1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng tiền tăng huyết áp và kiến thức, thực hành của người dân 40 49 tuổi tại 2 xã thuộc thành phố thái bình tỉnh thái bình năm 2018

99 118 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, để góp phần cải thiện một số yếu tố nguy cơ và hạn chế của tiền tăng huyết áp tại cộng đồng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng tiền tăng huyết áp và kiến thức,th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

BÙI THANH LỊCH

THỰC TRẠNG TIỀN TĂNG HUYẾT ÁP VÀKIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN 40- 49 TUỔI TẠI 2 XÃ THUỘC THÀNH PHỐ THÁI BÌNH,

TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Thái Bình – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

BÙI THANH LỊCH

THỰC TRẠNG TIỀN TĂNG HUYẾT ÁP

VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN 40- 49 TUỔI TẠI 2 XÃ THUỘC THÀNH PHỐ THÁI BÌNH,

Trang 3

LỜI CẢMƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế Công cộng cùng các Thầy, Côtại Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ tại trạm y tế, các nhân viên y tế thôn tại xã Đông Mỹ và xã Vũ Chính đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, làm việc và thu thập số liệu để hoàn thành luận văn đúng tiến độ

Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi tới hai Thầy, Cô hướng dẫn của mình là TS.Đặng Bích Thủy và PGS.TS Vũ Phong Túc, đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã thường xuyên động viên, khích lệ và tạo điều kiện để tôi học tập nghiên cứu trong suốt khóa học vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Bình, tháng 06 năm 2019

Bùi Thanh Lịch

Trang 4

LỜICAM ĐOAN

Tôixincamđoanrằng nghiêncứunày làcủa riêng tôi.Những sốliệu trongnghiêncứulàdo tôi thuthậptrongquátrìnhnghiêncứuvàhọc tập tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BMI : Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)

BKLN: Bệnh không lây nhiễm

HA: Huyết áp

HATT : Huyết áp tâm thu

HATTr: Huyết áp tâm trương

THA: Tăng huyết áp (Hypertension)

TTHA : Tiền tăng huyết áp (Prehypertension)

TBMMN Tai biến mạch máu não

TCBP: Thừa cân béo phì

WHR: Waist Hip Ratio (Tỷ số vòng bụng trên vòng mông) WHO: World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan chung về huyết áp, tiền tăng huyết áp và tăng huyết áp 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Nguyên nhân 3

1.1.3 Phân loại huyết áp 4

1.1.4 Một số nghiên cứu về tăng huyết áp, tiền tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam 7

1.2 Cơ chế bệnh sinh và biến chứng của tăng huyết áp 14

1.2.1 Cơ chế bệnh sinh 14

1.2.2 Biến chứng của tăng huyết áp 16

1.3 Các yếu tố nguy cơ của tiền tăng huyết áp 17

1.4 Các biện pháp phòng chống tiền tăng huyết áp, tăng huyết áp 22

1.5 Điều trị tiền tăng huyết áp 26

Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Địa điểm, đối tượng nghiên cứu 27

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu: 27

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 29

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu 29

2.3 Phương pháp thu thập số liệu 30

2.3.1 Công cụ thu thập số liệu 30

2.3.2 Chuẩn bi ̣ và thu thập số liệu tại cộng đồng 30

2.3.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 31

2.3.4 Các biến số trong nghiên cứu 32

Trang 7

2.4 Phân tích và xử lý số liệu 33

2.5 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 33

2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 34

Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Thực trạng tiền tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tiền tăng huyết áp ở người dân 40 -49 tuổi 35

3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 35

3.1.2 Thực trạng tiền tăng huyết áp 38

3.1.3 Một số yếu tố liên quan tới tiền tăng huyết áp 41

3.2 Kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh của người dân 46

3.3.1 Kiến thức của người dân về phòng chống bệnh trong năm qua 46

3.3.2 Thực hành của người dân về phòng chống bệnh trong năm qua 49

Chương 4:BÀN LUẬN 53

4.1 Thực trạng tiền tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tiền tăng huyết áp ở người dân 40-49 tuổi 53

4.1.1 Về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 53

4.1.2 Thực trạng mắc tiền tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 56

4.1.3 Một số yếu tố liên quan tới tiền tăng huyết áp 59

4.2 Kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh của người dân 64

4.2.1 Thực hành của người dân về phòng chống bệnh trong năm qua 64

4.2.2 Thực hành của người dân về phòng chống bệnh trong năm qua 66

KẾT LUẬN 72

KIẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.2 Tiền sử tăng huyết áp của người thân trong gia đình của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.3 Giá trị huyết áp trung bình của đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.4 Tỷ lệ tăng huyết áp, tiền tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 38 Bảng 3.5 Tỷ lệ tiền tăng huyết áp của đối tượng theo giới, tuổi 39

Bảng 3.6 Tỷ lệ tiền tăng huyết áp của đối tượng theo xã 39

Bảng 3.7 Tỷ lệ tiền tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 40

Bảng 3.8 Tỷ lệ tiền tăng huyết áp của đối tượng theo BMI 40

Bảng 3.9 Liên quan giữa giới tính, nhóm tuổi và tiền tăng huyết áp 41

Bảng 3.10 Liên quan giữa loại hình lao động và tiền tăng huyết áp 41

Bảng 3.11 Liên quan giữa tiền sử tăng huyết áp trong gia đình với tiền tăng huyết áp 42

Bảng 3.12 Liên quan giữa tiền sử gia đình có người chết do bệnh tim mạch và tiền tăng huyết áp 42

Bảng 3.13 Liên quan giữa hút thuốc và tiền tăng huyết áp 43

Bảng 3.14 Liên quan giữa uống bia/rượu và tiền tăng huyết áp 43

Bảng 3.15 Liên quan giữa thói quen ăn mặn và tiền tăng huyết áp 44

Bảng 3.16 Liên quan giữa thói quen ăn nhiều dầu mỡ và tiền tăng huyết áp 44 Bảng 3.17 Thói quen ăn hoa quả và tiền tăng huyết áp 45

Bảng 3.18 Liên quan giữa hoạt động thể lực và tiền tăng huyết áp 45

Bảng 3.19 Kiến thức đúng về chỉ số huyết áp trong chẩn đoán tiền tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 47

Bảng 3.20 Kiến thức về cách phát hiện bệnh tăng huyết áp 47

Trang 9

Bảng 3.21 Kiến thức về yếu tố nguy cơ tiền tăng huyết áp của đối tượng 48

Bảng 3.22 Thực hành về thay đổi lối sống của đối tượng 49

Bảng 3.23 Thực hành về thay đổi chế độ ăn uống của đối tượng 50

Bảng 3.24 Thực hành về kiểm tra huyết áp của đối tượng 50

Bảng 3.25 Địa điểm thăm khám nếu bị THA của đối tượng 51

Bảng 3.26 So sánh số ngày hoạt động thể lực trung bình của đối tượng nghiên cứu theo giới 52

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 36

Biểu đồ 3.2 Tiền sử mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 36

Biểu đồ 3.3 Phân loại BMI của đối tượng nghiên cứu 37

Biểu đồ 3.4 Nguồn cung cấp thông tin về tiền THA 46

Biểu đồ 3.5 Hiểu biết của người dân về phòng bệnh tiền tăng huyết áp 49

Biểu đồ 3.6 Hoạt động thể lực ít nhất 30 phút trong ngày/tuần qua của đối tượng nghiên cứu 51

Biểu đồ 3.7 Hình thức rèn luyện thể lực trong tuần qua của đối tượng 52

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay Tiền tăng huyết áp (prehypertension) đang là một vấn đề phổ biến nhưng chưa được chú trọng và quản lý chặt chẽ Tiền tăng huyết áp có thể sẽ chuyển thành bệnh tăng huyết áp nếu không làm thay đổi lối sống, chẳng hạn như bắt đầu tập thể dục và ăn uống lành mạnh Cả hai tiền tăng huyết áp và tăng huyết áp làm tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ và suy tim Tiền tăng huyết áp là áp lực tâm thu 120-139 mmHg hoặc áp lực tâm trương 80-89mmHg.Giảm cân, tập thể dục và thay đổi lối sống lành mạnh khác có thể kiểm soát tiền tăng huyết áp [51],[53]

Tiền tăng huyết áp không gây ra triệu chứng Cách duy nhất để phát hiện tiền tăng huyết áp là theo dõi huyết áp Tiền tăng huyết áp nếu được phát hiện sớm thì việc kiểm soát sẽ rất có hiệu quả và hạn chế được tỷ lệ tăng huyết áp

và các biến chứng nguy hiểm, giảm nguy cơ tử vong và giảm gánh nặng bệnh tật cho bản thân, gia đình và toàn xã hội Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra một

số nguy cơ từ hành vi, lối sống có thể dẫn đến bệnh tiền THA (như hút thuốc

lá, uống rượu, ăn uống không hợp lý, lối sống tĩnh tại ít vận động )[9],[21],[33],[54]

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến trên thế giới Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2017 trên thế giới đã có khoảng972 triệu người bị tăng huyết áp (chiếm 26,4% dân số), và có tới 7,5 triệu người tử vong do nguyên nhân trực tiếp là tăng huyết áp Dự báo đến năm 2025 có khoảng 1,56 tỷ người bị tăng huyết áp [60]

Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 17,5 triệu người tử vong do các bệnh

lý về tim mạch Tăng huyết áp là 1 trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao[32],[58]

Trang 12

Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp cũng gia tăng nhanh chóng: Kết quả điều tra dịch tễ học của Viện Tim mạch Trung ương tại 8 tỉnh, thành phố của

cả nước năm 2008 cho thấy tỷ lệ người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên bị tăng huyết áp là 25,1% [31]

Tăng huyết áp là căn bệnh diễn biến âm thầm, ít có dấu hiệu cảnh báo Những dấu hiệu của tăng huyết áp thường không đặc hiệu và người bệnh thường không thấy có gì khác biệt với người bình thường cho đến khi xảy ra tai biến Vì vậy, tăng huyết áp mà phần lớn không tìm thấy nguyên nhân (khoảng 95%) đang trở thành mối đe dọa toàn thể nhân loại bởi nhiều biến chứng nguy hiểm như: Nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, suy tim, suy thận mạn…thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và

xã hội [31],[56]

Tuy nhiên, ở nước ta các nghiên cứu về tăng huyết áp đã được triển khai khá nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về mô hình tiền tăng huyết áp tại cộng đồng chưa được chú trọng Vì vậy, để góp phần cải thiện một số yếu tố nguy cơ và hạn chế của tiền tăng huyết áp tại cộng đồng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Thực trạng tiền tăng huyết áp và kiến thức,thực hành của người dân 40-49tuổi tại 2 xã thuộc thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình năm 2018” với hai mục tiêu:

1.Mô tả thực trạngtiền tăng huyết ápvà một số yếu tố liên quan đến tiền tăng huyết áp ở người dân 40-49 tuổi tại hai xã thuộc thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình năm 2018

2.Mô tả kiến thức,thực hành về phòng chống tiền tăng huyết áp của người dân 40-49 tuổi tại hai xã thuộc thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình năm 2018

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan chung về huyết áp, tiền tăng huyết áp và tăng huyết áp

1.1.1 Khái niệm

Huyết áp là một trong bốn biểu hiện chức phận sống của cơ thể.Huyết áp được đo với đai cánh tay bơm phồng và đo áp suất Đọc huyết áp theo milimét thuỷ ngân (mm Hg), có hai con số Số trên, số áp lực trong động mạch khi tim đập (áp suất tâm thu) Số thứ hai thấp hơn, số áp lực trong động mạch giữa các lần đập (áp suất tâm trương)

Theo Viện Tim mạch huyết áp bình thường là dưới 120/80 Tiền tăng huyết áp khi huyết áp từ 120/80 mmHg đến 139/89 mmHg, tăng huyết áp khi huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên [9],[56]

1.1.2 Nguyên nhân

Bất kỳ yếu tố làm gia tăng áp lực đối với các thành động mạch có thể dẫn đến tiền tăng huyết áp, tiền tăng huyết áp có nguy cơ tiến triển thành tăng huyết áp.Xơ vữa động mạch, đó là sự tích tụ mỡ trong động mạch, có thể dẫn tới huyết áp cao.Điều kiện có thể dẫn đến tiền tăng huyết áp hoặc huyết áp cao bao gồm:

Trang 14

- Thừa cân hoặc béo phì Một yếu tố nguy cơ chính đang thừa cân Việc lớn hơn trọng lượng cơ thể, máu nhiều hơn cần phải cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đến các mô Khi thể tích máu lưu thông qua mạch máu tăng lên,

do đó các lực tăng trên thành động mạch

- Tuổi: Người lớn tuổi có nhiều khả năng bị tiền tăng huyết áp hơn là người trẻ Theo Hiệp hội tim mạch Mỹ, trong thực tế, người lớn khỏe mạnh ở tuổi 55 có 90% nguy cơ bịtăng huyết áp

- Giới tính: Tiền tăng huyết áp phổ biến hơn ở nam nhiều hơn nữ

- Tiền sử gia đình huyết áp cao

- Lối sống ít vận động

- Chế độ ăn nhiều natri hay ít kali

- Sử dụng thuốc lá

- Sử dụng quá nhiều rượu

Một số điều kiện mãn tính – bao gồm cholesterol cao, tiểu đường và ngưng thở khi ngủ – có thể làm tăng nguy cơ tiền tăng huyết áp

1.1.3 Phân loại huyếtáp

Đo huyết áp tại phòng khám là phương pháp hay sử dụng nhất và thường quy để chẩn đoán tăng huyết áp Theo Nguyễn Lân Việt và cộng sự [31],Laura P.S và cộng sự [54] thì các hướng dẫn quốc tế thống nhất phương pháp đo huyết áp quy chuẩn bao gồm đo ở tư thế ngồi, người bệnh nghỉ ngơi

5 phút trước khi đo, sử dụng băng đo có kích thước phù hợp với chu vi vòng cánh tay, đo huyết áp ít nhất 2 lần, mỗi lần cách nhau 1 phút, con số huyết áp

là trung bình cộng của hai lần đo Để giảm bớt dao động huyết áp, các máy đo huyết áp tự động được phát triển Huyết áp tâm thu khi đo bằng máy tự động

có thể thấp hơn 5 – 10 mmHg khi đo bằng máy thường quy ngay cả khi bệnh nhân đang nói chuyện Chính vì những lí do đó mà phương pháp đo huyết áp trong thử nghiệm SPRINT vẫn gây nhiều tranh cãi Máy đo huyết áp lưu động

Trang 15

được sử dụng khá phổ biến ở châu Âu và một số nơi khác trên thế giới đã cung cấp nhiều thông tin về con số huyết áp ngày và đêm, mặt khác phương pháp này cũng giúp chẩn đoán một số thể bệnh tăng huyết áp như tăng huyết

áp áo choàng trắng và tăng huyết áp ẩn giấu (tăng huyết áp mặt nạ) Các thông tin về trị số huyết áp trung bình trong 24 giờ, huyết áp trung bình ban đêm, huyết áp trung bình ban ngày cũng gợi ý tiên lượng biến cố tim mạch như tử vong tim mạch, tử vong do mọi nguyên nhân tốt hơn trị số huyết áp đo tại phòng khám

Có nhiều cách phân loại nhưng cho đến nay, cách phân loại của 7(2003)đượcsửdụngrộngrãidotínhthựctiễnvàứngdụngcủanó [9]

JNC-Bảng 1.1: Phân loại tăng huyết áp theoJNC – 7

Khái niệm HA tâm thu

(mmHg)

HA tâm trương (mmHg)

Vấn đề khác biê ̣t nhất của JNC 7 chính là khái niệm “tiền cao huyết áp”, vì qua đó có thể cứu được mạng sống của hàng chục triệu người Khái

Trang 16

niệm này được đưa ra vì HA động mạch tăng theo tuổi và phần lớn có thể tiến triển thành tăng huyết áp trong suốt cuộc đời Theo nghiêncứuFramingham(Hoa Kỳ), có đến 90% người HA bình thường ở độ tuổi 55 có nguy cơ bị cao huyết áp trong những năm sau đó Mặt khác, nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và các bệnh tim mạch khác tăng lên cùng với sự gia tăng của HA Sự tương quan đó được bắt đầu ngay cả khi mức HA còn thấp: 115/75 mmHg Từ mức này, mỗi khi HA tăng thêm 20/10 mmHg thì nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch sẽ tăng gấp đôi

Ý nghĩa của khái niệm “tiền cao huyết áp” còn ở chỗ làm cho bệnh nhân ý thức hơn về sức khỏe của mình.Với bảng phân loại cũ, khái niệm “HA bình thường cao”, (chỉ những người sắp bị cao huyết áp) không làm cho bệnh nhân quan tâm và thiếu động cơ điều trị.Ngược lại, một người “tiền cao huyết áp” sẽ rất cảnh giác, không để tiến triển thành cao huyết áp thật sự Dù vậy, dựa trên nhiều nghiên cứu, JNC 7 nhấn mạnh chỉ cần thay đổi lối sống của mình là những người “tiền cao huyết áp” có thể phòng ngừa được cao huyết

áp

Một quan niệm khác của JNC 7 liên quan đến điều trị.Ngày nay, nhóm thuốc lợi tiểu Thiazide vẫn được xem là nền tảng Dù sử dụng đơn độc hay chung với những loại thuốc khác, Thiazide phải là chọn lựa hàng đầu Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy chúng ngăn ngừa được các biến cố tim mạch như những loại thuốc khác mà giá thành lại rẻ hơn nhiều Điều này rất có ích cho bệnh nhân nghèo

JNC 7 cũng đề nghị đến việc điều chỉnh lối sống gồm: Giảm cân ở người quá cân hoặc béo phì; tuân thủ chế độ ăn nhiều trái cây, rau quả, thực phẩm ít chất béo, giảm mỡ bão hòa và mỡ toàn phần; thực hành chế độ ăn giảm muối Na+, giàu K+ và Ca++, tăng cường hoạt động thể lực, điều chỉnh

Trang 17

bớt lượng rượu tiêu thụ hằng ngày Nhìn chung, việc điều chỉnh lối sống tốt sẽ làm giảm HA, tăng hiệu quả điều trị của các thuốc hạ áp và làm giảm nguy cơ biến cố tim mạch

Mới đây nhất năm 2014, Ủy ban quốc gia về quản lý và điều trị tăng huyết áp lần thứ VIII của Hoa Kỳ (JNC 8), trên cơ sở những bằng chứng thực nghiệm và kết qủa rút ra từ JNC 8 đã đưa ra khuyến cáo cụ thể về phân loại, quản lý và điều trị tăng huyết áp JNC 8 được bổ sung thêm khuyến cáo về tăng huyết áp tâm thu đơn độc

Tại Việt Nam, năm 2018 Hội Tim mạch học quốc gia đã đưa ra những khuyến cáo cụ thể và chi tiết trong chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp

1.1.4 Một số nghiên cứu về tăng huyết áp, tiền tăng huyết áp trên thế giới

và Việt Nam

1.1.4.1.Trên thế giới

Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và nhập viện do bệnh lý tim mạch Điều trị tăng huyết áp đã chứng minh giảm được các biến

cố như tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim và tử vong tim mạch [53] Năm

2010, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp trên thế giới là khoảng 31%, trong đó 75%

ở các nước thu nhậpthấp hoặc trung bình Tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp được kiểm soát dưới 140/90 mmHg chỉ đạt 7,7% Nghiên cứu tại Trung Quốc năm

2017 cho thấy tỷ lệ bị tăng huyết áp ở những người từ 35-75 tuổi là 44,7% Mặc dù tỷ lệ người bị tăng huyết áp cao nhưng chỉ có 44,7% được phát hiện, 30,1% được điều trị thuốc huyết áp và 7,2% kiểm soát được huyết áp mục tiêu [55],[59]

THA là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới và tốc độ gia tăng ngày một nhanh Số người mắc THA tăng từ 600 triệu người năm 1980 đến 1

Trang 18

tỷ người năm 2008 Hiện nay, trên thế giới cứ ba người lớn thì có hơn 1 người mắc THA và với người trên 50 tuổi thì cứ 2 người lại có 1 người mắc THA THA không chỉ có ảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh lý tim mạch mà cũng có ảnh hưởng nhiều đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu Năm 2000, thế giới có khoảng 972 triệu người mắc THA (chiếm 26,4% dân số), riêng các nước đang phát triển chiếm khoảng 639 triệu người Dự báo đến năm 2025,

sẽ có khoảng 1,56 tỷ người mắc THA (tương đương 29,2% dân số).Tỷ lệ mắc THA khác nhau giữa các khu vực Những quốc gia có thu nhập cao thì tỷ lệ THA thấp hơn so với những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, có thể

là do dễ tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hơn [31],[52]

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng THA cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, vĩ độ, độ cao Trong nghiên cứu về tỷ lệ THA ở một số nước trên thế giới thì THA của người vùng nông thôn chiếm tỷ lệ cao và tỷ lệ giữa phát hiện, điều trị và kiểm soát tuân theo quy luật phần 6 Có nghĩa là 2/6 bệnh nhân THA được phát hiện THA, 1/6 những người phát hiện thì được điều trị và 1/6 những người được điều trị thì được kiểm soát huyết áp đầy đủ [52],[60]

Như vậy, số người mắc THA trên thế giới ngày càng gia tăng thế nhưng

số người phát hiện được bệnh của mình và điều trị thấp, trong số những người được điều trị thì việc kiểm soát huyết áp vẫn còn thấp

Trên thế giới tỷ lệ THA của người từ 25 tuổi trở lên là 40% vào năm

2008 THA là nguyên nhân tử vong của 7,5 triệu người mỗi năm, chiếm 12,8% tổng số người chết do tất cả các nguyên nhân trên thế giới, mà một nửa số tử vong đó là do đột quỵ và bệnh tim mạch [60]

Một nghiên cứu của K M Choi, H S Park, J H Han, tại Hàn Quốc trên đối tượng là người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên, kết quả có 22,9% số người bị tăng huyết áp (26,9% ở nam và 20,5% ở nữ) Tỷ lệ tiền tăng huyết

Trang 19

áp chiếm 31,6% (41,9% ở nam và 25,9% ở nữ) Trong số bệnh nhân bị tăng huyết áp, chỉ có 30,2% được chẩn đoán, 22,9% được điều trị và 10,7% được kiểm soát [42]

Omari A Msemo, C Schmiegelow, B B Nielsennghiên cứu tại vùng nông thôn Tanzania trên đối tượng là phụ nữ trước khi có thai, độ tuổi trung bình là 28 tuổi, kết quả có 37,2% người bị tiền tăng huyết áp (CI95% 34,0-40,6) và có 8,5% số người bị THA (CI95% 6,7-10,8), trong số đó chỉ có 20,4% biết về tình trạng của họ Khi phân tích đa biến, kết quả cho thấy yếu

tố tuổi tăng, thừa cân béo phì có liên quan đến tiền THA Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng tỷ lệ tiền THA caolà một thách thức lớn vì có thể trở thành tăng huyết áp, đặc biệt khi có thai sẽ nguy hiểm hơn [46]

Tiền tăng huyết áp làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, một nghiên cứu lâm sàng tại Nhật trên 705 bệnh nhân từ 30 tuổi trở lên, được chụp động mạch, kết quả cho thấy ở những người bị tiền tăng huyết áp có hình ảnh động mạch bất thường Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, có 58,2% số người hiện tại có hút thuốc và 43,1% số người hiện tại có uống rượu [45]

Theo Susana Rivera-Mancia và cộng sự, tiền tăng huyết áp đã được coi

là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch vì nó có thể tiến triển thành THA, tác giả đã thực hiện nghiên cứu thuần tập tương lai trên 1377 người 20-50 tuổi tại Mexico, kết quả cho thấy, tỷ lệ hiện có hút thuốc chiếm 50,3%, có uống rượu 67,8%; tiền THA có liên quan đến tăng Lipid máu, tăng Glucose máu, tăng axit uric máu [48]

Frances Sam Okpokowuruk và cộng sự [40], nghiên cứu trên đối tượng trẻ em từ 3-17 tuổi, kết quả cho thấy tỷ lệ THA là 3,5% và tiền THA là 2,5% Như vậy, tăng huyết áp và tiền THA có thể xuất hiện sớm khi tuổi còn nhỏ, với những trẻ bị tăng huyết áp thì phát triển biến chứng sớm hơn người

Trang 20

trưởng thành

Theo Williams B, Mancia G, Spiering W.và cộng sự, chế độ ăn có thể giúp giảm biến cố tim mạch ở người bệnh tăng huyết áp Nghiên cứu cho thấy khi sử dụng 20g protein, 5g chất béo và toàn giúp giảm tỷ lệ mắc tăng huyết áp và giảm biến cố tim mạch Hội Tim mạch châu Âu năm 2018 đã nhấn mạnh nên sử dụng một khẩu phần ăn hợp lý để phòng bệnh [56]

1.1.4.2 Tại Việt Nam

Theo dự báo của Hội Tim mạch Việt Nam, đến năm 2017, Việt Nam sẽ

có 1/5 dân số mắc bệnh tim mạch và tăng huyết áp Tỷ lệ tăng huyết áp ở những người từ 25 tuổi trở lên chiếm 25,1% [31] Đặc biệt, trong những năm gần đây, bệnh lý tăng huyết áp đang được trẻ hóa, tỷ lệ tiền tăng huyết áp cũng gia tăng nhanh chóng [40]

Tiền tăng huyết áp (HA) ảnh hưởng đến 25-50% người trưởng thành trên toàn thế giới và làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tăng HA thực sự Nếu bạn được thông báo có tiền tăng HA, có nghĩa là số đo HA của bạn cao hơn

“bình thường”, nhưng không đủ cao để chẩn đoán xác định bệnh tăng HA theo tiêu chuẩn chẩn đoán Như tên gọi của nó, những bệnh nhân có tiền tăng

HA có nguy cơ đặc biệt phát triển thành bệnh tăng HA thực sự trong một tương lai gần Cả hai tình trạng, tiền tăng HA và tăng HA đều làm tăng nguy

cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim [34]

Nghiên cứu củaĐặng Thanh Nhàn, Hà Thị Hải, Lê Thị Lan Phương tại một số xã vùng nông thôn tỉnh Thái Bình năm 2015 đã cho thấy , tỷ lệ tiền tăng huyết áp chiếm 37,1%; có một số yếu tố liên quan đến tiền tăng huyết áp là: Tuổi từ 60 trở lên (OR = 1,73, CI 95% = 0,81 - 3,77); Tiền sử gia đình có người bi ̣ THA (OR=3,57; CI95%=3,01-4,61); Hút thuốc lá ( OR= 2,0; CI 95%

= 1,9-4,01); Thói quen ăn mặn (OR = 3,2 lần; CI 95% = 2,9 - 4,1); Uống bia/rượu thường xuyên (OR=1,17; CI95%=1,09-2,1); Thừa cân béo phì

Trang 21

(OR=1,56; CI 95% = 1,49 - 2,03) [21]

Vũ Đình Triển và cộng sự, khi nghiên cứu về tiền tăng huyết áp và một

số yếu tố liên quan ở người dân nhóm tuổi 40-59, Kết quả cho thấy tỷ lệ đối tượng bị tiền THA là 40,3%, nam cao hơn nữ (p<0,05) Những người uống bia, rượu từ 1 ngày/tuần trở lên, những người hút thuốc hàng ngày, người có tiền sử gia đình có người THA, người có thói quen ăn mặn, người thừa cân béo phì có nguy cơ mắc tiền THA (OR>1; 95%CI từ 1,41-4,05, p<0,05) Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa tiền THA với thói quen dùng mỡ động vật nấu ăn, hoạt động thể lực thấp [28]

Khi tìm hiểu về xu hướng tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch chính ở người dân trên 25 tuổi, Nguyễn Hóa, Đỗ Ích Thành, Tôn Thất Thạnh đã nghiên cứu trên 20,000 người trưởng thành lứa tuổi ≥ 25 tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2015, kết quả cho thấy: Tỷ lệ tăng huyết áp tâm trương năm 2011 là 10,2% đến năm 2015 tăng lên 20% Tăng huyết áp tâm thu đơn độc chiếm tỷ lệ cao trong cộng đồng người dân qua các năm Các YTNC tim ma ̣ch chính khá phổ biến trong cộng đồng người trưởng thành ở Đà Nẵng, có sự gia tăng rõ rệt về mức độ các YTNC tim mạch chuyển hóa Ở những người có từ 2 YTNC chuyển hóa trở lên thì tỷ lệ mắc tăng huyết áp (THA) là trên 50% (với p<0,001) Có mối tương quan giữa tuổi với huyết áp tâm thu (HATT), huyết áp tâm trương (HATTr) với r lần lượt là (0,33: 0,16), p

< 0,001; có sự tương quan thuận giữa BMI và HATT , HATTr với r lần lượt (0,10 : 0,19), p<0,001 Tỷ lệ tăng HATTr tăng gấp đôi sau 5 năm, tăng HATT đơn độc chiếm tỷ lệ cao trong cộng đồng người dân qua các năm, yếu tố chuyển hóa càng nhiều thì nguy cơ mắc THA càng cao, có mối tương quan giữa THA với tuổi, BMI [15]

Hiện nay, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm ngày càng tăng [1],[23] Nghiên cứu của Lê Văn Hợi, tìm hiểu về đặc điểm nhân khẩu học và thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi tại vùng nông

Trang 22

thôn Việt Nam, kết quả có 39,0% số người bị THA,chủ yếu là giai đoạn 1 [10]

Nghiên cứu của Trương Thị Thùy Dương, Lê Thị Hương và cộng sự khi nghiên cứu về một số yếu tố nguy cơ THA ở người trưởng thành, kết quả cho thấy, giới nam, thừa cân béo phì (BMI>=25), hút thuốc lá có liên quan đến THA [4] Một nghiên cứu khác của Lê Thị Hương, Dương Thị Phượng và cộng sự đã cho thấy, người bị THA có nguy cơ đột quỵ não cao gấp 4,92 lần (CI95%: 3,28-7,37); người thừa cân béo phì có nguy cơ đột quỵ não gấp 1,62 lần (CI95%: 1,06-2,48 [16]

Theo quyết định số 346/QĐ-BYT về việc ban hành phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015-2020 [1], để khảo sát thực trạng triển khai hoạt động phòng, chống bệnh không lây nhiễm tại các Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc, 2015- 2016, tác giả Nguyễn Thị Thi Thơ, Tạ Ngọc Hà đã thực hiện một nghiên cứu định lượng kết hợp định tính nhằm đánh giá thực trạng và khó khăn của 28 Trung tâm Y tế Dự phòng (TTYTDP) tuyến tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc trong việc triển khai hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm Kết quả cho thấy, 14 TTYTDP (50%) đã kế hoạch hoạt động năm 9 TTYTDP (32%) đã triển khai hoạt động quản lý điều phối và giám sát phòng chống BKLN trên địa bàn ở các mức độ khác nhau Có 7-10 TTYTDP (25- 35%) đã triển khai đào tạo, hỗ trợ tuyến trước và vận động chính sách địa phương tác động đến chiến lược phòng chống BKLN 15 TTYTDP (53%) đã triển khai hoạt động truyền thông phòng, chống yếu tố nguy cơ BKLN Có 8-9 TTYTDP (28-32%) đã tổ chức khám sàng lọc phát hiện sớm và tư vấn một số BKLN thường gặp Chỉ một số

ít (2-4 trung tâm) thực hiện thống kê, báo cáo BKLN trên địa bàn Hầu hết các TTYTDP tỉnh, thành phố gặp khó khăn khi triển khai hoạt động phòng chống BKLN, bao gồm: khó khăn về kinh phí (27 trung tâm, chiếm 96,4%), cơ chế chính sách (25 trung tâm, chiếm 89,3%), cơ sở vật chất (24 trung tâm, chiếm

Trang 23

85,7%), nhân lực (19 trung tâm, chiếm 67,9%) [25]

Một nghiên cứu khác của Bùi Thị Minh Thái, Hoàng Đức Hạnh, Nguyễn Thị Thi Thơ, nghiên cứu về thực trạng triển khai các hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn ở thành phố Hà Nội, năm 2016 Nghiên cứu được thực hiện trên 584 trạm y tế (TYT) của Hà Nội, thu thập thông tin qua bộ câu hỏi tự điền, phỏng vấn và quan sát trực tiếp Kết quả cho thấy, thực trạng triển khai hoạt động phòng, chống bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế ở Hà Nội còn hạn chế Mỗi trạm y

tế đã có trung bình có 4/7 cán bộ y tế tham gia phòng bệnh không lây nhiễm Tuy nhiên, có tới 71,6% trạm y tế chỉ có <50% và dưới 5% trạm y tế có >70% thuốc thiết yếu cho xử trí bệnh không lây nhiễm Phần lớn các trạm y tế chỉ có 50-<70% trang thiết bị thiết yếu cho bệnh không lây nhiễm Có đến 57,3% trạm y tế chỉ thực hiện được <25% kỹ thuật trong phòng chống bệnh không lây nhiễm, trong đó, tỷ lệ trạm y tế vùng 1 thực hiện được dưới 25% các kỹ thuật là 61,2% cao hơn vùng 2 và 3 Nhìn chung, các trạm y tế đều đã triển khai các nội dung trong phòng, chống bệnh không lây nhiễm Tuy nhiên, thực trạng triển khai chỉ đạt ở mức dưới trung bình 40,6/100 điểm và có xu hướng giảm dần từ vùng 1 đến vùng 3, khu vực nội thành cao hơn ngoại thành [24]

Một nghiên cứu về thực trạng kiến thức và hành vi nguy cơ đối với bệnh không lây nhiễm ở nhóm tuổi trung niên (40-59), nhóm tác giả Đỗ Thái Hòa, Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Thanh Long và cộng sựđã tiến hành nghiên cứu trên 1200 nhóm tuổi 40-59 tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, năm 2013.Kết quả nghiên cứu cho thấy: Kiến thức chung của đối tượng nghiên cứu về hậu quả của hút thuốc; lạm dụng rượu, bia; ăn mặn; ăn nhiều mỡ; ăn ít rau, hoa quả; ít hoạt động thể lực rất hạn chế: Chỉ có 5,2% đối tượng đạt cả 6 câu, 16,8% đối tượng đạt từ 3 - 5 câu, còn lại tới 78,0% đối tượng chỉ đạt dưới 3 câu Tỷ lệ hút thuốc chung của nhóm tuổi trung niên là 28,8% và ở

Trang 24

nam giới cao hơn rất nhiều so với nữ giới (66,9% so với 0,6%), không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm tuổi 40-49 và 50-59 Tỷ lệ có uống rượu bia trong 30 ngày trước điều tra ở nhóm từ 50 - 59 tuổi cao hơn nhóm 40 - 49 tuổi (38,5% so với 35,1%) và ở nam giới cao hơn nữ giới Hoạt động thể lực tương đối đồng đều ở nam và nữ và ở 2 nhóm tuổi Thời gian tập thể dục trung bình/ngày của đối tượng nghiên cứu ở 2 nhóm tuổi là 57,26 ± 35,88 phút và 45,49 ± 30,01 phút Kết quả của nghiên cứu về mức tiêu thụ rau quả trong khẩu phần ăn chưa đáp ứng với khuyến cáo của WHO Tỷ lệ người trung niên ở 2 nhóm, từ 40 - 49 tuổi và từ 50 - 59 tuổi sử dụng dầu thực vật thường xuyên trong chế biến thức ăn là 66,8% và 68,8%[13]

Nguyễn Văn Triệu và cộng sự khi tìm hiểu về một số yếu tố liên quan đến phòng biến chứng THA, kết quả tìm thấy một số yếu tố liên quan đó là, trình độ học vấn: OR=2,49; CI95%: 1,31-4,72; tiền sử bản thân: OR=3,5; CI95%: 1,22-10,09 [29]

Một nghiên cứu năm 2017 của Phạm Hương Lan, Trịnh Văn Hùng trên

276 người để tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng biến chứng tăng huyết áp, kết quả cho thấy: Kiến thức, thái độ, thực hành phòng biến chứng lần lượt là 56,2%, 42,8% và 29,3% [19]

1.2.Cơ chế bệnh sinh và biến chứng của tăng huyếtáp

1.2.1 Cơ chế bệnh sinh

THA nguyên phát chiếm 95% tổng số bệnh nhân tăng huyết áp, cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp nguyên phát chưa rõ ràng, người ta cho rằng một

số yếu tố sau có thể gây tăng huyết áp nguyên phát[31],[47]:

- Tăng hoạt động thần kinh giao cảm: Khi hệ thần kinh giao cảm bị tăng

hoạt động sẽ làm tăng hoạt động của tim, dẫn đến tăng cung lượng tim Mặt khác toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến hậu quả là tăng huyết áp độngmạch

Trang 25

Vai trò của hệ Renin - Angiotensin - Aldosteron (RAA):

Renin là một enzyme được các tế bào cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có các yếu tố kích thích Các tế bào cơ trơn trên thành mao động mạch đến của tiểu cầu thận chịu trách nhiệm nhận cảm áp lực của động mạch tiểu cầu thận, kích thích các tế bào cạnh tiểu cầu thận tiết ra renin để điều hòa huyết áp, duy trì áp lực lọc của ở tiểu cầuthận

- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh tăng huyếtáp:

+ Theo Tubian (1954): Lượng natri và nước trong vách động mạch cao hơn một cách rõ rệt ở những người và súc vật có tăng huyết áp

+ Theo Braunwald (1954): Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA tiên phát thực hiện ở hai vị trí:

Stress (tác nhân gây bệnh): ở những người ăn nhiều natri (do thói quen trong gia đình) khả năng lọc của thận tăng cũng tăng tái hấp thu nước, làm tăng thể tích máu

Màng tế bào có sự tăng thẩm thấu di truyền đối với natri, canxi vào trong tế bào của cơ trơn mạch máu, dẫn đến tăng tính co mạch, tăng sức cản ngoại vi gây tăng huyếtáp

- Giảm chất điều hòa huyết áp: Prostaglandin E2 và Kallikrein ở thận có

chức năng sinh lý điều hòa huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu Khi các chất này thiếu hoặc bị ức chế gây nên tăng huyếtáp

* Tăng huyết áp thứphát:

Khoảng 5% bệnh nhân THA có nguyên nhân rõ ràng:

- THA doBệnh thận và dị dạng mạch máu thận

- Cường aldosterone và hội chứng Cushing: Bệnh nhân bài tiết quá mức

aldosterone, tổn thương thường thấy là u tuyến thượngthận

- Utủythượngthận:Chiếm1-2%tổngsốbệnhnhântănghuyếtápthứphát

- Hẹp eo động mạch chủ: Tăng huyết áp ở phần trước chỗ hẹp và giảm ở

Trang 26

phần sau chỗhẹp

- THA ở phụ nữ mang thai: Bệnh tăng huyết áp xuất hiện hoặc nặng lên

khi có thai là một trong những nguyên nhân gây tử vong của người mẹ cũng như thainhi

- Sử dụng oestrogen: Sử dụng kéo dài thuốc tránh thai sẽ gây tăng huyết

áp vì oestrogen gây tăng tổng hợp tiền chất renin

1.2.2 Biến chứng của tăng huyếtáp

Tiền tăng huyết áp, có nguy cơ tiến triển thành tăng huyết áp Hiện nay,

tỷ lệ THA tăng nhanh do vậy tỷ lệ các biến chứng của THA cũng ngày càng gia tăng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sức lao động của người dân trong cộng đồng một cách rất rõ rệt [52],[53]

- Tổn thương ởtim

Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân

tử vong cao nhất đối với THA: Dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp THA thường xuyên sẽ làm cho thất trái to ra, về lâu dài, thất trái bị giãn; khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì sẽ bị suy tim, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toànbộ

- Tổn thương ởthận

+ Xơ vữa động mạch thận sớm và nhanh

+ Xơ thận gây suy thận dần dần

Trang 27

+ Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính

+ Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin

và angiotensin II trong máu tăng gây cường aldosteron thứphát

- Tổn thương ở mạchmáu

THA là yếu tố gây xơ vữa động mạch, phồng động mạch chủ

- Tổn thương ởmắt

Soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt Theo Keith-Wagener Barker

có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt:

+ Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bóng

+ Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch (dấu hiệu SalusGunn)

+ Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc và chưa có phù gai thị + Giai đoạn IV: Phù lan toả gai thị

1.3 Các yếu tố nguy cơ của tiền tăng huyết áp

Tiền THA cũng giống như một số bệnh khác , từng cơ thể có mức độ đáp ứng khác nhau Mặt khác, có một số yếu tố tác động làm cho bệnh xuất hiện hoặc tiến triển tốt hoặc xấu đi Hiện nay, người ta quan tâm nhiều tới các yếu tố tác động xấu để giúp quá trình phòng chống tiền THA bằng loa ̣i bỏ các yếu tố đó, bao gồm [39],[49],[50],[54]

- Yếu tố di truyền và yếu tố gia đình

- Tăng lipid máu

- Đái tháo đường

Trang 28

- Tăng acid uric máu

- Các yếu tố khác: Cà phê, ít hoát động thể lực, nhiệt độ khắc nghiệt, canxi và hormon tuyến cận giáp là những yếu tố thúc đẩy

Yếu tố nguy cơ cho tiền tăng HA bao gồm: Thừa cân hoặc béo phì là một yếu tố nguy cơ chính; tuổi tác: Những người trẻ tuổi có nhiều khả năng

có tiền tăng HA hơn những người lớn tuổi; giới tính: Tiền tăng HA là phổ biến hơn ở nam so với nữ; chủng tộc: HA cao đặc biệt phổ biến ở người da đen, thường phát triển ở độ tuổi sớm hơn so với người da trắng; HA tăng có

xu hướng mang tính gia đình; ít vận động cơ thể: Không tập thể dục có thể làm tăng nguy cơ tiền tăng HA và béo phì; chế độ ăn nhiều muối (natri) hoặc thấp kali; hút thuốc lá và hút thuốc thụ động; uống quá nhiều rượu; một số bệnh mạn tính bao gồm bệnh thận, bệnh đái tháo đường có thể làm tăng nguy cơ tiền tăng HA

- Muối và thói quen ăn mặn

Một số nghiên cứu quan sát cho thấy ở các quần thể lớn, có thói quen ăn mặn thì tỷ lệ người bị THA cao hơn hẳn so với các quần thể có thói quen ăn nhạt hơn Natri trong chế độ ăn có thể tạo ra từ hai nguồn chính: Phần cho thêm vào thức ăn (phần này phụ thuộc từng người) và nguồn có sẵn trong thực phẩm (trong quá trình chế biến hay có tự nhiên trong thực phẩm)

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Tiến và cộng sự cho thấy số người có thói quen ăn mặn gặp ở nhóm người THA nhiều hơn so với nhóm người có HA bình thường [25].Mặt khác,nhiều nghiên cứu đã cho thấy giảm muối ăn từ 4-6 gam/ngày thì sau 1 tháng HATTr giảm trung bình 20 mmHg

và HATT giảm trung bình 30 mmHg ở người mắc bệnh THA Kết quả nghiên cứu còn cho thấy vùng nào có lượng muối ăn vào cao thì tỷ lệ THA cao và đưa ra khuyến nghị cần giảm bớt lượng nước mắm, muối khi nấu món ăn và khi muối dưa cà

Theo nghiên cứu của Đặng Thanh Nhàn và cộng sự [21], cho thấy nhóm

Trang 29

có thói quen ăn mặn có tỷ lệ tiền THA cao hơn so với nhóm không có thói quen ăn mặn

Giảm muối (NaCl), đã được chứng minh làm giảm số HA và nguy cơ biến chứng ở bệnh nhân THA Chế độ ăn giảm muối nên thực hiện với lượng muối <6 gam NaCl/ngày hoặc <2,4 gam natri/ngày Duy trì đầy đủ lượng kali khoảng 90 mmol/ngày Bảo đảm đầy đủ calcium và magnesium

Theo Cutler, Follmann và Allender đã kết luận rằng việc giảm hằng ngày khẩu phần natri khoảng 70-80 mmol có liên quan tới giảm HA ở cả các cá thể

có HA cao và bình thường Các thử nghiệm lâm sàng cũng đã chứng minh các tác động làm giảm HA bền vững của việc giảm natri ở người cao tuổi tạo ra việc điều trị có ích mà không cần thuốc Khẩu phần ăn của natri từ tất cả các nguồn, ảnh hưởng tới mức HA của quần thể và cần được hạn chế để giảm nguy cơ bệnh mạch vành tim và cả 2 dạng đột quỵ (thiếu máu và chảy máu) Việc hạn chế của khẩu phần để đạt được mục tiêu trên thì cần hạn chế khẩu phần muối NaCl hàng ngày dưới 5 gam/ngày, số lượng này cần tính đến tổng lượng natri khẩu phần từ tất cả các nguồn trong chế độ ăn [58]

Đối với người cao tuổi sự nhạy cảm của thành mạch cũng kém hơn so với người trẻ tuổi, chính vì vậy trong điều trị THA ở người cao tuổi cần giảm muối vừa phải trong chế độ ăn, không nên quá chặt chẽ

Nhiều nghiên cứu về điều tra khẩu phần ăn trong nhân dân từng vùng, các nhà nghiên cứu thấy rằng vùng nào ăn nhiều muối thì tỷ lệ THA càng cao

ở Nhật, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, chảy máu não giảm 40%, tắc mạch não giảm 24,6% [26],[45]

Hút thuốc lá, thuốc lào: Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích

thích đặc biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tiền tăng huyếtáp

Monocit carbon (khí CO) có nồng độ cao trong khói thuốc và được hấp

Trang 30

thụ vào máu, nó gắn với hemoglobin với lực mạnh hơn 20 lần so với ôxy, do

đó làm giảm lượng ô xy chuyển đến các bộ phận trong cơ thể, gây thiếu máu

và góp phần hình thành các mảngxơ vữa động mạch Vì vậy, hút thuốc lá là một nguy cơ tiềm tàng dẫn đến phát triển bệnh xơ vữa động mạch Mặc dù không phải là một nguyên nhân tiền tăng huyết áp song đây cũng là một yếu

tố đe dọa quan trọng đến tiền tăng huyết áp [50],[57]

• Thói quen uống rượu

Nghiên cứu quan sát của Mac-Mahon thấy nếu uống nhiều rượu có liên quan với tăng áp lực thành mạch và tỷ lệ THA cao được quan sát thấy ở một

số nghiên cứu Theo nghiên cứu của Ylima thì đối tượng uống rượu mạnh 50 ml/ngày có nguy cơ THA cao gấp 4,22 lần so với đối tượng uống

<50ml/ngàykhông phân biệt giới, còn đối tượng nam giới uống bia 330 ml/ngày có nguy cơ bị THA gấp 5,24 lần so với đối tượng nam uống bia <330 ml/ngày

HATT sẽ tăng theo lượng rượu uống vào, đặc biệt là những người trên

40 tuổi Nếu uống quá 60g rượu/ngày thì khả năng THA càng rõ Những người hút thuốc lá trên 10 điếu trong ngày và uống rượu trên 100 ml trong ngày, liên tục trên 3 năm thì có HA cao hơn những người không uống rượu và không hút thuốc [47]

Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy, nếu dùng quá nhiều rượu sẽ làm tăng nguy cơ tai biến mạch não và bệnh tim mạch ở bệnh nhân THA Một số điều tra cho thấy nếu dùng lượng rượu thích hợp thì có thể làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành Do đó lượng rượu nếu có dùng cần hạn chế ít hơn 30 ml ethanol/ngày (hay ít hơn 720 ml bia, 300 ml rượu vang và 60 ml rượu whisky) Tuy nhiên, với một số dân tộc mà số cân nặng không nhiều như người dân ở nước ta thì lượng rượu nếu có dùng chỉ nên bằng một nửa lượng rượu nói trên [32]

Trang 31

Liên Uỷ ban quốc gia Hoa kỳ về phòng chống THA - JNC VI khuyên mỗi ngày chỉ nên uống không quá 1 ounce (tương đương 29,6 ml) ethanol đối với nam và 1/2 ounce đối với nữ và người nhẹ cân Uống thường xuyên một lượng rượu nhỏ cũng có tác dụng phòng các nguyên nhân gây tử vong nói chung và do tim mạch nói riêng, bởi vậy cũng không nên cấm hẳn mà chỉ cần điều độ

Ít hoạt động thể lực(lối sống tĩnh tại): Theo kết quả nghiên cứu của một

số tác giả, thói quen sống tĩnh tại rất nguy hại đối với hệ tim mạch Nhưng nếu tăng cường vận động thể lực vừa sức hằng ngày đều đặn mang lại lợi ích

rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và tiền THA nói riêng Hoạt động thể lực bao gồm các hoạt động thường ngày và tập luyện thể dục thể thao Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, hoạt động đều đặn

30 phút/ngày với cường độ trung bình, ít nhất 5 ngày/tuần, tức 150 phút/tuần hoặc với cường độ cao ít nhất 75 phút/tuần Không nên ngừng tập 3 ngày liên tiếp trong một tuần

Hoạt động thể lực đúng mức đều đặn được coi như một liệu pháp hiện đại để dự phòng tiền THA, ít vận động được coi là nguyên nhân của 5 - 13% các trường hợp tiền THA hiện nay [38]

Stress (căng thẳng, lo âu quá mức): Nhiều nghiên cứu đã chứng minh

căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim Dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫnđến tiền tăng huyết áp Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống Nếu thực hiện được điều này thì có thể hạn chế những căng thẳng, lo âu đồng thời đây cũng chính là một biện pháp phòng tiền tăng huyếtáp

Trên đây là nhóm yếu tố nguy cơ có khả năng thay đổi được Vì vậy tiền tăng huyết áp giải quyết được bằng các biện pháp giáo dục truyền thông sức

Trang 32

khoẻ nhằm vào các yếu tố này

Một nghiên cứu về hành vi nguy cơ của bệnh không lây nhiễm ở người dân từ 18-69 tuổi tại thành phố Hà Nội, Nguyễn Nhật Cảm, Nguyễn Thị Thi Thơ, Nguyễn Thị Kiều Anh và cộng sự, đã tiến hành nghiên cứu trên tổng số 2.946 người từ 18-69 tuổi, kết quả cho thấy: 24,1% dân số hiện tại hút thuốc

lá (49,18% nam giới; 0,5% nữ giới) Hơn 80% người hiện đang hút thuốc có hút hàng ngày Có đến 43,37% đối tượng hiện đang sử dụng rượu (nam giới là gần 80%; nữ giới là 10%) 43,99% số người trưởng thành ăn thiếu rau và/hoặc trái cây so với khuyến cáo của TCYTTG (nam cao hơn nữ (50,09% so với 38,31%)) Ngoài ra, có tới 99,84% đối tượng tiêu thụ muối ≥5g/ngày (cao hơn mức khuyến cáo của TCYTTG) 30% dân số trưởng thành Hà Nội thiếu hoạt động thể lực và ở nữ (34,61%) cao hơn nam (25,11%) Nhìn chung, có tới 93,69% người dân hiện có từ một hành vi nguy cơ trở lên, trong đó, tỷ lệ người có hai hành vi nguy cơ là cao nhất, chiếm hơn 34% [3]

1.4 Các biện pháp phòng chống tiền tăng huyết a ́ p, tăng huyết áp

- Hoạt động thể lực

Lười vận động là một trong những yếu tố làm tăng huyết áp Dĩ nhiên, việc vận động sẽ làm cho nhịp tim và HA tăng lên, nhưng nếu tập đúng cách và bền bỉ trong một thời gian dài thì nhịp tim và HA sẽ được điều chỉnh trở lại [38]

- Thừ a cân béo phì

Béo phì là yếu tố nguy cơ gây cao huyết áp, người gầy ốm vẫn có thể bị cao huyết áp nếu mắc những bệnh rối loạn chuyển hóa mỡ Trường hợp này,

mỡ đọng lại trong thành mạch, gây hẹp và làm HA gia tăng [54]

- Tuổi

Tỉ lệ tăng huyết áp ở người già là cao nhất Từ 30-40 tuổi, tỉ lệ tăng huyết áp là 5%, từ 45-60 tuổi là 15%, nhưng trên 75 tuổi thì tỉ lệ tăng đến 50-65% Nhưng nói thế không có nghĩa người trẻ không bị tăng huyết áp Mắc

Trang 33

một số bệnh tim, thận (viêm thận mãn, u thận ), HA có thể tăng rất cao từ nhỏ, trường hợp này gọi là cao huyết áp thứ phát và nếu giải quyết được nguyên nhân, HA mới trở lại bình thường [40],[47],[49]

- Cần điều chỉnh lối sống từ giai đoạn "tiền cao huyết áp"

Tỷ lệ tiền tăng huyết áp sẽ còn gia tăng nếu y học không đưa ra một chiến lược phòng ngừa hữu hiệu.Theo Hội Tim mạch Việt Nam, tỷ lệ cao huyết áp ở người trên 15 tuổi hiện là 12%.Tuy nhiên, hiê ̣n nay thì tỉ lệ này còn cao hơn vì ngày nay, huyết áp bình thường là dưới 120/80 mmHg chứ không phải 140/90 mmHg như trước đây Những bệnh nhân cao huyết áp độ 1 (từ 140/90 mmHg đến 159/99 mmHg) và độ 2 (trên 160/100 mmHg) bắt đầu phải dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ Còn những bệnh nhân tiền cao huyết

áp sẽ chưa phải dùng đến thuốc

Khái niệm tiền cao huyết áp được Liên Uỷ ban Quốc gia Mỹ về Phòng ngừa, phát hiện, đánh giá và điều trị cao huyết áp đưa ra năm 2012 và có thể cứu được mạng sống của hàng chục triệu người Khái niệm này được đưa ra

vì huyết áp động mạch tăng theo tuổi và phần lớn có thể tiến triển thành cao huyết áp trong suốt cuộc đời Theo nghiên cứu Framingham (Mỹ), 90% người huyết áp bình thường ở độ tuổi 55 có nguy cơ bị cao huyết áp trong những năm sau đó [51],[54]

Nhiều nghiên cứu khác cho thấy, tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và các bệnh tim mạch khác tăng lên cùng với sự gia tăng của huyết áp Sự tương quan đó xuất hiện ngay cả khi huyết áp còn thấp: 115/75 mmHg Từ mức này, mỗi khi huyết áp tăng thêm 20/10 mmHg thì nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch sẽ tăng gấp đôi [16],[53]

Khái niệm “tiền cao huyết áp” còn giúp bệnh nhân ý thức rõ hơn về sức khỏe của mình.Trước đây, chỉ những người bị cao huyết áp mới cảm thấy lo lắng.Giờ đây, cả những người “tiền cao huyết áp” cũng sẽ cảnh giác, không

Trang 34

để tiến triển thành cao huyết áp thật sự Họ sẽ phải điều chỉnh lối sống, gồm giảm cân (ở người quá cân hoặc béo phì), ăn nhiều trái cây, rau quả, hạn chế

đồ béo và muối, tăng cường hoạt động thể lực; điều chỉnh bớt lượng rượu tiêu thụ hằng ngày

Tiền tăng huyết áp được định nghĩa là khi huyết áp tâm thu trong khoảng từ 120-139mm Hg và huyết áp tâm trương trong khoảng từ 80-89mm

Hg Tiền tăng huyết áp là một vấn đề hay gặp và ảnh hưởng tới 40% số người Mỹ.Không phải tất cả những người bị tiền tăng huyết áp đều sẽ phát triển thành tăng huyết áp Theo nghiên cứu này thì tiền tăng huyết áp có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ và đau tim Tuy nhiên, hiện tại chưa có hướng dẫn khuyến nghị việc điều trị bằng thuốc đối với những người bị tiền tăng huyết

áp Cách điều trị hiện nay là thay đổi lối sống, như bỏ thuốc lá, giảm cân và tập luyện thể chất đều đặn

Mô ̣t nghiên cứu đã tiến hành phân tích gộp đã xem xét tác động của các thuốc hạ huyết áp trong việc giảm nguy cơ đột quỵ, đau tim và tử vong do bệnh tim mạch Các nhà nghiên cứu đã tìm được 16 thử nghiệm đối chứng ngẫu hóa gồm những người bị tiền tăng huyết áp dùng một dạng thuốc hạ huyết áp như chất ức chế ACE, thuốc chẹn beta hoặc chất ức chế thụ thể angiotensin Các nghiên cứu này gồm tổng cộng gần 71.000 người tham gia Các nhà nghiên cứu thấy rằng nguy cơ đột quỵ giảm 22% ở những người điều trị bằng thuốc chống tăng huyết áp

- Nguy cơ bệnh tiền tăng huyết áp

Tiền tăng huyết áp là một vấn đề hay gặp có xu hướng tiến triển thành tăng huyết áp cùng các biến chứng thường gặp như bệnh lý nhồi máu não, xuất huyết não, thiếu máu não, gây ra hội chứng chuyển hóa

Tiền tăng huyết áp là triệu chứng của Hội chứng chuyển hóa, nếu không kiểm soát sẽ dẫn đến 2 bệnh cảnh gây ảnh hưởng rất nặng nề là bệnh

Trang 35

tim mạch do xơ vữa động mạch vành và bệnh đái tháo đường týp 2 Người bị Hội chứng chuyển hóa có nguy cơ chết vì mạch vành cao gấp 3 - 4 lần so với người không bị [35],[37]

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh tiền tăng huyết áp trong cộng đồng như: Hút thuốc lá, uống nhiều bia rượu, khẩu phần ăn không hợp lý, ít hoạt động thể lực, béo phì, căng thẳng trong cuộc sống, rối loạn lipid máu, tiểu đường, tuổi cao…

Các nghiên cứu đã cho thấy phần lớn những yếu tố nguy cơ trên có thể kiểm soát được khi người dân có hiểu biết đúng và biết cách phòng tránh Tuy nhiên hiê ̣n nay , ở nước ta cho đến nay vẫn chưa có hệ thống quản lý và dự phòng đối với bệnh này, các hoạt động y tế hiện mới chỉ tập trung cho công tác điều trị tại các bệnh viện Công tác tuyên truyền bệnh tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo cán bộ cho phòng chống tại

cơ sở còn rất hạn chế

Trong khi đó, bệnh không có bất kỳ triệu chứng nào, thậm chí nếu bị tăng huyết áp nặng có thể cũng không gây triệu chứng Bất kỳ yếu tố làm gia tăng áp lực đối với các thành động mạch có thể dẫn đến tiền tăng huyết áp Đôi khi một điều kiện cơ bản có thể dẫn đến tiền tăng huyết áp hoặc huyết áp tăng, bao gồm: Xơ vữa động mạch; ngủ ngưng thở; bệnh thận; tuyến thượng thận bệnh; bệnh tuyến giáp Một số thuốc tránh thai, trị cảm lạnh, thông mũi, giảm đau và một số loại thuốc theo toa cũng có thể gây huyết áp tạm thời gia tăng Các loại thuốc bất hợp pháp, chẳng hạn như cocaine và chất kích thích,

có thể có tác dụng tương tự Thông thường, huyết áp cao phát triển dần dần trong nhiều năm mà không có một nguyên nhân nhận dạng cụ thể Với những yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh thì tỷ lệ nam giới luôn cao hơn so với nữ giới Các chuyên gia tim mạch cũng cảnh báo bệnh ảnh hưởng rất nặng đến tim mạch và thần kinh

Trang 36

1.5 Điều tri ̣ tiền tăng huyết áp

Điều trị tiền tăng huyết áp chủ yếu thay đổi lối sống, giúp làm chậm hoặc ngăn ngừa sự tiến triển thành tăng huyết áp chứ thường không dùng thuốc trừ khi có nhiều yếu tố nguy cơ khác như suy tim, bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, đái tháo đường Lối sống tĩnh tại, ít vận động thể lực được coi là một nguy cơ cao của bệnh Việc vận động hằng ngày đều đặn từ

30 đến 45 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh nói riêng [33],[54]

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim Dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, Noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến tăng huyết áp Vì vậy mỗi người cần rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống Có như vậy có thể hạn chế tối

đa mọi stress cũng chính là phòng bệnh

Thay đổi lối sống lành mạnh là một cam kết quan trọng để kiểm soát bệnh tiền tăng huyết áp Theo đó, cần có một chế độ ăn phù hợp Chọn hoa quả, rau, ngũ cốc và các loại thực phẩm thấp chất béo sữa Ăn ít chất béo bão hòa và tổng số chất béo Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh Hạn chế muối trong khẩu phần ăn, không quá 2.400mg natri mỗi ngày Muối ăn, bột ngọt và soda đều chứa natri Thường xuyên hoạt động thể chất có thể giúp giảm huyết

áp và giữ cho cân nặng dưới sự kiểm soát Phấn đấu ít nhất 30 phút hoạt động thể chất mỗi ngày Nếu chọn uống rượu, mức cho phép 1 ly/ngày cho phụ nữ,

2 ly/ngày đối với nam giới

Giảm cân, tập thể dục và thay đổi lối sống lành mạnh khác có thể kiểm soát được tiền tăng huyết áp

Trang 37

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, đối tượng nghiêncứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xãĐông Mỹ và Vũ Chính thuộc thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

Một số đặc điểm chung về địa bàn nghiên cứu:

Thái Bình là một tỉnh ven biển đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt Nam Thành phố Thái Bình là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh, là 1trong 6 đô thị của vùng duyên hải Bắc Bộ Đồng thời là đầu mối giao thông quan trọng giao lưu với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng Sông Hồng và các huyện trong tỉnh

Thành phố Thái Bình có mạng lưới y tế phát triển: Có nhiều bệnh viện

và phòng khám đa khoa Mạng lưới y tế bao phủ toàn diện từ thành phố đến

xã, phường, thôn, tổ Triển khai có hiệu quả các chương trình Y tế Quốc gia, các biện pháp phòng chống dịch bệnh và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các tuyến y tế cơ sở Về nhân lực của các trạm Y tế các xã, phường đã được bổ sung đầy đủ số lượng, sắp xếp tương đối đủ các chức danh thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo chuẩn Quốc gia về y tế xã

Xã Vũ Chính, nằm ở cửa ngõ phía nam của thành phố Thái Bình, cách trung tâm thành phố 3,5 km; phía đông giáp với Vũ Lạc, phía tây giáp với xã

Vũ Phúc, phía nam giáp với xã Việt Thuận huyện Vũ Thư, phía bắc giáp phường Kỳ Bá Diện tích tự nhiên của xã là 5,58 km2 gồm 12 thôn và 2 tổ dân phố, dân số 12.930 người, 3.821 hộ y tế, phụ nữ trong độ tuổi 15-49 là 3.298 người và 1.193 trẻ dưới 5 tuổi Đây là một xã thuần nông, nhân dân trong xã sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp chiếm 70%, ngoài ra còn có thêm vườn hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm, một số hộ gia đình là làm nghề buôn bán nhỏ lẻ và dịch vụ tiểu thủ công nghiệp

Trang 38

Trạm y tế xã Vũ Chính nằm ở trung tâm của xã, cung cấp các dịch vụ y

tế cơ bản cho nhân dân như phòng bệnh khám, chữa bệnh và sơ cấp cứu ban đầu, đồng thời thực hiện công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe về phòng chống các bệnh truyền nhiễm và các bệnh không lây nhiễm như đái tháo đường, tăng huyết áp, béo phì, ung thư

XãĐông Mỹ diện tích 4,2 km2, địa hình đồng bằng giao thông thuận lợi Phía Bắc giáp xã Đông Xuân, phía Đông giáp xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng Phía Tây giáp xã ĐôngHoà, phía Nam giáp Phường Hoàng diệu TP Thái Bình Phân bố dân cư dọc theo Quốc lộ 10, Quốc lộ 39, Sông Trà lý Trình độ dân trí không đồng đều, là nơi giao lưu giữa các Huyện, Tỉnh Nghề trồng lúa là chính theo thời vụ, ngành nghề phụ chủ yếu là dịch vụ buôn bán nhỏ, một số làm ăn xa, biến động dân cư khó quản lý Kinh tế trung bình, thu nhập bình quân đầu người là 15 triệu đồng/năm

Hệ thống Giao thông thuận tiện đường láng nhựa, bê tông, gạch từ xã tới tận các hộ gia đình, thông tin liên lạc thuận tiện trong toàn xã, hộ xa nhất cách trung tâm xã 02 Km, Trạm y tế xã cách bệnh viện Đa khoa Thành phố 6 Km, cách bệnh viện Đa khoa Tỉnh 8 Km Xã có 5 thôn dân số là 7778 trong đó nam

3508, nữ 3847 Số hộ y tế 2600

Trong những năm qua, xã Đông Mỹ đã có những hoạt động tích cực nhằm phòng chống các bệnh truyền nhiễm hay xảy ra trên địa bàn xã và bước đầu có công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về các bệnh không lây nhiễm và cách phòng chống, trong đó có tăng huyết áp

Theo kế hoạch của sở Y tế Thái Bình, tháng 6 năm 2019, xã Đông Mỹ cùng với nhiều xã khác trong địa bàn tỉnh Thái Bình sẽ triển khai đồng bộ các hoạt động của chương trình phòng chống tăng huyết áp, nhằm phát hiện, điều trị và quản lý bệnh nhân tăng huyết áp cũng như kiểm soát tỉ lệ mắc mới tăng huyết áp ngay tại cộng đồng

Trang 39

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Người dân tuổi từ 40 - 49 tuổi

* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:

- Ngườ i dân có hộ khẩu tại địa bàn được chọn , có mặt tại thời điểm nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loa ̣i trừ đối tượng:

- Không chọn những người đã được chẩn đoán và điều tri ̣ tăng huyết áp ; người bi ̣ rối loa ̣n tâm thần, câm, điếc…

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả có phân tích nhằm xác định thực trạng tiền tăng hu yết áp, một số yếu liên quan đến tiền tăng huyết

áp, đồng thời tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành của người dân40 - 49 tuổitại địa bàn nghiên cứu về phòng chống tiền tăng huyết áp

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu

Cỡ mẫu:

Cỡ mẫu được tính toán theo công thức xác đi ̣nh mô ̣t tỷ lê ̣:

2

2 2 / 1

) 1 (

d

p p

Trong đó : n: là số đối tượng phỏng vấn

 Z: là hệ số tin cậy tính theo , chọn  = 0,05 Tra bảng ta có Z = 1,96

 p: Tỷ lệ ngườ i dân mắc tiền tăng huyết áp , được lấy từ nghiên cứu trước (p= 0,403) [28]

 d: hệ số tin cậy mong muốn, chọn d= 0,05

Theo tính toán, cỡ mẫu là 370 người

Trang 40

Để đảm bảo tính khả thi của nghiên cứu và tính đại diện của cỡ mẫu đã tính cho quần thể người dân tại 2 xã nghiên cứu, cỡ mẫu điều tra được xác định là 400 người

Chọn mẫu:

+ Chọn xã điều tra: Từ 9 xã thuộc vùng ngoại thành thành phố Thái Bình, tiến hành chọn chủ đích lấy 2 xã, đó là xã Đông Mỹ và xã Vũ Chính + Chọn đối tượng điều tra : Tại 2 xã được chọn , tiến hành cho ̣n ngẫu nhiên mỗi xã 3 - 5 thôn, tại mỗi thôn tiến hành điều tra toàn bộ số người từ

40 - 49 tuổi đến khám tại địa điểm khám, sao cho đủ cỡ mẫu theo tính toán

- Mỗi đối tượng được cho ̣n sẽ được nhân viên y tế thôn gửi giấy mời đến Trạm y tế xã để khám bệnh và phỏng vấn theo lịch hẹn

2.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1 Công cụ thu thập số liệu

- Mẫu phiếu khám (đo huyết áp) và phỏng vấn trực tiếp người dân về kiến

thức, thái độ, thực hành về tiền tăng huyết áp: Được chuẩn bị trước (phụ lục 1)

2.3.2 Chuẩn bi ̣ và thu thập số liệu tại cộng đồng

+ Điều tra viên: Cán bộ y tế thuô ̣c Bệnh viện đa khoa thành phố Thái

Bình; sinh viên Y6 chuyên ngành Y học dự phòng trường Đại học Y Dược Thái Bình

Tất cả điều tra viên đều được tập huấn thống nhất một phương pháp điều tra để đảm bảo tính chính xác và chất lượng của thông tin

Đi ̣a điểm tâ ̣p huấn: Trường Đại học Y Dược Thái Bình

Thời gian tâ ̣p huấn: 1 ngày

Cán bộ tập huấn: Bệnh viện đa khoa thành phố Thái Bình

+ Ngươ ̀i dân đến khám tại Trạm y tế xã theo Giấy mời Tại đây sẽ được

đo huyết áp, sau đó tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng người dân theo phiếu điều tra

Ngày đăng: 22/08/2019, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w