1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét các tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến đái tháo đường thai kỳ tại khoa Phụ Sản bệnh viện Bạch Mai từ tháng 62018 đến tháng 62019

51 164 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 533,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ 1.1.1 Định nghĩa đái tháo đường thai kỳ Tổ chức Y tế thế giới WHO đã định nghĩa "đái tháo đường thai kỳ là tìnhtrạng rối lo

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một thể của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ),

là bệnh rối loạn chuyển hoá thường gặp nhất trong thai kỳ và có xu hướng ngày càngtăng, nhất là khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam[9],[11] Theođịnh nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ĐTĐTK “là tình trạng rối loạn dungnạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong lúcmang thai” [8], [ 15] Ở ,Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh từ 3,6 – 39,0% tuỳ theo tiêu chuẩnchẩn đoán và đặc điểm dân cư [4],[10] ĐTĐTK nếu không được phát hiện sớm vàđiều trị sẽ gây nhiều tai biến cho cả mẹ và con, như tiền sản giật, sẩy thai, thai lưu,ngạt sơ sinh, tử vong chu sinh, thai to làm tăng nguy cơ đẻ khó và mổ đẻ, Trẻ sơsinh của những bà mẹ có ĐTĐTK có nguy cơ hạ glucose máu, hạ canxi máu, vàng da;khi trẻ lớn hơn sẽ có nguy cơ béo phì và ĐTĐ týp 2 [10],[10] Khoảng 30 – 50% phụ

nữ mắc ĐTĐTK sẽ tái phát mắc ĐTĐTK ở lần mang thai tiếp theo [5] Khoảng 50%

bà mẹ mắc ĐTĐTK sẽ chuyển thành ĐTĐ týp 2 trong 5-10 năm sau khi sinh [5],nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 tăng 7,4 lần [5] Theo khuyến cáo của Hội nghị Quốc tế lầnthứ 4 về ĐTĐTK, những phụ nữ có nguy cơ cao bị ĐTĐTK cần được xét nghiệmsàng lọc ĐTĐTK trong lần khám thai đầu tiên Việt Nam là nước nằm trong vùng cótần suất cao mắc ĐTĐTK Nhiều nghiên cứu về ĐTĐTK đã được thực hiện, nhờ đónhững hiểu biết về bệnh và việc kiểm soát bệnh càng ngày càng đạt được hiệu quả tốt[2] Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng

Vì vậy để tiếp theo các nghiên cứu trước chúng tôi tiến hành nghiên cứu vớitên đề tài:

“Nhận xét các tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến đái tháo đường thai kỳ tại khoa Phụ Sản bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019”

Mục tiêu nghiên cứu:

Trang 2

1 Xác định tỷ lệ ĐTĐTK và các yếu tố liên quan tại khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019.

2 Nhận xét thái độ xử trí sản khoa và một số biến cố của mẹ và trẻ sơ sinh

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ

1.1.1 Định nghĩa đái tháo đường thai kỳ

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định nghĩa "đái tháo đường thai kỳ là tìnhtrạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, khởi phát hoặc được phát hiệnlần đầu tiên trong lúc mang thai” [8]Định nghĩa này được áp dụng cho cả những thaiphụ chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn mà không cần dùng insulin và cho dù sau đẻ có còntồn tại ĐTĐ hay không Nhưng đa số trường hợp ĐTĐTK sẽ hết sau khi sinh Địnhnghĩa này không loại trừ trường hợp bệnh nhân đã có rối loạn dung nạp glucose từtrước (nhưng chưa được phát hiện) hay là xảy ra đồng thời với quá trình mang thai[5], [13]

Định nghĩa này đã tạo nên sự thống nhất trong chiến lược phát hiện và phânloại ĐTĐTK, tuy nhiên không loại trừ được những người có thể bị ĐTĐ từ trước khimang thai Hiệp hội quốc tế nghiên cứu về đái tháo đường và thai nghén (IADPSG)khuyến cáo nên chẩn đoán riêng những trường hợp mắc ĐTĐ trước khi mang thai,điều trị và theo dõi kiểm soát tốt đường huyết trong thai kỳ Thời điểm để làm xétnghiệm phát hiện thai phụ bị ĐTĐ từ trước là ở lần khám thai đầu tiên, đặc biệt nhữngngười có nguy cơ cao Sau đẻ họ cần được khẳng định chẩn đoán ĐTĐ và nếu có, cầnđược điều trị tiếp

1.1.2 Lịch sử phát hiện bệnh đái tháo đường thai kỳ

Vào đầu thể kỷ XIX năm 1828, Bennwitz lần đầu tiên công bố một trường hợpĐTĐ phát hiện trong thời gian mang thai Sau đó, nhiều tác giả khác ghi nhận nhữngtrường hợp tương tự và họ hoài nghi ĐTĐ có thể dễ khởi phát trong thai kỳ Mặc dùĐTĐ và thai kỳ đã được đề ra từ lâu như vậy, nhưng đến năm cuối thế kỷ XIX,Matthews Duncan lần đầu tiên công bố công trình nghiên cứu về ĐTĐ ở thai phụ tại

Trang 4

Hội nghị sản khoa Anh quốc năm 1882: Quan sát 22 lần mang thai ở 15 thai phụ cóbiểu hiện đái nhiều, ông nhận thấy có 13 thai nhi tử vong trong số 19 lần mang thai ở

15 thai phụ đái tháo đường Tác giả nhận định rằng, đây là những rối loạn xuất hiệncùng khi mang thai và đái tháo và đái tháo đường được khái niệm một cách đơn giản

là những bất thường về số lượng và chất lượng nước tiểu

Tới những năm 1940 – 1950, các nghiên cứu tại Mỹ và Scotland đã khảng định:tăng đường máu người mẹ làm tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh Ngoài ra, các tác giảcũng chỉ ra rằng trong thời kỳ mang thai, có sự thay đổi tính nhạy cảm với Isnulin

Năm 1954 nghiên cứu đầu tiên về bất thường chuyển hóa carbonhydrat ở thaiphụ được tiến hành tại Boston Nghiệm pháp sàng lọc với 50g glucose lần đầu tiênđược sử dụng

Năm 1964 O,Sullivan và Mahan đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK dựa trêncác kết quả khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose trên 752 thai phụ

Năm 1979 tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK của O,Sullivan và Mahandựa vào kếtquả dung nạp glucose uống 100g glucose trong 3 giờ đã được hội phụ khoa Mỹkhuyến cáo sử dụng, ủy ban quốc gia về ĐTĐ của Mỹ đã công nhận tiêu chuẩn này

Thuật ngữ “ Gestational Diabetes Mellitus” – ĐTĐTK lần đầu tiên được đưa rabởi Jorgen Perdersen năm 1967 tại Copenhagen nhưng định nghĩa về ĐTĐTK mớiđược công nhận ở hội nghị thế giới lần thứ nhất về ĐTĐTK tại Chicago năm 1980

Năm 1980, tổ chức y tế thế giới lần đầu tiên đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoánĐTĐTK Sau đó nhiều nghiên cứu về chẩn đoán, điều trị và theo dõi ĐTĐTK ở cácnước trên thế giới lần lượt công bố

Năm 1999, WHO sử dụng NPDNG 2 giờ với 75 gram đường để tầm soát đáitháo đường thai kỳ ở thời điểm 24 – 28 tuần Thai phụ được chẩn đoán đái tháo đườngthai kỳ khi thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường hoặc rối loạn dung nạp đườnghuyết sau nghiệm pháp trên

Năm 2008, Hiệp hội các Nhóm nghiên cứu Đái tháo đường và Thai kỳ Quốc tế(IADPSG – International Association of Diabetes and Pregnancy Study Groups) đã sử

Trang 5

dụng kết quả từ nghiên cứu HAPO (một nghiên cứu mù, đa trung tâm, quan sát, tiềncứu đánh giá tác động của tình trạng tăng đường huyết lên các kết cục cho mẹ, thainhi và trẻ sơ sinh) để đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ bằng cách sửdụng NPDNG 2 giờ với 75 gram đường Sau đó, khuyến cáo 2011 của ADA và 2013của WHO cũng sử dụng tiêu chuẩn này để chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ.

1.1.3 Tình hình đái tháo đường thai kỳ trên thế giới và Việt Nam

1.1.3.1 Tình hình ĐTĐTN trên thế giới

Tỷ lệ ĐTĐTK trên toàn thế giới dao động từ 1- 16%[7], [ 9] Có nhiều hướngdẫn tầm soát và chẩn đoán ĐTĐTK khác nhau của các hiệp hội như Hiệp hội ĐTĐHoa Kỳ, Hiệp hội sản phụ khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội ĐTĐTK Úc, Tổ chức sức khỏe Thếgiới…Sự dao động này là do có sự khác nhau trong chiến lược tầm soát và tiêu chíchẩn đoán cũng như đặc thù của dân số nghiên cứu[1] Nghiên cứu HAPO năm 2008

ở 9 quốc gia, chẩn đoán ĐTĐTK bằng nghiệm pháp dung nạp glucose 75 gram, thì

tỷ lệ ĐTĐTK là 17,8%[14]

Bảng 1.1 Tỷ lệ ĐTĐTK theo một số tác giả trên thế giới

1.1.3.2 Tình hình ĐTĐTN tại Việt Nam

Chưa có số liệu thống kê trên toàn quốc về tỷ lệ đái tháo đường thai kì, tuynhiên qua một số nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ đái tháo đường thai kì của các thai phụkhông hề thấp và có chiều hướng tăng rất nhanh

Trang 6

Bảng 1.2 Tỷ lệ ĐTĐTK qua nghiên cứu tại Việt Nam

Nguyễn Khoa Diệu

Lê Thị Minh Phú 2014 BV Nguyễn Tri Phương 8,4

1.2 SINH LÝ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ

1.2.1 Chuyển hoá ở thai phụ bình thường[8]

1.2.1.1 Chuyển hoá cacbonhydrat

Chuyển hoá glucose ở thai phụ bình thường có 3 đặc điểm: giảm nhạy cảm vớiinsulin, tăng insulin máu, nồng độ glucose máu lúc đói thấp [8]

Giảm nhạy cảm với insulin:

Kháng insulin có xu hướng tăng dần trong suốt thời gian mang thai song hành với các hormon như HPL (Human Placenta Lactogen), progesterone, cortisol Các mô

nhạy cảm với insulin bao gồm gan, cơ vân Khi đói, gan tăng sản xuất glucose, nồng

độ insulin tăng cao, dẫn đến gan giảm nhạy cảm với insulin Vào giai đoạn mang thai, các thai phụ giảm 40% sự nhạy cảm của các mô ngoại vi với insulin

Tăng insulin máu:

Nhiều nghiên cứu cho thấy ở thai phụ có hiện tượng tăng insulin máu, tăng nhu cầu insulin để kiểm soát glucose máu Nồng độ insulin tăng ở thai phụ là do thay đổi chức năng của tế bào đảo tụy Ngoài ra ở thai phụ còn thấy hiện tượng tăng độ thanh thải insulin Theo Catalano và cộng sự, 3 tháng cuối của thai kỳ có sự tăng 20% độ

Trang 7

thanh thải insulin ở người gầy và 30% ở người béo [3] Tăng độ thanh thải insulin có thể do rau thai giàu enzym insulinase là enzym phân hủy insulin nhưng cho đến nay

cơ chế chính xác của hiện tượng này vẫn còn chưa rõ.

Nồng độ glucose máu lúc đói thấp (tình trạng mau đói)

Trong thai kỳ, dinh dưỡng bào thai phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhiên liệu chuyển hoá từ cơ thể mẹ, khuyếch tán và vận chuyển thông qua tuần hoàn rau thai Sự vận chuyển liên tục nhiên liệu qua rau thai làm tăng các “khoảng trống năng lượng” của cơ thể mẹ do không được cung cấp thức ăn liên tục Khi đó cơ thể mẹ xuất hiện

các phản ứng thích nghi nhằm đảm bảo cung cấp liên tục chất dinh dưỡng cho bào

thai và đảm bảo năng lượng hoạt động của cơ thể mẹ Do thai hấp thu liên tục glucose và acid amin từ cơ thể mẹ nên glucose máu mẹ khi đói có xu hướng thấp Tình trạng chuyển hoá của cơ thể thai phụ sau nhịn đói 12-14 giờ tương đương với

phụ nữ không có thai nhịn đói 24-36 giờ

Glucose qua rau thai nhờ cơ chế khuếch tán tích cực, quá trình này không tiêu

thụ năng lượng, chỉ phụ thuộc vào nhóm GLUT (Glucose transporter) vận chuyểnglucose Tại rau thai, GLUT1 chịu trách nhiệm chính vận chuyển glucose, có mặt ởnguyên bào nuôi, phần vi lông mao và màng cơ sở Khi có thai, sự có mặt của chấtvận chuyển glucose tại nguyên bào nuôi tăng lên gấp 2-3 lần Acid amin và alanincũng là cơ chất tạo glucose, đi qua rau thai bằng cơ chế vận chuyển chủ động Acidamin và alanin máu mẹ giảm làm glucose máu mẹ giảm Tăng thể tích dịch làm phaloãng glucose cũng góp phần làm giảm glucose máu mẹ Glucose máu mẹ lúc đói (sau

ăn 8-10 giờ) giảm so với người không mang thai 0.55-1 mmol/l Glucose máu giảmlàm tăng chuyển hoá chất béo, tăng ly giải mỡ, tăng thể ceton máu Acid béo,triglycerid, ceton qua rau thai một phần Khi ceton máu mẹ tăng thì ceton trong máuthai cũng tăng Thai (tế bào gan,tế bào não…) có thể sử dụng ceton để tạo năng lượng,điều này có thể gây ảnh hưởng xấu lên quá trình phát triển tâm thần kinh của bé saunày Do vậy cần chú ý đến tình trạng tăng ceton máu ở mẹ

Trang 8

Những thay đổi trong cơ thể thai phụ khác nhau giữa trạng thái đói và no Khi

no, cơ thể mẹ phát triển sự kháng insulin ở ngoại vi, tổng lượng glucose được sử dụnggiảm 50-70% Cơ chế này tạo thuận lợi cho đồng hoá chất béo ở thời kỳ mang thaisớm để chuẩn bị cho những lúc mẹ bị đói và có thể cân bằng lại sự giáng hoá chất béoxảy ra ở giai đoạn muộn của thai kỳ Khả năng insulin thúc đẩy sử dụng glucose ở mẹ

bị giảm làm cho sự thu nhận glucose vào các mô của mẹ sau ăn bị chậm lại, tạo cơ hội

để chuyển hóa carbonhydrat tiêu hóa được cho bào thai Đây là một đáp ứng sinh lý ở

cơ thể người mẹ

1.2.1.2 Chuyển hoá lipid

Chuyển hoá lipid ở thai phụ bình thường có hai thay đổi quan trọng: tăng thủyphân lipid và tăng tạo thể ceton, tăng nồng độ triglycerid trong máu Khi mang thai,nồng độ triglycerid trong máu tăng gấp 2-4 lần, cholesterol toàn phần tăng thêm 20-50% Tăng nồng độ một số acid béo tự do vào cuối thời kỳ mang thai có thể dẫn đếngiảm nhạy cảm với insulin Nồng độ acid béo tự do góp phần tạo thai to, nhất là mô

mỡ của thai Theo Knopp và cộng sự có mối tương quan thuận giữa cân nặng lúc đẻcủa trẻ với nồng độ acid béo tự do và triglyceride

1.2.1.3 Chuyển hoá protein

Glucose là nguồn năng lượng cho thai và rau, tổng dự trữ glucose và glycogen

ở thai và rau không đáng kể Protein là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho sựphát triển của thai và rau Thai và mẹ đều tăng giữ nitrogen, làm giảm nồng độ acidamin lúc đói của mẹ Thai phụ có sự giảm nồng độ nitrogen, giảm tổng hợp và bàixuất nitrogen.

Me Thai nhi

Rau thai

Glucose Glucose Aminoacid Aminoacid Acid báo tự do Acid báo tự do

Ceton Ceton

Trang 9

Glycerol Glycerol Isulin Isulin

Hình 1.1 Sơ đồ các chất vận chuyển từ cơ thể mẹ - thai qua rau thai

1.2.2 Sinh lý bệnh đái tháo đường thai kỳ

Sinh lý bệnh của ĐTĐTK tương tự như sinh lý bệnh của ĐTĐ type II bao gồm

kháng insulin và bất thường về tiết insulin [16], [17].

1.2.2.1 Hệ thống truyền tín hiệu insulin

Hoạt động của insulin bắt đầu khi nó được gắn với các receptor tiếp nhậninsulin (IR), làm tăng tác động của enzym tyrosine kinase (TK) nội sinh, khi đó sựphotphoryl hoá tyrosine của chất nền trong tế bào bắt đầu IRS-1 là một protein vòngkết nối với các chất nền trong tế bào đã được phosphoryl hoá, nhờ đó sự truyền tínhiệu insulin được tiếp tục IRS-2 có nhiều trong gan và tụy, cơ vân có nhiều cả IRS-1,IRS-2 Insulin kích thích sự hoạt hoá, kết dính của enzym lipid kinase vàphosphatidylinositol 3 (PI3) kinase với IRS-1 Sự tạo thành (PI)3 kinase hoạt động làbắt buộc đối với tác động của insulin trên sự vận chuyển glucose Cơ vân của thai phụĐTĐTK có ít IRS-1, trong khi đó IRS-2 lại cao hơn Điều này gợi ý rằng sự khánginsulin trong ĐTĐTK có liên quan đến nồng độ các IRS [16], [17] Các tế bào bắt giữglucose qua trung gian các protein màng là GLUT1 và GLUT4 GLUT4 chỉ có mặt ở

cơ vân, cơ tim và mô mỡ, ở thai phụ ĐTĐTK có kiểu gen GLUT4 bình thường, sựkháng insulin tại cơ và mô mỡ có lẽ do suy giảm chức năng GLUT4 chứ không phải

do phá huỷ nó Gavey và cộng sự chỉ ra rằng ở thai phụ ĐTĐTK sự vận chuyểnglucose vào tế bào mỡ giảm 60% so với nhóm chứng, nồng độ GLUT 4 của tế bào mỡgiảm 50% Glycoprotein-1 (PC-1) là một chất ức chế hoạt động phosphoryl hoá củareceptor tiếp nhận insuin, có trong dịch tế bào Theo Shao và cộng sự, không có sựkhác nhau về chức năng của các receptor trong điều kiện cơ sở ở nhóm thai phụ cóĐTĐTK, thai phụ bình thường và nhóm không mang thai; tuy nhiên sau khi kích thíchinsulin tối đa thì hoạt động phosphoryl hoá tyrosin tại các receptor tiếp nhận insulin

Trang 10

tăng ở thai phụ bình thường và không mang thai, còn trong nhóm thai phụ ĐTĐTK thìtăng ít hơn 25-39% Nồng độ PC-1 trong cơ của thai phụ ĐTĐTK tăng 63% so vớinhóm thai phụ bình thường và tăng 206% so với nhóm không mang thai PC-1 tănglàm giảm hoạt động phosphoryl hoá tyrosin của các receptor dẫn đến kháng insulin tại

cơ tăng Như vậy sự suy giảm truyền tín hiệu insulin sau receptor đóng góp vào cơchế bệnh sinh ĐTĐTK và làm tăng nguy cơ ĐTĐ typ 2 của các phụ nữ có tiền sửĐTĐTK trong tương lai[12],

1.2.2.2 Hiện tượng kháng insulin

Thai kỳ được xem là một cơ địa ĐTĐ vì có sự giảm nhạy cảm của mô vớiinsulin, làm tăng liều insulin cần dùng ở đối tượng đã có ĐTĐ trước đó Những biếnđổi của chuyển hoá glucose, tác dụng của insulin phục hồi nhanh chóng trong giaiđoạn hậu sản Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật kẹp glucose (theo dõi thay đổi nồng độinsulin máu trong khi glucose máu không đổi) nhận thấy đáp ứng của mô với insulingiảm gần 80% trong thai kỳ Kháng insulin là do rau thai tiết ra các hormon (lactogen,estrogen, progesteron…), vừa kích thích tiết insulin, vừa đối kháng insulin Nhiềunghiên cứu đã chỉ ra thai phụ ĐTĐTK có sự nhạy cảm với insulin thấp hơn so với cácthai phụ bình thường ngay từ tuần thứ 12-14 của thai kỳ Các hormon do rau thai sảnxuất gắn với receptor tiếp nhận insulin làm giảm sự phosphoryl hoá của các IRS-1,GLUT4 giảm chuyển động tới bề mặt tế bào, glucose không vận chuyển được vàotrong tế bào Một số các yếu tố khác như yếu tố hoại tử tổ chức TNF-α, yếu tố có khảnăng làm tổn thương chức năng của IRS-1 Kháng insulin giảm nhẹ ở đầu thai kỳ(thấp nhất vào tuần thứ 8), tăng dần từ nửa sau thai kỳ cho đến trước khi đẻ và giảmnhanh sau đẻ Ở thai phụ ĐTĐTK có sự kết hợp kháng insulin sinh lý của thai nghén

và kháng insulin mạn tính có từ trước khi mang thai Các yếu tố liên quan đến khánginsulin trong thai nghén bình thường và ĐTĐTK gồm thừa cân, béo phì, ít hoạt độngthể lực; các hormon rau thai như pGrowth hormon, pLactogen, Estrogen/ Progesteron,Cortisol; các cytokine như TNFα, Leptin, Adiponectin[12],[8]

Trang 11

1.2.2.3 Bài tiết hormon trong thời kỳ mang thai

Sản xuất hormon có xu hướng tăng trong thai kỳ, phần lớn các hormone nàygóp phần kháng insulin và gây rối loạn chức năng tế bào beta của tụy Nửa đầu thai kỳ

có sự tăng nhạy cảm với insulin tạo điều kiện cho tích trữ mỡ của cơ thể mẹ, sự tích

mỡ đạt mức tối đa vào giữa thai kỳ Nửa sau thai kỳ có hiện tượng kháng insulin,đồng thời nhu cầu insulin của các thai phụ tăng khi thai phát triển gây thiếu hụtinsulin tương đối Do đó thai phụ có xu hướng ĐTĐ ở nửa sau thai kỳ Nồng độprogesteron, estrogen, hPL do rau thai tiết ra tăng song song với đường cong pháttriển thai, làm tăng bài tiết của đảo tụy, giảm đáp ứng với insulin và tăng tạo ceton.ĐTĐTK thường xuất hiện vào khoảng tuần thứ 24 của thai kỳ, khi mà rau thai sảnxuất một lượng đủ các hormon gây kháng insulin

Hình 1.2 Sự bài tiết các hormom trong thời gian mang thai[8]

Trang 12

Vai trò của estrogen và progesteron với sự kháng insulin

Giai đoạn đầu thai kỳ, estrogen và progesteron được bài tiết tăng Estrogen làmtăng đáp ứng của cơ với tác dụng của insulin Progesteron đốikháng nhẹ, làm giảm sựnhạy cảm của mô với insulin Vì vậy chúng có thể trung hoà hoạt động của nhau

Vai trò của cortisol với sự kháng insulin

Nồng độ cortisol tăng khi mang thai, vào giai đoạn cuối thai kỳ, nồng độcortisol tăng gấp 3 lần so với người không mang thai Rizza và cộng sự sử dụng kỹthuật kẹp glucose trong nghiên cứu ở những người được truyền liều cao cortisol, tácgiả nhận thấy rằng có sự tăng sản xuất glucose ở gan và giảm nhạy cảm với insulin

Vai trò của prolactin với sự kháng insulin

Trong thai kỳ, nồng độ prolactin tăng gấp 7-10 lần Theo Skouby, không có mối liênquan giữa tình trạng dung nạp glucose và prolactin, prolactin không giữ vai trò quantrọng trong cơ chế bệnh sinh ĐTĐTK

Human placental lactogen (hPL)

hPL kích thích bài tiết insulin, tăng ly giải mỡ làm tăng nồng độ acid béo tự do,ceton, glycerol huyết thanh, gây giảm vận chuyển glucose vào trong tế bào, không ứcchế gắn insulin vào thụ thể hPL có cấu trúc hoá học và chức năng miễn dịch giốngnhư GH Nồng độ hPL vào thời điểm cuối của thai kỳ gấp 1000 lần nồng độ của GH.Ngoài tác dụng đồng hoá protein và ly giải lipid, hPL còn có tác dụng lên tuyến vú vàhoàng thể Dùng một liều hPL duy nhất có thể gây tình trạng rối loạn dung nạpglucose nhẹ từ 5-12 giờ Nồng độ hPL bắt đầu tăng vào ba tháng giữa thai kỳ, gâygiảm sự phosphoryl hoá của các thụ thể IRS-1 tại các receptor tiếp nhận insulin vàgây kháng insulin

Human Placental Growth Hormone (hPGH)

Trang 13

hPGH (hormon tăng trưởng có nguồn gốc rau thai) kích thích tổng hợp yếu tố tăngtrưởng giống insulin (IGF - 1) hPGH và IGF – 1 kích thích tân tạo glucose, ly giảimỡ; hPGH làm giảm số lượng thụ thể insulin, gây kháng insuli

1.1.4.4 Một số adipokin Yếu tố hoại tử u alpha (TNF – α): ):

TNF – α được bài tiết từ mô mỡ vàrau thai, tăng rõ ở giai đoạn muộn của thai

kỳ Ở thai phụ mắc ĐTĐTK có mức TNF – α cao hơn so với thai phụ bình thường, liên quan đến tăng kháng insulin trong thai nghén và ĐTĐTK.

Adiponectin: Được bài tiết từ tế bào mỡ, nồng độ adiponectin có tương quan

nghịch với kháng insulin trong ĐTĐTK Adiponectin huyết thanh giảm dần theo thờigian mang thai

Leptin: Được bài tiết từ mô mỡ (chủ yếu là mô mỡ dưới da), rau thai Nồng độ

Leptin huyết thanh tăng từ giai đoạn sớm và duy trì đến khi đẻ Nồng độ Leptin huyếtthanh tương quan nghịch, có thể là độc lập, với độ nhạy insulin ở phụ nữ mang thai.Nồng độ leptin tăng ở thai phụ mắc ĐTĐTK Leptin gây kháng insulin thông qua kíchthích sản xuất các cytokin viêm

1.3 TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ

1.3.1 Một số tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ

Cho đến nay, đã có nhiều tiêu chuẩn khác nhau để chẩn đoán ĐTĐTK Hai tiêuchuẩn được các nhà nghiên cứu về đái tháo đường thai kỳ chấp nhận trong Hội nghịQuốc tế (HNQT) ĐTĐTK lần thứ 4 (1998)là: tiêu chuẩn của Carpenter – Coustan :NPDNG với 75g glucose trong 2 giờ và 100g glucose trong 3 giờ Làm NPDNG với100g glucose, sau khi thai phụ đã nhịn đói qua đêm ít nhất 8 giờ, không quá 14 giờ,sau 3 ngày ăn uống bình thường, hoạt động thể lực bình thường Chẩn đoán ĐTĐTKkhi có ≥ 2 trị số glucose máu bằng hoặc cao hơn giá trị quy định (Bảng 1.3)

Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán theo Carpenter & Coustan [18]

Trang 14

Thời điểm lấy mẫu Ngưỡng giá trị chẩn đoán(mmol/l)

Tháng 3/2010, IADPSG đã chính thức đưa ra khuyến cáo mới về chẩn đoánĐTĐTK mà hiệp hội hy vọng có thể coi là chuẩn mực cho toàn thế giới Chẩn đoánĐTĐTK khi có ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau: (Bảng 1.4)[6]

Bảng 1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK năm 2010 theo IADPSG

Đường huyết ≥ 5,1 mmol/l ≥ 10,0 mmol/l ≥ 8,5 mmol/l

Kỹ thuật làm NPDNG: Thai phụ được hướng dẫn chế độ ăn không hạn chếcarbohydrate, đảm bảo lượng carbohydrate ≥200g/24 giờ, không hoạt động thể lựcnặng trong 3 ngày trước khi làm nghiệm pháp Lấy máu tĩnh mạch vào buổi sáng, saukhi nhịn đói 8-12 giờ, định lượng glucose máu lúc đói Cho thai phụ uống 75g glucosepha trong 250ml nước lọc từ từ trong 5 phút Lấy máu tĩnh mạch sau uống 1 giờ, 2 giờđịnh lượng glucose Giữa hai lần lấy máu thai phụ nghỉ ngơi tại chỗ, không hoạt độngthể lực, không ăn Nếu chẩn đoán ĐTĐTK theo hướng dẫn của IADPSG thì tỷ lệĐTĐTK tăng từ 5 - 6% lên đến 15 - 20%

Năm 2011, ADA đưa ra tiêu chuẩn mới thống nhất các tiêu chuẩn của IADPSG

về chẩn đoán ĐTĐTN Khuyến nghị mới của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2011 về thựchiện xét nghiệm dung nạp Glucose: Bệnh nhân được nhịn đói và lấy máu đo glucosehuyết tương Sau đó bệnh nhân được uống 75 gram glucose Đo lại glucose huyết

Trang 15

tương sau 1h và 2h {Gonzales V.H, 2007 #63} Việc chẩn đoán ĐTĐTN được thiếtlập khi có một trong các giá trị glucose máu sau đây:

Bảng 1.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK của ADA 2011 {American Diabetes

1.3.2 Thời điểm sang lọc và chẩn đoán bệnh đái tháo đường thai kỳ

Năm 1998, tại hội nghị quốc tế lần thứ 4 về đái tháo đường thai kỳ, các yếu tốnguy cơ của đái tháo đường được chia làm ba mức độ: nguy cơ cao, nguy cơ trungbình, nguy cơ thấp Dựa vào mức độ nguy cơ để áp dụng thời gian sàng lọc ĐTĐTK

Bảng 1.6 Phân loại nhóm nguy cơ và khuyến cáo sàng lọc của Hội nghị quốc tế lần thứ tư về đái tháo đường thai kỳ.

Nguy cơ

cao

Có một hoặc nhiều hơn các yếu tố sau:

- Thừa cân, béo phì trước khi mang thai

- Tiền sử gia đình có người bị đái tháo đường

- Tiền sử đái tháo đường thai kỳ

- Tiền sử đẻ con to ≥ 4000g

- Glucose niệu dương tính

Sàng lọc từ lần đầu tiên đến khám thai, nếu không

bị đái tháo đường thì nhắc lại vào tuần thứ 24 – 28 của thai kỳ

Mỹ, dân đảo Thái Bình Dương.

- Không có tiền sử gia đình ĐTĐ

- Cân nặng trước khi có thai bình thường

- Không có tiền sử ĐTĐTK

- Không có tiền sử sản khoa bất thường

Không cần sàng lọc

1.4 CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

1.4.1 Thừa cân, béo phì trước khi mang thai

Trang 16

Người béo phì có tình trạng kháng insulin, tăng tiết insulin, dễ mắc ĐTĐ [71].Doherty và cộng sự nghiên cứu cho thấy béo phì trước khi mang thai là yếu tố nguy

cơ mắc ĐTĐTK [72] Tạ Văn Bình và cộng sự thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐTK giữa hainhóm BMI < 23 và BMI ≥ 23 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,005 [66].Một nghiên cứu thuần tập đánh giá ảnh hưởng độc lập của BMI trước khi mang thai

và tình trạng dung nạp glucose cho thấy chỉ số BMI của bà mẹ trước khi mang thai cóảnh hưởng hơn so với dung nạp glucose đến tình trạng thai to, mổ đẻ, cao huyết áptrong thai kỳ và thai già tháng [51]

Theo khuyến cáo của WHO đề nghị cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương,BMI ≥ 23 được coi là thừa cân và béo phì [74]

1.4.2 Tiền sử gia đình

Thai phụ có tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ, đặc biệt là người ĐTĐ hế hệ thứnhất là một trong những yếu tố nguy cơ cao của ĐTĐTK [5], [76].Nghiên cứu củaOstlund đã cho thấy thai phụ có tiền sử gia đình bị ĐTĐ nguy cơ mắc ĐTĐTK tăng2,74 lần (95%CI=1,47 - 5,11) [4] Tỷ lệ thai phụ có tiền sử gia đình ĐTĐ trongnghiên cứu của N.T.K.Chi là 3.6% [65], của V.B.Nga là 13.2% [58] Theo Lê ThanhTùng, tiền sử gia đình có người ĐTĐ làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐTK [49] TheoFatma 62% bệnh nhân ĐTĐTK có tiền sử ĐTĐ và đây là yếu tố nguy cơ cao mắcĐTĐTK [78] Nghiên cứu của Jane và cộng sự ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ

lệ thai phụ có tiền sử gia đình bị ĐTĐ (thế hệ 1) trong nhóm bình thường là 5.81%,trong nhóm ĐTĐTK là 11.1%, sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0.001 Như vậy, trongcông tác khám thai, cần hỏi rõ về tiền sử gia đình, nếu có người thân (thế hệ 1) mắcĐTĐ cần tư vấn thai phụ thực hiện sàng lọc ĐTĐTK ngay từ lần khám thai đầu tiên,tránh bỏ sót bệnh gây hậu quả xấu đối với kết cục thai nghén

1.4.3 Tiền sử đẻ con to ≥ 4000g

Trang 17

Cân nặng của trẻ lúc đẻ vừa là hậu quả, vừa là yếu tố nguy cơ ĐTĐTK cho lầnmang thai sau Khái niệm thai to ≥ 4000g là tiêu chuẩn của Châu Âu trước kia, ở ViệtNam có thể coi trẻ sơ sinh ≥ 3500g là thai to [65] Tác giả Nguyễn Đức Vy và cộng sựcho rằng tiền sử sinh con > 3600g là yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐTK [66] Theo LêThanh Tùng, nguy cơ ĐTĐTKtăng 5.47 lần ở thai phụ có tiền sử đẻ con to so với thaiphụ bình thường [49].

1.4.4 Tiền sử bất thường về dung nạp Glucose

Đa số người có tiền sử rối loạn dung nạp glucose khi có thai đều bị ĐTĐTK.Tiền sử này bao gồm cả tiền sử phát hiện ĐTĐTK từ những lần sinh trước, và giảmdung nạp glucose [79] Theo Carol (1998), 69% bệnh nhân bị ĐTĐTK ở lần có thaitrước mắc ĐTĐTK ở lần mang thai sau [80] Ostlund cũng cho rằng người có tiền sửĐTĐTK có nguy cơ mắc ĐTĐTK lần sau tăng 23,6 lần [4] Theo Lê ThanhTùng, tỷsuất chênh giữa nhóm có tiền sử ĐTĐ hoặc rối loạn dung nạp glucose với nhóm bìnhthường là 1,25, giữa nhóm có tiền sử ĐTĐTK ở lần mang thai trước với nhóm không

có tiền sử là 6,47 [49]

1.4.5 Glucose niệu dương tính

Theo Welsh, khoảng 10-15% phụ nữ mang thai có glucose niệu dương tính màkhông phải ĐTĐTK, 61,4% được chẩn đoán ĐTĐTK [81] Nghiên cứu khác cho thấy28,1% thai phụ có glucose niệu dương tính được chẩn đoán ĐTĐTK [65]

1.4.6 Tuổi mang thai

Theo Hiệp hội sản khoa Hoa Kỳ, mẹ ≥ 25 tuổi được coi là yếu tố nguy cơ trungbình ĐTĐTK Tuổi càng cao thì nguy cơ càng tăng, ≥ 35 tuổi là yếu tố nguy cơ caocủa ĐTĐTK [76] Theo nghiên cứu của Lê Thanh Tùng, tỷ lệ ĐTĐTK trong nhómthai phụ ≥ 35 tuổi cao hơn trong nhóm < 35 tuổi [49] Theo Jane E.Hirst và cộngsựnghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 - 2011, tuổi trung bình ở nhóm thaiphụ mắc ĐTĐTK là 31.21 ± 4.16, cao hơn so với nhóm không ĐTĐTK là 27.85 ±

Trang 18

4.73 [68] Nghiên cứu của Ostlund cũng cho thấy tuổi mẹ ≥ 25 nguy cơ mắc ĐTĐTKtăng 3,37 lần so với nhóm < 25 tuổi [4]

1.4.7 Tiền sử sản khoa bất thường

Thai chết lưu, sẩy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân vừa được coi là hậu quả,vừa là yếu tố nguy cơ của ĐTĐTK Theo tác giả Lê Thanh Tùng, thai phụ có tiền sửthai chết trong tử cung không rõ nguyên nhân có nguy cơ ĐTĐTK tăng 5,43 lần sovới nhóm không có tiền sử [49] Sayeed MA cho rằng bệnh nhân có tiền sử thai lưuhoặc tử vong chu sinh làm tăng nguy cơ mức ĐTĐTK [82] Theo Jane và cộng sự, tỷ

lệ thai phụ có tiền sử thai lưu trong nhóm không ĐTĐTK là 2.97%, trong nhómĐTĐTK là 3.8%; sự khác biệt là có ý nghĩa [68]

1.5 HẬU QUẢ CỦA ĐTĐTK

1.5.1 Hậu quả đối với người mẹ

1.5.1.1 Hậu quả trước mắt: Thai phụ ĐTĐTN có nguy cơ bị các tai biến sản khoa

cao hơn các thai phụ bình thường {Boyd E Metzger, 2005 #47}

- Tăng huyết áp

Thai phụ ĐTĐTN dễ bị tăng huyết áp hơn các thai phụ bình thường {Suhonen L,

1993 #48}, {Wanda K, 2005 #49} Tăng huyết áp trong thời gian mang thai có thểgây ra nhiều biến chứng cho mẹ và thai nhi như là: tiền sản giật, sản giật, đột quỵ, suygan, suy thận, thai chậm phát triển trong tử cung, đẻ non và chết chu sinh Vì vậy đohuyết áp thường xuyên, theo dõi cân nặng, tìm protein niệu cho các thai phụ ĐTĐTN

là việc làm rất cần thiết, nhất là vào nửa sau của thai kỳ {TL, 2005 #41}

- Tiền sản giật và sản giật

Thai phụ ĐTĐTN có nguy cơ bị tiền sản giật cao hơn các thai phụ thường Tiềnsản giật bao gồm các triệu chứng: tăng huyết áp, có protein niệu, phù {Suhonen L,

1993 #48} Thậm chí có bệnh nhân bị hội chứng HELLP (Hemolysis, Elevated Liver

Trang 19

enzyms, Low Platelet) rất rõ gồm các triệu chứng tan máu, tăng men gan, số lượngtiểu cầu thấp {Ngô Văn Tài, 2006 #50}.

- Sảy thai và thai lưu

Người ĐTĐTN tăng nguy cơ bị sẩy thai tự nhiên nếu glucose máu kiểm soátkhông tốt ở 3 tháng đầu Ngược lại các phụ nữ hay bị sẩy thai liên tiếp không rõnguyên nhân thì cần phải kiểm tra glucose máu {Tchobroutsky C, 2000 #43}

Thai chết lưu ở thai phụ bị ĐTĐTN gặp với tần suất cao hơn so với nhóm chứng.Phần lớn các trường hợp thai chết lưu ở người ĐTĐTN xảy ra đột ngột Thai hay bịchết lưu khi glucose máu của người mẹ kiểm soát kém, khi thai to so với tuổi thai, khi

bị đa ối, và thường xảy ra vào những tuần cuối của thai kỳ {Moshe Hod, 2005 #11}

- Nhiễm khuẩn tiết niệu

Thai phụ ĐTĐTN dễ bị nhiễm khuẩn tiết niệu {Tchobroutsky C, 2000 #43}.Nghiên cứu của Farooq cho thấy rằng nếu kiểm soát tốt glucose máu thì tỷ lệ nhiễmkhuẩn tiết niệu chỉ còn 6% {Farooq MU, 2007 #51}

Người ĐTĐTN nếu kiểm soát glucose máu không tốt càng tăng nguy cơ nhiễmkhuẩn tiết niệu Nếu không được điều trị sẽ dễ dàng dẫn tới viêm đài bể thận cấp, từ

đó gây ra rất nhiều các tai biến khác như nhiễm toan ceton, đẻ non, nhiễm khuẩn ối{Tchobroutsky C, 2000 #43}

- Đẻ non

Người bị ĐTĐTN tăng nguy cơ đẻ non so với thai phụ không bị đái tháo đường

Tỷ lệ đẻ non ở phụ nữ ĐTĐTN là 26% trong khi ở quần thể thường chỉ là 9,7%{Hadden, 1998 #52}

- Đa ối

Đa ối hay gặp ở phụ nữ mang thai bị đái tháo đường Tỷ lệ đa ối ở các thai phụĐTĐTN cao gấp 4 lần so với các thai phụ không ĐTĐTN Trong nghiên cứu của

Trang 20

Farooq và cộng sự cho thấy tỷ lệ đa ối ở các thai phụ ĐTĐTN chiếm tỷ lệ 18%, caohơn so với các thai phụ không ĐTĐTN {Farooq MU, 2007 #51}.

1.5.1.2 Hậu quả lâu dài

Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng các phụ nữ có tiền sử ĐTĐTN dễ mắc ĐTĐtype II Theo Hyer, khoảng 17% đến 63% các phụ nữ ĐTĐTN sẽ bị ĐTĐ type IItrong thời gian sau 5 năm đến 16 năm {Hyer SL, 2005 #53}

Ngoài ra thai phụ ĐTĐTN sẽ tăng nguy cơ bị ĐTĐTN trong những lần có thaisau đó Họ cũng dễ bị béo phì, tăng cân quá mức sau đẻ nếu không có chế độ ăn vàtập luyện thích hợp

1.5.2 Hậu quả đối với thai nhi và trẻ sơ sinh

1.5.2.1.Thai to

Với phân bố mỡ chủ yếu ở vùng ngực làm tăng nguy cơ đẻ khó và có các sangchấn tổn thương sau đẻ như: liệt đám rối thần kinh cánh tay, gãy xương đòn Thai tolàm tăng nguy cơ phải mổ đẻ Tỷ lệ mổ đẻ ở các thai phụ ĐTĐTN khá cao 47%{Henry OA, 1993 #45}

1.5.2.2.Hạ glucose máu sơ sinh trong những ngày đầu sau đẻ

Khi glucose máu mẹ tăng vào 3 tháng cuối thai kỳ và đặc biệt là vào giai đoạnchuyển dạ thì glucose máu của thai cũng tăng sẽ kích thích tụy thai tăng sản xuấtinsulin {Pedersen J, 1954 #54} Sau khi sinh, nguồn glucose máu từ mẹ cung cấp chothai ngừng đột ngột nhưng nồng độ insulin trong máu con vẫn còn cao Insulin caolàm cho các mô bắt giữ đường nhiều hơn trong khi gan trẻ sơ sinh vẫn chưa sản xuấtđược đủ glucose dẫn đến hạ glucose máu Thời gian hạ glucose máu kéo dài tới 24-72giờ sau khi sinh Vì vậy kiểm soát tốt glucose máu cho các thai phụ ĐTĐTN trongthời gian mang thai và chuyển dạ sẽ tránh được tai biến này Và cũng vì vậy mà cầnphải theo dõi chặt glucose máu cho trẻ sơ sinh trong 3 ngày đầu sau đẻ {Branko

Trang 21

Novak, 2004 #55}, {Knopp RH, 1985 #9}, {Mark A Sperling, 1998 #10}, {Neiger R,

1991 #56}

1.5.2.3 Hạ canxi máu sơ sinh

Tỷ lệ hạ canxi máu sơ sinh của các trẻ đẻ non hoặc ngạt có mẹ bị ĐTĐ cao hơn cáctrẻ có mẹ không bị ĐTĐ Trong 3 ngày đầu tỷ lệ hạ canxi có thể đạt tới 50% nếu kiểmsoát glucose máu của mẹ không tốt Hạ canxi máu trẻ sơ sinh càng nặng nếu glucosemáu mẹ càng cao {Neiger R, 1991 #57}

1.5.2.4 Đa hồng cầu

Hematocrit có thể >70% vào 2 giờ sau sinh và >65% vào 6 giờ sau sinh Tỷ lệ đahồng cầu gặp từ 12-40% tuỳ theo các nghiên cứu Đa hồng cầu cần được chăm sóccẩn thận vì gây cô đặc máu dẫn tới tím, nhược cơ hô hấp, hạ glucose máu, hoại tử ruột

và tắc tĩnh mạch {Neiger R, 1991 #57}

1.5.2.5 Tăng Bilirubin máu

1.5.2.6 Hội chứng suy hô hấp cấp chu sinh

Trước đây, hội chứng suy hô hấp cấp chu sinh thường gặp và có tiên lượng rấtnặng Ngày nay với những tiến bộ trong chăm sóc và điều trị cho các bà mẹ ĐTĐTNnên tỷ lệ trẻ bị hội chứng suy hô hấp cấp chu sinh đã giảm từ 31% xuống còn 3%{Neiger R, 1991 #57} Do vậy có thể nói đây là biến chứng có thể dự phòng được nếu

bà mẹ được chăm sóc điều trị tích cực

1.5.2.7.Tăng tỷ lệ tử vong chu sinh

Người ta nhận thấy rằng tỷ lệ tử vong chu sinh của các trẻ sinh ra từ các thaiphụ ĐTĐTN cao hơn các thai phụ không bị ĐTĐ Nguyên nhân tử vong chu sinhvẫn còn chưa được biết rõ Nhiều tác giả cho rằng có thể tăng glucose máu và tănginsulin máu làm thai nhi bị giảm oxy máu, nhiễm toan, từ đó gây mất khả năngchống đỡ của trẻ với tình trạng hạ oxy {Persson B, 1998 #58}

1.5.2.8.Lâu dài: Sau 10- 20 năm sau:

Trang 22

Tăng nguy cơ béo phì ở các trẻ em

Tăng nguy cơ ĐTĐ type II {HOD M., 2008 #59}

1.6 ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐTĐTK

1.6.1 Mục tiêu đường huyết

Bảng 1.5 Mục tiêu kiểm soát đường huyết cho thai phụ ĐTĐTN

(ADA 2010) {American Diabetes Association, 2010 #65}.

Trang 23

Tất cả các thai phụ ĐTĐ hay ĐTĐTK cần được tư vấn về dinh dưỡng để có chế

độ ăn hợp lý, cung cấp đủ calo và các chất dinh dưỡng cho người mẹ, nhưng vẫn phảiphù hợp với mục tiêu kiểm soát đường máu Tỷ lệ các thành phần dinh dưỡng trongthời gian mang thai nên phân chia theo tỷ lệ glucid- protid- lipid là 50%- 20%- 30%

1.6.4 Phòng ngừa

Bệnh lý ĐTĐTK chiếm tỉ lệ lớn trong nhóm bệnh gây ảnh hưởng lớn đến mẹ vàthai nhi, tác hại không chỉ ở bản thân người mẹ mà gây hậu quả không nhỏ đến sựphát triển tâm thần và thể chất cho trẻ sau này lớn lên Vì vậy, các biện phòng ngừahiện nay là một chương trình cấp thiết và có tầm quan trọng cho tất cả các phụ nữ có

kế hoạch sinh con, đặc biệt là những phụ nữ ở nhóm nguy cơ Sự cần thiết phòngngừa nhằm không mắc bệnh đái tháo đường hoặc hạn chế tối đa bệnh lý ĐTĐTKnhằm không gây hậu quả cho mẹ và thai nhi

1.6.5 Điều trị bằng thuốc

Điều trị bằng thuốc được chỉ định khi chế độ ăn và luyện tập không đảm bảokiểm soát được glucose máu Cho đến nay insulin human (nguồn gốc người) là thuốcduy nhất được FDA chấp nhận cho thai phụ ĐTĐTK Liều trung bình khởi đầu là 0,3đơn vị /kg cân nặng/ ngày, chia tiêm dưới da 2-4 lần mỗi ngày, vào trước bữa ăn vàtrước khi đi ngủ

Insulin người tổng hợp hầu như không gây dị ứng Insulin không đi qua hàngrào rau thai vì vậy không gây hạ glucose máu trực tiếp của thai nhi

1.7 THỜI ĐIỂM KẾT THÚC THAI KỲ VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐẺ

1.7.1 Thời điểm kết thúc thai kỳ

ĐTĐTK không phải là chỉ định đình chỉ thai nghén trước 38 tuần nếu không

có bằng chứng thai bị tổn thương Quyết định thời điểm lý tưởng để kết thúc thai

kỳ là việc cân nhắc của bác sĩ sản khoa, giữa một bên là các nguy cơ thai chếttrong buồng tử cung giai đoạn cuối thai kỳ, thai to gây ra các sang chấn trong cuộc

Trang 24

đẻ và nhiều biến chứng chu sinh khác là hậu quả của thai to (nếu cho đẻ muộn), vớimột bên là suy hô hấp sơ sinh do chưa trưởng thành phổi, khả năng phải mổ lấythai cao do gây chuyển dạ thất bại (Nếu cho thai ra sớm, chưa đủ tháng).

1.7.2 Phương pháp đẻ

Trong ĐTĐTK việc lựa chọn phương pháp đẻ là quyết định khó khăn tiếptheo của các nhà sản khoa, bởi vì mỗi cuộc đẻ là là một cặp mẹ con bị tổn thươngbởi ĐTĐTK và đến nay nó vẫn là vấn đề gây tranh cãi Bằng chứng có được từ cácnghiên cứu về vấn đề này còn rất thiếu Hơn nữa, đôi lúc quyết định lựa chọnphương pháp nào của người thầy thuốc còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội

1.7.3 Theo dõi ĐH trong chuyển dạ và ngay sau đẻ.

Các nghiên cứu đã cho thấy có sự giảm nhu cầu insulin khi bắt đầu chuyển

dạ Nếu ĐH mẹ cao sẽ gây tăng ĐH và tăng insulin ở thai dẫn đến hạ ĐH sơ sinh.Khi ĐH mẹ trong cuộc đẻ > 8,3 mmol/l có thể gây suy thai do thiếu oxy Vì vậy,mục tiêu ĐH trong cuộc đẻ cần duy trì từ 3,3 -5,6 mmol/l, đề phòng tai biến chothai và sơ sinh

- Với thai phụ chỉ điều trị bằng điều chỉnh chế độ ăn

+ Thực hiện chế độ ăn như trước khi chuyển dạ

+ Theo dõi ĐH theo chế độ thông thường

- Với thai phụ có điều trị insulin

+ Có thể có sự tăng nhạy cảm bất thường với insulin trong chuyển dạ nênphải chỉ định truyền insulin liều thấp liên tục tĩnh mạch Hơn nữa, để vừa kiểmsoát đựơc chặt chẽ ĐH vừa tránh được nguy cơ hạ ĐH và cung cấp đủ năng lượngcho sản phụ, người ta vừa truyền glucose, vừa truyền insulin để đạt và duy trì ĐHmục tiêu

Trang 25

+ Vào ngày chuyển dạ, thai phụ nhịn ăn sáng và không tiêm liều insulin củabuổi sáng hôm đó.

+ Truyền Ringerlactat chứa 5% dextrosse với tốc độ 100-125 ml/giờ Dùnginsulin bơm điện pha 50 đơn vị insulin nhanh trong dung dịch muối đẳng trươngcho vừa đủ 50ml, truyền tĩnh mạch, chỉnh liều insulin theo ĐH 1 giờ /1 lần

Bảng 1.2 Theo dõi ĐH và chỉnh liều insulin trong chuyển dạ

Đường huyết (mmol/l) Liều insulin (đơn vị / giờ)

1.8 THEO DÕI VÀ CHĂM SÓC SAU ĐẺ

1.8.1 Theo dõi cho trẻ sơ sinh

- Ngay sau sinh, ngoài chăm sóc sơ sinh như thông lệ, cần theo dõi hô hấp, timmạch liên tục trong 24 giờ tại khoa sơ sinh để phát hiện suy hô hấp và các biến chứngchuyển hóa

- Cho ăn sớm và tích cực trong 3 ngày đầu sau sinh

Ngày đăng: 22/08/2019, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. S. K. Abell và H. J. Teede (2017), "The IADPSG diagnostic criteria identify women with increased risk of adverse pregnancy outcomes in Victoria", Aust N Z J Obstet Gynaecol. 57(5), pp. 564-568 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The IADPSG diagnostic criteria identifywomen with increased risk of adverse pregnancy outcomes in Victoria
Tác giả: S. K. Abell và H. J. Teede
Năm: 2017
2. P M Catalano, N M Drago và S B Amini (1995), "Maternal carbohydrate metabolism and its relationship to fetal growth and body composition", Am J Obstet Gynecol. 172(5), pp. 1464-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maternal carbohydratemetabolism and its relationship to fetal growth and body composition
Tác giả: P M Catalano, N M Drago và S B Amini
Năm: 1995
3. P M Catalano và các cộng sự (1998), "Effect of maternal metabolism on fetal growth and body composition", Diabetes Care. 21 Suppl 2, pp. B85-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of maternal metabolism on fetalgrowth and body composition
Tác giả: P M Catalano và các cộng sự
Năm: 1998
4. Collaborating và 2008. p. 60-77. C.f.w.s.a.c.s.h.N. ( 2008), " Gestational diabetes - Clinical guideline, in Diabetes in pregnancy", pp. 60-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gestationaldiabetes - Clinical guideline, in Diabetes in pregnancy
5. Conde-Agudelo và các cộng sự ( 2000), "Risk factors for pre-eclampsia in a large cohort of Latin American and Caribbean women. ", elizan, Bjog Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk factors for pre-eclampsia in alarge cohort of Latin American and Caribbean women
6. International và A.o.D.a.P.S.G.C.P (2010), "Diabetes care", Diabetes care, (33(3)), pp. 676-682 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes care
Tác giả: International và A.o.D.a.P.S.G.C.P
Năm: 2010
7. Lê Minh Phú (2014), "Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tại khoa sản bệnh viện Nguyễn Tri Phương", Hội Tim mạch Thành Phố Hồ Chí Minh. www.timmachhoc.vn/.../1084 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tạikhoa sản bệnh viện Nguyễn Tri Phương
Tác giả: Lê Minh Phú
Năm: 2014
8. Vũ Bích Nga (2010), Bệnh Đái tháo đường thai kỳ, Nhà xuất Bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Đái tháo đường thai kỳ
Tác giả: Vũ Bích Nga
Nhà XB: Nhà xuất Bản Giáo dụcViệt Nam
Năm: 2010
9. Nguyễn Khoa Diệu Vân và Thái Thị Thanh Thúy (2015), "Nghiên cứu tỷ lệ Đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA năm 2011 và các yếu tố nguy cơ", Tạp chí nghiên cứu y học 97(5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ lệ Đáitháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA năm 2011 và các yếu tố nguy cơ
Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Vân và Thái Thị Thanh Thúy
Năm: 2015
10. O'Sullivan và et al J.B. (1973), "Screening criteria for high-risk gestational diabetic patients. Am J Obstet Gynecol,116(7)", pp. 895-900 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Screening criteria for high-risk gestationaldiabetic patients. Am J Obstet Gynecol,116(7)
Tác giả: O'Sullivan và et al J.B
Năm: 1973
11. Tạ Văn Bình (2003), Quản lý đái tháo đư ng thai nghén, in Thực hành quản lý và điều trị bệnh đái tháo đường., NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đái tháo đư ng thai nghén
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2003
12. A. Vambergue và các cộng sự (2002), "Pregnancy induced hypertension in women with gestational carbohydrate intolerance: the diagest study", Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol. 102(1), pp. 31-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pregnancy induced hypertension inwomen with gestational carbohydrate intolerance: the diagest study
Tác giả: A. Vambergue và các cộng sự
Năm: 2002
13. J. E. Villena (2015), "Diabetes Mellitus in Peru", Ann Glob Health. 81(6), pp.765-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes Mellitus in Peru
Tác giả: J. E. Villena
Năm: 2015
14. L. S. Weinert (2010), "International Association of Diabetes and Pregnancy Study Groups recommendations on the diagnosis and classification of hyperglycemia in pregnancy: comment to the International Association of Diabetes and Pregnancy Study Groups Consensus Panel", Diabetes Care Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Association of Diabetes and PregnancyStudy Groups recommendations on the diagnosis and classification ofhyperglycemia in pregnancy: comment to the International Association ofDiabetes and Pregnancy Study Groups Consensus Panel
Tác giả: L. S. Weinert
Năm: 2010
15. WHO (1999), "Definition, diagnosis and classification of diabetes mellitus and its complications," in Report of a WHO consultation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Definition, diagnosis and classification of diabetes mellitus andits complications
Tác giả: WHO
Năm: 1999
16. W. Wierzba và các cộng sự (2017), "Gestational diabetes mellitus/hyperglycaemia during pregnancy in Poland in the years 2010-2012 based on the data from the National Health Fund", Ginekol Pol. 88(5), pp. 244- 248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gestational diabetesmellitus/hyperglycaemia during pregnancy in Poland in the years 2010-2012based on the data from the National Health Fund
Tác giả: W. Wierzba và các cộng sự
Năm: 2017
17. W. W. Zhu và các cộng sự (2017), "High Prevalence of Gestational Diabetes Mellitus in Beijing: Effect of Maternal Birth Weight and Other Risk Factors", Chin Med J (Engl). 130(9), pp. 1019-1025 Sách, tạp chí
Tiêu đề: High Prevalence of Gestational DiabetesMellitus in Beijing: Effect of Maternal Birth Weight and Other Risk Factors
Tác giả: W. W. Zhu và các cộng sự
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w