Chất chỉ điểm CA125 thường được sử dụng để dự đoán khả năng lành tính hay ác tính của khối u buồng trứng [7], [6].Năm 2009, trên thế giới đã áp dụng chất chỉ điểm u mới trong chẩn đoánUT
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
U buồng trứng là một trong những khối u thường gặp của hệ sinh dục
nữ, đứng thứ hai về tần suất sau u xơ tử cung Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi,
từ trẻ em chưa thấy kinh đến người già sau mãn kinh
Ung thư buồng trứng (UTBT) là một trong những ung thư phụ khoagây tử vong hàng đầu của phụ nữ Ung thư buồng trứng đứng thứ 3 trong ungthư phụ khoa sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung ở phụ nữ 40 - 60 tuổi,chiếm khoảng 4% các ung thư ở nữ giới [1]
Trên thế giới, tại một số quốc gia ở Bắc Mỹ và Bắc Âu phụ nữ có nguy
cơ mắc cao, tỷ lệ mắc thấp ở Nhật Bản và các quốc gia đang phát triển Phụ
nữ châu Phi ở Mỹ có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn so với phụ nữ một số nướckhác Năm 2004, tại Mỹ ghi nhận 25.580 trường hợp mới mắc, 16.090 phụ nữ
tử vong vì căn bệnh này Số phụ nữ tử vong vì ung thư buồng trứng (UTBT)bằng số phụ nữ tử vong do ung thư cổ tử cung và ung thư niêm mạc tử cungcộng lại [2]
Tại Việt Nam, UTBT là bệnh phổ biến đứng hàng thứ ba trong các bệnh
UT phụ khoa Theo ghi nhận UT tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004, tỷ lệmắc chuẩn theo tuổi là 4,4/100.000 dân, ở Hà Nội là 3,7/100.000 dân [3], [1]
Buồng trứng là 1 trong số những cơ quan phát sinh ra nhiều loại u nhấttrong cơ thể Các khối u của buồng trứng có thể có nhiều nguồn gốc khácnhau nhưng chủ yếu xuất phát từ ba thành phần: biểu mô bề mặt, tế bào mầm
và dây sinh dục - mô đệm, trong mỗi loại u lại được chia thành nhiều nhómnhỏ Trong ung thư buồng trứng, có tới 80 - 90% UTBT là loại biểu mô, 5-10% là UT tế bào mầm, và khoảng 5% UT có nguồn gốc mô đệm [4]
UTBT là bệnh khó chẩn đoán sớm, phần lớn được phát hiện ở giai đoạnmuộn, khi bệnh đã lan tràn, gieo rắc vùng chậu và ổ bụng, ngay cả ở nhữngnước tiên tiến vẫn có khoảng 70-80% bệnh nhân được chẩn đoán bệnh ở giai
Trang 2đoạn tiến triển (III, IV) [4], [5] Vì vậy UTBT là bệnh khó chữa khỏi, tỷ lệ tửvong cao, do đó việc phát hiện và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm vẫn là yếu tốthen chốt cải thiện tiên lượng bệnh.
Chẩn đoán sớm và sàng lọc UTBT thường phải kết hợp lâm sàng vớiphương tiện chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm chất chỉ điểm u Vai trò củasiêu âm trong việc dự báo nguy cơ ác tính của một khối u buồng trứng đãđược nhiều nghiên cứu khẳng định Chất chỉ điểm CA125 thường được sử dụng
để dự đoán khả năng lành tính hay ác tính của khối u buồng trứng [7], [6].Năm 2009, trên thế giới đã áp dụng chất chỉ điểm u mới trong chẩn đoánUTBT, đó là chất chỉ điểm u HE4 (human epididymal protein 4), chất chỉđiểm này đã được chấp thuận ở Châu Âu, các nước Châu Á Thái Bình Dương
và Châu Mỹ La tinh HE4 cũng đã được dùng ở Mỹ và được FDA chứng nhận[8] Tại Việt nam, HE4 bước đầu được áp dụng trong chẩn đoán và theo dõiUTBT Xét nghiệm chất chỉ điểm CA125 và HE4 đã được áp dụng tại bệnhviện K trong chẩn đoán và theo dõi UTBT Tuy nhiên các nghiên cứu về giátrị của chẩn đoán hình ảnh và các chất chỉ điểm u trong việc dự báo khả năng
ác tính của một khối u buồng trứng còn ít và chưa đầy đủ Vì vậy, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giá trị của siêu âm kết hợp chất chỉ điểm u (CA12.5 và HE4) trong chẩn đoán sớm ung thư biểu mô buồng trứng tại bệnh viện K”
1 Một số đặc điểm trên siêu âm và nồng đồ các chất chỉ điểm u (CA12.5, HE4) trong ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn sớm được điều trị tại bệnh viện K từ 1/2017 đến 8/2019.
2 Giá trị dự đoán ác tính của siêu âm kết hợp với chất chỉ điểm u (CA 12.5 và HE4) trong chẩn đoán sớm ung thư biểu mô buồng trứng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 GIẢI PHẪU CỦA BUỒNG TRỨNG
Buồng trứng là một tạng nằm trong ổ phúc mạc, hai buồng trứng nằmsát hai thành bên của chậu hông bé, sau dây chằng rộng Buồng trứng có hìnhhạnh nhân hơi dẹt, màu hồng nhạt Hình dáng kích thước của buồng trứngthay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể
Mặt ngoài liên quan với động mạch chậu ngoài, động mạch chậu trong
và động mạch tử cung Mặt trong liên quan với manh tràng, ruột thừa, ruộtnon ở bên phải và đại tràng sigma ở bên trái
Hình 1.1 Tử cung và các phần phụ
(Trích trong Atlas - Giải phẫu người của Frank H Netter)
Buồng trứng được định vị bởi 4 dây chằng Các dây chằng này treo giữ
Trang 4buồng trứng một cách tương đối:
+ Dây chằng tử cung - buồng trứng
+ Dây chằng thắt lưng - buồng trứng
+ Mạc treo buồng trứng
+ Dây chằng vòi trứng - buồng trứng
Mạch máu và thần kinh buồng trứng:
* Động mạch: Buồng trứng được cấp máu từ hai nguồn
- Động mạch buồng trứng: tách ra từ động mạch chủ bụng ở ngang
mức các động mạch thận Sau khi bắt chéo động mạch chậu ngoài, động mạchbuồng trứng chia làm 3 nhánh ở đầu trên của buồng trứng gồm: nhánh vòingoài, nhánh buồng trứng ngoài và nhánh nối
- Động mạch tử cung: tách ra các nhánh tận tiếp nối với các nhánh của
động mạch buồng trứng tạo thành cung mạch máu nuôi dưỡng buồng trứng
- Tại rốn buồng trứng: Động mạch buồng trứng chia ra 10 nhánh tiến
sâu vào vùng tủy
- Tại vùng chuyển tiếp: Các động mạch và tiểu động mạch tạo thành
một đám rối, từ đó tạo ra các mạch thẳng nhỏ hơn tiến vào vùng vỏ buồngtrứng, ở lớp vỏ trong của nang noãn có một mạng lưới mao mạch dày đặc
* Tĩnh mạch: Tĩnh mạch buồng trứng phải đổ về tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh
mạch buồng trứng trái đổ về tĩnh mạch thận trái
* Hệ thống bạch huyết: Dẫn lưu vào các thân bạch mạch lớn hơn để tạo thành
đám rối ở rốn buồng trứng, chúng đi qua mạc treo buồng trứng để dẫn lưu tớicác hạch quanh động mạch, các nhánh khác dẫn lưu vào các hạch chậu trong,chậu ngoài, giữa động mạch chủ, động mạch chậu chung và hạch bẹn
* Thần kinh: Tách ra từ đám rối liên mạc treo và đám rối thận [9], [10].
1.2 DỊCH TỄ HỌC
Trang 51.2.1 Trên thế giới
UTBT là một trong những bệnh UT phụ khoa phổ biến nhất ở phụ nữ
da trắng, đặc biệt một số quốc gia ở Bắc Mỹ và Bắc Âu Tỷ lệ mắc thấp ởNhật Bản và phụ nữ châu Phi Tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau tuỳ theo từngquốc gia, từng chủng tộc và từng thời kỳ Đã có những thông báo về sự giatăng tần xuất mắc bệnh và tử vong do UTBT tại Singapore, Anh, Tây BanNha, Nhật Bản [1], [5]
Năm 2007, tại Mỹ ghi nhận 22.430 trường hợp mới mắc, 15.280 phụ nữ
tử vong vì căn bệnh này Ở Singapore UTBT đứng hàng thứ 6 trong các bệnh
UT [5]
UTBMBT chiếm 85% trong tổng số UTBT, có tỷ lệ mắc tăng dần theotuổi, ít gặp ở độ tuổi dưới 40 Tỷ lệ mắc bệnh tăng từ 1,4/100.000 phụ nữ ở độtuổi dưới 40 lên đến 38/100.000 phụ nữ trên 60 tuổi UTBT loại không biểu môhay gặp ở tuổi trẻ, thường được chẩn đoán ở độ tuổi dưới 20 [1]
Từ năm 1973 trở đi, tỷ lệ mắc bệnh UTBMBT ở phụ nữ da trắng tăng bìnhquân hàng năm 0,1% ở độ tuổi dưới 50, 0,5% ở độ tuổi già hơn; ở phụ nữ dađen tăng hàng năm 0,5% ở nhóm dưới 50 tuổi, 0,4% ở độ tuổi già hơn Tỷ lệmắc trung bình ở phụ nữ da trắng là 13 - 15/100.000 phụ nữ, trong khi đó tỷ
lệ mắc trung bình ở phụ nữ da đen là 10/100.000 phụ nữ [1], [5]
Về tỷ lệ mắc theo tuổi, UTBMBT thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh, nhómphụ nữ 40-44 tuổi tỷ lệ mắc 15.5/100.000 tỷ lệ này tăng dần theo tuổi và đạtđỉnh cao ở nhóm 70-74 với tỷ lệ mắc 57/100.000 [1], [5]
1.2.2 Tại Việt Nam
Năm 2004, theo ghi nhận UT tại thành phố Hồ Chí Minh UTBT đứnghàng thứ 3 trong UT cơ quan sinh dục nữ với tần suất là 4,4/100.000 dân [1] Theo Nguyễn Bá Đức, Đào Ngọc Phong, giai đoạn 2001 - 2004 tỷ lệ
Trang 6mắc UTBT ở Hà Nội là 3,7/100.000 dân [3], [1]
Theo ghi nhận UT năm 2006 tại Việt Nam, trong số 10 bệnh UTthường gặp nhất ở phụ nữ, UTBT đứng hàng thứ 7 Căn bệnh khó này đangthực sự là gánh nặng sức khỏe đối với phụ nữ bởi khả năng phát hiện và chẩn
BM còn chưa thống nhất hoàn toàn Sự hình thành thể trắng, các nangnoãn thoái triển và xơ hóa BT làm cho BT trở nên nhỏ hơn, trên bề mặt
có những xoắn vặn, nhăn nhúm Quá trình này kéo BM phủ khoang cơthể nằm ở phía trên vào mô đệm, dần dần tạo ra những ổ BM nằm sâutrong mô đệm Những ổ BM này dần dần phân cách với BM bề mặt bằngmột lớp mô đệm để tạo thành các nang BM khoang cơ thể vùi trong vùng
vỏ BT
Các nang vùi còn có thể được hình thành sau phóng noãn - tạo hoàngthể Sau đó hoàng thể thu nhỏ, xơ tăng sinh tạo nên thể trắng kéo theo BMphủ ở phía trên xuống tạo ra ổ BM nằm trong phần vỏ Các nang vùi nàycũng có thể được hình thành thứ phát do sự sát nhập của phần cuối tua vòitrứng với trung mô phúc mạc phủ BT, do sự dính vòi trứng - BT Quá trìnhnày được hỗ trợ bởi dịch nang noãn Sau đó vùng này tổ chức hóa, bề mặt
BT được tái tạo lại, có thể dẫn đến hiện tượng BM phủ bề mặt BT vùi vào
mô đệm vùng vỏ BT
Sau cùng, các nang vùi có thể là sự phát triển gợi lại ống Muller trongthời kỳ bào thai
Trang 7Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau cắt nghĩa sự hình thành nangvùi BM nhưng quan trọng hơn là các nang vùi đã xuất hiện trong vỏ BT vàchúng có thể dị sản hoặc quá sản tiếp theo dẫn tới hình thành các u nang
BM BT
Như vậy, sự hình thành các nang BM BT là do dị sản - tăng sản của
BM khoang cơ thể, loại BM này có chung nguồn gốc ống Muller - mẹ đẻ của
tử cung và vòi tử cung nên khi biến đổi dị sản tạo ra
Nang nước (Tương tự BM vòi tử cung)
Nang nhầy (Tương tự BM ống cổ tử cung)
Nang dạng nội mạc (Như BM nội mạc tử cung )
Ở vùng chuyển tiếp là u BrennerQuá trình dị sản xảy ra hoặc ở BM bề mặt trước khi các nang vùi hìnhthành hoặc xảy ra ở BM phủ nang vùi
Với ung thư buồng trứng (UTBT), về nguyên nhân gây ra loại ung thư(UT) này, đang tồn tại hai khuynh hướng được các nhà nghiên cứu ủng hộ:
Đó là sự “chấn thương” trên BM vỏ BT do quá trình phóng noãn được lặp đilặp lại trong cuộc đời người phụ nữ Giả thuyết này tỏ ra có lý vì UT BM khônggặp ở trẻ em và phụ nữ teo đét BT Ở phụ nữ dùng thuốc chống phóng noãn, phụ
nữ đang có thai và cho con bú liên tục, tỷ lệ UTBT giảm xuống 1,5 - 3,2 lần sovới phụ nữ không có thai Nhóm giả thuyết thứ 2 (Yaker 1975 ) cho rằng : cácchất gây UT đi qua âm đạo, cổ tử cung, tử cung, vòi trứng rồi tác động lên BM
bề mặt BT cũng như tác động lên các nang vùi BM Nhiều nghiên cứu cho thấy :
UT BM BT chủ yếu phát sinh từ các tuyến vùi BM hơn là trực tiếp từ BM bềmặt và coi sự biệt hóa ống Muller là bước đầu trong sự hình thành UT
1.3.2 U tế bào mầm [12], [13],[14].
Theo một số tác giả (Simard L.C 1975, Frederick K 1994), u tế bàomầm là do đơn tính sinh của tế bào mầm tạo ra Các tế bào sinh dục dù chỉ có
Trang 823 nhiễm sắc thể vẫn có thể sinh ra các bộ phận và tổ chức trong cơ thể trong
đó tuyệt đại đa số là lành tính bao gồm: u quái thành thục và hay gặp nhất là unang bì (95% là u nang bì lành tính), có một tỷ lệ nhỏ là ác tính (1% - 3%theo Smith J.P 1973, Robert R.S 1982, Philip B Clement 2000) bao gồm u tếbào mầm nguyên thủy, u xoang nội bì, UT bào thai, UT nguyên bào nuôi tiênphát ở BT, u quái chưa thành thục
1.3.3 U dây sinh dục - mô đệm của BT [1]
Người ta cho rằng: các khối u mô đệm sinh dục có thể có nguồn gốc từtrung mô tuyến sinh dục là nơi có khả năng phát triển thành cơ cấu tuyến sinhdục của nam và nữ tạo thành các khối u nam hóa và nữ hóa Các u này thườnggây rối loạn nội tiết, rối loạn sự phát triển giới tính hay kinh nguyệt
1.4 PHÂN LOẠI U BUỒNG TRỨNG THEO GIẢI PHẪU BỆNH VÀ LÂM SÀNG
1.4.1 Phân loại u BT theo mô bệnh học [1],[11]
Năm 2003,tổ chức y tế thế giới WHO - World Health Organization đãđưa ra một bảng phân loại khối u BT như sau:
* U mô đệm BM bề mặt
1.1 U thanh dịch : Lành tính
U giáp biên
Ác tính1.2 U nhầy : Lành tính
U giáp biên
Ác tính
U nang chế nhầy với các nốt vách nang
U nang chế nhầy giả u nhầy phúc mạc
Trang 91.3 U dạng nội mạc tử cung gồm các biến thể biệt hóa vảy:
- Lành tính
- U giáp biên
- Ác tính 1.4 U tế bào sáng:
- Lành tính
- U giáp biên
- Ác tính1.5 U tế bào chuyển tiếp:
- Lành tính
- U giáp biên
- Ác tính 1.6 U tế bào vảy :
- Ung thư BM không biệt hóa
- Ung thư BM tuyến không cần ghi chú thêm
* U mô đệm - dây sinh dục
Trang 103.1 U tế bào mầm nguyên thủy :
3.2 UT biểu mô bào thai
3.3 U quái 2 hoặc 3 pha
3.4 U quái đơn bì và các u quái typ tế bào thân, kết hợp với nang bì3.5 Các loại khác
* U mô đệm - dây sinh dục tế bào mầm
* Những u của vết tích bào thai ở BT
* Các khối u cơ năng: [9], [15]
Khối u cơ năng BT sinh ra do tổn thương chức năng của BT U thườnglớn nhanh, chỉ tồn tại trong vài chu kỳ kinh, không cần điều trị
Trang 11Nang bọc noãn: Do nang De Graaf vỡ muộn, tiếp tục tiết estrogen.Dịch trong nang thường có màu vàng chanh và chứa nhiều estrogen.
Nang hoàng tuyến hay gặp ở những bệnh nhân chửa trứng hoặc UTnguyên bào nuôi, có thể gặp ở những bệnh nhân vô sinh đang được điều trịbằng hormon hướng sinh dục liều cao, là hậu quả của β hCG tăng quá cao Uthường có cả hai bên BT, nhiều thùy, vỏ mỏng, chứa nhiều lutein
Nang hoàng thể: sinh ra từ hoàng thể, chỉ gặp trong giai đoạn hoàng thể
và thời kỳ thai nghén, nhất là trong trường hợp đa thai Nang chứa nhiềuestrogen và progesteron
* Các khối u thực thể: [9], [15]
U nang nước: thường lành tính,vỏ mỏng, có thể có cuống dài, trong
chứa dịch trong Nang thường không dính vào xung quanh, có thể có nhú ởmặt trong hay mặt ngoài của vỏ nang, nếu có nhú thường ác tính
U nang nhầy: Nang có nhiều thùy nên có thể rất to, thành nang dày
gồm hai lớp: Lớp ngoài là tổ chức xơ, ở trong là lớp thượng bì trụ đơn,trong nang chứa dịch nhầy màu vàng U nang nhầy có thể dính vào cáctạng xung quanh
U nang bì: Thường gặp nhất là u quái (teratome) và các khối u tế bào
mầm, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, 10% teratome gặp khi mang thai Thành nang
có cấu trúc như da gồm lớp sừng, mỡ, tuyến mồ hôi, trong nang chứa tóc,răng, bã đậu
U nang dạng nội mạc tử cung: Nang thường là một thùy ở một hoặc hai
bên BT, thành mỏng, dính, bên trong chứa dịch màu nâu sẫm
Các nang cơ năng tồn tại trên 3 chu kỳ đều được coi là nang thực thể
1.4.2.2 UT BT và các khối u BT khác
* Khối u có nguồn gốc BM BT : Chiếm khoảng 70% các khối u BT
(75% là u thanh dịch, 20% là u nhầy, 2% là u dạng lạc nội mạc tử cung)
Trang 12* Khối u tế bào mầm: Chiếm khoảng 15 - 20% tất cả các loại khối u
BT Khối u tế bào mầm thường gặp ở bệnh nhân dưới 20 tuổi
* Khối u mô đệm BT: Chiếm khoảng 5% tất cả các loại khối u BT 1.5 CHẨN ĐOÁN
1.5.1 Sàng lọc và phát hiện sớm
Nhiều nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng trên thế giới đã chỉ ra rằngchưa có một phương pháp nào thực sự có hiệu quả trong việc sàng lọc UTBTmột cách rộng rãi như UT vú hoặc UT cổ tử cung Sự tiến triển nhanh củabệnh cùng với độ tin cậy của các test sàng lọc không cao là những nguyênnhân chính ảnh hưởng tới hiệu quả sàng lọc của bệnh Hầu hết các nghiên cứu
sự dụng nồng độ CA 12.5 huyết thanh hoặc siêu âm đầu dò âm đạo hoặc kếthợp cả hai
CA 12.5 huyết thanh không hữu ích khi sử dụng đơn độc bởi vì sự tăngkhông đặc hiệu cho UTBMBT, nó có thể tăng trong các bệnh lành tính khácnhư: u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung, u nang buồng trứng, các bệnh viêmnhiễm vùng chậu, tràn dịch màng phổi, màng bụng bất cứ nguyên nhân gì; vàcác bệnh ác tính như: UT vú, phổi, đại-trực tràng, tụy, dạ dày…Mặt khác CA12.5 chỉ tăng trong khoảng 50% các trường hợp UTBMBT giai đoạn sớm Kết hợp CA 12.5 huyết thanh và siêu âm đầu dò âm đạo đặc biệt là siêu
âm Doppler màu là một nỗ lực trong việc cải thiện hiệu quả của sàng lọc.Việc kết hợp khám khung chậu, xét nghiệm nồng độ CA 12.5 huyết thanh vàsiêu âm đầu dò âm đạo hàng năm đối với các phụ nữ có nguy cao mắcUTBMBT (tiền sử gia đình có mẹ, hoặc chị, em mắc UT vú, UTBT; manggen UTBT di truyền …) làm tăng tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, mặc
dù hiện tại chưa có một bằng chứng rõ ràng giảm được tỷ lệ tử vong củaUTBT qua các phương pháp này Gần đây người ta đã phát hiện ra một số chấtchỉ điểm u khác hứa hẹn sẽ làm tăng độ chính xác của CA 12.5 huyết thanh đặc
Trang 13biệt là HE4 (human epididymal protein 4) đã được nghiên cứu và chứng minhlàm tăng độ đặc hiệu trong chẩn đoán và phát hiện sớm ung thư biểu mô buồngtrứng [5]
1.5.2 Triệu chứng lâm sàng
1.5.2.1 Triệu chứng cơ năng
Buồng trứng là cơ quan nằm sâu trong khung chậu Ở giai đoạn sớm,
các triệu chứng của UTBMBT thường tiến triển âm thầm và không có dấuhiệu đặc trưng, thường chỉ là cảm giác đầy tức bụng mơ hồ, khó giải thíchhoặc các triệu trứng mượn của hệ tiêu hóa (táo bón) và tiết niệu (tiểu nhiềulần, tiểu khó), đôi khi gặp dấu hiệu đau bụng với nhiều mức độ khác nhaunhưng cũng không đặc hiệu, thường gặp trong hoàn cảnh khám bệnh định kỳhoặc tình cờ phát hiện khi khám một bệnh khác Mặt khác lại có khoảng 1/3bệnh nhân UTBMBT không có triệu chứng gì và có đến 75% trường hợp đã
có các triệu chứng trên 6 tháng cho đến lúc được chẩn đoán Chính vì vậy,hơn 70% các trường hợp khi được phát hiện thì đã ở giai đoạn muộn, lúc nàycác triệu chứng thường rầm rộ, tiến triển nhanh như thấy bụng chướng nhanh,gầy sút, kém ăn, nhiều trường hợp BN tự sờ thấy u Kèm theo là các triệu chứng
do khối u chèn ép, xâm lấn các cơ quan lân cận như rối loạn kinh nguyệt, ra máu
âm đạo sau mãn kinh, các biến chứng tiêu hoá, tiết niệu, đau bụng do u xoắn, vỡhoặc khó thở do cổ trướng nhiều hay do tràn dịch màng phổi
Ở giai đoạn cuối, BN có biểu hiện suy dinh dưỡng nặng, rối loạn nướcđiện giải Hình ảnh lâm sàng điển hình là bụng căng to, người chỉ còn da bọcxương, mất hết tổ chức mỡ ở mặt làm cho BN luôn như cười mỉa mai, mắttrũng Hình ảnh đó gọi là bộ mặt buồng trứng [16], [17], [18], [5], [19]
1.5.2.2 Triệu chứng thực thể
Trang 14Ở giai đoạn sớm cần thăm khám kỹ phần tiểu khung, thăm âm đạo, trựctràng để đánh giá vị trí, kích thước, mật độ cũng như mức độ di động và xâmlấn của u Khi u còn khu trú tại buồng trứng thường di động dễ và ranh giới rõnhưng khi vượt quá khỏi buồng trứng và xâm lấn các cơ quan lân cận thì uthường hạn chế di động và ranh giới không rõ ràng với cơ quan xung quanh.Dấu hiệu cổ trướng có thể gặp nhưng ít hơn nhiều so với giai đoạn muộn vàthường ở mức độ nhẹ hoặc vừa Khám vùng bụng chậu kết hợp với khám phụkhoa là động tác quan trọng đầu tiên khi nghi ngờ một khối u buồng trứng,nhất là đối với giai đoạn sớm các dấu hiệu thực thể thường nghèo nàn vàkhông đặc hiệu
Ở giai đoạn muộn các triệu chứng phong phú và rõ rệt hơn, thường códịch cổ trướng xuất hiện Sự xuất hiện dịch cổ trướng là một biểu hiện xấucủa bệnh Khám kỹ vùng bụng có thể phát hiện được biểu hiện u xâm lấn,phát triển làm đóng bánh mạc nối lớn Cần thăm khám toàn thân để đánh giáthể trạng cũng như tìm kiếm các biểu hiện lan tràn của bệnh như tràn dịchmàng phổi, hạch bẹn, hạch thượng đòn [2], [5], [19]
1.5.3.1 Vai trò của siêu âm và các chất chỉ điểm u (CA12.5 và HE4) trong chẩn đoán sớm ung thư buồng trứng.
Siêu âm là một phương pháp chẩn đoán quan trọng đầu tiên trong đánhgiá một khối vùng tiểu khung, nó nhậy hơn so với các phương pháp chẩnđoán hình ảnh khác như CT trong việc phát hiện những khối u buồng trứng.Siêu âm cung cấp những thông tin có giá trị về những khối u buồng trứng gợi
ý khả năng lành tính hoặc ác tính
Siêu âm ổ bụng: có giá trị trong việc đánh giá kích thước u, vị trí u ở
một hay cả hai bên buồng trứng, tình trạng dịch ổ bụng cũng như tìm kiếmbằng chứng về di căn xa tới các cơ quan khác trong ổ bụng đặc biệt là việc
Trang 15đánh giá tình trạng di căn gan, di căn hạch ổ bụng.
Siêu âm đường âm đạo : xác định cấu trúc bên trong của khối u.
Siêu âm Doppler màu : nghiên cứu sự thay đổi phân bố mạch máu
vùng tiểu khung, tình hình cấp máu của khối u
Các dấu hiệu sau đây trên siêu âm gợi ý hình ảnh một khối u ác tính:
+ Thành phần đặc hoặc hỗn hợp cả đặc và lỏng
+ Có nhiều vách, dày không đều, kích thước > 3 mm
+ Có nụ sùi trong nang
+ Bờ nham nhở không rõ với tổ chức xung quanh
+ Có dịch ổ bụng
+ Kích thước ≥ 10 cm
+ Nhiều mạch máu tân sinh trên siêu âm Doppler màu
Nang cơ năng: thường có kích thước nhỏ (<6cm), bờ rõ, thành mỏng,
dịch nang là vùng âm vang không đồng nhất, thường tự mất đi sau 2 - 3 chu
kỳ kinh
U BT thực thể: Siêu âm có thể xác định được bờ viền u, độ dày của vỏ,
vách u, cấu trúc âm vang phản xạ trong lòng u và liên quan của u với cácvùng xung quanh, u có kèm theo dịch cổ trướng hay không?
- Nang nước : Thường có một thùy, thành mỏng, ranh giới rõ, dịch
trong nang có âm vang đồng nhất, đôi khi u có vách, có nhú
- Nang nhầy: Thường có nhiều thùy, thành dày, ranh giới rõ, u có
nhiều vách, dịch nang có âm vang thưa
- Nang dạng nội mạc tử cung: Có thành dày, phản xạ âm vang thưa
không thuần nhất, có thể có một hoặc nhiều thùy
- Nang bì: Có nhiều hình ảnh đa dạng:
+ Hình ảnh âm vang đồng nhất
+ Hình ảnh vùng âm vang hỗn hợp
+ Hình ảnh vùng đậm âm tạo bóng âm vang phía dưới các tổ chức
xương, tóc
Trang 16- U thể đặc: có nhiều hình ảnh khác nhau:
+ U vỏ BT loại xơ: Hình ảnh đậm âm và đồng nhất+ U Brenner: Hình ảnh đậm âm và đồng nhất, có khi có nang + UT nguyên phát thể đặc: U có âm vang đậm, không đồng nhất,ranh giới không rõ ràng
Theo nghiên cứu của Herrmann [20] dự đoán tính chất ác tính của u BTqua siêu âm dựa vào các đặc điểm u có bờ không rõ, vách ngăn dày, cổtrướng và nhất là có tổ chức đậm âm trong khối u, sau đó so với kết quả giảiphẫu bệnh khối u sau mổ, người ta thấy phương pháp chẩn đoán này có độnhạy cao (82,6%) Nếu qua siêu âm chẩn đoán là ác tính thì tỷ lệ đúng là73% Nếu siêu âm chẩn đoán là lành tính thì tỷ lệ đúng là 95,6%
Ngày nay, bằng phương pháp siêu âm màu người ta có thể phát hiệnđược những mạch máu tăng sinh bất thường xung quanh và trong lòng khối u.Trong khối u BT ác tính có rất nhiều mạch máu tăng sinh Tuy nhiên, Dopplermàu chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu về huyết động và đòi hỏi trangthiết bị đắt tiền nên chưa được áp dụng rộng rãi
Những hình ảnh Doppler màu dự đoán khối u BT ác tính:
- Mạch máu xâm nhập nhiều ở vùng trung tâm của khối u
- Mạch máu nhánh to hơn mạch máu chính
- Có nhiều mạch nối tắt giữa động mạch và tĩnh mạch, cuối mạch máuphình to thành hồ huyết
Fleicher AC [21] nhận xét rằng: Với phương pháp Doppler màu thì khảnăng chẩn đoán đúng UTBT là 83% (độ nhậy là 92%, độ đặc hiệu là 80%).Hiện nay nhiều tác giả dựa vào siêu âm để phân loại tiền phẫu u BT, cónhiều thang điểm khác nhau để đánh giá tính chất u BT trên SA như thangđiểm của Sasson (Các khối u trên 9 điểm nghi ngờ là ác tính), thang điểm củađại học Tokyo (Các khối u thuộc nhóm I, II, III (A, B) đa số là các khối u lànhtính, các khối u từ nhóm IIIC trở lên có tỷ lệ ác tính tùy theo từng loại khối u)
Trang 17(Ở Việt Nam hiện nay thường dựa vào thang điểm này), thang điểm củaOsmers, của Rottem.
Các bảng phân loại này đã giúp ích rất nhiều cho các nhà lâm sàng trongvấn đề tiên lượng và xử trí u BT
Kết hợp siêu âm đầu dò âm đạo với định lượng nồng độ CA 12.5 huyếtthanh có ý nghĩa trong việc sàng lọc và phát hiện sớm UTBT đối với các phụ
nữ có nguy cơ cao, tuy nhiên sự kết hợp này không được khuyến cáo trongsàng lọc đối với những phụ nữ không có các yếu tố nguy cơ rõ ràng [22], [5],[23], [24], [25]
CA 12.5 bản chất là một loại glycoprotein, một kháng thể đơn dòngđược dùng để xác định sự hiện diện của kháng nguyên CA 12.5
Người ta đã chứng minh được rằng có gần 1% phụ nữ khỏe mạnh khôngmang thai có nồng độ CA 12.5 huyết thanh > 35U/ml Trong khi đó, có khoảng80% - 85% bệnh nhân UTBMBT có nồng độ CA 12.5 huyết thanh tăng cao Tuynhiên xấp xỉ 50% trường hợp UTBMBT giai đoạn sớm nồng độ CA 12.5 huyếtthanh không tăng, điều này làm hạn chế giá trị của nó trong sàng lọc UTBMBT
Liên quan với thể giải phẫu bệnh, đối với những UTBMBT thanh dịch
có xu hướng tăng nồng độ CA 12.5 huyết thanh cao hơn (> 85%), trong khi ởthể chế nhày, týp tế bào sáng tỷ lệ tăng nồng độ CA 12.5 huyết thanh thấp hơn
Ở những phụ nữ đã mãn kinh, khi có khối u buồng trứng đi kèm vớităng CA 12.5 huyết thanh (> 65 U/ml) có độ nhậy là 97% và độ đặc hiệu là78% với UTBT Tuy nhiên ở những phụ nữ tiền mãn kinh độ nhậy và độ đặchiệu của CA 12.5 huyết thanh giảm xuống do hiện tượng tăng nồng độ CA12.5 huyết thanh có thể gặp ở những trường hợp đang mang thai, lạc nội mạc
tử cung, u cơ trơn tử cung và những tổn thương viêm nhiễm vùng tiểu khung
Những phụ nữ đã mãn kinh, khi có khối u buồng trứng kèm theo tăng nồng độ
CA 12.5 huyết thanh thì có chỉ định PT thuật thăm dò
Mặc dù sự tăng nồng độ CA 12.5 huyết thanh là không đặc hiệu trong chẩn
Trang 18đoán UTBMBT được nhưng lại rất có ích trong đánh giá đáp ứng với điều trị vàtheo dõi tái phát sau điều trị Tuy nhiên hiện thời chưa có một bằng chứng chứng tỏviệc phát hiện sớm tái phát thông qua mức CA 12.5 huyết thanh có lợi ích sốngthêm trong căn bệnh này [26], [6], [27], [28] [5], [23], [29], [30], [21], [31].
Lịch sử của HE4 [32]: Năm 1991, HE4 được tìm ra trong mào tinhhoàn Năm 1999, chất chỉ điểm u HE4 đã được chứng minh là có trong môcủa ung thư buồng trứng Năm 2003, HE4 được chứng minh có trong huyếttương bệnh nhân ung thư buồng trứng Năm 2007, Abbott cùng FDA thửnghiệm HE4 như là chất chỉ điểm u trong ung thư buồng trứng, nhằm tìm ra
độ đặc hiệu của nó Năm 2008, test ROMA, là thuật toán hồi quy kết hợp giữanồng độ CA125 và nồng độ HE4 đã được dùng để tính nguy cơ ác tính của khối
u vùng tiểu khung, u buồng trứng Năm 2009, Abbott sản xuất kít xét nghiệmHE4 tự động đầu tiên Chất chỉ điểm u HE4 đã được chấp thuận ở Châu Âu,các nước Châu Á Thái Bình Dương và Châu Mỹ La tinh HE4 được dùng ở
Mỹ và được FDA phê chuẩn
HE4 thuộc về nhóm WFDC (whey acidic four - disulfide core) cácprotein nghi có tính chất ức chế trypsin Nhiễm sắc thể 20q12 - q13.1 chứamột locus với nhiều thành viên gia đình WFDC, là gen được khuếch đại trongnhiều ung thư như ung thư buồng trứng, vú, đại trực tràng, tụy, phổi [33].Trong đó HE4 là WFDC2 - whey acidic four disulfide core protein 2
HE4 lần đầu tiên được xác định trong biểu mô của mào tinh ngoạibiên Dấu ấn sinh học này hiện diện rất thấp trong biểu mô của các mô hô hấp
và sinh sản bao gồm buồng trứng, nhưng tăng cao trong mô ung thư buồngtrứng Ngoài ra HE4 cũng hiện diện với nồng độ cao trong huyết thanh củacác bệnh nhân ung thư buồng trứng HE4 là một chỉ điểm u mới được mongđợi sẽ giúp đánh giá nguy cơ ung thư biểu mô buồng trứng [34]
Trang 19Gen mã hóa cho HE4 là một trong những gen phổ biến nhất được xácđịnh trong danh sách các gen biểu hiện trong ung thư buồng trứng dạng biểu
mô Đánh giá mức độ sản sinh của HE4 trong các bệnh lý như u buồng trứnglành tính, ung thư buồng trứng, bệnh lý tại các mô khác của cơ thể bằng cácphương pháp miễn dịch Trong khi biểu mô bình thường ở bề mặt buồngtrứng không sản sinh HE4, thì nang vùi vùng vỏ buồng trứng được lát bởi lớpbiểu mô Mullerian đã chuyển sản tạo ra nhiều protein này Sự sản sinh proteinnày giới hạn ở một số dạng mô: 93% carcinoma nang tuyến thanh dịch và100% carcinom tuyến dạng nội mạc tử cung có sản sinh HE4, trong khi đó chỉ
có 50% carcinom dạng nhầy không cho kết quả dương tính với HE4 Sử dụng
kỹ thuật tissue microarray cho thấy hầu hết các ung thư phổ biến khác khôngphải ung thư buồng trứng không có phản ứng miễn dịch HE4, trong đó baogồm ung thư đại tràng, vú, ung thư phối không tế bào nhỏ, bàng quang, thận,tuyến giáp, tuyến tiền liệt
Biểu hiện của gen HE4 ở mô người bình thường: HE4 từng được mô tả
là một gen đặc hiệu của mào tinh hoàn Nhằm đánh giá biểu hiện của HE4 ở
mô bình thường và ác tính, sử dụng kháng thể kháng HE4 và đánh giá phảnứng miễn dịch trên mào tinh hoàn, đánh giá mức độ phân bố của HE4 trongcác mẫu mô HE4 biểu hiện cao nhất ở mào tinh hoàn và cơ quan sinh sản nữnhư vòi trứng, nội mạc tử cung, trong cổ tử cung HE4 cũng có mặt trong biểu
mô đường hô hấp, nhất là khí quản, ngoài ra cũng có ở biểu mô của các ốngxoắn thận và tuyến nước bọt Không hề có dấu tích HE4 ở biểu mô đường tiêuhóa, gan, lách, tụy, hạch bạch huyết, tim, cơ, xương, vú, não
HE4 sản sinh nhiều ở biểu mô Mullerian của nang vùi ở vùng vỏ buồngtrứng bình thường Tăng sản Mullerian của biểu mô bề mặt buồng trứng, thườngthấy trong các thể nang vùi (CIC), tạo nên sự sản sinh của nhiều dấu hiệu sinhhọc u như EpCAM, Mucin, Mesothelin và CD29 Sự sản sinh HE4 xảy ra trongquá trình hình thành CIC bình thường theo độ tuổi và tăng sản Mullerian
Trang 20HE4 được sản sinh nhiểu trong ung thư buồng trứng ở các mức độ khácnhau Bởi vì, HE4 được sản sinh và tiết dưới dạng một glycolprotein bởi tếbào ung thư buồng trứng Sự sản sinh HE4 trong mào tinh hoàn cho thấy HE4được tiết ở màng và phía trong các ống túi Ở các ống túi, chất này tiếp xúcvới các tinh trùng Kiểu biểu hiện này thống nhất với thực tế cDNA mã hóacho HE4 tổng hợp ra một protein dạng tiết nhỏ có đầu NH2 là acid amin thânnước, tương ứng với một peptide tín hiệu Việc tách peptide này sẽ tạo ra mộtpolypeptide có thể glycosylate hóa ở â vị trí 15 (N-C-T)
HE4 là một protein tiết Sử dụng phương pháp khuếch đại PCR sao chépngược, xác định HE4 được sản sinh nhiều ở nội bào tế bào UTBT nuôi cấy Tạimôi trường nuôi cấy, các tế bào này chứa một dạng tiết của HE4 được glycosylathóa ở đầu N và tiết vào môi trường ngoại bào, biểu hiện của protein này trongnang vùi vùng vỏ trứng gợi ý sự hình thành của lớp biểu mô Mullerian là bướctiên quyết trong quá trình phát triển ung thư biểu mô buồng trứng [34]
HE4 có trong máu bệnh nhân ung thư buồng trứng, không phụ thuộc tuổi
Độ nhậy và độ đặc hiệu của HE4 tương đương CA125 và HE4 ít khi dương tính ởbệnh nhân không ung thư, tiềm năng sàng lọc tốt hơn CA125 Sự phát triển xétnghiệm định lượng HE4 trong huyết thanh sẽ cung cấp công cụ đánh giá độ nhậyHE4 trước mổ, sau mổ, trong điều trị hóa trị, ngoài ra sử dụng chẩn đoán sớmung thư buồng trứng Sự kết hợp HE4 và CA125 rất tiềm năng, đem lại độ nhậy
và độ đặc hiệu cao giúp phát hiện sớm ung thư buồng trứng [34]
1.5.3 Chẩn đoán giai đoạn
Theo hệ thống phân giai đoạn UTBMBT của FIGO năm 1986 dựa trênnguyên tắc: quan sát, thăm dò trong mổ, đánh giá tổn thương nguyên phát, tổnthương di căn ổ phúc mạc, còn gọi là giai đoạn PT Hiệp hội UT Hoa Kỳ(AJCC) cũng đưa ra hệ thống phân giai đoạn tương tự Hàng năm, hai tổ chứcnày đều có sự điều chỉnh hệ thống phân giai đoạn cho các bệnh UT trong đó
có UTBT Hệ thống phân giai đoạn của FIGO hiện nay được áp dụng rộng rãicho UTBT
Trang 21Năm 2008, cả hai tổ chức trên đều công bố bảng phân giai đoạn giốngnhau cho UTBT:
Bảng 1.1 Phân loại giai đoạn theo TNM (AJCC) và của FIGO năm 2008 [5].
T2 II U xâm lấn một hoặc hai bên buồng trứng với sựxâm lấn đến chậu hông.
Lan toả và/hoặc cấy vào tử cung và/hoặc vòitrứng, không có tế bào ác tính trong dịch axithoặc trong dịch rửa ổ bụng
T2B IIB Xâm lấn kéo dài đến tổ chức khác của chậu hông
Xâm lấn chậu hông (như 2A hoặc 2B) với tếbào ác tính trong dịch cổ chướng hoặc trongdịch rửa ổ bụng
T3A IIIA Vi thể di căn màng bụng ngoài chậu hông
T3B IIIB Đại thể di căn màng bụng ngoài chậu hông kíchthước lớn nhất dưới 2cm.T3C IIIC Di căn màng bụng ngoài chậu hông lớn hơn2cm và/hoặc di căn hạch vùng.
M IV Di căn xa (trừ di căn màng bụng)
Chú ý: Di căn vỏ gan là T3/xếp giai đoạn III; di căn nhu mô gan là M1/giai
đoạn IV; tràn dịch màng phổi có tế bào (+) xếp M1/giai đoạn IV
Trang 221.6 ĐIỀU TRỊ
1.6.1 Điều trị phẫu thuật
Trong điều trị ung thư buồng trứng, phẫu thuật được coi là phươngpháp ưu tiên hàng đầu, trừ khi bệnh ở giai đoạn IV, giai đoạn cuối Phẫuthuật có nhiều vai trò quan trọng: xác định chẩn đoán mô bệnh học, đánh giáchính xác giai đoạn tiến triển của bệnh nhờ phẫu thuật mở bụng, quan sát vàlấy mẫu mô bệnh học; Sinh thiết chẩn đoán tức thì (bằng phương pháp cắt lạnh);Điều trị triệt để các tổn thương khu trú, giảm nguy cơ reo rắc hoặc gây di cănxa; Giảm thể tích, số lượng tế bào ung thư khi bệnh ở giai đoạn muộn, tạo điềukiện thuận lợi cho việc điều trị tiếp bằng hóa trị hay xạ trị; Giải quyết các biếnchứng của bệnh như tắc ruột, thủng tạng, vỡ u, chảy máu
Xếp giai đoạn phẫu thuật UTBMBT dựa vào quan sát, thăm dò trong
mổ, đánh giá tổn thương nguyên phát cũng như có hay không những tổnthương di căn ổ phúc mạc [35], [36]
Chỉ định phẫu thuật
- Giai đoạn IA, IC (u ở 1 bên buồng trứng) trên phụ nữ trẻ mong muốn
có con: có thể chỉ cắt u và phần phụ đơn thuần
- Các trường hợp giai đoạn I còn lại: cắt tử cung toàn bộ, u + 2 phầnphụ + mạc nối lớn
- Giai đoạn II, III, IV (trừ trường hợp di căn nhu mô gan, nhu mô phổi,hạch thượng đòn, hạch trung thất, hạch sau đùi không nên phẫu thuật): côngphá u tối đa, cắt tử cung toàn bộ, u + 2 phần phụ + mạc nối lớn
1.6.2 Điều trị hóa chất
UTBT là khối u rất nhậy cảm với hóa chất và nhiều loại hóa chất tỏ ra
có hiệu quả
1.6.3 Điều trị tia xạ
Vai trò của điều trị tia xạ trong UTBT rất hạn chế
1.6.4 Điều trị nội tiết; Điều trị miễn dịch, điều trị đích: đang được nghiên
cứu
Trang 231.7 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM, CÁC CHẤT CHỈ ĐIỂM U TRONG CHẨN ĐOÁN SỚM UNG THƯ BIỂU MÔ BUỒNG TRỨNG.
Vũ Thanh Nhân và cs (2010) báo cáo vai trò của HE4 trong chẩn đoán
UTBT đăng trên tạp chí Y học TP HCM, tập 14, phụ bản của số 4, 2010 [37].
Nguyễn Thị Ngọc Phượng và cs (1999) với nghiên cứu đánh giá giá trịcác phương pháp chẩn đoán ung thư buồng trứng [38]
Nguyễn Văn Định và CS (1999) báo cáo kết quả điều trị ung buồngtrứng ở bệnh viện K có nhận xét: bệnh ít gặp ở độ tuổi dưới 40, có 49,62%bệnh ở giai đoạn III, IV; 81,4% thể giải phẫu bệnh thuộc loại ung thư biểu mô
và 41,8% BN không có điều kiện điều trị triệt để, tỷ lệ sống 3 năm là 20% [9]
Vũ Bá Quyết (2010) nghiên cứu giá trị CA12.5 trên 146 bệnh nhânUTBMBT cho thấy 100% bệnh nhân có hàm lượng CA12.5 > 35U/ml tại thờiđiểm chẩn đoán; hàm lượng CA12.5 trung bình tỷ lệ thuận với giai đoạn bệnh,kích thước u, thời gian mắc bệnh và vị trí u [7]
Ronny và cs nghiên cứu về HE4 là glycoprotein tiết, nghiên cứu tại
Mỹ HE4 được sản sinh nhiều trong ung thư buồng trứng thể thanh dịch và thểlạc nội mạc tử cung [34]
Richard G Moore và cs nghiên cứu về vai trò của HE4 trong chẩn đoán
và điều trị ung thư buồng trứng [8]
Rafael Molina Porto, tại bệnh viện Barcelona, Tây Ban Nha với nghiêncứu HE4, dấu ấn sinh học mới trong ung thư buồng trứng HE4 đặc hiệu hơnCA125 trong các bệnh phụ khoa HE4 là chỉ điểm u được lựa chọn trongUTBT và CA124 là chỉ điểm bổ sung, sử dụng kết hợp giúp tăng độ nhậytrong UTBT ROMA giúp làm tăng độ nhậy so với HE4 và CA125 trong chẩnđoán phân biệt khối u vùng tiểu khung nhưng HE4 đặc hiệu hơn ROMAkhông áp dụng được ở các bệnh nhân có chỉ điểm ung thư âm tính [23]
Jaganathan Sickan với nghiên cứu chất chỉ điểm HE4, HE4 tăng sớmhơn CA125 trong theo dõi điều trị ung thư buồng trứng [33]
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm các bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là u buồng trứng lànhtính và ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn sớm (I, II) được phẫu thuật tạibệnh viện K từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 8 năm 2019
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân được chẩn đoán u buồng trứng thực thể có chỉ định phẫuthuật
Bệnh nhân được siêu âm đánh giá khối u
Bệnh nhân có xét nghiệm HE4, CA125 trước mổ
Thể trạng chung đảm bảo các điều kiện phẫu thuật-gây mê hồi sức
Chẩn đoán xác định u buồng trứng lành tính hoặc ung thư buồng trứngdựa vào kết quả giải phẫu bệnh sau mổ Các trường hợp ung thư buồngtrứng chỉ lựa chọn các bệnh nhân ung thư biểu mô và giai đoạn sớm (I,II)theo phân loại của FIGO 2008
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
U nang buồng trứng cơ năng
Ung thư buồng trứng typ không biểu mô và giai đoạn muộn (III, IV)
UTBT đã điều trị hóa chất trước phẫu thuật
Ung thư buồng trứng tái phát hoặc có bất kỳ bệnh ung thư khác kèm theo
Bệnh nhân đang mang thai hoặc bị suy thận giai đoạn cuối hoặc trải quacấy ghép cơ thể
Bệnh nhân không có đầy đủ các xét nghiệm siêu âm hoặc cắt lớp vi tính
và các chất chỉ điểm u (CA125,HE4) trước mổ
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU