1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sự hài lòng với công việc của điều dưỡng viên tại một số bệnh viện tuyến huyện tỉnh thái bình

97 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH **************** LƯU ĐĂNG DUY THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN VÀ SỰ HÀI LÒNG VỚI CÔNG VIỆC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

****************

LƯU ĐĂNG DUY

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN VÀ

SỰ HÀI LÒNG VỚI CÔNG VIỆC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN

TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN HUYỆN

TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Thái Bình - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

****************

LƯU ĐĂNG DUY

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN VÀ

SỰ HÀI LÒNG VỚI CÔNG VIỆC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN

TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN HUYỆN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn nghiên cứu này là công trình do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo của 2 thầy hướng dẫn Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực, đã được xác nhận và chấp thuận của nơi nghiên cứu Công trình này không trùng lặp với bất kì nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Thái Bình, ngày 15 tháng 5 năm 2019

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lưu Đăng Duy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS TS Trần Minh Hậu và PGS TS Nguyễn Quốc Tiến, người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành luận văn này Em xin chân thành bày tỏ lòng biết

ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Y Tế Công Cộng và phòng sau đại học Đại học Y Dược Thái Bình đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè cùng đồng nghiệp đã tạo

điều kiện sát, nghiên cứu để hoàn thành đề tài này

Tuy nhiên điều kiện về năng lực bản thân em còn hạn chế, chuyên đề nghiên cứu khoa học chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng

nghiệp để bài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Bình, ngày 15 tháng 5, năm 2019

Trang 5

NVYT Nhân viên y tế

NTK-NT Nội Thần kinh - Nội tiết

NTH Nội tổng hợp

PHCN Phục hồi chức năng

KBCB Khám bệnh chữa bệnh

TCYTTG Tổ chức y tế Thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ……… … 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… … 3

1.1 Tổng quan về điều dưỡng và công tác chăm sóc người bệnh…… … 3

1.1.1 Lịch sử ngành điều dưỡng……… … 3

1.1.2 Khái niệm về điều dưỡng 3

1.1.3 Khái niệm về công tác chăm sóc người bệnh … 4

1.1.4 Khái niệm về sự hài lòng với công việc … 5

1.1.5 Chức năng của người điều dưỡng……… … 5

1.1.6 Vai trò và nhiệm vụ của người điều dưỡng……… … 5

1.1.7 Nghĩa vụ nghê nghiệp của người điều dưỡng……… … 6

1.2 Thực trạng điều dưỡng tại Việt Nam……… … 7

1.2.1 Thực trạng chung……… … 7

1.2.2 Thực trạng điều dưỡng tại Thái Bình……… 10

1.3 Những nghiên cứu về điều dưỡng……… 11

1.3.1 Các nghiên cứu về điều dưỡng trên thế giới……… 11

1.3.2 Các nghiên cứu về điều dưỡng tại Việt Nam……… 14

1.4 Các văn bản pháp lí liên quan đến công tác CSNB trong bệnh viện……… 18

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…… 19

2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu……… 19

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu……… 19

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu……… 21

2.1.3 Thời gian nghiên cứu……… 21

2.2Phương pháp nghiên cứu……… 21

Trang 7

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu……… 21

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu……… 21

2.2.3 Các biến số nghiên cứu……… 22

2.2.4 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu……… 24

2.3 Xử lý số liệu……… 27

2.4 Vấn đề đạo đức……… 27

2.5 Hạn chế của nghiên cứu và hướng khắc phục……… 27

2.5.1 Hạn chế……… 27

2.5.2 Khắc phục……… 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ……… 30

3.1 Thông tin chung về ĐDV tham gia nghiên cứu……… 30

3.2 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV………… 32

3.3 Đánh giá sự hài lòng với công việc của ĐDV……… 44

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN……… 52

4.1 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Thái Bình năm 2018……… 52

4.1.1 Các thông tin chung về ĐDV tham gia nghiên cứu………… 53

4.1.2 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ với từng nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV……… 54

4.2 Đánh giá sự hài lòng với công việc của ĐDV……… 62

KẾT LUẬN……… 69

KIẾN NGHỊ……….……… 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tỷ lệ điều dưỡng viên theo bệnh viện ……….………… 30

Bảng 3.2: Phân bố điều dưỡng viên theo độ tuổi … ……… 30

Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn của điều dưỡng viên…… ……… 31

Bảng 3.4: Thâm niên công tác của điều dưỡng viên…… ……… 32

Bảng 3.5: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ tư vấn cho người bệnh về quyền lợi và nội quy, quy định của bệnh viện……… 33

Bảng 3.6: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ tư vấn về chuyên môn kĩ thuật, chế độ sinh hoạt……… … …… 34

Bảng 3.7: Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc về tinh thần………… 34

Bảng 3.8: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ động viên, khuyến khích người bệnh an tâm điều trị……… 35

Bảng 3.9: Tỷ lệ điều dưỡng viên hoàn thành nhiệm vụ phối hợp với bác sĩ đánh giá tình trạng dinh dưỡng……… 37

Bảng 3.10: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ hướng dẫn người bệnh ăn uống ( bao gồm cả việc ăn qua sonde dạ dày)……… 38

Bảng 3.11: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh của ĐDV ……… 40

Bảng 3.12: Mức hoàn thành nhiệm vụ của ĐDV về thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng ……… 41

Bảng 3.13: Tỷ lệ điều dưỡng viên hoàn thành nhiệm vụ ghi chép hồ sơ bệnh án ……… ……… 41

Bảng 3.14: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ, theo dõi, đánh giá tình trạng người bệnh của điều dưỡng viên……… 42

Bảng 3.15: Tỷ lệ điều dưỡng viên hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật……… 43

Bảng 3.16: Số buổi trực trong 1 tháng của điều dưỡng viên ……… 44

Trang 9

Bảng 3.17: Ý kiến của điều dưỡng viên về khối lượng công việc

ca trực ……… 44 Bảng 3.18: Tỷ lệ điều dưỡng viên đánh giá ca trực là bận mải theo

các khối, phòng……….……… 45 Bảng 3.19: Ý kiến của điều dưỡng viên về khối lượng công việc

thường ngày ……… 45 Bảng 3.20: Đánh giá mức độ khối lượng công việc thường ngày

theo giới ……… 46 Bảng 3.21: Số lượng điều dưỡng viên gặp phiền toái trong công việc 47 Bảng 3.22 : Môi trường làm việc, cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu

công tác chăm sóc người bệnh……… 47 Bảng 3.23: Mức độ phối hợp với các đồng nghiệp trong công tác

chăm sóc người bệnh……… ……… 48 Bảng 3.24: Mức độ quan tâm, khen thưởng khi điều dưỡng

viên thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc người bệnh……… 49 Bảng 3.25: Sự hài lòng của điều dưỡng viên về tiền lương và

phúc lợi theo trình độ học vấn ……… 51

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Phân bố điều dưỡng viên theo giới ……… 31 Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ tư vấn,

hướng dẫn giáo dục sức khỏe……… 32 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc dinh dưỡng………… 36 Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc phục hồi

chức năng và vật lí trị liệu……… 39 Biểu đồ 3.5: Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện đến việc

đào tạo liên tục, phát triển chuyên môn ……… 48 Biểu đồ 3.6: Sự hài lòng của điều dưỡng viên về tiền lương và

phúc lợi……… 50

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoạt động chăm sóc và điều dưỡng là một hoạt động nghề nghiệp, đòi hỏi điều dưỡng viên (ĐDV) cần phải làm việc chủ động, sáng tạo, phải có cả kiến thức lẫn kỹ năng để là người cộng sự không thể thiếu được của bác sĩ Nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV là chủ động trong chăm sóc nhằm đáp ứng các nhu cầu của người bệnh và phối hợp với các nhân viên y tế khác để đảm bảo người bệnh nhận được dịch vụ chăm sóc với chất lượng cao nhất, an toàn nhất và tiện nghi nhất

Trong chiến lược phát triển công tác điều dưỡng, hộ sinh, Tổ chức Y

tế thế giới khẳng định: dịch vụ do điều dưỡng viên, hộ sinh viên cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế Kinh tế ngày càng phát triển, nhận thức và thái độ về sức khoẻ của người dân thay đổi, đòi hỏi phải tăng cường chuẩn mực chăm sóc người bệnh của ĐDV Những năm gần đây, trình độ của ĐDV được nâng cao nên chất lượng chăm sóc người bệnh ngày càng tăng Tuy nhiên, công tác điều dưỡng hiện nay còn một số bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và sự hài lòng của người bệnh Tình trạng quá tải, thiếu nhân lực nên ở một số nơi điều dưỡng đã giao phó những công việc chăm sóc cơ bản như vệ sinh cá nhân, hỗ trợ ăn uống và vận động đi lại cho người nhà người bệnh và thậm chí những nhiệm vụ chuyên môn như thay chai truyền dịch, bóp bóng oxy, cho người bệnh ăn qua sonde dạ dày [13], [14], [25]

Thông tư số 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, được ban hành ngày 26/01/2011 với nguyên tắc: Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn Các hoạt động chăm sóc của ĐDV phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh giá nhu cầu của mỗi người bệnh [6] Thông tư cũng đã quy định cụ thể về

Trang 12

nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và sự hài lòng của người bệnh

Từ khi thông tư 07/2011/TT-BYT được ban hành, các bệnh viện đã nhanh chóng triển khai thực hiện, xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát; cân đốinhân lực điều dưỡng, hộ sinh về số lượng, trình độ và phân công hợp lý; tăng cường các phương tiện nhằm phục vụ đáp ứng nhu cầu chăm sóc người bệnh (CSNB) Trên địa bàn tỉnh Thái Bình đến nay chưa có nghiên cứu về thực trạng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng viên theo thông tư 07/2011/TT-BYT tại bệnh viện, cũng như hài lòng của điều dưỡng viên với công việc của họ ra sao? Để tìm hiểu rõ vấn đề này chúng tôi tiến

hành nghiên cứu: “Thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sự hài

lòng với công việc của điều dưỡng viên tại một số bệnh viện tuyến huyện tỉnh Thái Bình năm 2018” với 2 mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của điều

dưỡng viên tại một số bệnh viện tuyến huyện tỉnh Thái Bình năm 2018

2 Đánh giá sự hài lòng với công việc của điều dưỡng viên tại một số bệnh viện tuyến huyện tỉnh Thái Bình năm 2018

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về điều dưỡng và công tác chăm sóc người bệnh

1.1.1 Lịch sử ngành điều dưỡng

Hy Lạp - năm 60, Bà Phoebe đã đến từng gia đình có người bệnh để chăm sóc và được ngưỡng mộ suy tôn là người nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên của thế giới Đến giữa thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 19, bà Florence Nightingale (1820 - 1910) một phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành điều dưỡng Ngày nay, ngành điều dưỡng của thế giới đã được xếp là một ngành riêng biệt , ngang hàng với các ngành nghề khác và có nhiều trường đ ào tạo điều dưỡng v ới nhiều trình độ khác nhau [36]

Cũng như thế giới, tại Việt Nam, sự du nhập của nền Y học phương Tây bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, các lớp điều dưỡng sơ học được mở nhằm đáp ứng nhu cầu cho kháng chiến Năm

1975, Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong cả nước Đến nay, nghề điều dưỡng đã có hệ thống tổ chức, đào tạo nghề ở các bậc từ sơ học đến đại học và sau đại học, có luật hành nghề và đạo đức hành nghề [36]

1.1.2 Khái niệm về điều dưỡng viên

Năm 1965, Hội điều dưỡng Mỹ đưa ra định nghĩa “Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc phục hồi và

nâng cao sức khỏe

Theo Ross-Kerr, J.C.&Wood, MJ định nghĩa điều dưỡng: Điều dưỡng viên (bao gồm cả nam và nữ) là những người có nền tảng khoa học cơ bản về điều dưỡng, đáp ứng các tiêu chuẩn được kê toa tùy theo sự giáo dục và sự hoàn thiện lâm sàng Điều dưỡng viên là người phụ trách công tác điều dưỡng, chăm sóc, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, kê toa thuốc và các công việc khác để

Trang 14

phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân

Tại Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Khoa học xã hội

1999 định nghĩa “Y tá là người có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc người bệnh theo y lệnh bác sĩ” Định nghĩa này chưa phản ánh đầy đủ vị trí và vai trò của người điều dưỡng cũng như nghề điều dưỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe hiện nay [2] Ngày nay, người điều dưỡng đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng với các bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên

và các thành phần trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, người làm điều dưỡng gọi là điều dưỡng viên

Theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV, ngày 22 tháng 4 năm 2005 của

Bộ Nội vụ, quy định chức trách của điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế [5]

1.1.3 Khái niệm về công tác chăm sóc người bệnh

Chăm sóc điều dưỡng là những chăm sóc chuyên môn của người điều

dưỡng đối với người bệnh từ khi vào viện đến lúc ra viện Nội dung chính bao gồm: chăm sóc thể chất, tinh thần, dinh dưỡng, lập kế hoạch chăm sóc, theo dõi, phục hồi chức năng, giáo dục sức khoẻ cho người bệnh Chăm sóc điều dưỡng bắt đầu từ lúc người bệnh đến khám, vào viện và cho đến khi người bệnh ra việc hoặc tử vong [18]

Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng nhu

cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt,

ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; Chăm sóc tâm lý; Hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [6]

Trang 15

Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện là đảm bảo “lấy

người bệnh làm trung tâm của hoạt động chăm sóc và điều trị” dựa trên đánh giá các nhu cầu của người bệnh và hướng tới người bệnh để phục vụ [6], [9]

1.1.4 Khái niệm về sự hài lòng đối với công việc

Là cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện một công việc Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể biết được một mức độ hài lòng với công việc chỉ với một câu hỏi Một số khác thì gợi ý rằng có thể

có những cảm giác tiêu cực về một khía cạnh nào đó của công việc (như tiền lương) nhưng cảm giác tích cực về những mặt khác (như đồng nghiệp) Sự hài lòng với công việc được xem như vừa là nguyên nhân, vừa là ảnh hưởng đến

2 yếu tố khác là “kiệt sức” và “hiệu suất làm việc” [61]

1.1.5 Chức năng của người điều dưỡng [12]

Chức năng của người điều dưỡng theo Tổ chức Y Tế thế giới, được thể hiện ở ba chức năng chính:

-Chức năng phụ thuộc: là các hoạt động thực hiện theo y lệnh của bác sĩ -Chức năng phối hợp: là phối hợp các thành viên trong nhóm chăm sóc,

nhân viên chuyên ngành khác, phối hợp với người bệnh đề hoàn thành kế hoạch CSNB đạt hiệu quả cao

-Chức năng độc lập: là các hoạt động trong phạm vi kiến thức được đào

tạo để thực hành, chuẩn đoán điều dưỡng và xử trí không cần bác sĩ ra y lệnh đáp ứng 14 nhu cầu cơ bản của người bệnh

1.1.6 Vai trò và nhiệm vụ của người điều dưỡng

Vai trò chăm sóc là thuộc tính cơ bản của người điều dưỡng, đây là nền tảng của mọi can thiệp điều dưỡng Jen Watson cho rằng “Thực hành chăm sóc là hạt nhân của nghề điều dưỡng” [2] Chăm sóc thể hiện ở việc sử dụng quy trình kỹ thuật để thực hiện chăm sóc người bệnh; Theo dõi diễn tiến bệnh và báo ngay với bác sĩ những dấu hiệu bất thường; Thực hiện các y lệnh

Trang 16

điều trị, chăm sóc; Thực hiện các kỹ thuật thực hành điều dưỡng theo đúng quy trình, và đảm bảo vô khuẩn, hạn chế nhiễm trùng bệnh viện

Ngày 26/01/2011 Bộ Y Tế đã có quy định mới nhất về nhiệm vụ của điều dưỡng viên, hộ sinh viên về công tác chăm sóc người bệnh trong bệnh viện với nhiệm vụ cụ thể là [6]:

- Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khoẻ

- Chăm sóc về tinh thần

- Chăm sóc vệ sinh cá nhân

- Chăm sóc dinh dưỡng

- Chăm sóc phục hồi chức năng

- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật

- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh

- Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong

- Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng

- Theo dõi, đánh giá người bệnh

- Bảo đảm an toàn phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh

- Ghi chép hồ sơ bệnh án

- Ngoài ra công việc của người điều dưỡng còn bao gồm:

- Điều dưỡng viên phải là người chăm sóc

- Điều dưỡng viên phải là người truyền đạt thông tin

- Điều dưỡng viên phải là người tư vấn

- Điều dưỡng viên phải là người biện hộ cho người bệnh

1.1.7 Nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng [36], [40]

Người điều dưỡng có bốn trách nhiệm cơ bản: Nâng cao sức khỏe; phòng bệnh và tật; phục hồi sức khỏe và làm giảm bớt đau đớn cho người bệnh Trách nhiệm về đạo đức nghề nghiệp của người điều dưỡng bao gồm:

Trang 17

- Người điều dưỡng với người bệnh: đảm bảo cho mọi cá thể nhận được thôngtin cần thiết làm cơ sở để họ đồng ý chấp nhận các phương pháp điều trị

- Người điều dưỡng với nghề nghiệp: luôn gắn liền trách nhiệm và nghĩa vụ

cá nhân đối với việc thực hành và thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn thông qua học tập liên tục Trong khi sử dụng các kỹ thuật và khoa học hiện đại vào việc chăm sóc cần đảm bảo sự an toàn, nhân phẩm và quyền của con người

- Người điều dưỡng với phát triển nghề nghiệp: phải đảm nhiệm những vai trò quan trọng trong việc xác định và thực hiện những chuẩn mực về thực hành chăm sóc lâm sàng, quản lý, nghiên cứu và đào tạo

- Điều dưỡng với đồng nghiệp: cộng tác giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau, phê bình có thiện chí và truyền thụ kinh nghiệm

1.2 Thực trạng điều dưỡng tại Việt Nam

là 141.494, Dược sỹ đại học là 16 Đến nay cả nước có khoảng 345.000 nhân viên y tế, trong đó số lượng bác sĩ là trên 55.000 người, còn số ĐDV và hộ lý

là 105.000 người.Dự kiến đến năm 2020 đạt là bác sỹ 99.351, điều dưỡng đạt

là 225.345 và dược sỹ đại học là 27.762… như vậy số lượng cán bộ y tế nói chung còn thiếu và tỷ lệ bác sỹ/ điều dưỡng Chỉ tiêu của ngành là 8 bác sỹ/20 điều dưỡng vào năm 2020.Theo Lê Ngân (Báo ND-ĐT tử ngày 29/5/2013), tỷ

lệ bác sĩ/điều dưỡng viên mới đạt một nửa so với quy định, cụ thể tỷ lệ bác sĩ/điều dưỡng, hộ sinh trong ngành y tế nước ta hiện ở mức 1/1,7 thiếu gần

Trang 18

một nửa so với quy định của Bộ Y tế là 1/3 hoặc 1/3,5 thấp hơn nhiều nước trong khu vực như Malaysia, Thái-lan, Philippines…

Về số lượng: Theo thống kê năm 2015, Việt Nam có 1,236 ĐDV/1000 dân, được xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ thấp trong khu vực Đông Nam Á

Tỷ lệ này ở Brunei là 8,048; Philippines là 6,0; Singapore là 4,7 Tỷ lệ ĐDV/1000 dân của nước ta chỉ xếp trên Myanma (1,003), Lào (0,876), Campuchia (0,791) và kém xa nhóm các nước phát triển như Đan Mạch (17,269), Đức (11,489), Australia (10,648), Mỹ (9,815) [10]

Việt Nam được xếp vào nhóm những nước có tỷ lệ NVYT/10.000 dân cao (35 người/1 vạn dân, 2009), nhưng cơ cấu lại không đồng đều mặc dù số lượng nhân lực điều dưỡng, hộ sinh có tăng lên qua từng năm nhưng tỷ lệ ĐDV, HSV/10.000 dân lại xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ thấp do chính sách tuyển dụng tại các cơ sở y tế Theo thống kê năm 2008 của TCYTTG, tỷ lệ ĐDV, HSV/bác sỹ ở Philippine là 5,1; ở Indonesia là 8,0; Thái Lan là 7,0 trong khi đó tỷ lệ này ở Việt Nam chỉ là 1,6 xếp hàng thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á [10]

Về phân bố theo cơ cấu: Tỷ lệ ĐDV, HSV/bác sỹ ở các cơ sở KCB còn rất thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác CSNB và chất lượng dịch vụ KCB Cụ thể cơ cấu cán bộ, nhân viên y tế vùng đồng bằng sông Hồng năm

2008, tỷ lệ điều dưỡng viên, hộ sinh/ bác sỹ là 1,7; năm 2012 tỷ lệ này là 2,04; năm 2013 là 1,94; cao hơn bình quân trung cả nước xong vẫn thấp hơn

so với tỷ số khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới [21] Tỷ lệ thấp không phải

do thiếu nguồn, số lượng điều dưỡng, hộ sinh được đào tạo không phải là ít, nhưng đây là vấn đề tuyển dụng, nhất là ở tuyến trung ương Hiện nay số điều dưỡng, hộ sinh trung cấp được đào tạo ở hầu hết tất cả các tỉnh, nên việc bảo đảm về số lượng không phải là một vấn đề lớn, mà là cần chú trọng đến chất lượng và từng bước nâng cấp họ lên trình độ cử nhân Một tình hình cần lưu ý

là các bệnh viện từng bước thực hiện việc tự chủ về tài chính tuyển ít điều

Trang 19

dưỡng viên để tiết kiệm chi phí, vì vậy chưa thực hiện chăm sóc toàn diện, việc chăm sóc do người nhà thực hiện hoặc thuê người chăm sóc [10]

Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 phải bảo đảm cơ cấu cán bộ y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh là 3,5 điều dưỡng/1 bác sỹ, như vậy ước tính cả nước còn thiếu khoảng 100.000 ĐDV, HSV làm việc tại các cơ sở y tế [35]

Về trình độ chuyên môn: Trong những năm gần đây với sự phát triển công tác đào tạo ĐDV nhiều loại hình được hình thành như cử nhân điều dưỡng, cử nhân điều dưỡng sản phụ khoa, thạc sỹ điều dưỡng, chuyên khoa I điều dưỡng Mặc dù vậy, theo thống kê năm 2015 ở nước ta 74,6% lực lượng điều dưỡng còn ở trình độ trung cấp, mới chỉ có 11,4 % ĐDV có trình độ đại học, 12,2% ĐDV có trình độ cao đẳng, 0,3 % ĐDV có trình độ sau đại học và còn 1,6% ĐDV có trình độ sơ học [10] Một nghiên cứu tại Điện Biên cho thấy nhân lực điều dưỡng chủ yếu có trình độ trung cấp 98,84% [22] Như vậy, hiện nay Việt Nam mới chỉ có 20,4% Điều dưỡng viên có trình độ từ cao đẳng trở lên tương đương với chuẩn đào tạo theo Thoả thuận công nhận dịch vụ Điều dưỡng đã được Chính phủ các nước ASEAN ký kết ngày 08/12/2006 [45]

Một vấn đề khác đáng quan tâm là y học ngày càng ứng dụng các thành tựu khoa học vào công tác điều trị và tính chuyên khoa hoá ngày càng cao, đòi hỏi các bác sỹ, ĐDV phối hợp chặt chẽ với nhau trong công tác chuyên môn Trong khi ngành điều dưỡng thế giới đã phát triển thành ngành đào tạo đa khoa có nhiều chuyên khoa thì tại Việt Nam mới chỉ có một số ít các cơ sở triển khai đào tạo điều dưỡng chuyên khoa nhưng cũng mới chỉ trên một phạm vi rất hạn chế Ngoài ra, hiện đang có sự mất cân đối về cơ cấu và phân bổ nhân lực y tế nói chung và nhân lực điều dưỡng nói riêng ở các vùng nông thôn và vùng khó khăn Nhân lực ĐDV có trình độ cao chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị và các trung tâm lớn Tình trạng dịch chuyển nhân

Trang 20

lực từ tuyến dưới lên tuyến trên, về các thành phố lớn là đáng báo động, ảnh hưởng đến việc bảo đảm số lượng nhân lực y tế cần thiết ở nông thôn, miền núi và y tế cơ sở [10]

Mục tiêu chung của ngành là đến năm 2020, dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dưỡng viên, hộ sinh viên cung cấp bảo đảm an toàn, chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân; ngành điều dưỡng - hộ sinh phát triển đạt theo tiêu chuẩn nghề nghiệp khu vực và quốc tế Đề án cũng phấn đấu nâng tỷ lệ điều dưỡng viên, hộ sinh lên 18,5 /10 nghìn dân vào năm

2015, và 25 điều dưỡng viên, hộ sinh viên/10 nghìn dân vào năm 2020

1.2.2 Thực trạng về điều dưỡng tại Thái Bình

Theo báo cáo tại Hội nghị tổng kết công tác điều dưỡng tại Bệnh viện

đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2015 (Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình-quá

trình hình thành và phát triển 1995-2013.) cho thấy một cách khả quan về

ngành điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa nói riêng qua đó cho thấy thực trạng điều dưỡng tại Thái Bình nói chung cũng không ngoài tình trạng đó, cụ thể như sau:

Năm 2013 bệnh viện có 746 cán bộ: 175 bác sỹ, 25 dược sỹ, 350 điều dưỡng, 51 kỹ thuật viên y, 27 đại học và 86 cán bộ khác Với số lượng cơ cấu

và trình độ cán bộ hiện có, bệnh viện cơ bản đã đáp ứng được nhiệm vụ của bệnh viện hạng một trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Như vậy tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình đến năm 2013 đến nay thì cơ bản tỷ lệ Bác sỹ / Điều dưỡng của bệnh viện đạt trung bình là ½ chưa đạt tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới về số lượng như đã khuyến cáo Đến năm

2017 thì số lượng điều dưỡng viên tại bệnh viện đã là 750 người và các chức danh khác cũng tăng tỷ lệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh và xã hội trong công tác chăm sóc, tư vấn và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh

Trang 21

Tình hình nhân lực điều dưỡng tại các bệnh viện huyện trong tỉnh Thái Bình khả năng còn hạn chế hơn nữa Một ví dụ cụ thể như Bệnh viện đa khoa huyện Tiền Hải, một bệnh viện khá nổi tiếng về sự phát triển cơ sở hạ tầng, trình độ và nhân lực cán bộ cũng như công tác chuyên môn phục vụ nhân dân trong tỉnh Thái Bình cho thấy: tỷ lệ Bác sỹ / Điều dưỡng hiện tại mới chỉ đạt

cụ thể là 43 Bác sỹ/52 điều dương và Nữ hộ sinh Như vậy kể cả Nữ hộ sinh thì mới đạt tỷ lệ tương đương 1 Bác sỹ/ hơn 1 Điều dưỡng, đây là tỷ lệ thấp với nhu cầu thực tế hiện nay và chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực y tế của bệnh viện nói riêng và của tỉnh nói chung Các bệnh viện tuyến huyện khác trên toàn tỉnh chắc không ngoài tình trạng chung như bệnh viện đa khoa huyện Tiền Hải, Thái Bình Qua đây cho thấy tình trạng chung về nhân lực điều dưỡng của các bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Thái Bình ngày nay vẫn còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng Đây là những vấn đề cấp bách, thách thức ngành y tế Thái Bình trong công tác chuyên môn điều trị tại các cơ sở y tế cũng như trong công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân trong tình hình nền kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng được nâng cao

Việc đánh giá tình trạng nhân lực và chất lượng điều dưỡng tại các bệnh viện trong tỉnh nói riêng và trên toàn quốc nói chung hiện nay là rất cần thiết nhằm góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách về nhân lực của ngành y tế Thái Bình và của Việt Nam là hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị, chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện nói riêng và trong cộng đồng nói chung

1.3 Những nghiên cứu về điều dưỡng

1.3.1 Các nghiên cứu về điều dưỡng trên thế giới

Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một khía cạnh cơ bản của CSNB, giáo dục nhưng nghèo thông tin là vấn đề phổ biến nhất của các khiếu nại của người bệnh trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Theo N Aghakhani và

Trang 22

các cộng sự (2012), nghiên cứu về những rào cản quan trọng nhất của GDSK người bệnh là tình hình làm việc của điều dưỡng, là kiến thức thấp của điều dưỡng và không thấy tầm quan trọng của GDSK Về cơ sở bệnh viện, là thiếu các nguồn tài nguyên để thực hiện GDSK [55] Nghiên cứu này cho thấy, sự tương tác giữa người bệnh, bác sĩ, điều dưỡng và các yếu tố hệ thống có ý nghĩa đối với việc thực hiện GDSK cho người bệnh

Chăm sóc răng miệng là một khía cạnh thiết yếu quan trọng của chăm sóc điều dưỡng Một nghiên cứu cắt ngang của Hajbaghery và Ansari (2013), được tiến hành trên 130 điều dưỡng từ 6 đơn vị chăm sóc đặc biệt tại một bệnh viện trường Đại học ở Iran Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những rào cản quan trọng nhất để chăm sóc răng miệng cho người bệnh là: quá nhiều nhiệm vụ ghi chép, tiếp theo là thiếu thời gian, thiếu nhân viên, thiếu kiến thức và sự nhận thức rằng chăm sóc răng miệng không là nhiệm vụ ưu tiên Đây là những rào cản chính trong thực hiện chăm sóc răng miệng cho người bệnh nặng [50] Tuy nhiên, cần có một nghiên cứu quan sát tiền cứu để có thể phản ánh chính xác hơn thực hành của điều dưỡng trong chăm sóc răng miệng cho người bệnh

Các yếu tố liên quan đến việc thực hiện CSNB của ĐDV có thể nói đến là giới tính Theo A Ozdemir (2008), nghiên cứu về giới và nghề nghiệp, nhận thức của sinh viên điều dưỡng về vai trò của ĐDV nam ở Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả chỉ ra rằng nghề điều dưỡng vẫn được coi là nghề phù hợp cho phái

nữ, nhưng trong một vài hoạt động CSNB vẫn cần có điều dưỡng nam 47,8% sinh viên điều dưỡng nam tin rằng nam giới sẽ cải thiện chất lượng CSNB vì sức mạnh thể chất của họ, đặc biệt là ở các khu vực ICU, phòng mổ, khoa cấp cứu là nơi thích hợp cho nam giới làm việc, còn khoa Nhi là nơi làm việc thích hợp cho giới nữ Vì vậy, nam giới sẽ gặp khó khăn ở vài hoạt động chăm sóc được cho là vai trò truyền thống của nữ giới [43]

Trang 23

Ngoài ra, các yếu tố về thời gian trung bình điều dưỡng trực tiếp CSNB, số nhân lực điều dưỡng tham gia chăm sóc, khối lượng công việc cũng liên quan đến chất lượng CSNB và sự an toàn của người bệnh [43], [44], [48], [55]

Theo nghiên cứu của J.Needleman và các cộng sự (2002), tiến hành bằng phương pháp sử dụng dữ liệu hành chính từ năm 1997 cho 799 bệnh viện tại 11 tiểu bang (bao gồm 5.075.969 bệnh nhân nội khoa và 1.104.659 bệnh nhân phẫu thuật) để kiểm tra mối liên quan giữa thời gian chăm sóc của điều dưỡng với kết quả điều trị của bệnh nhân Kết quả cho thấy, số giờ trung bình mỗi người bệnh được điều dưỡng chăm sóc mỗi ngày là 7,8 giờ, thời gian trung bình mỗi người bệnh được điều dưỡng chăm sóc mỗi ngày cao có liên quan đến chất lượng CSNB tốt và thời gian nằm viện của người bệnh ngắn hơn [48] Tuy nhiên, nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp nên có thể chưa phản ánh đầy đủ về các hoạt động chăm sóc so với thực tế, vì vậy cần có một nghiên cứu quan sát thực tế để có đánh giá khách quan hơn

Trong thời kỳ kinh tế xã hội, kỳ thị và phản kháng, trách móc, nghiên cứu của Sathyajith S về sự hài lòng công việc giữa các y tá của bệnh viện ở Kerala, nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập dữ liệu bằng cách

sử dụng bảng câu hỏi 81 câu từ 200 mẫu thu được kết quả 15% đánh giá mức

độ hài lòng là cao, 72% đánh giá sự hài lòng là vừa phải [61]

Bối cảnh tại Việt Nam, hầu hết nhân viên y tế công cộng (84%) hiện đang làm việc ở khu vực nông thôi, nơi có 80% người dân sinh sống Để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng tốt, điều quan trọng là phát triển các chiến lược ảnh hưởng đến động lực của nhân viên để có hiệu quả tốt hơn Nghiên cứu của Marjoein Dieleman (2003) về các yếu tố thúc đẩy việc làm của nhân viên y tế nông thôn ở miền Bắc Việt Nam cho thấy động lực bị ảnh hưởng bởi cả những khuyến khích tài chính và phi tài chính Các yếu tố thúc đẩy chính cho nhân viên y tế là sự đánh giá cao của các đồng nghiệp quản lý

Trang 24

và cộng đồng, một công việc và thu nhập Các yếu tố gây nản lòng liên quan đến mức lương thấp và điều kiện làm việc khó khăn [52]

1.3.2 Các nghiên cứu về điều dưỡng tại Việt Nam

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới thì tỷ lệ Bác sỹ/Điều dưỡng viên tại các cơ sở điều trị tối thiểu là 1 Bác sỹ/4 Điều dưỡng viên Việt Nam, hiện tại trung bình tại các cơ sở y tế điều trị thì cứ một Bác sỹ thì có 1,5

- 2 Điều dưỡng viên Tỷ lệ này ở Việt Nam cũng là thấp nhất trong số các nước thuộc khu vực Đông Nam Á[9]

Hầu hết các bệnh viện đều thiếu điều dưỡng, trung bình mỗi người phải quản lý gần 3 giường bệnh Do đó các điều dưỡng chỉ có thể thực hiện y lệnh điều trị và theo dõi chứ không đủ thời gian chăm sóc toàn diện bệnh nhân đúng như chức năng của họ (gần gũi hỏi han, chăm sóc về tinh thần ) Do quá thiếu điều dưỡng viên nên một số bệnh viện phải thuê những người không có chuyên môn làm công việc chăm sóc bệnh nhân Ông Thành cũng cho biết, hầu hết điều dưỡng viên ở Việt Nam chỉ có trình độ trung học và sơ học, chỉ hơn 4% có trình độ cao đẳng trở lên

Nghiên cứu của Trần Thị Thảo (2013), tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, việc chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh như: hỗ trợ đại tiểu tiện, vệ sinh cá nhân, ăn uống, thay đồ vải, tỷ lệ NNNB đảm nhiệm giảm dần từ 78,1% xuống 63,6%, thay vào đó là do sự hỗ trợ của NVYT, sự phối hợp giữa NVYT và NNNB, tỷ lệ này tăng dần từ 10,5% đến 22,2% Về nhu cầu tập luyện phục hồi chức năng được NVYT trực tiếp thực hiện là 30,6% Kết quả thể hiện, ĐDV tại bệnh viện này đã có chuyển biến tốt trong việc thực hiện nhiệm vụ đáp ứng các nhu cầu chăm sóc cơ bản cho người bệnh [33]

Nghiên cứu của Trần Ngọc Trung (2012), tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng, điều dưỡng thực hiện chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh chiếm tỷ lệ thấp: vệ sinh răng miệng (5,0%), hỗ trợ đại tiểu tiện (15%), thay

Trang 25

đồ vải (13,7%), cho người bệnh ăn qua thông dạ dày (18,3%) và đáp ứng nhu cầu phục hồi chức năng cho người bệnh đạt từ 15% đến 38,3% Hướng dẫn người bệnh về chế độ dinh dưỡng, thực hiện thuốc và theo dõi dùng thuốc tỷ

lệ lần lượt là 86,7%, 96,7% và 91,7%, có 98,3% người bệnh được công khai thuốc hàng ngày Các yếu tố tác động và cản trở nhiều nhất đến hoạt động CSNB theo ý kiến của ĐDV là thiếu phương tiện (52,7%), thiếu nhân lực (48,3%); thiếu thời gian (21,8%); thiếu trình độ chuyên môn và lớn tuổi (10%) và thiếu sự quan tâm của lãnh đạo (6,7%) [38] Tuy nhiên, 12 nghiên cứu chưa xác định mối liên quan giữa các yếu tố tác động và cản trở nêu trên với việc thực hiện các nhiệm vụ CSNB của ĐDV

Nghiên cứu của Lê Thị Bình (2013), khảo sát kỹ năng thực hành của

450 ĐDV đang trực tiếp làm công tác CSNB tại 9 bệnh viện trong cả nước vào giữa năm 2006 đến 2007 và các yếu tố ảnh hưởng Kết quả cho thấy thực trạng kỹ năng của điều dưỡng còn yếu và có qui luật ở các bệnh viện tuyến trung ương tốt hơn các bệnh viện tuyến tỉnh/thành, việc thực hiện kỹ thuật, thủ thuật theo bảng kiểm chỉ đạt mức trung bình, hầu hết ở các bệnh viện điều dưỡng chỉ thực hiện các kỹ thuật với những bước cơ bản không thể nào thiếu được (ví dụ: tiêm thuốc cho người bệnh chỉ cần rút thuốc vào bơm tiêm sau

đó sát khuẩn và tiêm) còn toàn bộ các bước khác kể cả vô khuẩn thì làm ẩu hoặc bỏ để đáp ứng với khối lượng công việc vì sự quá tải người bệnh [1] Các yếu tố liên quan đến kỹ năng thực hành của điều dưỡng là thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, sự đào tạo liên tục và sự hỗ trợ của đồng nghiệp [18] Nghiên cứu này thực hiện trên phạm vi rộng và đã nêu lên tương đối đầy

đủ thực trạng về những hạn chế trong kỹ năng thực hành CSNB của điều dưỡng tại các bệnh viện tỉnh/thành và tuyến trung ương trong cả nước

Các yếu tố liên quan đến hoạt động CSNB có thể nói đến là độ tuổi của ĐDV, giới tính và thâm niên công tác Ngoài ra còn có yếu tố về số nhân

Trang 26

lực điều dưỡng tham gia trực tiếp CSNB, số người bệnh do ĐDV trực tiếp chăm sóc và thời gian ĐDV trực tiếp CSNB

Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn (2011) tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, đã phát hiện rằng, độ tuổi và thâm niên công tác của ĐDV có liên quan đến nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh (OR = 6,71, 95% CI: 1,49-30,25 và OR = 4,02, 95% CI: 1,29-12,2, p < 0,05), giới tính có liên quan đến nhiệm vụ chăm sóc vệ sinh cá nhân (OR = 0,13, 95% CI: 0,02 - 1,11, p < 0,05) [39] Tuy nhiên, các mối liên quan này có khoảng tin cậy 95% rộng, có thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn

Một số khảo sát tổ chức chăm sóc và nhân lực điều dưỡng trong một ngày làm việc từ 30 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, đã phát hiện rằng, trung bình 1 điều dưỡng phải trực tiếp chăm sóc từ 6 - 7 người bệnh ban ngày và tăng lên rất cao về đêm từ 23 - 24 người bệnh, gần gấp 4 lần so với ban ngày Nhân lực điều dưỡng làm đêm chỉ chiếm 17% so với tổng số nhân lực điều dưỡng và 21% so với nhân lực điều dưỡng làm ngày, vì vậy số người bệnh mà điều dưỡng phải chăm sóc về đêm rất cao Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều nhu cầu cần chăm sóc điều dưỡng sẽ không được đáp ứng cho người bệnh [1] Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích mối liên quan giữa số nhân lực điều dưỡng trực tiếp CSNB với mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB

Nhìn chung nhân lực và trình độ điều dưỡng là chưa cao và áp lực công việc lớn cũng là những yếu tố làm tăng tần suất rủi ro của các điều dưỡng viên

Một khảo sát tại bệnh viện cho thấy, có tới 75% số nhân viên y tế bị vật sắc nhọn đâm khi làm việc (tiêm truyền, bẻ ống thuốc ) mặc dù đa số có đeo găng tay Gần 93% trong số đó là điều dưỡng viên Số lần gặp rủi ro này trung bình là 5 lần mỗi năm, có trường hợp đến 67 lần Phần lớn trong số họ

bị vật sắc nhọn đâm xuyên thấu qua da nên nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường máu rất cao [1]

Trang 27

Thiếu và yếu là một trong các nguyên nhân dẫn đến những sai sót của điều dưỡng viên khi chăm sóc bệnh nhân Một nghiên cứu gần đây khi khảo sát hơn 160 hồ sơ bệnh nhân đã tử vong một bệnh viện nhi tuyến quận của TP

Hồ Chí Minh, các chuyên gia Bệnh viện Nhi đồng 2 đã phát hiện hơn 1/3 trong số đó không được theo dõi sát ngay từ ngày đầu vào viện, nhất là các dấu hiệu sinh tồn (huyết áp, nhịp thở, mạch) Thiếu sót phổ biến nhất là không theo dõi huyết áp (chiếm 83% trường hợp) và nhịp thở (14% trường hợp) Các

y lệnh điều trị (truyền dịch, tiêm thuốc ) cũng không được ghi chép đầy đủ trong phiếu điều trị, bệnh án… [26]

Một nghiên cứu khác của Vũ Xuân Phú và cộng sự (2012) về thực trạng nguồn nhân lực và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa Sóc Sơn, Hà Nội cũng cho thấy một tình trạng thiếu nhân lực điều dưỡng nữ hộ sinh là nghiêm trọng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản nói riêng và trong công tác chăm sóc người bệnh nói chung [31] Ngoài ra, nghiên cứu của Dương Thành Hiệp và cộng sự (2014) về tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện Nguyễn Đình Triểu, tỉnh Bến Tre thu được tỷ lệ stress chung của điều dưỡng,

hộ sinh bị stress nghề nghiệp là 56,9%, được đánh giá là tỷ lệ khá cao [17]

Khảo sát của Huỳnh Thụy Phương Hồng cùng cộng sự (2013) tại 4 bệnh viện đa khoa lớn ở thành phố Hồ Chí Mình về các yếu tố ảnh hưởng kiến thức của điều dưỡng về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính đã thu được kết quả khi sử dụng bảng câu hỏi kiến thức COPD được phát triển bởi Bristol cho thấy giá trị trung bình về kiến thức của điều dưỡng là 31,76 (SD= 6,01) trên

65 điểm Trình độ đào tạo được tìm thấy là yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức ĐDV (p<0,05) [19]

Trang 28

1.4 Các văn bản pháp lý liên quan đến công tác chăm sóc người bệnh trong bệnh viện

Trước đây, chức năng nhiệm vụ của người điều dưỡng là thực hiện y lệnh, phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ nên công tác chăm sóc của điều dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của người bệnh Hầu hết công tác chăm sóc cơ bản cho người bệnh được người nhà đảm nhiệm Để khắc phục tình trạng này, năm 1993 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định 526/QĐ-BYT ban hành chế độ trách nhiệm của y tá trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện và công văn số 3722/BYT-ĐTr hướng dẫn triển khai Quyết định trên [3] Năm 1997, Thông tư 11/1996/TT-BYT về hướng dẫn tổ chức thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện và củng cố hệ thống điều dưỡng trưởng được ra đời Công tác chăm sóc người bệnh toàn diện được thể chế hoá thành Quy chế chăm sóc người bệnh toàn diện trong Quy chế bệnh viện [4] Đến năm 2013,

Bộ trưởng Bộ Y tế đã yêu cầu mọi cán bộ y tế đều có trách nhiệm thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện, các bệnh viện phải tăng cường công tác chăm sóc người bệnh toàn diện [11]

Năm 2011, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về c hăm sóc người bệnh trong bệnh viện và

có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2011, thay thế Quy chế CSNBTD trong Quy chế Bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ ngày 19/9/1997, nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng chăm sóc ngày càng cao hơn [6] Thông tư này là sự cập nhật phù hợp giữa các văn bản pháp luật, tình hình thực tế, nâng cao vị thế nghề nghiệp, đặt công tác điều dưỡng trong mối quan hệ mang tính hệ thống, trao quyền cho các đơn vị vận dụng linh hoạt trong tổ chức quản lý điều dưỡng, quy định cụ thể về nhiệm vụ chăm sóc

Trang 29

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại các khoa lâm sàng thuộc 4 bệnh viện đa khoa tuyến huyện: Bệnh viện đa khoa Tây Tiền Hải; Bệnh viện đa khoa huyện

Vũ Thư; Bệnh viện đa khoa huyện Hưng Hà; Bệnh viện đa khoa Thành Phố Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt Nam Theo quy hoạch phát triển kinh tế, Thái Bình thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ Tỉnh Thái Bình có tọa độ từ 20°18′B đến 20°44′B, 106°06′Đ đến 106°39′Đ Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 120 km

về phía đông nam Địa giới hành chính tỉnh Thái Bình: Giáp tỉnh Hải Dương ở phía bắc; Giáp tỉnh Hưng Yên ở phía tây bắc; Giáp thành phố Hải Phòng ở phía đông bắc; Giáp tỉnh Hà Nam ở phía tây, Giáp tỉnh Nam Định ở phía tây và tây nam; Phía đông giáp vịnh Bắc Bộ, Biển Đông Diện tích toàn tỉnh trên 1570,5 km2, dân số của tỉnh năm 2017 là 1.790.500 người với mật độ 1.138 người/ km2

Thành phần dân số với 85% nông thôn và 15% thành thị Toàn tỉnh có 10 bệnh viện tuyến tỉnh, và 12 bệnh viện đa khoa tuyến huyện

Nghiên cứu được thực hiện tại 3 bệnh viện đa khoa huyện và 1 bệnh viện đa khoa thành phố Các bệnh viện được lựa chọn có quy mô về cơ sở hạ tầng, số giường bệnh, số lượng ĐDV gần như nhau:

- Bệnh viện đa khoa Tây Tiền Hải: đầu năm 2008, Bệnh viện Đa khoa Tây Tiền Hải có quyết định là Bệnh viện Đa khoa hạng II với qui mô 149 giường bệnh Bệnh viện có nhiệm vụ khám , chữa bệnh cho nhân dân các xã , thị trấn trên địa bàn huyện Tiền Hải và một số khu vực lân cận Được sự giúp

đỡ của tỉnh và huyện, những năm gần đây, Bệnh viện Đa khoa Tây Tiền Hải tập trung trang bị cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại nâng cao chất lượng khám

Trang 30

chữa bệnh, chăm sóc phục vụ người bệnh, đây là mục tiêu hàng đầu mà Bệnh viện đặt ra Do yêu cầu của người bệnh, hiện tại Bệnh viện Đa khoa Tây Tiền Hải phải kê thêm gần 100 giường bệnh để phục vụ nhu cầu khám và chữa bệnh của nhân dân , nâng tổng số thực kê năm 2012 lên 254 giường bệnh với

15 khoa và 4 phòng chuyên môn, 165 cán bộ nhân viên, trong đó có 56 điều dưỡng viên

- Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư: là bệnh viện hạng II có 15 khoa phòng, hằng ngày khám, điều trị cho 400 – 600 bệnh nhân, điều trị nội trú cho

200 – 240 bệnh nhân Giường bệnh được giao 150, bệnh viện tự trang bị thêm

120 giường, nên số giường bệnh thực tế là 270 giường bệnh Công suất sử dụng giường bệnh theo kế hoạch khoảng 130%; công suất thực kê khoảng 85%.Với gần 200 cán bộ trong đó 2 thạc sĩ, 1 bác sĩ chuyên khoa II; 17 bác

sĩ và dược sĩ chuyên khoa I, cùng với đó là 62 ĐDV trên toàn bệnh viện

- Bệnh viện đa khoa huyện Hưng Hà: Là bệnh viện tuyến huyện, chịu trách nhiệm khám chữa bệnh cho nhân dân 22 xã, thị trấn, với 17 vạn dân, với

số giường bệnh đưa ra là 220, song thực tế Bệnh viện đa khoa huyện Hưng Hà

đã sử dụng 265 giường bệnh để có thể đáp ứng đủ nhu cầu của người bệnh Bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà có 163 cán bộ y bác sỹ và người lao động, có 47 bác sỹ; trong đó có 18 bác sỹ CKI, CKII và Thạc sỹ, có 86 điều dưỡng viên, kỹ thuật viên, nữ hộ sinh với trình độ đại học và cao đẳng

- Bệnh viện đa khoa Thành Phố Thái Bình: nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa của người dân trong khu vực thành phố và các khu vực lân cận, bệnh viện đa khoa Thành Phố luôn hướng tới tiêu chí “tất cả vì người bệnh” Trong những năm vừa qua, bệnh viện đã liên tục đẩy mạnh công tác khám và điều trị bệnh, tăng cường đổi mới cả về chính sách cũng như trang thiết bị của bệnh viện, từng bước củng cố, kiện toàn về mọi mặt Bệnh viện nhiều năm được đánh giá là bệnh viện tuyến II chất lượng tốt nhất trong toàn tỉnh Năm

2006, Bệnh viện có quy mô 30 giường bệnh, 3 khoa phòng Đến nay, Bệnh

Trang 31

viện đã có 235 giường bệnh, 4 phòng chức năng, 9 khoa lâm sàng và 4 khoa cận lâm sàng, 165 cán bộ, viên chức, trong đó có 45 bác sĩ, với hơn 100 điều dưỡng viên, kĩ thuật viên, hộ lí.

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các điều dưỡng viên đang làm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh

viện chọn vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Các điều dưỡng viên đang trong thời gian nghỉ chế độ

- Kĩ thuật viên, nữ hộ sinh

- Các ĐDV không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Các ĐDV không thuộc các khoa lâm sàng

- Các sinh viên, điều dưỡng đang thực tập tại bệnh viện

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7/2018 đến tháng 4 năm 2019 2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trên cuộc điều tra cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Cỡ mẫu: Chọn toàn bộ ĐDV trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn

tại các khoa lâm sàng của 4 bệnh viện nêu trên và không thuộc các tiêu chuẩn loại trừ được mời vào nghiên cứu Có tất cả 211 ĐDV đã tham gia nghiên cứu: + Bệnh viện đa khoa Vũ Thư: 54 ĐDV

+ Bệnh viện đa khoa Hưng Hà: 32 ĐDV

+ Bệnh viện đa khoa Tiền Hải: 48 ĐDV

+ Bệnh viện đa khoa Thành Phố: 77 ĐDV

- Phương pháp chọn mẫu:

Trang 32

+ Chọn bệnh viện: từ 12 bệnh viện đa khoa tuyến huyện trên địa bàn tỉnh, chúng tôi áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích với tiêu chí: Bệnh viện đa khoa Thành Phố là bệnh viện đa khoa tuyến II có chất lượng quy mô lớn và tiếp cận được với nhiều người bệnh nhất Một bệnh viện huyện gần Thành Phố nhất là bệnh viện đa khoa Vũ Thư Bệnh viện của huyện ven biển được lựa chọn là bệnh viện đa khoa Tiền Hải Bệnh viện của huyện nội đồng xa Thành Phố là bệnh viện đa khoa huyện Hưng Hà

+ Chọn khoa: Trong các bệnh viện, lựa chọn tất cả các khoa lâm sàng thuộc bệnh viện đó, bao gồm các khoa: Khoa Nội, Khoa Ngoại, Khoa Sản, Khoa Nhi, Khoa Y học Cổ truyền, Khoa Cấp cứu, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Khám bệnh, Chuyên khoa ( mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt)

2.2.3 Các biến số và chỉ tiêu trong nghiên cứu

Biến số về thông tin chung

- Tuổi: được tính theo năm dương lịch

- Giới: bao gồm nam giới và nữ giới

- Bệnh viện và khoa công tác: nơi làm việc được kí kết trong hợp đồng

- Trình độ chuyên môn: là trình độ học vấn cao nhất mà đối tượng đã học

- Chuyên ngành đào tạo: ngành mà ĐDV đã học và tốt nghiệp chuyên nghiệp

- Thâm niên công tác: là thời gian kể từ khi bắt đầu tham gia công tác

Biến số về hoạt động nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV

- Số lượng điều dưỡng viên, tỷ lệ cơ cấu điều dưỡng viên theo trình độ

chuyên môn

- Vị trí chuyên môn hiện tại

- Tự đánh giá kỹ năng chuyên môn bản thân

- Số buổi trực trong 1 tháng, số phiên trực trong 1 buổi trực

- Số lượng ĐDV trong 1 ca trực theo chỉ đạo của khoa

- Việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn dựa trên thông tư 07/2011/TT-BYT:

Trang 33

+ Tư vấn, hướng dẫn GDSK: về quyền lợi của người bệnh, nội quy bệnh viện và các vấn đề liên quan đến chuyên môn điều trị có được điều dưỡng viên

hướng dẫn không

+ Chăm sóc tinh thần: thái độ đối với người bệnh ra sao, có trả lời thắc

mắc của người bệnh, động viên, khuyến khích khi cần thiết không

+ Chăm sóc vệ sinh cá nhân

+ Chăm sóc dinh dưỡng: đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh,

hỗ trợ người bệnh ăn uống

+ Chăm sóc phục hồi chức năng và vật lí trị liệu: hỗ trợ người bệnh

luyện tập và phục hồi chức năng

+ Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh: thực hiện đầy đủ

5 đúng, tuân thủ các quy định mà bệnh viện đưa ra

+ Thực hiện các kĩ thuật điều dưỡng: tuân thủ quy trình kĩ thuật phù hợp

với bệnh viện

+ Theo dõi, đánh giá ngời bệnh: phân cấp chăm sóc phù hợp cho từng người bệnh, thực hiện quy định của bệnh viện về theo dõi và ghi chép dấu

hiệu sinh tồn

+ Bảo đảm an toàn kĩ thuật và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật

trong chăm sóc người bệnh: đảm bảo an toàn trong thực hành chuyên môn + Ghi chép hồ sơ bệnh án

Biến số và chỉ tiêu về sự hài lòng với công việc của điều dưỡng viên

- Đánh giá khối lượng công việc theo khả năng chuyên môn và thời gian

làm việc Được chia thành 4 mức khác nhau, trong đó:

+ Bận mải: làm việc liên tục, không có quãng nghỉ

+ Bình thường: có 1-2 quãng nghĩ trong ca làm việc

+ Không bận: có 3-4 quãng nghỉ trong ca làm việc

Trang 34

- Đánh giá khối lượng công việc trong mỗi ca trực Được chia làm 3

mức, trong đó:

+ Bận mải: chăm sóc bệnh nhân liên tục, ca trực đêm không được nghỉ ngơi + Bình thường: có khoảng thời gian nghỉ, ca trực đêm được nghỉ ngơi + Không bận: ít phải chăm sóc bệnh nhân, ca trực đêm được nghỉ dài

- Yếu tố điều kiện làm việc ảnh hưởng đến điều dưỡng viên Được chia

làm 3 mức, trong đó:

+ Rất thuận tiện: tạo điều kiện thuận lợi khi làm việc, không gây cản trở

trong quá trình chăm sóc người bệnh

+ Vừa đủ: đáp ứng đủ nhu cầu hoạt động, chưa phát huy hết khả năng

+ Không thuận tiện: gây khó khăn khi chăm sóc người bệnh, cản trở quá

trình làm việc

- Sự phối hợp với đồng nghiệp Được chia làm 4 mức, trong đó:

+ Rất tốt: phối hợp ăn ý, không khí làm việc vui vẻ, thoải mái

+ Tốt: hòa đồng cùng mọi người, không khí làm việc dễ chịu

+ Bình thường: không khí làm việc bình thường, ít giao tiếp với đồng nghiệp + Không tốt: không giao tiếp với đồng nghiệp, không thoải mái khi làm việc cùng đồng nghiệp

- Sự quan tâm của lãnh đạo đến công tác điều dưỡng Được chia làm 2 mức, trong đó:

+ Có quan tâm: lãnh đạo bệnh viện có đề xuất, phê duyệt các đề xuất về đào tạo liên tục, cũng như khen thưởng kịp thời

+ Chưa quan tâm: ít được phê duyệt các đề xuất về đào tạo liên tục, ít

đưa ra các khen thưởng khi ĐDV làm tốt nhiệm vụ

- Các chế độ chính sách của bệnh viện với ĐDV

2.2.4 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

Trang 35

Sử dụng 2 phương pháp thu thập số liệu để đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV và đánh giá sự hài lòng, gồm: quan sát và sử dụng phiếu hỏi

- Phương pháp quan sát được thực hiện với mục đích đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV: quan sát trực tiếp

- Sử dụng bảng kiểm được thiết kế dựa vào nhiệm vụ CSNB được quy định tại Thông tư 07/2011/TT-BYT

Bảng kiểm được đánh giá theo 5 mức (chi tiết được trình bày ở phụ lục) Sau khi hoàn thành sẽ được đánh giá theo chất lượng của công việc là: Chưa hoàn thành và hoàn thành Trong đó mức “chưa hoàn thành” bao gồm các tiêu chí được đánh ở mức 1 và mức 2 Mức “hoàn thành” bao gồm các chỉ tiêu được đánh giá ở mức 3, mức 4 và mức 5

Bảng kiểm được quan sát thử nghiệm 10 ĐDV và chỉnh sửa trước khi tiến hành quan sát chính thức, mỗi bảng kiểm sử dụng cho quan sát một ĐDV

Quan sát viên gồm nghiên cứu viên và 1 cán bộ là đang công tác tại trường đại học Y Dược Thái Bình Các quan sát viên được tập huấn kỹ về nội dung của bộ công cụ, thống nhất cách quan sát và cách đánh giá mức độ đạt dựa theo bảng hướng dẫn tiêu chí đánh giá được thiết kế sẵn (chi tiết được trình bày ở phụ lục) và một số bảng kiểm quy trình kỹ thuật điều dưỡng hiện đang được áp dụng tại bệnh viện

Nghiên cứu viên là giám sát viên, đồng thời là người kiểm tra thông tin ngay khi nhận phiếu quan sát từ các QSV vừa quan sát xong và bổ sung thông tin khi cần

- Phương pháp sử dụng phiếu hỏi được thực hiện với mục đích đánh giá

sự hài lòng với công việc của ĐDV

Quy trình xây dựng bộ câu hỏi: Các câu hỏi được soạn thảo dựa trên

mục tiêu nghiên cứu, chủ yếu là câu hỏi đóng Bộ câu hỏi bao gồm các câu hỏi xác định thông tin chung về đối tượng, thực trạng về chuyên môn, chuyên

Trang 36

ngành và các yếu tố liên quan đến công việc của đối tượng và sự hài lòng với công việc Sau khi xây dựng xong bộ câu hỏi điều tra thì tiến hành điều tra thử trên nhóm tình nguyện 30 điều dưỡng viên để tìm ra những sai sót hoặc sự thiếu thông tin, sau đó chỉnh sửa thành bộ câu hỏi chính thức để đi điều tra

Điều tra viên: Là người thực hiện đề tài và 1 cán bộ là giảng viên trẻ

đang công tác tại Trường Đại học Y dược Thái Bình Các cán bộ này có kinh nghiệm đã tham gia các nghiên cứu khác

Tập huấn điều tra: Sau khi xây dựng bộ câu hỏi đảm bảo yêu cầu mục

tiêu và tính khoa học chúng tôi đã giải thích cho điều tra viên về nội dung, mục đích và kiến thức có trong phiếu điều tra đồng thời tổ chức cho các điều tra đóng giả là đối tượng nghiên cứu để phỏng vấn lẫn nhau cho đến khi thành thạo thì tiến hành lấy số liệu trên đối tượng nghiên cứu

Tổ chức điều tra: Nhóm điều tra viên căn cứ số lượng điều dưỡng viên

tại các Trung tâm y tế, tiến hành tiếp cận sau thời gian điều dưỡng viên thực hiện các kỹ thuật, thủ thuật trên người bệnh Điều tra viên gặp mặt đối tượng tại phòng hành chính của Khoa/Phòng, giải thích mục đích nghiên cứu và tiến hành phát phiếu điều tra để đối tượng tự điền Các phiếu điều tra được thu lại vào cuối mỗi buổi để rà soát lại các nội dung của phiếu Các điều tra viên được tập hợp lại để rút kinh nghiệm trong việc điều tra ngay sau mỗi buổi điều tra

Ban chủ nhiệm đề tài trực tiếp đến từng bệnh viện được chọn, thống nhất kế hoạch nghiên cứu với Ban giám đốc bệnh viện, trưởng/phó các phòng

và khoa lâm sàng, các điều dưỡng trưởng: Nội dung, kế hoạch và thời gian phát và trả lời câu hỏi trong phiếu hỏi

- Phổ biến cho ĐDV về nội dung công việc

- Phát phiếu điều tra đến các ĐDV

- Hướng dẫn ĐDV điền phiếu

- ĐDV tự điền phiếu có giám sát của người thu thập phiếu

Trang 37

- Tiến hành điều tra lần lượt từng khoa, phòng của bệnh viện cho đến khi đạt đủ số lượng

- Tiến hành điều tra lần lượt từng bệnh viện, hết bệnh viện này đến bệnh viện khác liên tục trong cùng một đợt thống nhất

Điều tra viên là người thực hiện đề tài, đã nắm rõ về nội dung của phiếu điều tra và thống nhất cách điều tra tại tất cả các bệnh viện ĐTV giải thích rõ nội dung nghiên cứu và phát phiếu hỏi cho tùng ĐDV tự điền Sau khoảng 15 – 30 phút thì thu lại phiếu hỏi, ĐTV kiểm tra về sự phù hợp của các câu trả lời và đề nghị chỉnh ngay khi có sai sót

2.3 Xử lý số liệu

Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê toán học ứng dụng trong nghiên cứu y sinh học bằng phần mềm EPI-DATA và SPSS

- Nhập phiếu theo chương trình phần mềm EPI DATA

- Xử lý gọi kết quả bằng chương trình phần mềm SPSS

- Sử dụng các test so sánh phù hợp với kết quả và các chỉ số nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu được thể hiện dưới bảng số liệu và biểu đồ minh họa số liệu thu được

2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích của nghiên cứu và

đồng ý tham gia

- Mọi thông tin liên quan đến ĐDV trong nghiên cứu đều được giữ bí

mật không làm ảnh hưởng đến uy tín và công việc

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, đã được thông qua và được phép tiến hành điều tra

2.5 Hạn chế của nghiên cứu và hướng khắc phục

2.5.1 Hạn chế

Trang 38

- Địa bàn nghiên cứu của đề tài là các Bệnh viện tuyến huyện thuộc tỉnh Thái Bình, kết quả thu được chỉ hữu ích cho việc hoạch định chính sách về y

tế tại tỉnh Thái Bình

- Nghiên cứu được thực hiện tại các khoa lâm sàng với các nhóm chuyên khoa khác nhau và ĐDV được phân công CSNB tại các vị trí cũng khác nhau (buồng bệnh thường, buồng bệnh nặng/đơn nguyên hồi sức tích cực), nên việc thực hiện các nhiệm vụ CSNB cũng có tính chất khác nhau Vì vậy, có thể gặp sai số trong đánh giá chung về mức độ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của các ĐDV

- Số lượng người bệnh do ĐDV được phân công trực tiếp chăm sóc khác nhau Vì vậy, khó so sánh về mức độ hoàn thành nhiệm vụ giữa các điều dưỡng viên với nhau

- Việc phát vấn ĐDV để tìm hiểu về sự hài lòng với công việc của họ có thể xảy ra sai số do ĐDV tự điền, có khả năng do tình cảm riêng hoặc đọc không kỹ nội dung câu hỏi nên đánh dấu chủ quan hoặc theo quán tính

- Thời điểm thực hiện nghiên cứu trùng với thời gian làm việc hành chính, ĐDV còn bận mải thực hiện các công việc chuyên môn nên việc xảy ra trường hợp điền phiếu qua loa, nhìn của những người khác để điền

- Khoảng thời gian nghiên cứu được các ĐDV cho biết là khoảng thời điểm ít bệnh nhân trong năm, nên việc đánh giá về mức độ công việc chưa chuẩn xác

- Số liệu thu thập được trong quá trình phát vấn đối tượng nghiên cứu có thể có những sai số nhớ lại

2.5.2 Khắc phục

- ĐTV phát phiếu hỏi cho từng đối tượng nghiên cứu, giải thích rõ mục đích của cuộc điều tra và nội dung bộ câu hỏi Đồng thời hướng dẫn kỹ ĐDV cách tự đánh giá và tránh sự rập khuôn trong khi đánh giá

Trang 39

- Tiến hành giám sát trong quá trình ĐDV điền phiếu, tránh tình trạng làm theo bộ phiếu của người khác.

- Giải thích về các câu hỏi khi có thắc mắc

- Kiểm tra từng phiếu sau khi thu lại từ ĐDV, nếu có sai sót yêu cầu ĐDV đó thực hiện lại hoặc bổ xung các thông tin còn thiếu

Trang 40

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1.Thông tin chung về điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1 Tỷ lệ phân bố điều dưỡng viên theo bệnh viện

Bệnh viện đa khoa Thành Phố 77 36,5

Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư 54 25,6

Bệnh viện đa khoa Tây Tiền Hải 48 22,7

Bệnh viện đa khoa huyện Hưng Hà 32 15,2

Bệnh viện đa khoa Thành phố có số lượng điều dưỡng viênlớn là 77 ĐDV (chiếm 36,5%), bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư có 54 ĐDV, bệnh viện đa khoa Tây Tiền Hải và bệnh viện đa khoa Hưng Hà có số ĐDV tham gia nghiên cứu lần lượt là 48 ĐDV và 32 ĐDV

Bảng 3.2 Phân bố điều dưỡng viên theo độ tuổi

Ngày đăng: 22/08/2019, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm