồ Chớ Minh
Điện thoại: 08.8768117 Fax: 08.8768117
Chi nhỏnh thành phố Hải Phũng
Số 50 Điện Biờn Phủ, quận Hồng Bàng, TP Hải Phũng
Điện thoại: 031.747356 Fax: 031.747356
Cơ cấu tổ chức của Cụng ty được xõy dựng theo mụ hỡnh sau:
Bảng 4: Sơ đồ tổ chức Cụng ty
Cụng ty được tổ chức theo chức năng, tỏch bạch giữa sản xuất và kinhdoanh, gắn liền trỏch nhiệm với quyền lợi, giảm bớt quyền lợi nhưng vẫn đảmbảo tập trung Cỏc phũng ban chuyờn mụn chịu sự quản lý trực tiếp của Tổnggiỏm đốc, phõn xưởng sản xuất quản lý hệ thống dõy chuyền sản xuất dưới sự
Phòng vật
t
Phòng
kỹ thuật
Phòng tài vụ
Phân x ởng
V.P cửa hàng
D.C sanck chiên
D.C bánh t
ơi
D.C kẹo cao su
D.C kẹo cứng
D.C kẹo que
D.C Iso malt Quan hệ chỉ đạo trực tiếp
Quan hệ liên quan giữa các phòng ban
Trang 6điều hành trực tiếp của phó tổng giám đốc Các phòng ban luôn mối liên quanmật thiết với nhau Chức năng và nhiệm vụ cụ thể của các đối tượng trong sơ đồ
tổ chức Công ty như sau:
Hội đồng quản trị: Là bộ phận quản lý Công ty, có toàn quyền nhân
danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi củaCông ty Thành viên hội đồng quản trị là đại diện của hai bên liên doanh gồmTổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, trưởng phòng nhân sự, hai thành viên giámsát, Hội đồng quản trị là nơi đưa ra những định hướng hành động kinh doanhcủa Công ty, quyết định bộ máy quản lý điều hành kinh doanh của Công ty baogồm tổng giám đốc và phó tổng giám đốc
Tổng giám đốc: Là người điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty,
chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về mọi hoạt động kinh doanh và hiệuquả hoạt động kinh doanh của Công ty Giúp việc cho Tổng giám đốc là PhóGiám đốc và các trưởng phòng (phòng nhân sự, phòng tài vụ, phòng thị trường,phòng vật tư, phòng kỹ thuật, văn phòng cửa hàng)
Phó Tổng giám đốc: Là người giúp việc cho Tổng giám đốc trong quản
lý điều hành Phó tổng giám đốc trực tiếp quản lý văn phòng phân xưởng và hệthống dây chuyền sản xuất và chịu trách nhiệm trước Công ty về hoạt động của
bộ phận này
Tiếp đến là 07 phòng ban, mỗi phòng gồm một trưởng phòng và các nhânviên có kế toán, thủ quỹ riêng Các phòng ban hoạt động độc lập trong khuônkhổ quyền hạn và trách nhiệm được giao
Văn phòng: Gồm 9 người làm công tác văn phòng (thủ tục, giấy tờ có
liên quan đến tổ chức, duy trì hoạt động của Công ty ) và quản lý nhân sự (tuyểnchọn nhân viên, tổ chức các chương trình đào tạo, quản lý lương, thưởng….)
Phòng thị trường: Gồm 20 người, có nhiệm vụ điều độ sản xuất kinh
doanh, nghiên cứu thị trường, thiết lập và quản lý hệ thống kênh phân phối, xâydựng chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, các hoạt động xúc tiến Quản lý
Trang 7các hoạt động liên quan đến việc tham gia các giải thưởng của ngành, hoạt độngliên quan đến bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp.
Phòng tài vụ: Gồm 5 người có chức năng hạch toán kế toán các nghiệp
vụ kinh tế tại Công ty và các chi nhánh, kiểm tra việc sử dụng vật tư, tài sản,vốn, phân tích tình hình tài chính, phối hợp với phòng thị trường và phòng vật
tư tính toán giá thành kế hoạch và sản lượng thực hiện từng thời kỳ, lập dự toánngân sách và cơ cấu tài chính từng thời kỳ, tìm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốncủa Công ty
Phòng vật tư: Gồm 5 người chịu trách nhiệm cung ứng vật tư cho sản
xuất, quản lý các kho vật tư đảm bảo cung cấp liên tục, giảm chi phí và phù hợpvới tình hình kho bãi hiện có, lập kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàngnăm, tính giá thành sản phẩm , tham gia vào công việc quyết định sản phẩmmới
Phòng kỹ thuật: 6 người chịu trách nhiệm về kỹ thuật đối với các dây
chuyền sản xuất trong Công ty, kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm trêntừng dây chuyền nghiên cứu cải tiến chất lượng sản phẩm; nghiên cứu sản xuấtthử các sản phẩm mới phối hợp với các bộ phận khác giải quyết trở ngại vềcông nghệ; thử nghiệm mẫu vật tư nguyên vật liệu, hương liệu, các tài liệu vềcông nghệ, phụ gia thực phẩm… đăng ký chất lượng sản phẩm và quản lý các
hồ sơ chất lượng sản phẩm
Văn phòng phân xưởng: Gồm 9 người quản lý, điều hành hoạt động của
hệ thống dây chuyền sản xuất (gồm 186 người) Văn phòng phân xưởng kết hợpvới đội ngũ công nhân làm việc trong các dây chuyền chịu trách nhiệm trướcCông ty về toàn bộ hoạt động sản xuất bao gồm cả việc sản xuất, đóng gói sảnphẩm và sửa chữa thiết bị máy móc
Văn phòng cửa hàng: Gồm 6 người, quản lý, điều hành hệ thống các
cửa hàng bán lẻ của Công ty Mỗi cửa hàng có một trưởng cửa hàng chịu tráchnhiệm về hoạt động của cửa hàng
Trang 8Ngoài ra, trong Công ty còn có tổ chức công đoàn, tổ chức đoàn thể.Thành viên của hai tổ chức này là các cán bộ công nhân viên của Công ty Các
tổ chức hoạt động để đảm bảo quyền lợi của các thành viên, tạo môi trường vănhoá lành mạnh, phát triển trong Công ty
II.2 Tổ chức hoạt động của Công ty :
Hoạt động kinh doanh của Công ty phụ thuộc rất lớn vào kết quả hoạtđộng của Phòng thị trường Phòng thị trường có trách nhiệm mô tả công việcnên sản xuất sản phẩm nào và chịu trách nhiệm tiêu thụ các sản phẩm sản xuất
ra Để hoàn tất các nhiệm vụ đó, phòng thị trường cần phối hợp hoạt động vớicác phòng ban khác trong Công ty
Sau khi nghiên cứu thị trường, phòng thị trường đưa ra các ý tưởng vềsản phẩm mới Các ý tưởng này được cuộc họp giữa nhân viên chuyên môn,phòng ban, phòng vật tư, phòng kỹ thuật, phòng thị trường đánh giá Nếu tưởngsản phẩm được chấp nhận thì cuộc họp giữa ba phòng ban này được tiếp tục đểlập ra kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Mọi số liệu liên quan đến tình hình sản xuất, tiêu thụ hàng hoá đều đượcphòng thị trường, phòng tài vụ, phó tổng giám đốc, phòng vật tư quản lý để tiệntheo dõi, đối chiếu thuận lợi cho công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt độngkinh doanh của Công ty
Phòng vật tư chịu trách nhiệm tập hợp các số liệu thực tế về tình hình tiêuthụ từ phòng thị trường, định mức tiêu thụ đề nghị trong kỳ tới của phòng thịtrường, giá bình quân nguyên vật liệu phòng lưu trữ, các số liệu khác từ phòngtài vụ hoạch định ra kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hàng hoá trong năm tới Khilập xong bản kế hoạch, phòng vật tư có chịu trách nhiệm gửi đến phòng thịtrường, phòng tài vụ, phó tổng giám đốc, văn phòng phân xưởng, văn phòng đểđánh giá khả năng sản xuất cũng như khả năng tiêu thụ, mức tồn kho… Nếu cácphòng ban khác có ý kiến khác thì phòng vật tư kiểm tra lại và có thể điều chỉnhhợp lý hơn Kết quả cuối cùng được giải trình lên Tổng giám đốc Sau khi Tổng
Trang 9giám đôc ký duyệt, bản kế hoạch sản xuất chính thức được thông qua và đượcgửi đến các phòng ban trên để tiến hành
Kế hoạch sản xuất do phòng vật tư tự lập và nhu cầu thị trường do phòngthị trường thu thập được gửi đến phó tổng giám đốc Phó tổng giám đốc chỉ đạovăn phòng sản xuất tổ chức hoạt động sản xuất, lập kế hoạch sản xuất, bố trí dâychuyền sản xuất, thời gian sản xuất, sắp xếp lao động hợp lý nhằm giảm tối đa
sự lãng phí Sau đó văn phòng phân xưởng gửi quyết định kế hoạch sản xuấtđược phó tổng giám đốc duyệt xuống các phân xưởng sản xuất để họ tiến hànhsản xuất
Những vấn đề phát hiện tại các phòng ban vượt quá quyền hạn hoặc xảy
ra mâu thuẫn giữa các phòng ban không thể tự giải quyết được thì trưởng phòngtập hợp lại và trình lên tổng giám đốc để được giải quyết
II.3 Khả năng tài chính của Công ty :
Vốn góp ban đầu của Công ty khá lớn do Công ty Hải Hà và tập đoànKotobuki góp (Bảng 1) Công ty có quyền sở hữu đất đai, nhà xưởng, thiết bịmáy móc sản xuất còn tốt, Ýt có sửa chữa lớn, sản xuất kinh doanh bánh kẹo lại
có vòng quay vốn nhanh nên vấn đề tài chính của Công ty tương đối ổn định.Mỗi năm Công ty nép cho Nhà nước hàng chục tỷ đồng tiền thuế bao gồm cảthuế VAT, thuế doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận hàng nămtrên dưới hai tỷ đồng, tạo cho Công ty nguồn tài chính tốt, tạo điều kiện tích luỹ
mở rộng sản xuất Các chỉ tiêu tài chính của Công ty được thể hiện trong bảngsau:
Bảng 2: Các chỉ tiêu tài chính của Công ty từ năm 2000 đến năm 2003
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (lần) 2,83 1,75 0,73 0,42
Lợi nhuận sau thuế/ DT thuần (%) 3,71 3,810 3,85 4.01
Trang 10(Nguồn: Phòng tài vụ của Công ty )
Các chỉ tiêu trong bảng cho thấy, nguồn vốn kinh doanh của Công ty tăngđều theo từng năm, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đang có sự thayđổi theo hướng lợi nhuận ngày càng cao Điều này chứng tỏ việc sử dụng vốncủa Công ty có hiệu quả Tuy nhiên, để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanhcủa Công ty có thực sự hiệu quả không cần xét tiếp các vấn đề khác
II.4 Khả năng sản xuất:
Năng suất sản xuất của Công ty thể hiện qua năng lực sản xuất của côngnhân, trình độ quản lý của cán bộ điều hành sản xuất, thiết bị dây chuyền côngnghệ sản xuất
Đội ngũ công nhân lành nghề, được tuyển chọn kỹ, có khả năng nắm bắtnhanh các kỹ thuật sản xuất mới, có trình độ sản xuất tốt ở tất cả các dâychuyền, có ý thức lao động tốt
Đội ngũ quản lý phân xưởng, quản lý kỹ thuật có trình độ đại học và trênđại học chiếm tỷ lệ lớn, say mê với công việc
Hệ thống dây chuyền sản xuất của Công ty tương đối hiện đại (thể hiệntrong bảng sau) song trung bình hiện tại mới chỉ khai thác được khoảng 60%.Nguyên nhân của tình trạng này là do dây chuyền sản xuất không đồng bộ, nhưtrong quá trình sản xuất kẹo cao su, dây chuyền sản xuất chính có khả năng sảnxuất 600kg/ca song dây chuyền đóng gói không thể hoàn tất được toàn bộ sốsản phẩm đó… và đầu ra không đảm bảo
Trang 11Bảng 3: Hệ thống dây chuyền sản xuất hiện có của Công ty
Tên dây
chuyền sản
xuất
Nguyên giá (tr.đồng)
Nguồn gốc thiết
bị (quốc gia)
Năm nhập
Công suất thiết kê (kg/ca)
Công suất
sử dụng (kg/ca)
% công suất khai thác
Tổng giá trị ban đầu của máy móc thiết bị: 42.550 tr.đồng
(Nguồn: Phòng Kỹ thuật của Công ty )
Những thông tin trên cho thấy khả năng sản xuất của Công ty còn rất lớn.Năm 2003 nhờ tăng sản lượng sản xuất nên khấu hao máy móc tính trên từngđơn vị sản phẩm của Công ty giảm (chi phí khấu hao máy móc chiếm 4,8% tổngdoanh thu thuần), chi phí sửa chữa, bảo dưỡng sản phẩm giảm xuống còn 0,9%tổng doanh thu (năm 2002 là 1.3% tổng doanh thu) làm giảm giá thành sảnphẩm, nâng cao được khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Điềunày cho thấy sự tiến bộ trong sản xuất kinh doanh của Công ty Nếu tiếp tụcnâng công suất sử dụng máy móc lên nữa thì Công ty có thể giảm đáng kể giáthành sản phẩm, tạo lợi thế cạnh trạnh mạnh cho sản phẩm Tuy nhiên trướctiên, Công ty cần có biện pháp để đảm bảo có thể tiêu thụ hết số sản phẩm tăngthêm
Bảng 4: Giá trị khấu hao dây chuyền sản xuất trong doanh thu thuần của
Công ty
Trang 12Doanh thu (1000 đ)
Giá trị khấu hao (1000đ)
Tỷ lệ KH trong DT thuần %
Giá trị bảo dưỡng, SCL (1000đ)
Tỷ lệ BD, SCL trong
DT thuần
%
Năm 2002 47.434.000 2.911.936 6,10 596.000 1,30
Năm 2003 63.918.000 3.090.281 4,80 560.131 0,90
(Nguồn: Phòng Tài vụ Công ty )
* Một số các sơ đồ quy trình sản xuất : ( Trang cuối)
III KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
Qua quá trình hơn 10 năm hoạt động, Công ty đã tạo ra được chỗ đứngtrên thị trường, nhãn hiệu bánh kẹo Hải Hà - Kotobuki đã được người tiêu dùngbiÕt đến và tin tưởng Mỗi năm Công ty tiêu thụ trên dưới 2000 tấn bánh kẹocác loại, đạt tổng doanh thu bán hàng trên dưới 55 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhànước hàng tỷ đồng Những thành công trên là đáng kể song nếu đầu tư tốt hơn,
tổ chức lại hoạt động khoa học hơn thì Công ty có thể tăng doanh thu bán hàngnhiều hơn nữa
Bảng 5 : Kết quả kinh doanh của Công ty từ năm 1994 - 2003
DT (tấn)
Nép NS (1000đ)
Lợi nhuận LN
(lần)