Phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên BáiPhân tích những rào cản tiếp cận tín dụng Ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên. tỉnh Yên Bái
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THANH VÂN
PHÂN TÍCH NHỮNG RÀO CẢN TIẾP CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA CÁC TÁC NHÂN THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ QUẾ TẠI HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THANH VÂN
PHÂN TÍCH NHỮNG RÀO CẢN TIẾP CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA CÁC TÁC NHÂN THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ QUẾ TẠI HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Xuân Luận
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được gửi lời cám ơn chân thành, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc
Thái nguyên, tháng 04 năm 2019
Tác giả luận văn
Bùi Thanh Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài “Phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái", tôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp của mình Để
có được kết quả này, ngoài sự lỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các thầy cô giáo, các cơ quan, tổ chức và các cá nhân Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã đào tạo, giảng dạy, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo, TS Đỗ Xuân Luận đã trực
tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế nông nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến ngân hàng NN&PTNT huyện Văn Yên, ngân hàng CSXH huyện Văn Yên, hợp tác xã Quế Hương, công ty TNHH Hương Thuận, các doanh nghiệp, quỹ tín dụng xã Đông an, Lâm Giang, Châu Quế Hạ và các trưởng thôn và người dân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại xã 8 xã
Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót,
sơ suất, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
"Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 502.01-2016.12"
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới 4
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn .4
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 5
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị 6
1.1.3 Chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản 13
1.1.4 Tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị nông sản 16
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về chuỗi giá trị ngoài nước 21
1.2.2 Nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam 22
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tín dụng nông nghiệp 26
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 29
2.1.1 Khái quát chung về huyện Văn Yên 29
2.1.2 Khái quát về sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên 2016-2018 34
Trang 62.1.3 Thực trạng phát triển cây quế của huyện Văn Yên 38
2.2 Nội dung nghiên cứu 40
2.3 Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 41
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 44
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Phân tích tình hình tiếp cận và sử dụng vốn vay từ các nguồn vốn tín dụng của các hộ trồng Quế trên địa bàn huyện 46
3.1.1 Tình hình tiếp cận nguồn vốn vay từ nguồn tín dụng của các hộ trồng Quế 46
3.1.2 Các rào cản tiếp cận TDNH của các hộ tham gia chuỗi giá trị quế 53
3.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ trồng quế 55
3.2 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của các hộ trồng Quế trong việc tiếp cận các khoản vốn vay trên địa bàn huyện 61
3.2.1 Những thuận lợi của các hộ trồng Quế trong việc tiếp cận các khoản vốn vay trên địa bàn huyện 61
3.2.2 Những khó khăn của các hộ trồng Quế trong việc tiếp cận các khoản vốn vay trên địa bàn huyện 62
3.3 Tiếp cận tín dụng ngân hàng của các Hợp tác xã và doanh nghiệp 63
3.3.1 Tình hình tiếp cận TDNH của HTX và doanh nghiệp
3.3.2 Các rào cản tiếp cận TDNH của các HTX và doanh nghiệp
3.4 Giải pháp tháo gỡ các rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng cho các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 64
3.4.1 Giải pháp tăng cường tiếp cận tín dụng ngân hàng cho các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 66
3.4.2 Giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng ngân hàng góp phần phát triển cây Quế nói riêng và phát triển kinh tế nông hộ nói chung tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC CÁC BẢNG HỎI 80
Trang 7NHTM Ngân hàng thương mại
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TCTD Tổ chức tín dụng
TCTDNH Tổ chức Tín dụng ngân hàng
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UBND Ủy ban nhân dân
HĐND-UBND Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân TDNH Tín dụng ngân hàng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất huyện Văn Yên giai đoạn 2016 - 2018 31
Bảng 2.2: Diện tích đất tự nhiên 32
Bảng 2.3: Thành phần các dân tộc của huyện năm 2017 33
Bảng 2.4: Tình hình dân số và lao động của huyện Văn Yên qua 3 năm (2016-2018) 33
Bảng 2.5: Diện tích các loại cây trồng của huyện Văn Yên 2016 -2018 35
Bảng 2.6: Sản lượng cây lương thực huyện Văn Yên 2018 36
Bảng 2.7: Số lượng gia súc, gia cầm huyện Văn Yên 2018 36
Bảng 2.8: Diện tích đất trồng quế của huyện Văn Yên 2016 -2018 39
Bảng 2.9: Cỡ mẫu và phân bổ cỡ mẫu 42
Bảng 3.1: Điều kiện, thời hạn và lãi suất cho vay của các tổ chức TDNT tới các hộ sản xuất trên địa bàn huyện Văn Yên 51
Bảng 3.2: Đặc điểm chính của các hộ trồng quế được khảo sát 56
Bảng 3.3: Thực trạng Tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ 57
Bảng 3.4: Đặc điểm các khoản vốn vay 57
Bảng 3.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến Tiếp cận tín dụng ngân hàng chính thức của hộ trồng quế 60
Bảng 3.6: Tiếp cận tín dụng ngân hàng của các Hợp tác xã và Doanh nghiệp 64
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Chuỗi giá trị của Porter (1985) 12
Hình 1.2: Hệ thống giá trị của Porter (1985) 13
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống TDNT 47
Sơ đồ 3.2: Quy trình vay của NHNN&PTNT Văn Yên 48
Sơ đồ 3.3: Quy trình vay của NHCSXH Văn Yên 49
Trang 10TR ÍC H Y ẾU LU Ậ N VĂ N
1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
2 Phương pháp nghiên cứu
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 319 hộ, 9 doanh nghiệp, 4 hợp tác xã và các bên liên quan Nghiên cứu sử dụng kết hợp mô hình định lượng và phỏng vấn sâu các bên liên quan nhằm phân tích những rào cản trong tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế
3 Kết quả nghiên cứu chính
Có 76, 17% số hộ có nhu cầu vay vốn nhưng chỉ có 48, 27% số hộ nhận được vốn vay chính thức Lượng vốn vay đáp ứng được 77, 02% nhu cầu của hộ gia đình và khoảng 43-44% nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh quế Nguyên nhân chính là các ngân hàng chủ yếu sử dụng tài sản thế chấp để ra quyết định cho vay Trong khi đó, các tác nhân trong chuỗi thường thiếu tài sản thế chấp có giá trị, hạn chế trong khả năng lập phương án sử dụng vốn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thường cho vay các hộ khá, giàu và có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong khi đó, Ngân hàng Chính sách Xã hội thường cung ứng tín dụng ưu đãi cho các hộ có thu nhập thấp hơn thông qua Hội phụ nữ
4 Kết luận chủ yếu của luận văn
Kết quả cho thấy hạn mức tín dụng là vấn đề chính hạn chế khả năng đầu tư của các tác nhân trong chuỗi Những rào cản chính trong tiếp cận tín dụng là thiếu tài sản đảm bảo có giá trị, sự hạn chế trong năng lực xây dựng phương án sử dụng vốn khả thi và đặc biệt là thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa ngân hàng, doanh nghiệp, hợp tác
xã và nông dân trong liên kết, sản xuất theo chuỗi giá trị Để khơi thông nguồn vốn tín dụng, cho vay theo chuỗi trên cơ sở hợp tác giữa ngân hàng, hội đoàn thể và các bên liên quan khác trong cung ứng tín dụng là rất cần thiết
Trang 11M Ở Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trên đà đổi mới, chuyển từ
cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình đổi mới đó tín dụng ngân hàng tham gia vào chuỗi giá trị nông sản luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, duy trì vị thế chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần Nông nghiệp ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, như góp phần: xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định kinh tế - chính trị xã hội Tuy nhiên, nông sản Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu thô nên chưa thực sự hấp dẫn, giá trị xuất khẩu cũng như khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường quốc tế còn thấp Thực tế đã và đang đặt ra yêu cầu cần có những cách tiếp cận mới hiệu quả hơn trong sản xuất nông nghiệp Việc tạo chuỗi giá trị nông sản bền vững, nâng cao vị thế cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường thế giới là vấn đề rất cần thiết (Tạp chí ngân hàng hàng, 2017) Trong các nguồn lực phát triển chuỗi, vốn đầu tư từ ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng vì đây là nguồn vốn ổn định và có thể cung ứng lượng vốn dồi dào Ngân hàng là một trong những tác nhân tham gia vào chuỗi nông sản với vai trò hỗ trợ ngày càng quan trọng trong việc góp phần cho sản xuất kinh doanh, làm gia tăng giá trị và hiệu quả của chuỗi giá trị Khi ngân hàng tham gia vào chuỗi giá trị sẽ giúp giảm thiểu rủi ro thị trường, rủi ro người vay, rủi ro thời tiết, dịch bệnh; tiết kiệm chi phí, thiếu vốn sẽ làm cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân chậm phát triển, máy móc thiết bị thô sơ, do đó các sản phẩm làm ra chưa đáp ứng được với yêu cầu thị trường, đó cũng là nguyên nhân làm cho các sản phẩm của Việt Nam chưa hội nhập được với thị trường thế giới (Tạp chí ngân hàng hàng, 2017)
Văn Yên là một huyện miền núi thuộc tỉnh Yên Bái, người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề trồng cây nông, lâm nghiệp và thu nhập chính của người dân từ cây Quế, Quế mang lại giá trị kinh tế cao và là nguồn thu chủ lực cho phát triển kinh tế xã hội của huyện; một số nơi đã hình thành những vùng trồng quế, song quy
mô chưa tập trung, chưa tận dụng tốt lợi thế tiềm năng đất đai để mở rộng diện tích,
Trang 12sản phẩm hàng hóa chưa phát huy được lợi thế tự nhiên vốn có trên thị trường, khả năng cạnh tranh thấp; chưa hình thành chặt chẽ chuỗi liên kết giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, liên kết Nhà nước, Nhà Khoa học, Nhà Doanh nghiệp và Nhà Nông Đề án phát triển cây Quế tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2020 được xây dựng là hết sức cần thiết để từng bước khắc phục những tồn tại, hạn chế trong đầu tư phát triển cây quế những năm qua, xác định rõ thực trạng trồng cây quế hiện nay, định hướng phát triển cây Quế trong thời gian tới và đưa ra các giải pháp kỹ thuật đồng bộ, cụ thể nhằm duy trì diện tích và hình thành những vùng sản xuất tập trung dựa trên tiềm năng đất đai, lao động và điều kiện khí hậu thổ nhưỡng phù hợp cho việc mở rộng diện tích Quế ra các vùng xung quanh lân cận, đặc biệt là dọc tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai và Quốc lộ 70 đi qua địa bàn tỉnh; ứng dụng các biện pháp kỹ thuật từ khâu trồng, chăm sóc, bảo vệ đến khai thác, chế biến sản phẩm từ Quế nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm phát huy tối đa lợi thế từ cây quế trên địa bàn huyện
Quế là cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao; quế cho thu hoạch từ lá, cành, vỏ, thân cây Các sản phẩm từ quế dùng làm thực phẩm, dược liệu, gia vị, phục vụ công nghiệp hóa mỹ phẩm và cung cấp sản phẩm gỗ (Sở Nông nghiệp
& PTNT tỉnh Yên Bái, 2016) Quế là cây trồng truyền thống được nhân dân trồng
từ lâu đời gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc vùng cao, vùng sâu và bắt nguồn từ người dân tộc Dao, là một trong những nguồn thu nhập chính có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của một bộ phận không nhỏ người dân và bà con dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Hiện nay còn nhiều khu vực người dân tự ý trồng quế mang tính chất tự phát, manh mún, sản phẩm không đảm bảo, nên giá trị còn thấp hơn những vùng khác; Do vậy, phát triển sản xuất kinh doanh quế theo chuỗi giá trị được xem là một hướng đi đúng đắn nhằm kết nối nông dân với thị trường, cải thiện giá trị sản phẩm, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Vốn tín dụng được xem như là một công cụ mạnh để giúp các hộ sản xuất thoát khỏi nghèo đói, đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc đầu tư vào tư liệu sản xuất đồng thời cho phép
Trang 13các hộ nông dân đầu tư vào cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới trong nông nghiệp nhằm tăng hiệu quả và thu nhập của họ Tuy nhiên, các hộ trồng quế còn thiếu vốn sản xuất do đó gặp khó khăn trong đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và kết nối với thị trường tiêu thụ Vì vậy, tháo gỡ những rào cản trong tiếp cận vốn tín dụng được kỳ vọng sẽ tạo động lực để hình thành các vùng nguyên liệu hàng hóa tập trung, thuận lợi cho đầu tư sản xuất kinh doanh gắn vùng nguyên liệu với chế biến tiêu thụ quế ổn định, từ đó khuyến khích người dân và các doanh nghiệp tham gia trồng, chế biến, xuất khẩu quế
Việc tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng mà đặc biệt là các nguồn vốn tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị quế có nhiều hạn chế Xuất phát từ thực
tế đó, tác giả lựa chọn đề tài:“Phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái"
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị nông sản
- Phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ những rào cản trong tiếp cận tín dụng ngân hàng, góp phần phát triển chuỗi giá trị Quế trên địa bàn huyện Văn Yên trong những năm tới
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề về tín dụng và tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân chính dọc theo chuỗi giá trị sản phẩm quế như hộ sản xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Phạm vi thời gian: Các số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài được thu thập
từ năm 2017 - 2018 Các số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2018 thông qua
Trang 14khảo sát các bên liên quan đến cung cầu tín dụng ngân hàng trong phát triển chuỗi giá trị quế Văn Yên
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân chính tham gia chuỗi giá trị sản phẩm quế
về kỹ thuật, các giải để phát triển cây quế phù hợp với điều kiện ở địa phương
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về tín dụng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong phát triển chuỗi giá trị quế
- Việc phân tích, làm rõ những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng sẽ làm cơ
sở cho việc ban hành các chính sách liên quan đến cho vay nông nghiệp, nông thôn theo chuỗi, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó trong thực tiễn Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo Giúp hiểu thêm về tình hình kinh tế xã hội tại địa phương
- Từ những nghiên cứu thực tiễn chúng ta tìm ra được những khó khăn, vướng mắc trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị
Quế, từ đó sẽ đưa ra giải pháp hữu hiệu
- Đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ những rào cản trong tiếp cận tín dụng ngân hàng, góp phần phát triển chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm Tiếng Anh gọi là Credit Theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất, trong khi chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ, họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu cầu Tín dụng là mối quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền
tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng,để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu (Trang Wattpad, 2010)
Tín dụng là “phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay
và người đi vay Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá cho người cho vay kèm theo một khoản lãi” theo Luật các tổ chức tín dụng và văn bản hướng dẫn thi hành (Nhà XB chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002) Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường: “Tín dụng là những hành động cho vay, bán chịu hàng hoá và vốn giữa những người sở hữu khác nhau Tín dụng không phải là hoạt động vay tiền đơn giảm mà là hoạt động vay tiền có điều kiện, tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức Tín dụng là hình thức đặc thù vận động giá trị khác với lưu thông hàng hoá đơn thuần: vận động giá trị nên dẫn tới phương thức mượn tài khoản, bồi hoàn và giá trị thanh toán” Theo (TS Lê Văn Tề, 2013), tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận,bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Tín dụng là hoạt động cho vay (phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay), có bảo đảm, có hoàn trả cả nợ gốc và lãi sau một thời gian
Trang 16nhất định Một cách tiếp cận đầy đủ hơn, tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa người sở hữu với người sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả vốn và
lợi tức khi đến hạn (PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn, 2004)
Xét trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam thời gian qua, nông nghiệp là ngành giữ được tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, đảm bảo cân bằng cho nền kinh tế Điều đó khẳng định vai trò của nông nghiệp, nông thôn cũng như tiềm năng phát triển của khu vực này Phát triển nông nghiệp đòi hỏi nhu cầu vốn lớn, tuy nhiên, tỷ
lệ vốn tự có của người dân Việt Nam tham gia vào sản xuất hiện nay còn ở mức thấp nên nguồn vốn tín dụng được xem là nguồn vốn chủ yếu Vốn tín dụng giúp đẩy nhanh quá trình đầu tư vào sản xuất quy mô lớn, đầu tư khoa học kĩ thuật cho sản xuất nông nghiệp, qua đó, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, thúc đẩy sự phát triển khu vực nông thôn
Vốn tín dụng được xem như là một công cụ mạnh để giúp các hộ sản xuất thoát khỏi nghèo đói, đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc đầu tư vào tư liệu sản xuất (Amha, 2000), đồng thời cho phép các hộ nông dân đầu tư vào cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới trong nông nghiệp làm tăng hiệu quả và thu nhập của họ (Zeller & Sharma, 2000) Tuy nhiên, việc tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng mà đặc biệt là các nguồn vốn tín dụng ngân hàng từ phía các ngân hàng thương mại có nhiều hạn chế, đây là nguồn vốn lành mạnh, có tác dụng kích thích sản xuất phát triển Chủ đề về tiếp cận vốn tín dụng và hiệu quả
sử dụng vốn tín dụng luôn được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và quản lý trong nước và quốc tế Mặc dù vậy nhưng các nghiên cứu mới dừng lại ở phân tích thực trạng để đưa ra kết luận, hoặc phân tích hiệu quả kỹ thuật là chủ yếu, việc đưa
ra các khuyến nghị vẫn chưa xuất phát từ phía cung và cầu
Ngân hàng có vai trò hỗ trợ ngày càng quan trọng trong việc gia tăng giá trị
và hiệu quả của chuỗi Khi ngân hàng tham gia vào chuỗi giá trị sẽ giúp giảm thiểu rủi ro thị trường, rủi ro người vay, rủi ro thời tiết, dịch bệnh; tiết kiệm chi phí…
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị
1.1.2.1 Chuỗi giá trị
a) Khái niệm chuỗi
Trang 17Khái niệm về chuỗi đầu tiên được đề cập trong lý thuyết về phương pháp chuỗi
(filière) Phương pháp này gồm các trường phái tư duy nghiên cứu khác nhau và sử
dụng nhiều lý thuyết như phân tích hệ thống, tổ chức ngành, kinh tế ngành, khoa học quản lý và kinh tế chính trị Macxít Khởi đầu, phương pháp này được các học giả của Pháp sử dụng để phân tích hệ thống nông nghiệp của Mỹ những năm 1960, từ đó đưa
ra những gợi ý đối với việc phân tích hệ thống nông nghiệp của Pháp và sự hội nhập theo chiều dọc của các tổ chức trong hệ thống nước này Chính sách nông nghiệp của Pháp sử dụng phương pháp này như là công cụ để tổ chức sản xuất các mặt hàng xuất khẩu đặc biệt đối với những mặt hàng như cao su, bông, cà phê và dừa Cho đến những năm 1980, phương pháp này được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác trên thế giới Trong thời gian này, khung filière không chỉ tập trung vào hệ thống sản xuất nông nghiệp mà còn chú trọng đặc biệt đến mối liên kết giữa hệ thống này với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng Như vậy, khái
niệm chuỗi (Filière) luôn bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để
lập sơ đồ dòng chuyển động của các hàng hoá và xác định những người tham gia vào các hoạt động
Trong lý thuyết về chuỗi, khái niệm “Chuỗi” được sử dụng để mô tả
hoạt động có liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng (có thể là
sản phẩm hoặc là dịch vụ)
b) Khái niệm chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm
(hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác
nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng
Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi “Chuỗi giá trị” nghĩa là: Một
chuỗi các quá trình sản xuất (các chức năng) từ cung cấp các dịch vụ đầu vào cho
một sản phẩm cụ thể cho đến sản xuất, thu hái, chế biến, marketing, và tiêu thụ cuối
cùng; “Sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối người sản xuất, nhà chế biến,
các thương gia, và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể”; “Một mô hình kinh tế trong đó kết hợp việc chọn lựa sản phẩm và công nghệ thích hợp cùng
Trang 18với cách thức tổ chức các đối tượng liên quan để tiếp cận thị trường” Định nghĩa
này có thể giải thích theo nghĩa hẹp hoặc rộng
Chuỗi giá trị theo nghĩa “hẹp” là một chuỗi gồm một loạt những hoạt động
trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này có thể bao gồm: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.v Tất cả các hoạt động
này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng (Browne, J Harhen, J & Shivinan, J (1996)) Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị”
cho thành phẩm cuối cùng Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi và sửa chữa cho một công ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sản phẩm Nói cách khác, khách hàng có thể sẵn sàng trả cao hơn cho một điện thoại di động có dịch vụ hậu mãi tốt Cũng tương tự như vậy đối với một thiết kế có tính sáng tạo hoặc một quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ Đối với các doanh
nghiệp nông nghiệp, một hệ thống kho phù hợp cho các nguyên liệu tươi sống (như
trái cây) có ảnh hưởng tốt đến chất lượng của thành phẩm và vì vậy, làm tăng giá trị
sản phẩm
Chuỗi giá trị theo nghĩa “rộng” là một phức hợp các hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương
nhân, người cung cấp dịch vụ v.v.) để biến một nguyên liệu thô thành một sản phẩm
bán lẻ (Browne, J Harhen, J & Shivinan, J (1996)) Chuỗi giá trị “rộng” bắt đầu từ
hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,…
Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi Khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháp tiếp cận thấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ giữa họ hình thành và phát triển như thế nào,…
Ngoài ra, chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị vô cùng quan trọng đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội và môi
Trang 19trường trong phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Quế Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn vốn Thêm vào đó, những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân làm cho sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống, ví dụ, thiếu vốn làm cho mối quan hệ giữa các hộ và cộng đồng thay đổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất hoặc dễ bị tổn thương chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của những người tham gia chuỗi giá trị Khoa kinh tế và phát triển nông thôn, Trường Đại học nông lâm thái nguyên (Khoa kinh tế và phát triển nông thôn, Trường Đại học nông lâm thái nguyên, 2017)
Những mối quan hệ này cũng có liên quan đến các chuỗi giá trị nông nghiệp
Lý do là các chuỗi giá trị phụ thuộc chủ yếu vào vốn tín dụng ngân hàng Đồng thời, ngành nông nghiệp còn có đặc thù bởi sự phổ biến các tiêu chuẩn xã hội truyền thống, khung phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị có thể áp dụng để rút ra kết luận về sự tham gia của các tác nhân và các tác động tiềm tàng của sự phát triển chuỗi giá trị đến các tác nhân
1.1.2.2 Một số khái niệm liên quan đến chuỗi giá trị
a) Chuỗi cung ứng
Một chuỗi cung ứng được định nghĩa là một hệ thống các hoạt động vật chất
và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân Một chuỗi cung ứng có 4 đặc trưng cơ bản như sau:
- Thứ nhất: Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc
- Thứ hai: Một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức
- Thứ ba: Một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý
- Thứ tư: Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình
b) Chuỗi nông sản thực phẩm
Trang 20Một chuỗi nông sản thực phẩm cũng là một chuỗi cung ứng sản xuất và phân phối nông sản thực phẩm bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin diễn ra đồng thời Chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm khác với chuỗi cung ứng của các ngành khác ở các điểm như sau:
- Bản chất của sản xuất nông nghiệp thường dựa vào quá trình sinh học, do vậy làm tăng biến động và rủi ro
- Bản chất của sản phẩm, có những đặc trưng tiêu biểu nếu như không phơi khô
ẩm sẽ bị mốc, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau
- Thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm an toàn và vấn đề môi trường
c) Tác nhân
Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của
họ Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh );
- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy )
Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp các chủ thể có cùng một hoạt động Ví dụ: Tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích
Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân
Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng Các tác nhân đứng sau thường có chức năng hoàn thiện sản phẩm của các tác nhân đứng trước kế nó cho đến khi chức năng của tác nhân cuối cùng ở từng luồng hàng kết thúc thì ta đã có sản phẩm cuối cùng của ngành hàng
d) Bản đồ chuỗi giá trị
Trang 21Bản đồ chuỗi giá trị là một hình thức trình bày bằng hình ảnh (sơ đồ) về những
cấp độ vi mô cấp trung của chuỗi giá trị Theo định nghĩa về chuỗi giá trị, bản đồ chuỗi giá trị bao gồm một bản đồ chức năng kèm với một bản đồ về các chủ thể của chuỗi Lập bản đồ chuỗi có thể nhưng không nhất thiết phải bao gồm cấp độ vĩ mô của chuỗi giá trị
Khung phân tích của Porter (Porter, M E (1985)): Trường phái nghiên cứu
thứ hai liên quan đến công trình của Micheal Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh
Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định
vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp
có thể được tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt
hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) như thế nào? Cách khác là làm thế
nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng sẵn sàng
mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt)?
Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh
(thực tế và tiềm tàng) của mình Đặc biệt, Porter lập luận rằng các nguồn lợi thế
cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong
một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hoá (hoặc dịch vụ) và các hoạt
động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với ý tưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài, tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu
Trang 22mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu v.v
Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành Ví dụ, một phân tích về chuỗi giá trị của một siêu thị ở châu Âu có thể chỉ ra lợi thế cạnh tranh của siêu thị đó so với các đối thủ cạnh tranh là khả năng cung cấp rau quả nhập từ nước ngoài (Porter, M E (1985)) Tìm ra nguồn lợi thế cạnh tranh là thông tin có giá trị cho các mục đích kinh doanh Tiếp theo những kết quả tìm được đó, doanh nghiệp kinh doanh siêu thị có lẽ sẽ tăng cường củng cố mối quan hệ với các nhà sản xuất hoa quả nước ngoài và chiến dịch quảng cáo sẽ chú ý đặc biệt đến những vấn đề này
Hình 1.1: Chuỗi giá trị của Porter (1985)
Một cách để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm “hệ thống giá trị”
Có nghĩa là: thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạt động của công ty như một phần của một chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là “hệ thống giá trị” Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động
do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuất một hàng hoá hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thô đến phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với khái niệm “chuỗi giá trị của doanh nghiệp” Tuy nhiên, cần chỉ ra rằng trong khung phân tích của Porter, khái niệm hệ
Trang 23thống giá trị chủ yếu là công cụ giúp quản lý điều hành đưa ra các quyết định có tính chất chiến lược
Hình 1.2: Hệ thống giá trị của Porter (1985)
Phương pháp tiếp cận toàn cầu: Gần đây nhất, khái niệm các chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích toàn cầu hoá Các nhà nghiên cứu Kaplinsky và Morris
đã quan sát được rằng trong quá trình toàn cầu hoá, người ta nhận thấy khoảng cách trong thu nhập giữa các nước tăng lên Các tác giả này lập luận rằng phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình này, nhất là trong một viễn cảnh năng động:
- Thứ nhất, bằng cách lập sơ đồ một loạt những hoạt động trong chuỗi, phân tích chuỗi giá trị sẽ phân tích được tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành những khoản mà các bên khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được
- Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty, vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào?
Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tế được coi là một phần của các mạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và bán lẻ, trong
đó tri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận được các thị trường và các nhà cung cấp Trong bối cảnh này, sự thành công của các nước đang phát triển và của những người tham gia thị trường ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các mạng lưới này Muốn tiếp cận được mạng lưới này thì sản phẩm phải đạt được các
yêu cầu của toàn cầu hoá
1.1.3 Chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản
Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB, 2010) thì “Chuỗi giá trị mô tả đầy đủ một chuỗi các hoạt động tăng thêm giá trị được yêu cầu để mang đến một sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua các giai đoạn của sản xuất, bao gồm sơ chế nguyên liệu thô và các đầu vào khác” Hay theo (Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc, 2015) (United Nations Industrial Development Organization -
Chuỗi giá trị
của nhà cung
cấp Chuỗi giá trị
của nhà cung cấp
Chuỗi giá trị của công ty
Chuỗi giá trị của công ty
Chuỗi giá trị của ngườimua Chuỗi giá trị
củ ngườimua
Trang 24UNIDO), thì “chuỗi giá trị là các bên tham gia được liên kết với nhau dọc theo một chuỗi sản xuất, chuyển đổi và mang sản phẩm dịch vụ tới tay khách hàng cuối cùng thông qua một chuỗi các hoạt động” Còn theo (Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế, 2015) (The International Center for Tropical Agriculture - CIAT), thì
“Chuỗi giá trị là một chiến lược liên kết giữa một số các tổ chức doanh nghiệp”
Chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản được phát triển ở nhiều quốc gia, nhưng cho đến nay, chưa có một khái niệm chính thức được sử dụng để nói
về chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản Tuy nhiên, có thể thấy, chuỗi giá trị nông sản là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nông sản Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc nhóm hàng hóa nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm này theo một phương thức nhất định Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm các giá trị tạo ra
và tăng thêm tại mỗi công đoạn tiếp theo của chuỗi trong quá trình đi đến sản phẩm cuối cùng
Trong chuỗi giá trị nông sản, các công đoạn cơ bản gồm: chuẩn bị sản xuất, sản xuất, sau sản xuất, tiếp thị và bán hàng Các công đoạn này diễn ra kế tiếp nhau
và tác động lẫn nhau để cùng tạo ra sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm nông sản đó Để chuỗi giá trị diễn ra bình thường thì bên cạnh các hoạt động sản xuất phải có các hoạt động dịch vụ hỗ trợ như: quản lý hành chính; phát triển cơ sở hạ tầng; quản lý nhân sự; cung cấp thông tin; phát triển, lựa chọn thị trường và những dịch vụ bảo trì thiết bị, nơi sản xuất…
Tổng hợp các hoạt động khác nhau trong một chuỗi giá trị nông sản gồm: Nghiên cứu chiến lược phát triển sản phẩm; thiết kế mẫu mã sản phẩm, quy trình sản xuất; tổ chức sản xuất; tổ chức tiếp thị và bán hàng; phân phối lợi ích của chuỗi các tác nhân tham gia vào từng công đoạn của chuỗi; dịch vụ chăm sóc, hậu mãi khách hàng; các biện pháp bảo vệ môi trường và phát triển kinh doanh bền vững…
Như vậy, chuỗi giá trị nông sản thể hiện rõ những ưu điểm trong hoạt động mang tính hệ thống liên hoàn từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến cung ứng sản phẩm nông sản và những hậu mãi mang lại giá trị gia tăng từ người sản xuất đến người tiêu thụ cuối cùng với các tiêu chí như chi phí thấp nhất, thời gian nhanh
Trang 25nhất, chất lượng cao nhất… Những tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị nông sản có thể kể đến là: Cơ sở nghiên cứu, hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp, thương nhân đầu mối mua tập trung sản phẩm nông sản, người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng/thành phẩm; tổ chức tài chính tín dụng như ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân,
tổ chức tài chính vi mô, các cơ sở bán lẻ, siêu thị… Mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị hay cụ thể là chuỗi giá trị nông sản được thể hiện bởi mối quan
hệ giữa nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, trong đó tổ chức tín dụng
mà chủ yếu là ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong cung ứng vốn cho nhà nông, nhà khoa học và các doanh nghiệp khác
Chuỗi giá trị được thế giới quan tâm từ rất sớm Tại Việt Nam, việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân luôn nhận được sự quan tâm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta Trong Đề án tái
cơ cấu ngành nông nghiệp được Chính phủ đặt mục tiêu đưa nông nghiệp chuyển dịch lên nền sản xuất hiện đại với các tiêu chí an toàn - bền vững - hiệu quả; đồng thời, cũng nêu rõ việc xây dựng và phát huy các mô hình sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là hướng đi đúng đắn Trong đó, doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt ứng dụng công nghệ cao vào chuỗi giá trị trên cơ sở liên kết dọc và liên kết ngang Với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, sự liên kết giữa các tổ chức kinh tế với nhau hay giữa các tổ chức kinh tế với cơ sở sản xuất, hộ nông dân để phát huy thế mạnh của mỗi bên nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, tăng tính cạnh tranh, thương hiệu, uy tín thị trường là một xu thế tất yếu Muốn phát triển nền kinh tế nông nghiệp bền vững hơn nữa, cách tốt nhất là thực hiện có hiệu quả chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ, tiêu dùng sản phẩm nông sản
Trong những năm gần đây, sản xuất theo chuỗi giá trị nông sản với hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản giữa nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX) với các doanh nghiệp ngày càng phát triển, đặc biệt từ khi Việt Nam tiến hành tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đã có nhiều mô hình liên kết thành công giữa nhà quản lý, doanh nghiệp, nhà nông và nhà khoa học Có thể kể đến một số liên kết trong chuỗi giá trị nông sản hàng hóa như: Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam liên kết trong chăn nuôi heo, gia cầm, chế biến, phân phối
Trang 26sản phẩm; Công ty cổ phần thuỷ sản Hùng Vương và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản An Giang tổ chức vùng nguyên liệu sản xuất chế biến cá tra; liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong ngành sản xuất cao su trên địa bàn tỉnh Sơn
La, Lai Châu, Điện Biên, Bà Rịa - Vũng Tàu; liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong sản xuất mía đường ở Thanh Hoá; HTX thủy sản Thới An, mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ cá Tra ở Cần Thơ; HTX chăn nuôi bò sữa Evergrowth ở Sóc Trăng; HTX dịch vụ sản xuất nông nghiệp Tân Cường của tỉnh Đồng Tháp; HTX hoa cây cảnh Văn Giang tỉnh Hưng Yên; HTX Đại Phong, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình; HTX Nông nghiệp Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; HTX nông nghiệp Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định… Tuy nhiên, những mối liên kết này nhìn chung còn lỏng lẻo, sự tham gia của nhà khoa học chưa mạnh mẽ, số lượng doanh nghiệp công nghệ cao còn rất khiêm tốn Phần lớn còn trong tình trạng thiếu hụt vốn cho đầu tư phát triển, do vậy nông sản Việt Nam phần lớn là xuất khẩu thô, kém sức cạnh tranh trên thị trường cả trong và ngoài nước
Theo những đánh giá mới nhất cho thấy, gần đây, nền nông nghiệp Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, như: tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại, chất lượng nông sản thấp ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ chưa được khắc phục, việc được mùa mất giá luôn ám ảnh nông dân, các mối liên kết dọc và ngang phát triển còn gặp nhiều khó khăn Những mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để tạo ra các chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn chậm phát triển Trong khi đó, chuỗi giá trị nông sản đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, sản phẩm nông sản chủ yếu là xuất khẩu, do đó từng người nông dân hoặc các tổ hợp tác, HTX nhỏ lẻ không thể tự lo cho mình được
1.1.4 Tiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị nông sản
Ngân hàng là một trong những tác nhân tham gia vào chuỗi nông sản với vai trò hỗ trợ ngày càng quan trọng trong việc góp phần cho sản xuất kinh doanh, làm gia tăng giá trị và hiệu quả của chuỗi giá trị Khi ngân hàng tham gia vào chuỗi giá trị sẽ giúp tăng cường năng lực tài chính, góp phần vào tăng sức “đề kháng” của các tác nhân khác trong chuỗi giá trị tăng thêm đối với những rủi ro thị trường, rủi ro
Trang 27người vay, rủi ro thời tiết, dịch bệnh và đặc biệt tiết kiệm chi phí… theo đó, bản thân ngân hàng cũng ổn định, bền vững hơn trong sự phát triển của mình Thời gian qua, chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn, trong đó có những chính sách khuyến khích phát triển chuỗi liên kết đã được hệ thống ngân hàng quan tâm
và tích cực triển khai: Quyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 quy định về chương trình cho vay thí điểm đối với các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chỉnh phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn…
Theo đó, (1) đối tượng được vay vốn là các hộ nông dân, HTX đại diện cho nông dân thực hiện ký hợp đồng liên kết theo chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với các doanh nghiệp đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt gắn với các dự án liên kết cụ thể (2) Lãi suất cho vay tối đa 7%/năm đối với cho vay ngắn hạn; 10%/năm cho vay trung hạn và 10,5%/năm vay dài hạn Cho vay thí điểm áp dụng đối với những mô hình liên kết theo chuỗi giá trị khép kín, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ có thời gian vay trên 12 tháng nhưng không quá 18 tháng, mỗi khâu (sản xuất, chế biến, tiêu thụ) đều dưới 12 tháng và khách hàng cam kết trả một phần nợ sau mỗi khâu của chuỗi để ngân hàng xem xét áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn đối với khách hàng đó (3) Mức cho vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu vay vốn đã được đề xuất, nhưng tối đa bằng 70% giá trị của phương án, dự án vay vốn phục vụ cho các mô hình sản xuất (4) Thời gian thực hiện cho vay thí điểm
là 2 năm kể từ ngày Quyết định cho vay có hiệu lực
Một trong những chính sách đột phá tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của chính phủ; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chỉnh phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là các doanh nghiệp, tổ chức đầu mối liên kết theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp có thể được vay tín chấp lên tới 70- 80% giá trị
Trang 28của dự án Hay trong trường hợp gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng thì các đối tượng này được ngân hàng xem xét cơ cấu lại nợ, khoanh nợ hay xóa nợ…
Việc hỗ trợ tài chính theo chuỗi cung ứng là một thị trường tiềm năng cho các ngân hàng, là một phương thức hiệu quả trong tài trợ cho lĩnh vực nông sản Mô hình của một số nước mà Việt Nam có thể áp dụng: Kazakhstan, các ngân hàng thương mại cung cấp những gói tín dụng cho các nhà chế biến đậu nành và lúa mỳ Sau đó, các nhà máy chế biến này lại cho các nhà cung cấp tiềm năng của mình là các hộ nông dân vay lại để đầu tư sản xuất hoặc thuê thiết bị… Các hộ nông dân trong chuỗi có thể nắm bắt các thông tin để có thị trường và tự do bán sản phẩm của mình cho bất cứ đối tác nào mà họ cho là đáng tin cậy Tuy nhiên, tất cả những hộ nông dân tham gia chương trình liên kết đều phải duy trì một tài khoản tại ngân hàng cho vay và ngân hàng có quyền chuyển tiền từ tài khoản người đi vay sang tài khoản người chế biến tương đương giá trị khoản vay Các thị trường cho những mặt hàng này khá rõ ràng nên người dân hầu như không có lợi ích thêm gì khi bán sản phẩm cho đối tác ngoài hợp đồng Nếu người vay không hoàn trả nợ đúng hạn hoặc bán cho đối tác ngoài hợp đồng họ sẽ đối mặt với rủi ro không được tiếp tục nhận khoản vay trong những năm kế tiếp Trong chuỗi cung ứng này bắt buộc sự tồn tại mối quan hệ khách hàng đối tác lâu dài
Theo kinh nghiệm và khuyến nghị của IFC (Tín dụng nông thôn, 2018), các ngân hàng muốn thúc đẩy tín dụng nông nghiệp, nông sản trước hết nên lựa chọn những khu vực có tiềm năng cao về nông nghiệp với các đặc trưng như: có cây trồng đa dạng, triển khai được nhiều vụ mùa trong năm, có điều kiện tưới tiêu, thủy lợi nội đồng tốt Hiện nay, Ninh Bình là một trong những tỉnh có tiềm năng, hội tụ
đủ các điều kiện theo khuyến nghị IFC đưa ra Khi ngân hàng tham gia sâu rộng vào chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, vai trò của ngân hàng với sản xuất theo chuỗi giá trị sẽ bộc lộ rõ nét hơn Bởi việc ngân hàng lựa chọn cho vay trước với những đối tượng nông dân có rủi ro thấp, đồng thời thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược trong các lĩnh vực sản xuất nông sản sẽ giảm thiểu rủi ro thị trường Khi ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với các đơn vị làm dịch vụ kỹ thuật sẽ
Trang 29giảm thiểu rủi ro người vay và kết nối, hợp tác chặt chẽ với các công ty bảo hiểm giảm thiểu rủi ro thời tiết, dịch bệnh…
Vai trò của ngân hàng thể hiện trong việc tiết kiệm chi phí, nhờ tích cực xây dựng cầu nối giữa ngân hàng với khách hàng, thông qua việc triển khai các ngân hàng di động, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin, thông qua cho vay với hình thức chuyển khoản trong thanh toán, không nhất thiết phải mở các chi nhánh ở mọi nơi Do đó, khách hàng dễ tiếp cận thuận lợi và nhanh chóng hơn trong giao dịch các hoạt động của ngân hàng
Theo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - NHNN qua 2 năm triển khai thí điểm
mô hình cho vay theo chuỗi giá trị trong phát triển nông sản đã mở thêm cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính của khu vực nông thôn, đã có 28 doanh nghiệp với 31 dự
án được thực hiện tại 22 tỉnh, thành phố trong cả nước tham gia chương trình Lãi suất ngắn hạn áp dụng là 6,5%/năm, một số dự án có lãi suất thấp hơn, ở mức 5,4% - 6,3%/năm Các ngân hàng tham gia chương trình cũng đã chủ động phối hợp cùng doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh giải ngân vốn vay thực hiện các dự án theo tiến độ Đến nay, tổng số tiền đã giải ngân theo chương trình trên đạt 6.937 tỷ đồng, vượt số vốn tín dụng theo các ngân hàng đã cam kết cho vay ban đầu là 5.628 tỷ đồng
Phát huy vai trò chủ lực của NHTM lớn nhất Việt Nam, giữ vai trò chủ đạo trên thị trường tài chính nông thôn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đang không ngừng đẩy mạnh hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư phát triển nông sản trong chuỗi giá trị Agribank đồng hành theo chỉ đạo của NHNN triển khai Quyết định số 1050/QĐ-NHNN về chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp với một số cơ chế đặc thù như: lãi suất cho vay chương trình thấp hơn lãi suất cho vay thông thường từ 1-1,5%/năm; mức cho vay lên đến 90% giá trị của phương án, dự án vốn; ngân hàng có thể xem xét cho vay các thành viên tham gia liên kết không có bảo đảm bằng tài sản nếu kiểm soát được dòng tiền của chuỗi liên kết… Sau một thời gian ngắn triển khai đã dần hình thành
mô hình mẫu trong sản xuất nông nghiệp theo chuỗi liên kết giá trị sản phẩm nông nghiệp, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương
và tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Trang 30Phát triển cho vay theo chuỗi giá trị nông sản tạo ra cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính của khu vực nông thôn, nhất là đối với các hộ sản xuất nhỏ, vốn là những mắt xích tham gia những chuỗi sản xuất lớn Tuy nhiên, phát triển cho vay chuỗi giá trị nông sản còn đang gặp không ít những trở ngại Trong đó, số tiền cho vay còn nhỏ so với nhu cầu thực sự của các hộ nông dân, HTX Mức độ “mặn mà” của các ngân hàng còn rất hạn chế Nguyên nhân không phải vì các ngân hàng thiếu vốn hay
bị các lĩnh vực khác hút hết, mà có lẽ chủ yếu bởi các rủi ro và đặc trưng của ngành nông sản
Các hoạt động của nông nghiệp thường chịu rất nhiều ảnh hưởng từ thời tiết, khả năng chế biến và bảo quản thường không hàm chứa nhiều kỹ thuật, nên lợi nhuận từ khu vực này thường thấp Món vay từ các hộ nông dân thường nhỏ lẻ khó quản lý Vấn đề tài sản bảo đảm cũng khó được đáp ứng, do đối tượng vay vốn thường dùng tư liệu sản xuất (đất đai, máy móc thiết bị…) hoặc tài sản hình thành
từ vốn vay để bảo đảm Ngoài ra, vì rủi ro lớn chủ yếu đến từ thời tiết, chi phí quản
lý cao, đồng thời phải đáp ứng được khả năng sinh lời kỳ vọng của ngân hàng, nên lãi suất lại cao mà người chịu cuối cùng là người vay (nông dân)
Mặt khác, cho vay theo chuỗi giá trị sản xuất nông sản còn những khó khăn khác như, tính liên kết của các chủ thể trong sản xuất còn lỏng lẻo, tính tuân thủ các cam kết trong hợp đồng còn yếu, quy trình sản xuất chất lượng chưa được tuân thủ chặt chẽ cũng khiến việc phát triển cho vay theo chuỗi giá trị nông sản chưa được như kỳ vọng Ngoài ra, định chế tài chính tham gia trong chuỗi còn ít; hành lang pháp lý cho mô hình còn nhiều hạn chế
Chuỗi giá trị nông sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, có hiệu quả cao, nhất là nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, sản phẩm nông sản chủ yếu là xuất khẩu Do vậy, cần phải thực hiện liên kết giữa các bên đủ năng lực đưa sản phẩm nông sản của Việt Nam ra thị trường quốc tế Doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt trên cơ sở liên kết với hộ nông dân Tuy nhiên, để làm được điều này phải có nhiều chính sách đặc thù khuyến khích đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp về năng lực tổ chức chuỗi giá trị, đặc biệt là hỗ trợ về vốn, theo đó cần tập trung phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng
Trang 31Thông qua ký kết hợp đồng tín dụng với các doanh nghiệp có mô hình chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản, các ngân hàng thể hiện quyết tâm trong việc từng bước góp phần xây dựng thành công mô hình, tháo gỡ những hạn chế, tồn tại trong quá trình triển khai nhằm đem lại lợi ích lâu dài cho tất cả các bên tham gia, hướng tới phát triển bền vững các chuỗi liên kết giá trị nông sản, nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về chuỗi giá trị ngoài nước
Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào việc nghiên cứu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho các sản phẩm cũng như đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho các bên tham gia
Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm nhiều đến chuỗi giá trị, đặc biệt là quản lý chuỗi cung cấp Nguyên tắc cơ bản của chuỗi giá trị trong giai đoạn này rất đơn giản và dễ hiểu đó là chuỗi giá trị quan tâm đến việc chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia để giảm chi phí về mặt thời gian, giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tăng giá trị cho sản phẩm đó
Fearne và Hughes (1998) cũng đã phân tích được những ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng chuỗi giá trị Ưu điểm của chuỗi là giảm mức độ phức tạp trong mua và bán; giảm chi phí và tăng chất lượng sản phẩm; giảm thời gian tìm kiếm những nhà cung cấp mới; giá cả đầu vào ổn định; cùng nhau thực thi kế hoạch
và chia sẻ thông tin dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau Tuy nhiên, hạn chế của chuỗi là tăng sự phụ thuộc giữa các bên tham gia chuỗi; giảm sự canh tranh giữa người mua/người bán; phát sinh những chi phí mới trong chuỗi
Eaton và Shepherd (2001) đã có một nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành chè tại Kenya và cacao tại Indonesia, nghiên cứu này tập trung vào vấn đề chuỗi giá trị
và giải pháp sinh kế bền vững, tác giả đã chỉ ra được những vấn đề mà chuỗi giá trị ngành chè Kenya, chuỗi giá trị ngành Cacao Indonesia gặp phải và những vấn đề về thiếu vốn đầu tư và quy mô sản xuất nhỏ lẻ Những nghiên cứu về cấu trúc thị
Trang 32trường, những kênh tiêu thụ trong chuỗi giá trị, mối quan hệ tương tác giữa những chuỗi giá trị đó Điều quan tâm của nghiên cứu này là những “mối quan hệ” giữa
các tác nhân, những tác động của hộp P.I.P (Policies, Institutions, Processes) và khung sinh kế bền vững SLF (sustainable livelihood framwork) đến những người
nắm giữ những tư liệu sản xuất nhỏ và những người làm thuê Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, với các nước chậm phát triển như Kenya và Indonesia, chuỗi giá trị hoạt động chưa được tốt, nghĩa là các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị chưa có những mối quan hệ ràng buộc, giá trị gia tăng trong chuỗi còn thấp, đặc biệt người sản xuất là những người hưởng lợi nhuận thấp nhất Chính vì chưa có mối quan hệ ràng buộc nên những tác nhân đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi thường là đối tượng hưởng lợi nhuận nhiều nhất và sẵn sàng rời bỏ chuỗi này để chuyển sang chuỗi mới có lợi nhuận cao hơn Ngoài ra, sự tham gia của các tác nhân đầu tư tài chính là rất hạn chế
Trong báo cáo của FAO về chuỗi giá trị ngành khoai tây năm 2008, đã đề cập đến vấn đề làm thế nào để tăng sự bền vững của chuỗi giá trị của ngành hàng Họ đã chỉ ra được vấn đề đang gặp phải ở các nước đang phát triển như: Khoai tây thường được bán phân tán với những phân đoạn thị trường nhỏ lẻ và ít có sự liên kết, phối hợp và thiếu những thông tin về thị trường, điều này đang gây ra sự chia rẽ các mối quan hệ trong chuỗi Giá cả đầu vào tăng cao đang gây ra sự “e dè” trong đầu tư sản xuất của các hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ lẻ Hậu quả là họ đang bị loại dần
ra khỏi thị trường và không tham gia được vào chuỗi giá trị Vấn đề quan trọng đặt
ra cho chuỗi giá trị ở các nước này là cần một nền sản xuất bền vững, với chất lượng sản phẩm tốt và sự hỗ trợ về các vật tư đầu vào cùng với sự phối hợp hành động trong chuỗi (Trang Wattpad, 2010)
1.2.2 Nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam
Chuỗi giá trị nông sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, có hiệu quả cao, nhất là nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, sản phẩm nông sản chủ yếu là xuất khẩu Do vậy, cần phải thực hiện liên kết giữa các bên đủ năng lực đưa sản phẩm nông sản của Việt Nam ra thị trường quốc tế Doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt trên cơ sở liên kết với hộ nông dân Tuy nhiên, để làm được điều này phải có nhiều chính sách đặc thù
Trang 33khuyến khích đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp về năng lực tổ chức chuỗi giá trị, đặc biệt
là hỗ trợ về vốn, theo đó cần tập trung phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng
Thông qua ký kết hợp đồng tín dụng với các doanh nghiệp có mô hình chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản, các ngân hàng thể hiện quyết tâm trong việc từng bước góp phần xây dựng thành công mô hình, tháo gỡ những hạn chế, tồn tại trong quá trình triển khai nhằm đem lại lợi ích lâu dài cho tất cả các bên tham gia, hướng tới phát triển bền vững các chuỗi liên kết giá trị nông sản, nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (nguồn Tạp chí ngân hàng, 2017)
Trong Luận án tiến sĩ “Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết kinh
tế của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam” của tác giả (TS Đỗ Thị Đông, 2011) đã nêu bật những đối tượng tham gia vào chuỗi giá trị của ngành may, từ đó chỉ ra các mối liên kết kinh tế có trong ngành dệt may Mặt khác, tác giả đã đánh giá việc tổ chức liên kết giữa các doanh nghiệp may và các khâu khác trong quá trình tạo ra
và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng bao gồm liên kết dọc và liên kết ngang giữa các chủ thể trong ngành may Từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của ngành may xuất khẩu Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu
Kinh nghiệm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản (Tạp chí cộng sản, 2010) Thực tế cho thấy, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đang là xu thế phổ biến hiện nay và sự tham dự này mang lại lợi ích kinh tế và xã hội to lớn, kể cả đối với các nước đang và kém phát triển Hiện tại, Việt Nam đang là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trong khu vực và thế giới với nhiều sản phẩm đặc trưng như cà phê, điều, hồ tiêu, chè, gạo Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nông nghiệp Việt Nam đã bộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây truyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Vì vậy, dù là một trong những quốc gia hàng đầu xuất khẩu nông sản, nhưng tính bền vững trong sản xuất chưa cao, đang bộc lộ những khuyết điểm lớn từ giống, kỹ thuật, chăm sóc cho đến thu hoạch, chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ Nông sản của Việt Nam đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp đầu vào là nông sản thô, trong khi
Trang 34giá trị gia tăng đối với hàng nông sản lại chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại Hay nói cách khác, Việt Nam mới tham gia được ở khâu tạo ra giá trị ít nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu
Cuốn sách cũng phân tích nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nói trên là do sự lạc hậu về công nghệ trước và sau thu hoạch, trình độ hạn chế của những tác nhân tham gia chuỗi từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu marketing phân phối và tiêu thụ Bên cạnh đó, các yếu tố tạo môi trường cho sự tham gia hiệu quả vào chuỗi như dịch vụ hỗ trợ, cơ sở hạ tầng còn hạn chế Các chính sách phát triển thương mại hàng nông sản còn nhiều bất cập Mặt khác, trong lúc tư duy phát triển, chúng ta quá trú trọng đến sản lượng, số lượng mà chưa chú trọng đúng mức đến giá trị gia tăng Chính vì vậy, thay vì tiếp cận sản lượng, vấn đề tiếp cận giá trị gia tăng đang trở thành yêu cầu cấp thiết
Công trình nghiên cứu về “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân” của tác giả (Hồ Quế Hậu, 2007) đã trình bày bản chất mối liên kết kinh tế
và nội dung của mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân Đồng thời tác giả đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của các ngành mận, điều, thuốc lá trong việc hình thành mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân Bên cạnh đó, tác giả chỉ rõ thực trạng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân trồng bông vải ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy, hoàn thiện mối liên kết này bao gồm các giải pháp vĩ mô của nhà nước và các giải pháp của doanh nghiệp chế biến
Xuất phát từ thực trạng liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến và nông dân trồng bông, tác giả đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải bao gồm các giải pháp đối với bản thân doanh nghiệp bao gồm phát triển
mô hình mua bán thỏa thuận sau thu hoạch, hợp đồng ràng buộc đầu vụ và tiến tới xây dựng mô hình liên kết thông qua chế độ tham dự cổ phần đồng thời cần hoàn thiện nội dung của mô hình liên kết theo hướng đa dạng và linh hoạt Xây dựng
Trang 35vùng chuyên canh bông vải tạo động lực thúc đẩy hình thành và phát triển các mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải
Luận văn thạc sĩ “Các giải pháp gắn kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá Tra ở tỉnh An Giang”, (Ths Nguyễn Mạnh Cường, 2009) đã phân tích, hệ thống hóa cơ sở
lý luận và thực tiễn về gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ thủy sản nói chung
và sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá Tra nói riêng Đồng thời, đánh giá thực trạng vấn đề gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá Tra tại tỉnh An Giang và đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu
Đề tài cấp Bộ “Vấn đề liên kết bốn nhà trong phát triển nông nghiệp Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của tác giả (Nguyễn Thị Thủy và các thành viên, 2011): Làm rõ tính tất yếu của mối liên kết giữa bốn nhà: Nhà nông - Nhà nước - Nhà Doanh nghiệp - Nhà khoa học, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phân tích thực trạng mối liên kết
đó ở Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường liên kết bốn nhà trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Văn Thường và Nguyễn Thế Nhã trong cuốn “Đổi mới tổ chức quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2001): trình bày các đặc điểm có ảnh hưởng đến tổ chức và quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước ngành hàng
Cà phê và Cao su; Phân tích quá trình hình thành hệ thống Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Daklak và tiến trình đổi mới tổ chức, quản lý của Doanh nghiệp này trong ngành cà phê và ca cao; Đồng thời cuốn sách đưa ra những giải pháp chủ yếu về tổ chức và phát triển chế biến, tiêu thụ cà phê trong các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước ở tỉnh Daklak cũng như giải pháp vĩ mô nhằm phát triển ngành hàng cà phê tại tỉnh Daklak
Bên cạnh cá công trình nghiên cứu trên còn một số bài báo đăng trên các báo
và tạp chí của tác giả như: Thời báo kinh tế Sài Gòn “Liên kết dọc trong chuỗi giá trị nông sản: nhìn từ vụ Bianfshco”, (TS Trần Tiến Khải, 2012); Báo Nông nghiệp Việt Nam, “Bài học từ cây cà phê, chè ở Sơn La” (Tác giả Lê Bền, 2012)
Trang 36Như vậy, việc nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm trong đó có cả sản phẩm nông nghiệp ở trong nước và nước ngoài đã rất nhiều, đồng thời có những nghiên cứu cụ thể để phát triển cụ thể theo từng sản phẩm như: Chuỗi Xoài, chuỗi bưởi, chuỗi cà phê, chuỗi chè Thái Nguyên và tại Sơn La cũng có những nghiên cứu về chuỗi giá trị nhãn Sông Mã Nhưng theo tác giá thì những nghiên cứu trên phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng địa điểm cụ thể Chúng ta không chỉ áp dụng một cách triệt để vào một sản phẩm nào đó của một khu vực nào đó Muốn có một nghiên cứu tốt, một nghiên cứu thực sự sẽ tác động đến sự phát triển của một sản phẩm nông nghiệp nào đó như với tỉnh Yên Bái chúng ta cần phải có những nghiên cứu cụ thể, đề xuất phát triển chuỗi đó cũng như là căn cứ để đề xuất giải pháp với
sự giúp đỡ của chính quyền nhằm phát triển chuỗi một cách bền vững
1.3 Tổng quan các công trình nghiên về tín dụng nông nghiệp
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy tín dụng là một công cụ quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn Tiếp cận tín dụng ngân hàng có tác động tích cực lên phúc lợi của hộ nghèo thông qua việc làm tăng chi tiêu cho đời sống của họ (TS Phan Thị Nữ, 2013) Chương trình tín dụng trợ cấp có tác động đến giảm nghèo ở tại Việt Nam nghiên cứu bởi (TS Nguyễn Việt Cường, 2008) Tuy nhiên, tác giả cũng lưu ý rằng 67,1% số hộ nhận được vốn ưu đãi không thuộc diện hộ nghèo Tương tự, tín dụng trợ cấp có tác động đến giảm nghèo nhưng chi phí trợ cấp hay nói cách khác là chi phí giảm nghèo là tương đối cao nghiên cứu bởi (TS Quách Mạnh Hào, 2005)
Việc cung cấp tín dụng có liên quan đến lý thuyết về thông tin bất đối xứng giữa người cho vay và người vay, chi phí giao dịch, tính thời vụ của sản xuất và các dòng thu nhập và chi tiêu trong sản xuất kinh doanh (Conning và Udry, 2007) Vì những lý do này nhu cầu tín dụng của người vay đôi khi không được đáp ứng đầy đủ bởi phía cung tín dụng (Stiglitzvà Weiss, 1981) Khoảng cách cung-cầu tín dụng tồn tại và có liên quan đến các vấn đề về thanh lọc, theo dõi, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn vay Một số nghiên cứu cho thấy rằng tài sản thế chấp là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì tiếp cận tín dụng Chẳng hạn, nghiên cứu bởi Kemper và đồng tác giả, 2015) kết luận rằng giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hoặc quyền tài sản trên đất nông nghiệp ở Việt Nam tạo điều kiện cho
Trang 37hộ gia đình tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn Phát hiện này hàm ý rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình là một chiến lược để tháo gỡ các rào cản về Tiếp cận tín dụng ngân hàng Trong một nghiên cứu nhằm giải thích lý
do tại sao người cho vay thường yêu cầu tài sản thế chấp, Karlan và Morduch (2010) cung cấp thêm lập luận cho rằng yêu cầu tài sản thế chấp xuất phát từ thực tế ngân hàng không có đủ thông tin về các hoạt động của người vay như quá trình sử dụng vốn, năng suất và mức độ rủi ro của các hoạt động đầu tư Do vậy, nếu không
có tài sản thế chấp, ngân hàng có thể sẽ phải đối mặt rủi ro thất thoát vốn Để giải quyết vấn đề thiếu hụt tài sản thế chấp (TS Phạm Duy Hưng, 2017) đề xuất ngân hàng cần được tiếp cận dữ liệu tin cậy về kết quả và hiệu quả kinh doanh của bên đi vay để tăng niềm tin giữa các bên trong các giao dịch tín dụng
Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị nông nghiệp thông qua tiền ứng trước của bên thu mua có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của chuỗi giá trị Trong một nghiên cứu gần đây bởi (TS Phạm Thọ
và Talavera, 2018), cho rằng việc ứng trước tiền mua hàng phản ánh sự tin cậy và giúp phát triển lòng tin giữa nông dân và doanh nghiệp Một số nghiên cứu chỉ ra rằng vốn vật chất là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì tiếp cận tín dụng Quy mô diện tích canh tác ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tiếp cận tín dụng của
hộ nông dân (Asante-Addo và đồng tác giả, 2017) Tương tự, Trædal và Vedeld (2018) đã nhấn mạnh vai trò của quy mô đất lâm nghiệp đối với sinh kế của các hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam Theo canh tác đất rừng là một tài sản quan trọng,
là nguồn thu nhập để duy trì sinh kế của các hộ gia đình ở nông thôn Đất lâm nghiệp là điều tiên quyết cho đầu tư phát triển sản xuất lâm nghiệp Hơn nữa, tín dụng và đất đai là yếu tố đầu vào bổ sung để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, thành phần dân tộc và độ tuổi của chủ hộ, các mối quan hệ
xã hội và nguồn tiết kiệm có tương quan đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình (Đỗ Xuân Luận và đồng tác giả, 2015) Vị trí địa lý của nông hộ có liên quan đến tiếp cận thị trường và cơ sở hạ tầng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng Nếu hộ gia đình định cư tại nơi có cơ sở hạ tầng thuận lợi sẽ giúp họ tiếp cận dễ dàng hơn với thịtrường và từ đó tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính (Biyase và Fisher, 2017)
Trang 38Tóm lại, những nghiên cứu trước đây khẳng định vai trò quan trọng của tín dụng đối với phát triển kinh tế nông thôn và chỉ ra những yếu tố về đặc điểm nguồn lực của nông hộ ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng Mặc dù các nghiên cứu trước đây thường sử dụng mô hình lôgit hoặc probit (xác xuất) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng Tiếp cận tín dụng ngân hàng, phần lớn những nghiên cứu này không làm rõ phương pháp lựa chọn các biến phù hợp để phân tích nên có thể dẫn tới trường hợp các kết quả phân tích nhạy cảm theo mô hình được lựa chọn Hơn nữa, có rất ít nghiên cứu về tiếp cận tín dụng đối với các hộ sản xuất dược liệu trong bối cảnh Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển dược liệu quốc gia, chương trình mỗi làng xã một sản phẩm và tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Trang 39Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.1 Khái quát chung về huyện Văn Yên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Văn Yên là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc tỉnh Yên Bái, cách trung tâm tỉnh lỵ 40 km Phía Bắc giáp huyện Bảo Yên (Lào Cai) và huyện Lục Yên, phía Nam giáp huyện Trấn Yên và huyện Văn Chấn, phía Tây giáp huyện Văn Bàn (Lào Cai) và huyện Mù Cang Chải, phía Đông giáp huyện Yên Bình Với diện tích tự nhiên là 139.145 ha, dân số 124.232 người, được chia làm 27 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn; có 13 xã vùng cao, trong đó có 8 xã đặc biệt khó khăn; gồm 11 dân tộc anh em Huyện có tiềm năng về đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là cây quế; có lợi thế về địa lý kinh tế; giao thông thuận lợi, có tuyến đường sắt, đường sông, đường bộ đi qua Nhân dân các dân tộc trong huyện có truyền thống đoàn kết, sáng tạo và cần cù lao động
2.1.1.2 Địa hình
Huyện Văn Yên có địa hình địa thế khá phức tạp Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông suối, thung lũng Phía Bắc của huyện có độ cao từ 300-1.700 m, đây là vùng thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, trồng và bảo vệ rừng, chăn nuôi đại gia súc Vùng phía Đông- Nam của địa hình núi thấp, thích hợp cho phát triển cây nông nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc Vùng đồi thấp và thung lũng với những cánh đồng lớn thuận lợi cho phát triển cây lương thực, thực phẩn, chăn nuôi gia súc gia cầm, phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp
Trang 40lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm từ 15 - 20% lượng mưa cả năm
- Chế độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình từ 85-88% Trong những tháng khô hạn nhất, độ ẩm 75%
- Thuỷ Văn:
Nguồn nước chủ yếu đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân từ các khe suối: Nhìn chung đây là những khe suối có nguồn nước tương đối lớn và
có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hệ thống nông, lâm, ngư nghiệp
Mực nước ngầm trung bình là từ 6 - 8m, trong đó cao là 4 - 6m, thấp là 15m Sông Hồng chảy qua địa bàn huyện Văn Yên theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua địa bàn 16 xã, thị trấn, với chiều dài trên 40 km Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông đường thuỷ, vận tải hàng hoá, và cung cấp nguồn nước phục vụ đời sống và sản xuất, tuy nhiên hàng năm vào mùa mưa nước sông Hồng dâng cao gây ngập một số diện tích đất sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân hai bên lưu vực
10-2.1.1.4 Tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất
- Về tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 139.145 ha Trong đó: Đất nông nghiệp: 128.862,71 ha, chiếm 92,6% ; Đất phi nông nghiệp: 5.916,58ha, chiếm 4,26%; Đất chưa sử dụng: 4.365,71 ha, chiếm 3,14%
lý nguồn tài nguyên này để đảm bảo an ninh lương thực cho người dân tại huyện
- Về tài nguyên nguồn nhân lực: Hiện nay Dân số toàn huyện là 124.232 người, trong đó dân số thành thị 10.429 người (chiếm 8,5%), nông thôn 113.803