1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Khoá luận tốt nghiệp thiết kế một số chủ đề đại số ở lớp 10 theo hướng phát triển năng lực học sinh

91 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc học tập những tri thức, kỹ năng riêng lẻ của từng nội dung chương trình học cần bổ sung các chủ đề học tâp nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề, phát huy tính tích cự

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS.PHẠM THỊ DIỆU THÙY

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy cô giáo trong khoa Toán, các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian em làm

khóa luận Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Thị

Diệu Thùy, cô đã tận tính giúp đỡ em trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thành

khóa luận tốt nghiệp này

Dù bản thân em đã rất cố gắng trong việc thực hiện khóa luận, nhưng do đây

là lần đầu tiên em làm quen với việc nghiên cứu khoa học, hơn nữa do điều kiện thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên em không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này là kết quả khách quan, trung thực và là kết quả của em trong

suốt quá trình học tập và nghiên cứu, cùng với sự hướng dẫn của TS.Phạm Thị

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 5

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

3 Giả thuyết khoa học 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2

5 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3

8 Cấu trúc khóa luận 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ ĐẠI SỐ Ở LỚP 10 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 5

1.1 Một số vấn đề về dạy học theo hướng phát triển năng lực 5

1.1.1 Khái niệm năng lực 5

1.1.2 Các định hướng phát triển năng lực Toán học hiện nay 11

1.1.3 Các PPDH và KTDH thường dùng trong dạy học PTNL hiện nay ở Việt Nam 13

1.2 Dạy học theo chủ đề và vấn đề phát triển năng lực học sinh 14

1.2.1 Khái niệm dạy học theo chủ đề 14

1.2.2 Mục tiêu của dạy học theo chủ đề 15

1.2.3 Mối quan hệ giữa dạy học theo chủ đề với phát triển năng lực học sinh 18

1.3 Quy trình thiết kế chủ đề dạy học môn Toán: 19

1.4 Thực trạng dạy học và dạy học theo chủ đề ở trường phổ thông hiện nay 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 26

CHƯƠNG II: THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ ĐẠI 10 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 27

2.1 Nguyên tắc thiết kế 27

Trang 7

2.2.Minh họa một số chủ đề 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 74

CHƯƠNG III.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75

3.1 Mục đích thực nghiêm sư phạm 75

3.2 Nội dung thực nghiêm sư phạm 75

3.3 Tổ chức thực nghiêm sư phạm 75

3.4 Phân tích kết quả thực nghiêm sư phạm 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ

Bảng 1.1 Các mức độ phát triển năng lực toán học của học sinh THPT 6 Bảng 1.2 So sánh giữa dạy học the chủ đề và dạy học theo hướng tiếp cận truyền thống hiện nay 16 Bảng 1.3 Mô tả câu hỏi sử dụng trong tổ chức hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề 21 Bảng 3.2: Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra môn toán trước thực nghiệm của lớp TN và ĐC 78 Bảng 3.4: Bảng khảo sát biểu hiện năng lực môn Toán sau thực nghiệm của lớp

TN và ĐC 78 Bảng 3.5: Phân phối tần số kết quả học tập lần 1 và lần 2 ở lướp TN và ĐC1 đợt

1 79

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thế kỉ XXI, thế giới đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong lĩnh vực giáo dục, tốc độ phát triển tri thức nhân loại ngày càng tăng với tốc độ chóng mặt Vì vậy, mô hình giáo dục ở nhà trường phổ thông theo hướng tiếp cận nội dung không còn phù hợp nữa

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản toàn diện

giáo dục và đào tạo đã viết:“Phải đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục từ chủ

yếu nhằm trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học”[1] Để

đáp ứng được yêu cầu trên, giáo viên phải có năng lực hướng dẫn cho học sinh, để

học sinh tự tìm tòi lấy nội dung cần học và áp dụng dụng vào thực tiễn Vì vậy, đào

tạo năng lực cho người học là mục tiêu cao nhất và cần thiết để người học có thể

khắng định được mình trong cộng đồng phức tạp, đa dạng và đổi thay, tạo thích ứng cao với mọi hoàn cảnh

Theo quan điểm giáo dục hiện đại, phát triển năng lực cho người học là cách tiếp cận đào tạo theo hướng đầu ra; theo đó, việc dạy học không chỉ chú ý tích cực hóa người học về trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện cho họ năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực tiễn Bên cạnh việc học tập những tri thức, kỹ năng riêng lẻ của từng nội dung chương trình học cần bổ sung các chủ đề học tâp nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học trên cơ sở trau dồi các phẩm chất độc lập, sáng tạo của tư duy

Chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa, các nội dung được phân chia thành những đơn vị kiến thức khá cụ thể theo từng bài học và được sắp xếp tuần tự, phù hợp với tiến trình lĩnh hội kiến thức cho người học, cách thiết kế này rất thuận lợi cho việc

tổ chức dạy học trên lớp cũng như việc quản lí dạy học và phân phối chương trình như hiện nay Tuy nhiên, sự phân phối này cũng có một số hạn chế nhất định trong quá trình dạy học như do cách phân chia kiến thức cụ thể làm cho các đơn vị kiến thức trong bài mang tính độc lập tương đối với nhau, kiến thức học sinh thu thập sẽ rời rạc, việc nhớ, khắc sâu kiến thức của học sinh không bền vững và việc vận dụng

Trang 10

cần thiết bởi thiết kế chủ đề dạy học mang tính bao quát, chứa một nội dung kiến thức tương đối trọn vẹn cần trang bị cho học sinh, các kiến thức này có thể liên

quan đến một hay nhiều lĩnh vực khác nhau, tiếp cận ở các góc độ khác nhau Việc

thiết kế các chủ đề dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh giúp phát huy

tính tích cực của người học, phù hợp với định hướng đổi mới cách học của ngành giáo dục “ lấy học sinh làm trung tâm” Tuy nhiên hiện nay việc thiết kế dạy học theo chủ đề vẫn còn ít, chủ yếu là dạy học theo tiết, bài học rời rạc, chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau, do đó việc khắc sâu và vận dụng kiến thức của học sinh gặp nhiều khó khăn

Hơn nữa trong chương trình THPT, môn Toán là một môn học có vị trí quan trọng: môn Toán giúp HS phát triển tư duy, sáng tạo, có liên quan chặt chẽ với thực

tế và có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau và là một công cụ giúp cho việc dạy và học các môn học khác được dễ dàng hơn Đặc biệt, nội dung chương trình toán 10 là một nội dung quan trọng vì nó có vị trí chuyển tiếp và hoàn thiện từ THCS lên THPT Đặc biệt, mảng kiến thức về Đại số 10 chiếm vị trí khá quan trọng, nó bao quát và đi sâu hơn các kiến thức mà học sinh đã được trang bị

Xuất phát từ những khó khăn trên và định hướng đổi mới chương trình SGK theo hướng PTNL và đặc điểm dạy học theo chủ đề, vị trí, vai trò của môn Toán,

những khía cạnh trong việc tổ chức dạy học, em lựa chọn chủ đề “ Thiết kế một số

chủ đề đại số ở lớp 10 theo hướng phát triển năng lực học sinh” làm đề tài khóa

luận của mình

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy học, dạy học theo chủ đề để thiết kế một số chủ đề đại số 10 theo hướng phát triển năng lực học sinh

3 Giả thuyết khoa học

Vận dụng các biện pháp đã đề xuất trong luận văn thì có thể giúp giáo viên

có thể thiết kế và tổ chức dạy học một số chủ đề đại số 10 theo hướng phát triển năng lực học sinh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề tài, ta cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Trang 11

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của tổ chức dạy học theo chủ đề và định hướng phát triển năng lực học sinh

- Nghiên cứu chương trình SGK Đại số 10 và định hướng đổi mới chương trình SGK theo hướng PTNL

- Thu thập số liệu,điều tra, khảo sát thực trạng

- Thiết kế một số chủ đề dạy học cụ thể môn Toán phần Đại số 10

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT để đánh giá kết quả và rút ra kết luận

5 Đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: Dạy học chủ đề, dạy học theo định hướng phát triển năng lực

- Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế một số chủ đề Đại số 10 theo hướng PTNL

6 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu định hướng đổi mới chương trình SGK theo hướng PTNL

- Nghiên cứu quy trình xây dựng chủ đề Đại số 10 theo hướng PTNL

7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các dự thảo, chương trình của Bộ giáo dục và Đào tạo về dạy học theo chủ đề phát triển năng lực học sinh

- Nghiên cứu các tài liệu giáo dục, PPDH môn Toán liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu SGK , sách giáo viên, sách tham khảo có liên quan đến đề tài

7.2 Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp

- Nghiên cứu lịch sử đề tài

- Nghiên cứu chương trình nội dung SGK, nghiên cứu tài liệu hướng dẫn

7.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT để đánh giá hiệu quả của việc dạy học thông qua HĐTN

8 Cấu trúc khóa luận

Trang 13

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ ĐẠI SỐ Ở LỚP 10 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG

LỰC

Trong chương I cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế một số chủ đề đại

số 10 theo hướng phát triển năng lực, chúng tôi trình bày một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài như: khái niệm năng lực, năng lực toán học, dạy học theo chủ đề để làm sáng tỏ và minh chứng cho lí luận khoa học của đề tài Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đi nghiên cứu về quy trình xây dựng chủ đề để từ đó thấy được mối quan hệ mật thiết giữa dạy học chủ đề và vấn đề phát triển năng lực học sinh Quá trình nhận thức của học sinh cùng với thực trạng dạy học và dạy học theo chủ đề ở các trường phổ thông hiện nay để đề tài kiểm chứng tính thực tiễn của đề tài

1.1 Một số vấn đề về dạy học theo hướng phát triển năng lực

1.1.1 Khái niệm năng lực

a, Khái niệm năng lực

Năng lực là một khái niệm được nhắc đến rất nhiều trong hầu hết lĩnh vực lí luận và thực tiễn Hiện nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:

- Theo John Erpenbeck 1998: “Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng

cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí”

- F.E.Weinert(2001) cho rằng: “Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi”

- OECD ( Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định “Năng lực

là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm

vụ trong một bối cảnh cụ thể” [9.tr12]

Như vậy, năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kỹ năng và thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, … nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định

Trang 14

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (tháng 7/2017) đã chỉ ra rằng: “ Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhau như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [4.tr35]

Ta có thể khái quát lại khái niệm năng lực như sau:

Năng lực = sự vận dụng kiến thức + kỹ năng + thái độ nhằm thực hiện nhiệm

vụ hiệu quả trong bối cảnh thực tế

b, Khái niệm năng lực toán học

Khái niệm năng lực toán học được tiếp cận trên hai phương diện:

- Được coi là một năng lực sáng tạo: Trong quá trình hoạt động khoa học toán học, những hoạt động này tạo ra được các kết quả và thành tựu có giá trị thực tiễn và lí luận trong đời sống của con người

- Được coi là năng lực học tập hoặc nghiên cứu toán học: có thể lĩnh hội và ứng dụng các tri thức toán học một cách dễ dàng và sâu sắc trong những điều kiện nhất định [7]

Trong Chương trình môn Toán của Chương trình giáo dục phổ thông [5] mới đưa ra 5 năng lực toán học của học sinh phổ thông đó là:

- Tư duy và lập luận toán học

- Sử dụng công cụ và phương tiện học toán

- Giao tiếp và hợp tác toán học

- Mô hình hóa toán học

- Giải quyết vấn đề toán học

Đặc điểm của năng lực toán học của học sinh THPT

Bảng 1.1 Các mức độ phát triển năng lực toán học của học sinh THPT Các thành tố của năng

lực toán học

Cấp trung học phổ thông Ví dụ minh họa

1 Năng lực tư duy và lập – Thực hiện được tương - GV đưa ra câu hỏi:

Trang 15

Các thành tố của năng

lực toán học

Cấp trung học phổ thông Ví dụ minh họa

luận toán học (I) thể hiện

qua việc thực hiện được

các hành động:

- So sánh; phân tích; tổng

hợp; đặc biệt hóa; khái

quát hóa; tương tự; quy

đối thành thạo các thao tác

tư duy, đặc biệt phát hiện được sự tương đồng và khác biệt trong những tình huống tương đối phức tạp

và lí giải được kết quả của việc quan sát ( I1)

– Sử dụng được các phương pháp lập luận, quy nạp và suy diễn để nhìn ra những cách thức khác nhau trong việc giải quyết vấn

đề ( I2)

- Nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề Giải thích, chứng minh, điều chỉnh được giải pháp thực hiện về phương diện toán học ( I3)

Khai triển phương trình

2 2

xyaxby c 

là phương trình đường tròn?

- HS có cơ hội phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học qua việc thực hiện các thao tác: + Nhận ra được nếu là pt đường tròn thì phải biến đổi được về dạng

  2 2 2

x a  y b R

+ Thực hiện thao tác biến đổi và xác định được điều kiện để là pt đường tròn

+ Xác định được tâm và bán kính

2 Năng lực mô hình hóa

toán học (II) thể hiện qua

việc thực hiện được các

hành động:

– Thiết lập được mô hình toán học (gồm công thức, phương trình, sơ đồ, hình

vẽ, bảng biểu, đồ thị, ) để

Ví dụ: Hai địa điểm A và

B cách nhau một hồ nước Người ta lấy một điểm C và đo được góc

Trang 16

và cải tiến mô hình nếu

cách giải quyết không phù

hợp

mô tả tình huống đặt ra trong một số bài toán thực tiễn ( II1)

– Giải quyết đƣợc những vấn đề toán học trong mô hình đƣợc thiết lập (II2)

– Lí giải đƣợc tính đúng đắn của lời giải (những kết luận thu đƣợc từ các tính toán là có ý nghĩa, phù hợp với thực tiễn hay không)

Đặc biệt, nhận biết đƣợc cách đơn giản hoá, cách điều chỉnh những yêu cầu thực tiễn (xấp xỉ, bổ sung thêm giả thiết, tổng quát hoá, ) để đƣa đến những bài toán giải đƣợc (II3)

bằng 60 , đoạn AC dài 60m Hãy tính khoảng cách từ A đến C

- HS có cơ hội phát triển năng lực mô hình hóa toán học qua việc thực hiện đƣợc các thao tác: + Vẽ tam giác ABC có các đỉnh biểu thị cho vị trí các đỉnh

+ Chuyển đƣợc tình huống thực tế sang mô hình toán học: “ Cho tam

BACBCA

AC= 60m Tính AB + Nhận ra đƣợc công thức liên hệ giữa yếu tố cần tìm và yếu tố đã biết

3 Năng lực giải quyết

- Lựa chọn và thiết lập đƣợc cách thức, quy trình

- Giáo viên cho HS thực hiện yêu cầu của bài toán sau: Ba máy trong một giờ sản xuất đƣợc 95 sản phẩm Số sản phẩm máy III làm trong 2 giờ nhiều hơn số sản phẩm máy I

và máy II làm trong một giờ là 10 sản phẩm Số sản phẩm máy I làm

Trang 17

công cụ và thuật toán) đẻ

giải quyết vấn đề đặt ra

– Đánh giá được giải pháp

đã thực hiện; phản ánh được giá trị của giải pháp;

khái quát hoá được cho vấn đề tương tự (III4)

trong 8 giờ bằng đúng số sản phẩm máy II làm trong 7 giờ Hỏi trong một giờ, mỗi máy sản xuất được bao nhiêu sản phẩm,

- HS có cơ hội phát triển năng lực giải quyết vấn

đề toán học qua việc thực hiện các thao tác: + Nhận biết được các đại lượng cần tìm

+ Biết gọi các đại lượng cần tìm làm ẩn

+ Xây dựng được các phương trình thể hiện sự liên hệ định lượng giữa các đại lượng

+ Giải được hpt và kết luận

4.Năng lực giao tiếp toán

học (IV) thể hiện qua việc

thực hiện được các hành

động:

– Nghe hiểu, đọc hiểu và

ghi chép được các thông

tin toán học cần thiết được

trình bày dưới dạng văn

bản toán học hay do người

– Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép (tóm tắt) được tương đối thành thạo các thông tin toán học cơ bản, trọng tâm trong văn bản nói hoặc viết Từ đó phân tích, lựa chọn, trích xuất được các thông tin toán học cần thiết từ văn bản

Trang 18

Các thành tố của năng

lực toán học

Cấp trung học phổ thông Ví dụ minh họa

khác nói hoặc viết ra

– Trình bày, diễn đạt (nói

hoặc viết) được các nội

dung, ý tưởng, giải pháp

toán học trong sự tương

tác với người khác (với

sự tương tác (thảo luận,

tranh luận) với người khác

– Thể hiện được sự tự tin

khi trình bày, diễn đạt, nêu

câu hỏi, thảo luận, tranh

luận các nội dung, ý tưởng

liên quan đến Toán học

– Lí giải được (một cách hợp lí) việc trình bày, diễn đạt, thảo luận, tranh luận các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (IV2)

– Sử dụng được một cách hợp lí ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường để biểu đạt cách suy nghĩ, lập luận, chứng minh các khẳng định toán học (IV3)

– Thể hiện được sự tự tin khi trình bày, diễn đạt, thảo luận, tranh luận, giải thích các nội dung toán học trong nhiều tình huống không quá phức tạp (IV4)

học thể hiện qua:

+ Chuyển đổi được ngôn ngữ bất phương trình về ngôn ngữ vị trí tương đối của hàm số

+ Xác định được tập hợp giá trị của x thỏa mãn

5 Năng lực sử dụng công

cụ, phương tiện học toán

(V) thể hiện qua việc:

– Nhận biết được tên gọi,

tác dụng, quy cách sử

dụng, cách thức bảo quản

– Nhận biết được tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các công cụ, phương tiện học toán (bảng tổng kết về các dạng hàm số, mô hình góc và

- Ví dụ bài 7c, trang 69, sách giáo khoa Đại số

10, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2015

a, Giải hệ phương trình

Trang 19

cụ, phương tiện học toán,

đặc biệt là phương tiện

– Sử dụng được máy tính

phương tiện công nghệ, nguồn tài nguyên trên mạng Internet để giải quyết một số vấn đề toán học (V2)

– Đánh giá được cách thức

sử dụng các công cụ, phương tiện học toán trong tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán học (V3)

- HS có cơ hội phát triển năng lực sử dụng công

cụ, phương tiện học toán qua việc:

+ Thiết lập được cách thức, quy trình giải bài toán

+ Học sinh sử dụng máy tính cầm tay để giải quyết vấn đề

Nội dung của bảng 1.1 gồm ba phần: các thành tố, yêu cầu cần đạt của năm năng lực toán học cho học sinh cấp THPT và phân tích ví dụ cụ thể của từng năng lực, với cấu trúc và nội dung như vậy sẽ thể hiện đầy đủ, hệ thống và rõ ràng các năng lực toán học đối với học sinh THPT Căn cứ vào đó giáo viên có thể tham khảo các mức chỉ số hành vi để thiết kế hoạt động, tổ chức dạy học môn Toán cấp THPT theo hướng PTNL

1.1.2 Các định hướng phát triển năng lực Toán học hiện nay

Với cách hiểu như trên về năng lực, việc dạy học thay vì chỉ dừng ở hướng tới mục tiêu dạy học hình thành kiến thức, kĩ năng và thái độ tích cực ở HS thì còn hướng tới mục tiêu xa hơn đó là trên cơ sở kiến thức, kĩ năng được hình thành, phát

Trang 20

triển khả năng thực hiện các hành động có ý nghĩa đối với người học Nói một cách khác việc dạy học định hướng phát triển năng lực về bản chất không thay thế mà chỉ

mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để HS được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái độ của mình Như vậy việc dạy học định hướng phát triển năng lực được thể hiện ở các trong các thành tố quá trình dạy học như sau:

- Về mục tiêu dạy học: Mục tiêu kiến thức- ngoài các yêu cầu về mức độ

như nhận biết, tái hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng kiến thức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế Với các mục tiêu về kĩ năng cần yêu cầu HS đạt được ở mức độ phát triển kĩ năng thực hiện các hoạt động

đa dạng Các mục tiêu này đạt được thông qua các hoạt động trong và ngoài nhà trường

- Về phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến

thức cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm

vụ thực tiễn Như vậy thông thường, qua một hoạt động học tập, HS sẽ được hình thành và phát triển không phải một loại năng lực mà là được hình thành đồng thời nhiều năng lực hoặc nhiều năng lực thành tố mà ta không cần (và cũng không thể) tách biệt từng thành tố trong quá trình dạy học

- Về nội dung dạy học: Cần xây dựng các hoạt động, chủ đề, nhiệm vụ đa

dạng gắn với thực tiễn

- Về kiểm tra đánh giá: Về bản chất đánh giá năng lực cũng phải thông qua

đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của HS trong các loại tình huống phức tạp khác nhau Trên cơ sở này, các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau đề ra các chuẩn năng lực trong giáo dục tuy có khác nhau về hình thức, nhưng khá tương đồng về nội hàm Trong chuẩn năng lực đều có những nhóm năng lực chung Nhóm năng lực chung này được xây dựng dựa trên yêu cầu của nền kinh tế xã hội ở mỗi nước Trên cơ sở năng lực chung, các nhà lí luận dạy học bộ môn cụ thể hóa thành những năng lực chuyên biệt Tuy nhiên không dừng ở các năng lực chuyên biệt, các tác giả đều cụ thể hóa thành các năng lực thành phần, những năng lực thành phần này được cụ thể hóa thành các thành tố liên quan đến kiến thức, kĩ năng… để định hướng quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá của GV

Trang 21

1.1.3 Các PPDH và KTDH thường dùng trong dạy học PTNL hiện nay ở Việt Nam

Để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh, cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau, đặc biệt cần tổ chức các hoạt động học tập gắn liền với thực tiễn để kích thích và hoạt động hóa người học Một

số biện pháp phát triển năng lực người học hiện nay đó là vận dụng các phương pháp dạy học tích cực và vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực

+ Phương pháp dạy học bài tập tình huống: Trọng tâm là việc phân tích và giải quyết các vấn đề của một trường hợp (tình huống) được lựa chọn trong thực tiễn

+ Phương pháp đóng vai: là PP tổ chức cho HS thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một vai giả định

+ Phương pháp trò chơi: là PPDH thông qua việc tổ chức các trò chơi phù hợp với HS

+ PP Bàn tay nặn bột: là PPDH thông qua các thí nghiệm nghiên cứu

Một số kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực học tập của HS:

+ Kỹ thuật chia nhóm: Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm, theo hình ghép, theo sở thích, theo tháng sinh

+ Kĩ thuật đặt câu hỏi: Ngắn gọn, rõ ràng, đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với trình độ HS, kích thích suy nghĩ của HS

+ Kĩ thuật khăn trải bàn: HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm có 1 tờ giấy Ao Mỗi thành viên sẽ viết suy nghĩ của mình vào các cạnh của khăn trải bàn sau đó thảo luận, tìm ra ý chung để viết vào giữa

Trang 22

+ Kĩ thuật phòng tranh: GV nêu vấn đề, HS phác họa ý tưởng trên 1 tờ bìa và treo quanh phòng HS cả lớp đi xem triển lãm và thống nhất phương án tối ưu

+ Kĩ thuật công đoạn: HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm giải quyết một nhiệm vụ và ghi vào giấy sau đó sẽ luân chuyển tờ giấy ghi kết quả đến khi nhóm nhận lại được tờ giấy ghi KQ của nhóm mình để hoàn thiện và treo kết quả thảo luận xung quanh lớp

+ Kĩ thuật động não: GV nêu vấn đề, HS suy nghĩ nhanh để đưa ra phương

án trả lời trong 1 TG nhất định, càng nhiều câu trả lời càng tốt

+ Kỹ thuật trình bày 1 phút: HS có 1 phút để trình bày, tổng kết lại các kiến thức đã học

+ Kỹ thuật "Bể cá: dùng cho TL nhóm, 1 nhóm ngồi giữa lớp TL, những người học khác ngồi xung quanh vòng ngoài theo dõi cuộc TL đó và đưa ra nhận xét về việc thảo luận của những người ở vòng trong

1.2 Dạy học theo chủ đề và vấn đề phát triển năng lực học sinh

1.2.1 Khái niệm dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung

từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn [12]

Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn

Dạy học theo chủ đề gồm ba loại: dạy học theo chủ đề nội môn, chủ đề liên môn, chủ đề tích hợp, liên môn

- Chủ đề nội môn: Là các chủ đề được xây dựng bằng cách cấu trúc lại nội dung kiến thức theo môn học trên cơ sở nghiên cứu chương trình SGK hiện hành đảm bảo các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ

Trang 23

-Chủ đề liên môn: Bao gồm các nội dung dạy học gần giống nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau (có thể đang trùng nhau) trong các môn học của chương trình hiện hành, biên soạn thành chủ đề liên môn

-Chủ đề tích hợp, liên môn: Có nội dung giáo dục liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu chủ

đề nội môn

1.2.2 Mục tiêu của dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cho lớp học truyền thống (với đặc trưng là những bài học ngắn, cô lập, những hoạt động lớp học mà giáo viên giữ vai trò trung tâm) bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, với trung tâm tập trung vào học sinh và nội dung tích hợp với những vấn đề, những thực hành gắn liền với thực tiễn

Với mô hình này, học sinh có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề xác thực, có hệ thống và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau Các em thu thập thông tin từ nhiều nguồn kiến thức

Việc học của học sinh thực sự có giá trị vì nó kết nối với thực tế và rèn luyện được các kĩ năng hoạt động và kĩ năng sống Học sinh cũng được tạo điều kiện minh họa kiến thức mình vừa nhận được và đánh giá mình học được bao nhiêu và giao tiếp tốt như thế nào.Với cách tiếp cận này, vai trò của giáo viên chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo thay vì quản lý trực tiếp học sinh làm việc

Dạy học theo chủ đề ở bậc trung học là sự cố gắng tăng cường tích hợp kiến thức, làm cho kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều; là sự tích hợp vào nội dung những ứng dụng kĩ thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học có

ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn Một cách hoa mỹ; đó là việc “thổi hơi thở” của cuộc sống vào những kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng “cuộc sống thật” trong các bài học

Trang 24

Bảng 1.2 So sánh giữa dạy học the chủ đề và dạy học theo hướng tiếp cận

truyền thống hiện nay Dạy học theo cách tiếp cận

truyền thống hiện nay

Dạy học theo chủ đề

1- Tiến trình giải quyết vấn đề tuân theo

chiến lược giải quyết vấn đề trong khoa

học vật lý: logic, chặt chẽ, khoa học do

giáo viên (SGK) áp đặt (GV là trung

tâm)

1- Các nhiệm vụ học tập được giao, học sinh quyết định chiến lươc học tập với

sự chủ động hỗ trợ, hợp tác của giáo viên (Học sinh là trung tâm)

2- Nếu thành công có thể góp phần đạt

tới mức nhiều mục tiêu của môn học

hiện nay: chiếm lĩnh kiến thức mới

thông qua hoạt động, bồi dưỡng các

phương thức tư duy khoa học và các

phương pháp nhận thức khoa học: PP

thực nghiệm, PP tượng tự, PP mô hình,

suy luận khoa học…)

2- Hướng tới các mục tiêu: chiếm lĩnh nội dung kiến thức khoa học, hiểu biết tiến trình khoa học và rèn luyện các kĩ năng tiến trình khoa học như: quan sát, thu thập thông tin, dữ liệu; xử lý (so sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệ…thông tin); suy luận, áp dụng thực tiễn

3- Dạy theo từng bài riêng lẻ với một

thời lượng cố định

3- Dạy theo một chủ đề thống nhất được

tổ chức lại theo hướng tích hợp từ một phần trong chương trình học

4- Kiến thức thu được rời rạc, hoặc chỉ

có mối liên hệ tuyến tính (một chiều

theo thiết kế chương trình học)

4- Kiến thức thu được là các khái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới với nhau

6- Kết thúc một chương học, học sinh

không có một tổng thể kiến thức mới mà

có kiến thức từng phần riêng biệt hoặc

có hệ thống kiến thức liên hệ tuyến tính

6- Kết thúc một chủ đề học sinh có một tổng thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và khác với nội dung trong sách giáo

Trang 25

Dạy học theo cách tiếp cận

truyền thống hiện nay

Dạy học theo chủ đề

7- Kiến thức còn xa rời thực tiễn mà

người học đang sống do sự chậm cập

nhật của nội dung sách giáo khoa

7- Kiến thức gần gũi với thức tiễn mà học sinh đang sống hơn do yêu cầu cập nhật thông tin khi thực hiện chủ đề 8- Kiến thức thu được sau khi học

thường là hạn hẹp trong chương trình,

nội dung học

8- Hiểu biết có được sau khi kết thúc chủ

đề thường vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung cần học do quá trình tìm kiếm, xử

lý thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của học sinh

9- Không thể hướng tới nhiều mục tiêu

nhân văn quan trọng như: rèn luyện các

kĩ năng sống và làm việc: giao tiếp, hợp

tác, quản lý, điều hành, ra quyết định…

9- Có thề hướng tới, bồi dưỡng các kĩ năng làm việc với thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác

* Điểm tương đồng giữa dạy học chủ đề và dạy học truyền thống là VẪN

COI VIỆC LĨNH HỘI NỘI DUNG LƯỢNG KIẾN THỨC NỀN TẢNG, vì thế dạy học theo chủ đề là mô hình dạy học có thể vận dụng vào thực tiển hiện nay dễ dàng hơn một số mô hình khác Điều cần làm để có thể vận dụng nó là phải tổ chức lại một số bài học thành một chủ đề được cho là sự tích hợp tốt hơn, có ý nghĩa thực tiễn hơn cách trình bày của sách giáo khoa mà chúng ta đang có

* Điểm khác biệt cơ bản dẫn tới nhiều khác biệt ở trên là:

Một, dạy học theo chủ đề cũng như một số mô hình tích cực khác, giáo viên không được coi học sinh là chưa biết gì trước nội dung bài học mới mà trái lại, luôn phải nghĩ rằng các em tự tin và có thể biết nhiều hơn ta mong đợi, vì thế dạy học cần tận dụng tối đa kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng có sẵn của các em và khuyến khích khả năng biết nhiều hơn thế của học sinh về một vấn đề mới để giảm tối đa thời gian và sự thụ động của học sinh trong khi tiếp nhận kiến thức mới, để tăng hiểu biết lên nhiều lần so với nội dung cần dạy

Trang 26

Hai, dạy học theo chủ đề nhắm tới việc sử dụng kiến thức, hiểu biết vào thực tiễn các nhiệm vụ học tập nhắm tới sự lĩnh hội hệ thống kiến thức có sự tích hợp cao, tinh giản và tính công cụ cao, đồng thời hướng tới nhiều mục tiêu giáo dục tích cực khác (vận dụng các năng lực), trong khi dạy học theo truyền thống lại coi trọng việc xây dựng kiến thức nên chỉ nhắm tới các mục tiêu được cho là quá trình này có thể mang lại

Ba, trong dạy học theo chủ đề kiến thức mới được học sinh lĩnh hội trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập, đó là kiến thức tổ chức theo một tổng thể mới khác với kiến thức trình bày trong tất cả các nguồn tài liệu Hơn nữa, với việc học sinh lĩnh hội kiến thức trong quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập, cũng mang lại một lợi thế to lớn đó là mở rộng không gian, thời gian dạy học, tinh giản thời gian dạy, độ ứng dụng thực tế cao hơn nhiều

Bốn, với dạy học theo chủ đề, vai trò của giáo viên và học sinh cơ bản là thay đổi và khác so với dạy học truyền thống Người giáo viên từ chỗ là trung tâm trong mô hình truyền thống đã chuyển sang là người hướng dẫn, học sinh là trung tâm[12]

1.2.3 Mối quan hệ giữa dạy học theo chủ đề với phát triển năng lực học sinh

Dạy học chủ đề là một hình thức dạy học tích cực do đó với những lợi thế về đặc điểm như đã so sánh ở trên so với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống, dạy học chủ đề chính là bước chuẩn bị tương đối phù hợp cho đổi mới chương trình và sách giáo khoa trong thời gian tới

Dạy học chủ đề giúp học sinh hiểu biết những vấn đề cơ bản trong chương trình, có khả năng củng cố, sử dụng kiến thức đó để tổng kết, hệ thống hóa chuỗi kiến thức không chỉ ở một môn học mà các môn học có liên quan Như vậy, dạy học theo chủ đề không chỉ tạo ra hứng thú, niềm đam mê, năng lực học tập mà còn hình thành cho học sinh năng lực tự học, tự tìm tòi nghiên cứu phù hợp với trình độ, yêu cầu cần đạt của chương trình

Nội dung của dạy học chủ đề không dừng lại ở mức độ yêu cầu học sinh nhận biết mà phải thông hiểu và biết vận dụng, vận dụng ở mức độ cao, đồng thời biết phân tích, tổng hợp, đánh giá Như vậy, dạy học theo chủ đề không chỉ nhằm cung cấp kiến thức mà mục tiêu là hình thành năng lực và phẩm chất người học

Trang 27

Dạy học chủ đề trong nhà trường phổ thông luôn chú trọng đến việc giáo dục thái độ, tình cảm, tư tưởng, kĩ năng sống, phát triển năng lực người học, quán triệt nguyên lí học đi đôi với hành

1.3 Quy trình thiết kế chủ đề dạy học môn Toán:

Quy trình thiết kế dạy học theo chủ đề gồm có 5 bước:

Bước 1: Phân tích nội dung chương trình và đặt tên cho chủ đề

Bước đầu tiên cần phân tích nội dung của chương trình để xác định các chủ

đề trọn vẹn Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa, giáo viên xác định các nội dung kiến thức liên quan với nhau được thể hiện ở một số bài/ tiết hiện hành, từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành một chủ đề dạy học trong môn học

Chương trình Đại số 10 có nội dung kiến thức tương đối mới đối với học sinh, mạch kiến thức khá rời rạc nhau Toàn bộ chương trình Đại số 10 được cấu thành 6 chương trong đó chương 1 khái quát về mệnh đề và tập hơp, chương 2 về hàm số, chương 3 và 4 đề cập đến phương trình, hệ phương trình và bất phương trình, chương 5 về thống kê, chương 6 về cung và góc lượng giác,công thức lượng giác

Tuy nhiên số lượng tiết cho chủ đề cần có dung lượng vừa phải ( khoảng từ 2-5 tiết) để việc biên soạn và tổ chức thực hiện khả thi, đảm bảo tổng số tiết của chương trình sau khi biên soạn để không có chủ đề nào thừa hoặc thiếu so với thời lượng quy định trong chương trình hiện hành Qua đó từ các chủ đề lớn có thể phân thành các chủ đề nhỏ phù hợp cho việc dạy trên lớp Ví dụ như chương: “Mệnh đề

và tập hợp” ta có thể chia thành hai chủ đề nhỏ là chủ đề: “Mệnh đề “và chủ đề:

“Tập hợp và các phép toán”

Bước 2: Xác định mục tiêu cho chủ đề

Khi nghiên cứu chủ đề, giáo viên cần xác định trọng tâm của chủ đề, dự kiến các hoạt động học tập sẽ thiết kế cho học sinh để đạt được mục tiêu bài học

Mục tiêu của chủ đề phải được thiết kế bao gồm các nội dung trình bày dưới dạng chuẩn đầu ra Cũng có nghĩa là, mục tiêu bao gồm các chỉ số hành vi có thể quan sát, mô tả, đánh giá được

Trang 28

Chủ đề có thể là một bài hoặc gồm nhiều bài có nội dung liên quan chặt chẽ với nhau Do đó, mục tiêu của chủ đề là mục tiêu bao quát, chung nhất đánh giá được toàn bộ các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng học sinh cần đạt được trong chủ đề

Khi viết mục tiêu chủ đề, giáo viên cần sử dụng các động từ đo được để viết như: trình bày, phát biểu, xác định, phân tích, giải thích, so sánh, vận dung,…

Nếu trước đây, giáo viên có thói quen xác định mục tiêu bài học thông qua yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh sau mỗi bài học Cách diễn đạt mục tiêu như vậy mới nêu được các kết quả cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ, chưa phản ánh được rõ ràng đầy đủ yêu cầu phát triển các năng lực toán học sau bài học, tức là chưa đáp ứng được dạy học phát triển năng lực Mà cách trình bày này không phù hợp và trùng lặp về nội dung vì năng lực đã bao gồm cả kiến thức, kĩ năng và thái độ Chúng ta có thể thay đổi như sau: Thay vì trình bày các kết quả cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ, giáo viên nêu ra các hoạt động của học sinh để đạt được các kết quả trên Từ đó, thay vì khi phát biểu mục tiêu học tập, giáo viên dùng các từ ngữ như: “hiểu”, “biết”, “ nắm vững”,….thì giờ có thể đổi thành học sinh “ nói được”, “ nói/ viết đúng”, “ mô tả được”, “sử dụng” ,….[7.tr53]

Ví dụ 1: Mô tả mục tiêu của chủ đề: “Hàm số bậc hai”

- Thiết lập được bảng giá trị của hàm số bậc hai

- Vẽ được Parabola (parabol) là đồ thị hàm số bậc hai

- Nêu được các tính chất cơ bản của Parabola như đỉnh, trục đối xứng

- Giải thích được các tính chất của hàm số bậc hai thông qua đồ thị

- Giải quyết bài toán thực tiễn (ví dụ: xác định độ cao của cầu, cổng có hình dạng Parabola, ) thông qua việc vận dụng được kiến thức về hàm số bậc hai và đồ

thị

Bước 3: Xác định nội dung kiến thức của chủ đề

- Giáo viên cần xác định những nội dung của chủ đề nằm trong bài nào, chương nào của SGK hiện hành Sắp xếp theo trình tự kiến thức từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, sắp xếp thứ tự các tiết học theo trình tự các tiết

- Lựa chọn nội dung từ các nguồn học liệu khác nhau, so sánh đối chiếu với chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa để xây dựng nội dung chủ đề

Trang 29

- Cập nhật thông tin để xây dựng nội dung chủ đề sao cho đảm bảo tính hiện đại

- Nội dung chủ đề phù hợp với trình độ học sinh, địa phương và liên hệ thực tiễn

Ví dụ 2: Xác định nội dung của chủ đề: Hàm số bậc hai

Theo CTPT hiện hành thì chủ đề nằm ở bài 3, chương II.Hàm số bậc nhất và bậc hai Mạch kiến thức mà học sinh cần nắm được là: Khái niệm và dạng của hàm

số bậc hai, Đồ thị hàm số bậc hai, cách vẽ đồ thi hàm số, Bảng biến thiên của hàm

số bậc hai, Ứng dụng vào thực tiễn và giải toán

Bước 4: Thiết kế các câu hỏi kiểm tra, đánh giá chủ đề

Các câu hỏi và kiểm tra đánh giá chủ đề cần nhấn mạnh đánh giá theo hướng hình thành và phát triển năng lực người học, vì vậy trước khi thiết kế câu hỏi đánh giá, giáo viên cần thiết kế ma trận yêu cầu cần đạt được cho mỗi chuyên đề với mức

độ khác nhau và tập trung vào 4 mức độ yêu cầu: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao

Bảng 1.3 Mô tả câu hỏi sử dụng trong tổ chức hoạt động dạy học và kiểm tra,

đánh giá, luyện tập theo chủ đề Mức

- Em có thể viết lại định nghĩa/ định lý … bằng kí hiệu?

Trang 30

câu hỏi và trả lời được

câu hỏi tương tự hoặc

- Em có thể biết một trường hợp khác mà ở đó…?

- Em có thể áp dụng những phương pháp, kĩ thuật nào để

xử lý…?

- Em có thể rút ra bài học gì…?

- Em có biện pháp nào cho…?

- Điều gì xảy ra nếu…?

- Em nghĩ có bao nhiêu cách để…?

- Em có thể thiết kế một…để…?

- Thiết kế các lời giải cho

Trang 31

Mức

độ

Biểu hiện Các động từ

thường dùng

Các câu hỏi gợi ý

vấn đề mới hoặc không

quen thuộc, chưa từng

học hay được trải

nghiệm trước đó

một bài toán kiểu…để mờ…?

Bước 5: Thiết kế tiến trình dạy học

Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề thành các hoạt động học được tổ chức cho

HS có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng

Để thiết kế các hoạt động học tập, ta cần xác định các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực và các phương tiện dạy học để

tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh

Quy trình tổ chức hoạt động học theo chủ đề được thực hiện qua 4 bước:

- Hoạt động khởi động: Giúp kích thích, tạo hứng thú người học trước khi

học bài mới hoặc huy động các kiến thức học sinh đã có phục vụ cho việc học kiến thức mới;

- Hoạt động hình thành kiến thức: Học sinh được trải nghiệm,hợp tác để

học kiến thức mới của chủ đề, đồng thời phát triển các kĩ năng;

- Hoạt động luyện tập và vận dụng: Học sinh luyện tập các kiến thức, kĩ

năng đã học thông qua các bài tập và vận dụng những kiến thức vừa học để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong thực tiễn;

- Hoạt động tìm tòi mở rộng: Học sinh tiếp tục tìm hiểu và mở rộng kiến

thức ngoài những kiến thức thu được

Trong mỗi hoạt động hình thành kiến thức, ta cần xác định rõ mục tiêu, nội dung và đánh giá mỗi hoạt động Nếu chủ đề có nhiều tiết thì phần mục tiêu không cần lặp lại nhưng phải làm rõ được mục tiêu chung

1.4 Thực trạng dạy học và dạy học theo chủ đề ở trường phổ thông hiện nay

a, Phân tích đặc điểm chương trình SGK Toán 10 trung học phổ thông

Trang 32

Nội dung chương trình môn Toán được tích hợp xoay quanh ba mạch kiến thức: Số, Đại số và Một số yếu tố giải tích; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất

Chương trình môn Toán lớp 10 bao gồm 2 ban: ban cơ bản và ban nâng cao Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên cứu nội dung phần Đại số chương trình Toán 10 ban cơ bản

Nội dung chương trình Toán 10 phần Đại số ban cơ bản gồm những điểm như sau:

- Về mặt kiến thức: Chương trình Đại số lớp 10 ban cơ bản được cấu tạo

bởi 2 phần kiến thức đại cương về Đại số và Một số yếu tố giải tích; Thống kê và xác xuất

- Về nội dung chương trình: So với chương trình phần Đại số môn Toán

lớp 10 từ trước năm 2005- 2006 trở về trước, chương trình phần Đại số môn Toán lớp 10 sau năm 2005- 2006, hoàn thiện hơn, khoa học hơn và cập nhật hơn, tuy nhiên không có nhiều sự thay đổi chỉ tinh giảm lượng kiến thức ở phần Thống kê và xác xuất

Nội dung chương trình phần Đại số môn Toán lớp 10 được chia ra làm 6 chương

+ Chương I: Mệnh đề, tập hợp

+ Chương II: Hàm số bậc nhất và bậc hai

+ Chương III: Phương trình, hệ phương trình

+ Chương IV: Bất đẳng thức, bất phương trình

+ Chương V: Thống kê

+ Chương VI: Cung và góc lượng giác Công thức lượng giác

b, Thực trạng dạy học và dạy học theo chủ đề ở trường phổ thông hiện nay

Hiện nay ở các trường THPT việc dạy học và thay đổi PPDH đã và đang được triển khai đến từng tiết học trong đó dạy học theo chủ đề đã thu được những kết quả nhất định

Đa số GV đều sử dụng linh hoạt các PPDH và đạt hiệu quả, tuy nhiên một số

GV còn ngại thay đổi và áp dụng các PPDH vì một số nguyên nhân khách qua: GV

Trang 33

ngại soạn giảng vì cho rằng tốn nhiều thời gian, cơ sở trang thiết bị còn hạn chế, trình độ nhận thức của HS không đồng đều… Thông qua quá trình khảo sát về dạy học theo chủ đề và sự am hiểu về mục đích của việc dạy học theo chủ đề ta thấy: 60,00(%) GV cho rằng dạy học theo chủ đề là rất quan trọng; 26,67 (%) GV cho là quan trọng; 13,33(%) GV phân vân; không có ý kiến nào nói về sự không quan trọng của dạy học theo chủ đề Tuy nhiên một số GV vẫn còn lúng túng trong dạy học theo chủ đề cụ thể GV chưa nắm được đầy đủ nội dung, chưa thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình dạy học, chưa tìm hiểu nhiều về tài liệu tham khảo, các chủ đề có thể dạy học…vì vậy mà còn nhiều hạn chế đây là khó khăn trong việc nâng cao chất lượng dạy học theo chủ đề của GV Dạy học theo chủ đề không phải

là mô hình dạy học hoàn toàn mới, trong những năm vừa qua sở GD- ĐT Hà Nội đã

tổ chức rất nhiều các lớp tập huấn cho GV các cấp về thay đổi PPDH Tuy nhiên, việc quan tâm đến mô hình này mới chỉ dừng lại ở bước đầu tiếp cận Song, căn cứ vào thực tiễn và kế hoạch đổi mới căn bản nền giáo dục hiện nay, có thể khẳng định

mô hình dạy học này sẽ còn tiếp tục được nghiên cứu và thử nghiệm để có được những bài học kinh nghiệm xác đáng trước khi chính thức áp dụng phục vụ cho chủ trương đối mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay

Nhìn lại quá trình tiếp cận và triển khai, có thể liệt kê ra một số chủ trương lớn và các hoạt động bổ trợ liên quan đã và đang cụ thể hóa trong “khâu chuẩn bị” trong lộ trình xây dựng mô hình dạy học theo chủ đề ở nước ta như sau:

+ Tập huấn về đổi mới kiểm tra đánh giá đầu ra theo định hướng phát triển năng lực học sinh (2014) Thực chất, đây là khâu “đi tắt, đón đầu” trong lộ trình trang bị kiến thức cần thiết cho giáo viên dần tiếp cận việc dạy học theo chủ đề, trước khi có sự đổi mới căn bản và toàn diện giáo sau năm 2015 Đây cũng là bước đệm quan trọng của Bộ GD & ĐT nhằm trang bị cho giáo viên những kỹ năng, thao tác, quy trình để giáo viên có thể áp dụng trước vào khâu kiểm tra đánh giá học sinh khi các em tham gia vào một tiết học theo chủ đề

+ Ở Hà Nội, các nội dung trên cũng đã được tổ chức, kèm theo đó là Kế hoạch tổ chức Hội thi dạy học theo chủ đề tích hợp bảo vệ động vật hoang dã, sử dụng kiến thức liên môn để giải quyết nội dung bài dạy ở các bộ môn năm 2014 (trong đó có môn Toán học) cũng là minh chứng cho thấy tình hình ứng dụng dạy học theo chủ đề hiện nay là có cơ sở và được quan tâm nhiều từ các phía ban ngành

Trang 34

Các hoạt động trên, chính là tiền đề thuận lợi giúp giáo viên bộ môn có cơ hôi tiếp cận mô hình dạy học này trong giai đoạn sắp tới mà không vấp phải sự bỡ ngỡ, khó khăn ngay khi chúng ta bước vào giai đoạn thực hiện khung chương trình đổi mới giáo dục

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trong chương I chúng tôi đã nghiên cứu về năng lực, năng lực toán học biểu hiện các thành tố của năng lực và các định hướng phát triển năng lực môn toán hiện nay Chúng tôi nghiên cứu về dạy học theo chủ đề và vấn đề phát triển năng lực học sinh để từ đó trả lời câu hỏi tại sao dạy học theo chủ đề lại phát triển được năng lực học sinh, từ đó chúng tôi đưa ra quy trình thiết kế chủ đề theo hướng phát triển năng lực Tuy nhiên, thực trạng dạy học theo chủ đề hiện nay chưa được phổ biến và gặp đôi chút có khăn trong việc xây dựng nên ở Chương II chúng tôi sẽ làm rõ hơn để thấy được vai trò của dạy học theo chủ đề đã phát triển được năng lực của học sinh như thế nào Vì vậy chương I là cơ sở để xây dựng nên một chủ đề dạy học đáp ứng được nhu cầu dạy và học, khi thiết kế chủ đề dạy học ta phải tuân theo nguyên tắc thiết kế và bám sát vào quy trình

Trang 35

CHƯƠNG II: THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ ĐẠI 10 THEO HƯỚNG PHÁT

TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 2.1 Nguyên tắc thiết kế

- Phải đảm bảo mục tiêu giáo dục, hình thành và phát triển các năng lực cần thiết cho người học

- Đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, mang tính thiết thực, có ý nghĩa với người học

- Đảm bảo tính khoa học

- Đảm bảo tính sư phạm

- Đảm bảo tính thời sự

- Tăng tính thực tiễn, tính thực hành, quan tâm tới những vấn đề mang tính

xã hội của địa phương

1 Phân tích nội dung chương trình và đặt tên cho chủ đề

Nội dung kiến thức về hàm số là một trong những nội dung trọng tâm của chương trình Đại số 10 Dưới đây là sự phân tích giữa chương trình SGK hiện hành

và Chương trình GDPT tổng thể:

Theo SGK hiện hành thì phần nội dung

hàm số nằm ở Chương II.Hàm số bậc

Theo chương trình GDPT tổng thể vì phần nội dung Hàm số và đồ thị được

Trang 36

nhất và bậc hai, bao gồm 3 bài:

- Hàm số

- Hàm số y = ax+b

- Hàm số bậc hai

chia gồm 4 nội dung lớn:

- Khái niệm cơ bản về hàm số và

đồ thị

- Hàm số bậc hai, đồ thị hàm số bậc hai và ứng dụng

- Dấu của tam thức bậc hai Bất phương trình bậc hai một ẩn

- Phương trình quy về phương trình bậc hai

Như vậy, theo chương trình mới thì phần nội dung hàm số và đồ thị có sự liên kết với các mạch kiến thức phần phương trình hay chính xác là ứng dựng của hàm số đề giải phương trình Hàm số bậc hai học sinh đã được giới thiệu ở lớp 9 và

ở lớp 10 thì kiến thức phần này được củng cố và hoàn thiện hơn, học sinh được giới thiệu về đồ thị và sự biến thiên của hàm số bậc hai, qua đó tạo nền tảng cho nội dung kiến thức về sau Do đó dựa vào nội dung chương trình, tôi chọn chủ đề là “ Hàm số bậc hai” Theo CTPT hiện hành thì chủ đề nằm ở bài 3, chương II.Hàm số bậc nhất và bậc hai

2 Mục tiêu cho chủ đề

Chương trình giáo dục phổ thông quy định mức độ cần đạt về kiến thức, kĩ năng của chủ đề “Hàm số bậc hai” như sau:

có hình dạng Parabola, ) thông qua việc vận dụng kiến thức về hàm

số bậc hai và đồ thị

3 Nội dung kiến thức của chủ đề

Trang 37

Với chủ đề “Hàm số bậc hai” mạch kiến thức mà học sinh cần nắm đƣợc là: Khái niệm và dạng của hàm số bậc hai, Đồ thị hàm số bậc hai, cách vẽ đồ thi hàm

số, Bảng biến thiên của hàm số bậc hai, Ứng dụng vào thực tiễn và giải toán

Sơ đồ nội dung đƣợc thể hiện nhƣ sau:

4 Thiết kế các câu hỏi kiểm tra, đánh giá chủ đề

Mô tả câu hỏi sử dụng trong tổ chức hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề: “ Hàm số bậc hai “

mục tiêu

Nhận biết 1 Trong các hàm số sau, hàm số nào là hàm số bậc

hai?

2 2

, 2 3, 5

, 0 4 5, ( 2)

d y x x

  

 

2.Trong các khẳng định sau, khẳng định nào đúng?

a, Hàm số đồng biến khi a>0

2

b a

hai

Chiều biến thiên của hàm số bậc hai

Ứng dụng vào thực tiễn và giải toán

Trang 38

Mức độ Các câu hỏi, bài tập gợi ý Hoàn thành

mục tiêu

2

b a

 

 

 

Thông hiểu 1 Em hãy nêu một ví dụ về hàm số bậc hai một ẩn,

một ví dụ không phải là hàm số bậc hai một ẩn?

2 Xác định tọa độ đỉnh của các parabol sau?

2 2 2 2

a, Đi qua điểm M(1;5), N(-2;8)

b, Có đỉnh I(2;-2)

MT 3, MT 4

Trang 39

Mức độ Các câu hỏi, bài tập gợi ý Hoàn thành

Bài toán đo chiều cao của cổng Acxo Khi đi du lịch

đến thành phố Lui ta sẽ thấy một cái cổng lớn dạng Parabol bề lõm quay xuống dưới Đó là cổng Acxo(

hình vẽ)

Làm như thế nào để tính chiều cao của cổng ( khoảng cách từ điểm cao nhất của cổng đến mặt đất)

MT 5

5 Thiết kế tiến trình dạy học

Giai đoạn 1: Hoạt động khởi động

a, Mục tiêu: Tạo chú ý, cảm hứng, thích thú cho học sinh và bài mới

b, Nội dung: GV chia lớp thành 3 nhóm Các nhóm làm bài toán sau ra bảng phụ và trình bày báo cáo

Ví dụ 1: Bố bạn A gửi 10 triệu đồng và một ngân hàng với lãi suất x/tháng.Biết rằng nếu không rút tiền ra khỏi ngân hàng thì cứ sau mỗi tháng, số tiền lãi sẽ được nhập làm vốn ban đầu để tính lãi cho tháng tiếp theo Tính số tiền cả vốn lẫn lãi mà bố bạn A có được khi tiết kiệm 1 tháng, 2 tháng

c, Phương pháp:

Trang 40

HS: + Xây dựng được phương trình thể hiện số tiền bố bạn Lan có sau 1

tháng

+ Xây dựng được phương trình thể hiện mỗi liên hệ giữa số tiền của tháng thứ 2 và tháng thứ 1

+ Đưa ra đáp án bài toán

+ Nếu HS gặp khó khăn, giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi ý để học sinh giải được

d, Đánh giá: GV yêu cầu HS tự đánh giá và nhận xét chéo nhau

Giáo viên nhận xét, đánh giá, kết luận kết quả

Giai đoạn 2: Hình thành kiến thức

GV cho học sinh hoạt động theo nhóm, tạo cơ hội cho các nhóm giao lưu chia sẻ cách học với nhau

- Hoạt động 1: Hình thành khái niệm hàm số bậc hai

GV: Từ ví dụ trên, em có nhận xét gì về dạng của phương trình về số tiền

của tháng thứ 2, nó có phải hàm số không?

HS: Hàm số bậc hai được cho bởi công thức: 2

( 0).

yaxbx ca Tập xác định của hàm số này là D

- Hoạt động 2:Giới thiệu về đồ thị của hàm số bậc hai

GV: Giao nhiệm vụ cho các nhóm:

HS: Thực hiện nhiệm vụ được giao theo nhóm

đồ thị Trục đối xứng là Oy Bề lõm quay xuống

Ngày đăng: 22/08/2019, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Nguyễn Bá Kim (Chủ biên), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB GD, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Nhà XB: NXB GD
[6]. Bộ Giáo dục và đào tạo, Sách giáo khoa Đại số 10, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Đại số 10
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
[7]. Vũ Quốc Chung, Thiết kế bài soạn môn Toán phát triển năng lực học sinh tiểu học, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài soạn môn Toán phát triển năng lực học sinh tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
[8]. Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội, Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, NXB GD, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB GD
[10].Hoàng Thị Kim Huyền, Xây dựng chủ đề dạy học phần “ Sinh học vi sinh vật”, Tạp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chủ đề dạy học phần “ Sinh học vi sinh vật”
[11].Nguyễn Chiến Thắng, Khai thác một số tình huống trong dạy học môn Toán lớp 10 nhằm phát triển năng lực tính toán cho học sinh, Tạp chí Giáo dục số 402.chí giáo dục số đặc biệt 185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác một số tình huống trong dạy học môn Toán lớp 10 nhằm phát triển năng lực tính toán cho học sinh
[1]. Nghị quyết số 29 hội nghị trung ƣơng 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục ngày 04/11/2013 Khác
[2]. Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Khác
[4]. Bộ giáo dục và đào tạo, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Khác
[5]. Bộ giáo dục và đào tạo, Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông môn Toán Khác
[9]. SEAMEO innotech (2010), Teaching competency standards in Southeast Asian countries: eleven country audit Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w