1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và nhận thức, thái độ về hút thuốc lá, phòng chống tác hại thuốc lá của nam sinh viên trường cao đẳng y tế ninh bình, năm 2018

95 284 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên quan giữa thái độ với đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá .... Vấn đề đặt ra là tỷ lệ hút thuốc lá của nam sinh viên trường C

Trang 1

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đôi nét về lịch sử thuốc lá 3

1.2 Thành phần và độc tính của khói thuốc lá 4

1.2.1 Các chất có trong khói thuốc lá 4

1.2.2 Khói thuốc lá 6

1.3 Ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏecủa con người 7

1.3.1 Hút thuốc và bệnh ung thư 8

1.3.2 Hút thuốc và bệnh tim mạch 9

1.3.3 Hút thuốc và bệnh hô hấp 11

1.3.4 Hút thuốc và các vấn đề sức khỏe sinh sản 13

1.4 Nguy cơ hút thuốc lá thụ động 15

1.4.1 Thực trạng và tác hại của hút thuốc lá thụ động ở trẻ em 16

1.4.2 Thực trạng và tác hại của hút thuốc lá thụ động ở người trưởng thành 17 1.5 Tổnthất về kinh tế do việc sử dụng thuốc lá 17

1.5.1 Trên thế giới 17

1.5.2 Tại Việt Nam 18

1.6 Chỉ đạo của Nhà nước về Kiểm soát thuốc lá 19

1.7 Nghiên cứu tình hình hút thuốc lá trên thế giới và ở Việt Nam 21

1.7.1 Trên thế giới 21

1.7.2 Tại Việt Nam 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 26

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu: 26

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu: 28

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

Trang 2

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 29

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu: 29

2.2.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu 30

2.2.4 Phương pháp và phương tiện thu thập thông tin 31

2.2.5 Phương pháp đánh giá trong luận văn 32

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 35

2.3 Vấn đề đạo đức 35

2.4 Hạn chế sai số 36

2.4.1 Trong quá trình chọn mẫu: 36

2.4.2 Trong quá trình thu thập số liệu: 36

2.4.3 Trong quá trình xử lý số liệu 36

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37

3.2 Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 38

3.2.1 Thực trạng hút thuốc lá trong nam sinh viên 38

3.3 Nhận thức và thái độ của nam sinh viên đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá 43

3.3.1 Nhận thức của nam sinh viên đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá 43

3.3.2 Thái độ của nam sinh viên đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá 52

Chương 4: BÀN LUẬN 58

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 58

4.2 Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 58

4.2.1 Thực trạng hút thuốc lá trong nam sinh viên 58

4.2.2 Một số yếu tố liên quan đến hút thuốc lá của nam sinh viên 63

Trang 3

4.3 Nhận thức, thái độ về hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá của nam

sinh viên 64

4.3.1 Nhận thức về hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá 64

4.3.2 Thái độ đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá 74

KẾT LUẬN 82

1 Thực trạng hút thuốc lá và các yếu tố liên quan đến hút thuốc lá của đối tƣợng nghiên cứu 82

1.1 Thực trạng hút thuốc lá trong nam sinh viên 82

1.2 Một số yếu tố liên quan đến hút thuốc lá của nam sinh viên 82

2 Nhận thức, thái độ về hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá 82

2.1 Nhận thức về hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá 82

2.2 Thái độ đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá 83

KHUYẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu (n=226) 37Bảng 3.2 Tỉ lệ đối tượng nghiên cứu hiện đang hút thuốc theo nhóm tuổi (n=226) 39Bảng 3.3 Lý do hút thuốc của đối tượng nghiên cứu (n=70) 39Bảng 3.4 Thời gian hút thuốc của đối tượng nghiên cứu (n=70) 40Bảng 3.5 Mức độ và thời điểm bắt đầu hút thuốc trong ngày sau khi thức dậy của đối tượng nghiên cứu (n=70) 40Bảng 3.6 Liên quan giữa tình trạng hút thuốc với đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 42Bảng 3.7 Nhận thức về ảnh hưởng của hút thuốc lá ở đối tượng nghiên cứu (n=226) 43Bảng 3.8 Nhận thức về ảnh hưởng của hút thuốc lá qua cách hút thuốc 43Bảng 3.9 Nhận thức về bệnh do hút thuốc lá gây ra ở đối tượng nghiên cứu (n=226) 44Bảng 3.10 Nhận thức về tác hại của hút thuốc lá ở đối tượng nghiên cứu (n=226) 45Bảng 3.11 Nhận thức về tác hại của thuốc lá nhẹ ở đối tượng nghiên cứu (n=226) 45Bảng 3.12 Nhận thức của đối tượng nghiên cứu về xử phạt hành chính đối với vi phạm về sử dụng thuốc lá (n=226) 49Bảng 3.13 Phân loại nhận thức của đối tượng nghiên cứu đối với hút thuốc lá

và phòng chống tác hại của thuốc lá (n=226) 50Bảng 3.14 Liên quan giữa nhận thức với đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá 51Bảng 3.15 Thái độ của đối tượng nghiên cứu chưa hút thuốc bao giờ (n=125) 52Bảng 3.16 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đã và đang hút thuốc (n=101) 53

Trang 5

Bảng 3.17 Thái độ đối với người hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu (n=226) 54Bảng 3.18 Phân loại thái độ đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá ở đối tượng nghiên cứu (n=226) 55Bảng 3.19 Liên quan giữa thái độ với đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá 56Bảng 3.20 Liên quan giữa nhận thức và thái độ của đối tượng nghiên cứu về hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá (n=226) 57

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tình trạng hút thuốc của đối tượng nghiên cứu (n=226) 38Biểu đồ 3.2 Phân loại mức độ nghiện thuốc lá theo thang điểm Fagerstrom thu gọn của đối tượng nghiên cứu (n=70) 41Biểu đồ 3.3 Nơi thường hút thuốc của đối tượng nghiên cứu (n=70) 41Biểu đồ 3.4 Nhận thức về việc bỏ hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu (n=226) 46Biểu đồ 3.5 Nhận thức về cách bỏ thuốc lá tốt nhất của đối tượng nghiên cứu (n=226) 46Biểu đồ 3.6 Nhận thức về biện pháp cai nghiện thuốc lá của đối tượng nghiên cứu (n=226) 47Biểu đồ 3.7 Nhận thức về biện pháp để giảm tình trạng hút thuốc lá trong cộng đồng của đối tượng nghiên cứu (n=226) 47Biểu đồ 3.8 Nhận thức về biện pháp để cấm hút thuốc lá trong nhà trường của đối tượng nghiên cứu (n=226) 48Biểu đồ 3.9 Nguồn thông tin về tác hại và phòng chống tác hại của thuốc lá ở đối tượng nghiên cứu (n=226) 50Biểu đồ 3.10 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với khuyến cáo trên bao

bì thuốc lá (n=226) 55

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Những hóa chất độc hại được người hút thuốc hít vào 4Hình 1.2 Tác hại của khói thuốc lá 7Hình 1.3 Bệnh do hút thuốc lá thụ động 15

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hút thuốc là là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, nhưng có thể phòng tránh được Hiện nay trên thế giới hằng năm có khoảng 7 triệu người chết do các căn bệnh liên quan đến thuốc lá Hút thuốc lá cũng là tác nhân của rất nhiều loại bệnh khác nhau và chi phí khám chữa bệnh do nguyên nhân từ thuốc lá tăng theo mỗi năm Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 1,3 tỷ người hút thuốc

và số này sẽ tăng lên 1,6 tỷ người vào năm 2020 Số lượng người hút thuốc chủ yếu ở các nước đang phát triển và chậm phát triển [60], [7]

Việt Nam vẫn là một trong 15 nước có số người hút thuốc lá cao nhất trên thế giới Mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng 40.000 ca tử vong liên quan đến sử dụng thuốc lá Con số này sẽ tăng lên thành 70.000 ca/năm vào năm

2030 nếu các biện pháp phòng chống tác hại thuốc lá không được thực hiện kịp thời [7] Điều tra Toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (GATS) do Tổng cục Thống kê phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện năm 2015 cho thấy, so với năm 2010, tỷ lệ hút thuốc lá trong nam giới Việt Nam có giảm khoảng 2%, tuy nhiên tỷ lệ hút thuốc trong nam giới của chúng

ta vẫn rất cao 22,5% người trưởng thành (45,3% nam giới, 1,1% nữ giới) tương đương 15,6 triệu người hiện đang hút thuốc Tuổi trung bình bắt đầu hút thuốc hàng ngày của nhóm tuổi từ 20 đến 34 tuổi là 18,8 Việt Nam hiện

có 33 triệu người không hút thuốc thường xuyên phải hút khói thuốc tại nhà

và hơn 5 triệu người trưởng thành không hút thuốc thường xuyên hít phải khói thuốc tại nơi làm việc [5] Tỷ lệ này cho thấy tại Việt Nam số thanh niên hút thuốc lá khá cao, đại bộ phận là nam, chính nhóm đối tượng này ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng và xã hội cả hiện tại và tương lai

Ngoài những tác hại đối với sức khỏe, hút thuốc lá còn gây ra nhưng tổn thất lớn về kinh tế của gia đình và toàn xã hội Năm 2012, số tiền người dân Việt Nam chi mua thuốc lá một năm là 22 nghìn tỷ đồng, năm 2015 là 31

Trang 8

ngàn tỷ đồng Bên cạnh đó, tổng chi phí điều trị và tổn thất do mất khả năng lao động vì ốm đau và tử vong sớm do 5 nhóm bệnh (ung thư phổi, ung thư đường tiêu hóa-hô hấp trên, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhồi máu cơ tim, đột qụy) trong số 25 bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá là 23 nghìn tỷ đồng/năm [7]

Sinh viên trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình là những cán bộ y tế hiện tại

và trong tương lai có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng và cũng là người thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe vận động mọi người không hút thuốc lá Việc nhận thức được tác hại của thuốc lá

và những thói quen ảnh hưởng việc hút thuốc lá của nam sinh viên nhà trường

là hết sức cần thiết Vấn đề đặt ra là tỷ lệ hút thuốc lá của nam sinh viên trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình hiện nay là bao nhiêu, kiến thức và thái độ của nam sinh viên đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá như thế nào để xây dựng mô hình nhà trường không thuốc lá, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và nhận thức, thái độ về hút thuốc lá, phòng chống tác hại thuốc lá của nam sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình năm 2018” với 2 mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng hút thuốc lá và một số yếu tố liên quan đến hút thuốc lá của nam sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình năm 2018

2 Đánh giá nhận thức, thái độ của nam sinh viên về hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá tại địa bàn nghiên cứu

Trang 9

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đôi nét về lịch sử thuốc lá

Cây thuốc lá hoang dại được sử dụng từ khi bắt đầu nền văn minh của người da đỏ ở vùng Trung và Nam Mỹ cách đây khoảng 4000 năm Ban đầu được các thổ dân châu Mỹ sử dụng trong các buổi lễ tôn giáo Năm 1492 Christopher Columbus tìm ra châu Mỹ đồng thời du nhập cây thuốc lá vào châu Âu, sau đó lan sang châu Á và các châu lục khác Cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII có ảnh hưởng thúc đẩy sản xuất thuốc lá phát triển

và thu được lợi nhuận to lớn Từ cuối thế kỉ XIX, nhiều nhà máy sản xuất thuốc lá ra đời, thuốc lá điếu bắt đầu được sử dụng Hàng loạt công ty thuốc lá liêntục xuất hiện đồng nghĩa với việc tỷ lệ hút thuốc lá tăng lên đáng kể, đặc biệt trong quân đội, thuốc lá được cấp miễn phí cho quân lính Đầu thế kỷ

XX, ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏe con người được phát hiện và ngày càng nhiều Đây cũng là lúc các nhà khoa học tìm ra và chứng minh được thuốc lá là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật đối với con người và ảnh hưởng xấu đến môi trường, kinh tế, xã hộicủa nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó

có Việt Nam

Ở Việt Nam, cây thuốc lá được trồng từ lâu Hiện nay có khoảng 27/63 tỉnh thành trồng thuốc lá, đặc biệt có những vùng cây thuốc lá là cây trồng chính, đem lại sản lượng cao như các tỉnh phía Bắc Mỗi năm, lĩnh vực trồng, chế biến và kinh doanh thuốc lá tạo ra khoảng hơn 200000 việc làm cho nền kinh tế, nộp ngân sách trên 18.000 tỷ đồng Nước ta có khoảng 33 nhà máy sản xuất thuốc lá, đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, 106,85 tỷ điếu thuốc lá sản xuất tại Việt Nam năm 2016 [45] Tuy nhiên thị trường thuốc lá trong nước vẫn còn nhiều mặt hàng thuốc lá ngoại Có hiện tượng này là do thuốc lá được nhập lậu vào thị trường Việt Nam Hằng năm, lượng thuốc lá lậu qua Việt Nam khoảng 1 tỷ bao, làm thất thoát ngân sách nhà nước hơn 10.000 tỷ đồng

Trang 10

1.2 Thành phần và độc tính của khói thuốc lá

Hình 1.1 Những hóa chất độc hại được người hút thuốc hít vào

1.2.1 Các chất có trong khói thuốc lá

Khói thuốc lá chứa hơn 7000 chất hóa học tồn tại dưới 2 dạng: dạng hạt

và dạng khí

Dạng hạt bao gồm chất gây nghiện điển hình nicotine, chất hắc ín… Dạng khí bao gồm chất gây độc điển hình monocyt cacbon (CO), amoniac, dimethyl nitro samin, tormandehyt

Trong số hơn 7000 chất hóa học, có tới 69 chất được chứng minh là gây ung thư như polyciclic aromatic hydrcacbon (PAH), amin thơm gây ung thư tổ chức, nitrosamin gây ung thư phổi, một số loại chất hóa học khác thúc đẩy sự phát triển của khối u [7] Các chất có trong thuốc lá gồm 4 nhóm chính:

- Nicotine:

Nicotine là một chất gây nghiện có trong thuốc lá, được hấp thụ vào máu và ảnh hưởng đến não bộ trong khoảng 10 giây sau khi hút vào Sau mỗi lần hít một hơi thuốc lá, Nicotine gây tăng nhịp đập của tim, co thắt mạch máu ở tim, tăng mạch và huyết áp

Trang 11

Cơ quan Kiểm soát Dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp nicotine vào nhóm các chất có tính chất dược lý gây nghiện mạnh, tương tự như các chất ma tuý như heroin và cocain Khi nicotine trong khói thuốc gắn kết thụ thểnicotine trên các tế bào thần kinh tại “trung tâm thưởng” ở hệ viền não bộ, các hóa chất trung gian dẫn truyền thần kinh được phóng thích gây ra một loạt các phản ứng hóa học tạo ra nhiều tác động tâm thần kinh như cảm giác sảng khoái, vui vẻ, tăng hoạt động nhận thức Tuy nhiên cảm giác đó sẽ mau qua đi sau vài phút

Khi nồng độ nicotine trong cơ thể giảm xuống, người hút thuốc sẽ cảm thấy bứt rứt, căng thẳng, không tập trung được, buồn bã, lo lắng, rối loạn giấc ngủ vì vậy để có sự thoải mái, người hút thuốc phải hút điếu thuốc tiếp theo

Ở những người sử dụng thuốc lá, nicotine được tìm thấy ở tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể và trong cả sữa mẹ Đối với những người hút trên

15 điếu thuốc một ngày, nồng độ nicotine trong máu luôn ở mức cao làm cho việc cai thuốc trở lên khó khăn hơn rất nhiều [7]

- Hắc ín:

Nhựa thuốc lá chính là sản phẩm của sự cô đặc khói thuốc, có màu đen

và quánh giống như nhựa đường Trong nhựa thuốc lá chứa hàng ngàn chất hoá học trong đó có các chất độc và chất gây ung thư

Khi khói thuốc được hít vào phổi, các chất nhựa lắng đọng và bám vào các khoang chứa khí của phổi Chúng làm bất hoạt các tế bào lông chuyển của niêm mạc hô hấp Đồng thời các hóa chất độc trong khói thuốc sẽ tấn công vào tế bào tại đường hô hấp và toàn bộ cơ thể

- Monoxit cacbon (CO):

Nồng độ CO cao trong khói thuốc được hấp thụ vào máu, gan vàhemoglobin với ái lực cao hơn Oxy 20 lần, làm tăng hemoglobin khử dẫn đến giảm nồng độ Oxy chuyển đến tổ chức, gây thiếu máu tổ chức và xơ vữa

Trang 12

động mạch và ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng và điều chỉnh cơ thể, từ đó gây ra bệnh tim, đột qụy và các vấn đề tuần hoàn khác

- Chất gây ung thư:

Có 69 chất gây ung thư được được khẳng định có trong khói thuốc Phần lớn các chất gây ung thư trong khói thuốc lá được tạo ra do quá trình phân huỷ của các chất polycyclic aromatic hydrocarbon (PAH) và chất phóng

xạ polonium bay hơi lẫn vào khói thuốc khi điếu thuốc cháy.Khói thuốc có các chất thơm dạng vòng như benzen pyrene có tính chất gây ung thư, chất này tác dụng lên bề mặt đường hô hấp gây viêm mạn tính, phá hủy tổ chức biến đổi tế bào làm loạn sản, dị sản và cuối cùng gây ung thư hóa [7]

1.2.2 Khói thuốc lá

Có 3 kiểu khói thuốc: dòng khói chính, dòng khói phụ và khói thuốc môi trường

Dòng khói chính (MS: Main Stream) là dòng khói do người hút thuốc

lá hít vào cơ thể Đó là luồn khí đi qua gốc của điếu thuốc

Dòng khói phụ (SS: Side Stream) là khói thuốc từ đầu điếu thuốc đang cháy tỏa ra vào không khí, nó không bao gồm phần khói thuốc do người hút thở ra Khoảng 80% điếu thuốc là cháy bỏ đi

Khói thuốc môi trường (ETS: Environmental Tobacco Stream) là hỗn hợp các dòng khói phụ và khói thở ra của dòng khói chính cũng như các chất tạp nhiễm khuếch tán qua giấy quấn thuốc lá và đầu điếu thuốc giữa các lần hút

Dòng khói thuốc môi trường rất giống với dòng khói chính, nó bao gồm hơn 3800 loại hóa chất Điều đáng ngạc nhiên là dòng khói phụ có nhiều hỗn hợp gây ung thư mạnh hơn dòng khói chính Điều này là bởi vì dòng khói phụ tạp nhiễm hơn dòng khói chính Dòng khói phụ cũng khác dòng khói chính ở chỗ các sản phẩm độc có thể tồn tại dưới dạng khácnhư nicotine chủ yếu ở dạng rắn trong khói thuốc dòng chính, nhưng lại ở dạng khí trong khói thuốc môi trường

Trang 13

Mối liên hệ giữa dòng khói phụ và một số hậu quả đến sức khỏe như nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, ung thư phổi và hen suyễn đã được biết đến từ lâu Trên toàn cầu, hơn một phần ba số người thường xuyên tiếp xúc với tác hại của khói thuốc Sự tiếp xúc này gây ra khoảng 600.000 ca tử vong mỗi năm và khoảng 1% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu và ở mọi khu vực trên thế giới [59]

Kích thước các hạt phân tử rất khác nhau ở các loại khói thuốc khác nhau Kích thước các phân tử rắn dao động trong khoảng 0,01-1 micromet trong dòng khói phụ Khi dòng khói phụ bị pha loãng hơn thì kích thước các hạt trở nên nhỏ hơn Vì kích thước các hạt trong dòng khói phụ nhỏ hơn nên

dễ dàng vào sâu hơn trong các tổ chức phổi

1.3 Ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏe của con người

Hình 1.2 Tác hại của khói thuốc lá

Trang 14

1.3.1 Hút thuốc và bệnh ung thư

1.3.1.1 Ung thư phổi

Sử dụng thuốc lá là nguyên nhân gây hơn 90% các ca tử vong vì ung thư phổi Trên thế giới tỉ lệ mắc ung thư phổi tăng khá nhanh trong vòng 60 năm qua, tăng hơn nhiều so với các loại ung thư chính khác và tỉ lệ này cho thấy có sự liên quan mật thiết với việc số người hút thuốc tăng lên Thực tế ung thư phổi là căn bệnh hiếm thấy trước khi sử dụng thuốc lá trở nên phổ biến Ung thư phổi không phổ biến ở nhóm người không hút thuốc

Rất nhiều nghiên cứu trong những năm 1990 và sau này chỉ ra nguy cơ mắc ung thư phổi ở những người hút thuốc cao hơn những người không bao giờ hút thuốc 20 lần hoặc nhiều hơn [57]

1.3.1.2 Ung thư hầu, miệng

Các nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng hút thuốc lá là yếu tố nguyên nhân của ung thư hầu và khoang miệng Các dẫn chất trong thuốc lá và khói thuốc lá có chứa các chất thúc đẩy sự phát triển ung thư trong khoang miệng Nguy cơ mắc ung thư khoang miệng ở nam giới có hút thuốc lá cao hơn nam giới không hút thuốc lá từ 3,6 đến 11,8 lần Con số này lên tới 14,1 lần đối với ung thư hầu [52] Nguy cơ mắc ung thư hầu miệng tăng lên khi sử dụng thuốc lá với thời gian dài hơn và với số lượng nhiều hơn

1.3.1.3 Ung thư thực quản

Đến năm 1982, với đầy đủ các bằng chứng từ nghiên cứu dịch tễ học, y sinh học và thực nghiệm các nhà khoa học Hoa Kỳ đã kết luận được hút thuốc

lá là nguyên nhân chính gây ra ung thư thực quản [53] Theo Carstensen và CS qua một nghiên cứu thuần tập theo dõi 25129 nam giới trong 16 năm (1963-1979) tại Thụy Điển cho thấy những người hút thuốc lá liên tục có nguy cơ mắc ung thư này cao hơn gấp 3,7 lần so với người không hút thuốc [48]

Trang 15

1.3.1.4 Ung thư bàng quang và ung thư thận

Hút thuốc lá có thể gây ra tới 30% đến 40% các trường hợp ung thư bàng quang Cai thuốc lá thành công trước tuổi 50 sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh khoảng 50% sau 15 năm so với hút thuốc

Nguy cơ tăng lên cùng với số lượng thuốc lá sử dụng tăng, với thời gian hút thuốc Hút thuốc lá gây ra 70 đến 82% các trường hợp ung thư quanh thận và ung thư niệu quản của nam và 37 đến 61% ở nữ

Nguy cơ mắc ung thư thận ở những người hút thuốc cao hơn người không hút thuốc có thể tới 5 lần [53]

1.3.1.5 Ung thư cổ tử cung

Có mối quan hệ nhân quả giữ hút thuốc lá và ung thư cổ tử cung Nguy

cơ mắc ung thư tử cung ở người hút thuốc cao gấp từ 1 đến 5 lần người không hút thuốc Nguy cơ mắc giảm sau khi cai thuốc [55]

1.3.1.6 Ung thư dạ dày

Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã báo cáo tỷ lệ chết và mắc ung thư dạ dày cao hơn ở nhóm những người hút thuốc Từ năm 2002, các nhà khoa học thuộc trung tâm nghiên cứu ung thư quốc tế đã kết luận rằng có đủ bằng chứng chứng tỏ hút thuốc lá có quan hệ nhân quả với ung thư dạ dày [46]

1.3.2 Hút thuốc và bệnh tim mạch

Khói thuốc khi vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch máu Trong phút đầu của quá trình hút thuốc nhịp tim bắt đầu tăng lên, có thể tăng tới 30% trong 10 phút đầu hút thuốc Nhịp tim có thể giảm xuống từ từ nếu tiếp tục hút thuốc, nhưng không bao giờ trở về bình thường nếu chưa ngừng hút

Từ năm 1940, các nhà khoa học đã phát hiện mối liên hệ giữa hút thuốc

lá và nguy cơ bị bệnh tim mạch, dù hút một vài điếu thuốc trong ngày cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim này Mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá

Trang 16

và bệnh tim mạch không chỉ thấy ở cả 2 giới, trong người trẻ và người già mà còn thấy ở tất cả các chủng tộc

Những bệnh mà người hút thuốc có nguy cơ mắc cao là xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, đột qụy, rối loạn nhịp tim, đột tử, nhồi máu cơ tim, phình động mạch chủ

1.3.2.1 Xơ vữa động mạch

Chứng xơ vữa động mạch là do tích luỹ các chất béo trong động mạch

và gây cản trở và làm hẹp các động mạch Xơ vữa động mạch là nguyên nhân dẫn đến bệnh mạch vành do lớp nội mạch bị phá huỷ bởi các hóa chất trong khói thuốc

Một nghiên cứu trên cộng đồng ở Pháp năm 1991 cho thấy so với nhóm

nữ không hút thuốc, nhóm nữ hút thuốc có nguy cơ mắc xơ vữa động mạch cao gấp 3,9 lần [49]

1.3.2.2 Bệnh mạch vành

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa hút thuốc lá và nhồi máu cơ tim cho dù nghiên cứu được thực hiện trên chủng tộc hay dân tộc nào

So với người không hút thuốc, nguy cơ mắc bệnh mạch vành tăng lên 1,6 lần ở người đã từng hút thuốc, lên 3 lần ở người hút từ 1-14 điếu/ngày và lên 5,5 lần ở người hút trên 14 điếu thuốc/ngày Nguy cơ mắc và chết do bệnh mạch vành ở người hút thuốc cao hơn người không hút thuốc từ 2,5 lần đến

75 lần tùy theo mức độ hút thuốc, theo giới và tuổi

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ chết đột ngột do kết dính tiểu cầu, giải phóng những chất catecholamines gây ra huyết khối cấp tính và loạn nhịp tim Các bằng chứng cho thấy nicotine ảnh hưởng đến khả năng dẫn chuyền của tế bào cơ tim, thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa hút thuốc lá với loạn nhịp tim

và chết đột ngột [58]

Trang 17

1.3.2.3 Bệnh mạch máu não

Bệnh mạch máu não là một hội chứng tổn thương thần kinh do máu tưới lên não bị ngắt quãng Tổn thương có thể từ nhẹ đến nặng tùy theo vùng não bộ nào bị tổn thương và có thể là tạm thời (thiếu máu cục bộ tam thời) hay vĩnh viễn (đột qụy) Qua nhiều nghiên cứu, các nhà khoa đã khẳng định hút thuốc lá là một nguyên nhân gây ra bệnh mạch máu não Một nghiên cứu theo dõi 40 năm từ 1951 đến 1991 của Doll và cộng sự năm 1994 khẳng định liên quan giữa hút thuốc và chết cho đột qụy Nguy cơ chết do đột qụy ở người hút thuốc cao hơn người không hút thuốc từ 1,3 đến 2,1 lần tùy vào loại đột qụy Với những người hút thuốc nhiều hơn, nguy cơ bị đột qụy cao hơn,

cụ thể là nguy cơ chảy máu dưới màng não tăng lên từ 1,4 đến 1,7 và 3,4 lần ở

ba nhóm tương ứng hút từ 1-14 điếu thuốc lá/ngày, hút từ 15-24 điếu/ngày và hút từ trên 24 điếu/ngày

1.3.2.4 Cao huyết áp

Một tác động nguy hiểm khác của khói thuốc là gây tăng huyết áp cấp tính Trong vòng vài phút hút thuốc, nhịp tim bắt đầu tăng Để phản ứng lại sự kích thích này, mạch máu co bóp lại buộc tim phải hoạt động nhiều hơn để luân chuyển oxy Một số nghiên cứu cho thấy huyết áp trở về bình thường giữa các lần hút thuốc nhưng nếu hút nhiều lần trong ngày làm tăng huyết áp trung bình, dẫn đến các bệnh về tim mạch

Hút thuốc còn làm giảm tác dụng của việc điều trị tăng huyết áp do các chất hóa học trong khói thuốc kích thích gan sản xuất enzyme vào trong máu làm hạn chế tác dụng của thuốc

1.3.3 Hút thuốc và bệnh hô hấp

1.3.3.1 Ảnh hưởng của thuốc lá đến chức năng phổi

Những sự thay đổi cấu trúc phổi ở những người hút thuốc làm giảm khả năng lấy oxy của phổi Khói thuốc gây phá huỷ phế nang làm giảm tính đàn hồi của phổi và làm giảm khả năng trao đổi oxy Phổi của những người hút

Trang 18

thuốc bị giảm diện tích bề mặt và giảm mạng mao mạch, điều này có nghĩa là dòng máu lưu thông qua phổi bị giảm Dẫn đến làm giảm cung cấp chất dinh dưỡng và oxy cần thiết cho cả nhu mô phổi và các tổ chức khác trong cơ thể

để duy trì sự khoẻ mạnh và chức năng bình thường của chúng

Hút huốc cũng gây ra hiện tượng gọi là tăng tính đáp ứng đường thở

Do ảnh huởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt Khi điều này xảy ra thì luồng khí hít vào và thở ra đều bị cản trở ở người hút thuốc, do đó hình thành các tiếng ran rít, ran ngáy và có thể bị khó thở

1.3.3.2 Các bệnh hô hấp cấp tính

Hút thuốc lá làm tăng số lần mắc bệnh và làm tình trạng nhiễm khuẩn nặng hơn Nguy cơ mắc các bệnh hô hấp cấp tính ở người khỏe mạnh hút thuốc cao hơn người khỏe mạnh không hút thuốc từ 1,5 đến 7 lần So với nhóm không hút thuốc, tỷ lệ chết do lao hô hấp ở nhóm hút thuốc lá cao hơn 3 đến 5 lần, tỷ lệ chết do cúm và viêm phổi cao hơn từ 1,4 đến 2,6 lần [55]

1.3.3.3 Các bệnh hô hấp mạn tính

Hút thuốc lá đã được chứng minh là nguyên nhân của các vấn đề hô hấp mạn tính bao gồm viêm phổi, làm tổn thương quá trình sinh học ảnh hưởng đến phế quản và phế nang phổi, làm hạn chế phát triển chức năng phổi

ở trẻ em, vị thành niên và chứng giảm chức năng phổi người lớn, gây ra các triệu chứng hô hấp quan trọng, làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, làm giảm chức năng phổi ở trẻ sơ sinh khi mẹ hút thuốc trong quá trình mang thai

1.3.3.4 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT)

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 trên toàn thế giới Mối liên quan giữa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hút thuốc cũng mạnh như với ung thư phổi Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra BPTNMT, 15% những người hút thuốc lá sẽ có triệu chứng lâm sàng BPTNMT và 80%-90% người mắc BPTNMT là nghiện thuốc lá [7]

Trang 19

Hút thuốc lá làm cho các yếu tố nguy cơ khác của bệnh này trở nên mạnh hơn Đặc biệt những người hút thuốc lá bị ảnh hưởng xấu hơn bởi ô nhiễm môi trường, nhiễm trùng và phơi nhiễm với các chất khói độc so với người không hút thuốc Người hút thuốc có tỉ lệ tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao gấp 10 lần so với người không hút thuốc

100000 so với 8,3 trên 100000 [7]

1.3.3.6 Viêm đường hô hấp

Hút thuốc làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể Nguy cơ viêm đường

hô hấp như viêm phổi và bệnh cúm ở người hút thuốc cao hơn ở người không hút thuốc Người hút thuốc không chỉ phải chịu đựng mắc bệnh tật nhiều hơn

mà họ phải chịu bệnh tật ở mức độ nặng hơn

1.3.4 Hút thuốc và các vấn đề sức khỏe sinh sản

1.3.4.1 Hút thuốc lá làm giảm khả năng sinh sản ở nam giới

Hút thuốc giảm lượng tinh trùng Một yếu tố dẫn tới giảm khả năng sinh sản của nam giới hút thuốc là khả năng cơ thể không sản xuất được số lượng tinh trùng bình thường Cả chất phụ gia của thuốc lá vào tinh dịch và sự

mở rộng bất thường của tĩnh mạch và túi tinh làm giảm số lượng tinh trùng Đối với người từ bỏ thuốc trong vòng 6 tháng thì mật độ tinh trùng sẽ được cải thiện Một nghiên cứu tổng quan kết quả 20 nghiên cứu của Vine và cộng

sự (1994) cho thấy so với người không hút thuốc, mật độ tinh trùng của người hút thuốc giảm 13% (CI:8-21%) [56]

Trang 20

Hút thuốc tăng bạch cầu trong tinh dịch Người hút thuốc có tỷ lệ bạch cầu trong tinh dịch lớn hơn ngay cả khi không bị viêm nhiễm Điều này dẫn đến tinh trùng của người hút thuốc ít có khả năng đi vào buồng trứng

Hút thuốc làm biến đổi hình dạng tinh trùng Điều này có thể dẫn tới sẩy thai, thai nhi dị tật bẩm sinh, hoặc biến chứng khi sinh Hút thuốc cũng làm giảm khả năng di chuyển của tinh trùng, do đó quá trình thụ thai khó hơn

Hút thuốc giảm khả năng phóng tinh dịch Người hút thuốc có xu hướng ít số lượng tinh dịch hơn người không hút thuốc Giảm khả năng phóng tinh dịch có thể do ảnh hưởng của nicotine tới hệ thống thần kinh, làm suy yếu hệ thống thần kinh liên quan tới khả năng phóng tinh dịch, ngoài ra có thể

do giảm lượng kích thích tố sinh dục nam của người hút thuốc Sự giảm lượng kích thích tố sinh dục nam dẫn tới giảm lượng tinh dịch phóng ra mỗi lần

Nghiện thuốc lâu năm có thể dẫn tới chứng liệt dương hoặc ảnh hưởng khả năng cương cứng Cũng giống như cơ chế gây tắc nghẽn mạch máu ở tim

do quá trình xơ vữa động mạch, hút thuốc cũng là một trong những nguyên nhân cốt lõi của bệnh xơ vữa động mạch trong mạch máu của dương vật, làm giảm khả năng cương cứng

1.3.4.2 Hút thuốc lá ảnh hưởng tới khả năng sinh sản ở nữ giới

Các nghiên cứu khoa học hiện nay đã chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hút thuốc với khả năng sinh sản ở nữ giới Hút thuốc làm giảm khả năng sinh sản của nữ, làm chu kỳ kinh nguyệt ngắn lại, ảnh hưởng đến khả năng thụ thai [56] Nhưng phụ nữ hút thuốc không chỉ gặp khó khăn khi thụ thai mà còn phải chịu một số khó khăn về nuôi dưỡng thai nhi Phụ nữ hút thuốc nhiều càng ảnh hưởng tới khả năng sinh sản

Tổn thương tới noãn bào Hút thuốc có thể gây ảnh hưởng hoặc thậm trí huỷ diệt noãn bào (trứng) do vậy dẫn tới làm giảm khả năng sinh sản

Hút thuốc thay đổi mật độ của một số hóc môn, bao gồm estrogen.Vì vậy sự rụng trứng có thể không xảy ra bình thường đối với người hút thuốc

Trang 21

Rối loạn chức năng vòi trứng ở người phụ nữ hút thuốc Sự thay đổi hóc môn dẫn tới thay đổi hoạt động bình thường của trứng qua vòi trứng Ở một số trường hợp, sự thay đổi mức hóc môn có thể làm tăng nhanh tốc độ phôi thai đi vào trong tử cung

Thời gian rất quan trọng để tạo môi trường tốt để giữ được phôi bên trong

tử cung, nếu phôi sớm vào tử cung có thể dẫn tới hỏng vì chưa bám chặt và dễ dẫn tới xảy thai tự phát HTL ở nữ cũng làm tăng nguy cơ mang thai dị dạng

Trong một nghiên cứu thấy nguy cơ mang thai dị dạng ở người nữ hút thuốc cao hơn 2,2 tới 4 lần người không hút thuốc Người hút thuốc có nguy

cơ sẩy thai tự phát cao hơn từ 1,5 tới 3,2 lần ở người không hút thuốc Phụ nữ hút thuốc có thể bị suy yếu khả năng duy trì thai nhi Ngoài ra hút thuốc còn làm giảm 20-30% cân nặng của trẻ khi sinh hoặc gây đẻ non [7]

1.4 Nguy cơ hút thuốc lá thụ động

Hình 1.3 Bệnh do hút thuốc lá thụ động

Trang 22

1.4.1 Thực trạng và tác hại của hút thuốc lá thụ động ở trẻ em

Hút thuốc thụ động đặc biệt nguy hiểm cho trẻ em vì phổi của trẻ chưa phát triển hoàn thiện và nhạy cảm hơn với các chất kích thích và chất độc trong khói thuốc Trẻ có bố mẹ hút thuốc sẽ bị giảm các chức năng của phổi

và dễ gặp các vấn đề sức khoẻ Hút thuốc thụ động ở trẻ em có thể gây viêm đường hô hấp, hen, viêm tai giữa, đột tử ở trẻ sơ sinh, kém phát triển chức năng phổi và làm tăng nguy cơ mắc nhiều loại bệnh khác

Hội chứng trẻ chết đột tử cũng được biết như cái chết khi đang ngủ, được định nghĩa như cái chết bất ngờ của trẻ nhỏ mà không có bằng chứng về bất cứ sự ốm yếu của bào thai khi khám nghiệm tử thi Tỷ lệ đột tử ở trẻ em bị phơi nhiễm với thuốc lá trong quá trình bào thai cao hơn trẻ em khác từ 1,4 cho đến 8,5 lần [53]

Hút thuốc lá thụ động làm tăng 30% trường hợp hen ở trẻ nhỏ và làm tăng tỷ lệ mắc các triệu chứng như ho, khò khè, có đờm, thở nông ở trẻ độ tuổi đến trường lên khoảng 30%

Sự phát triển chức năng phổi: Mẹ hút thuốc lá trong quá trình mang thai được chứng minh là có ảnh hưởng đến chức năng phổi của trẻ trong suốt thời

kỳ trẻ em Các nghiên cứu cũng chứng minh hút thuốc thụ động sau khi sinh cũng làm giảm chức năng phổi của trẻ Kết quả tổng hợp nghiên cứu cho thấy trẻ hút thuốc lá thụ động bị giảm 4,8% tỷ suất thở ra giữa kỳ và 4,3% tỷ suất thở ra cuối kỳ [7]

Trang 23

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, tỉ lệ trẻ phơi nhiễm với khói thuốc lá ở Việt Nam khá cao Theo báo cáo Điều tra Y tế quốc gia năm 2002,

tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi phơi nhiễm với khói thuốc lá là 71,7% [2] Tỉ lệ phơi nhiễm của nhóm trẻ 13-15 tuổi với khói thuốc lá ở trong nhà dao động từ 52-65% trong khi tỉ lệ phơi nhiễm của các em với khói thuốc lá các nơi công cộng từ 86-90% [25]

1.4.2 Thực trạng và tác hại của hút thuốc lá thụ động ở người trưởng thành

Ở Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới, hút thuốc lá là thói quen của nam giới, chính vì điều đó làm phụ nữ và trẻ em phần lớn trở thành người hút thuốc thụ động Ở người lớn hút thuốc thụ động gây ung thư phổi, các bệnh về tim mạch, bệnh động mạch vành, xơ vữa động mạch, gây các triệu chứng kích thích đường hô hấp

Hút thuốc lá thụ động làm tăng nguy cơ ung thư phổi ở người không hút thuốc lên từ 20-30% so với những người không hút thuốc [62] Hút thuốc

lá thụ động là một nguyên nhân làm tăng 25 đến 30% nguy cơ mắc bệnh và chết do bệnh mạch vành ở cả nam và nữ Tại Mỹ, hút thuốc thụ động gây ra khoảng 7.330 trường hợp tử vong do ung thư phổi và 33.950 trường hợp tử vong do bệnh tim mỗi năm [43]

1.5.Tổnthất về kinh tế do việc sử dụng thuốc lá

Chi phí xã hội cao: hằng năm Mỹ thiệt hại 170 tỷ USD, Trung Quốc 5

tỷ USD, Úc 21 tỷ USD [7]

Trang 24

Thuốc lá gây tổn hại kinh tế cho gia đình.Ngoài việc gây tổn thất kinh

tế ở cấp quốc gia như tăng chi phí chữa bệnh do hút thuốc gây ra, giảm năng suất lao động, gây nổ hủy hoại môi trường Hút thuốc gây lãng phí phần đáng kể nguồn ngân sách vốn đã rất eo hẹp của các gia đình nghèo Tiền mua thuốc lá làm giảm chi cho giáo dục, lương thực và chăm sóc sức khỏe hộ gia đình: theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, tại Australia là 7%, ở Hungary là 10.4% và ở nông thôn tây nam Trung Quốc là 11% Ở Bangladesh, nếu 2/3 số tiền mua thuốc lá được dùng để mua thức ăn thì khoảng 10 triệu người sẽ tránh được suy dinh dưỡng Tử vong sớm do các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá thuốc lá làm giảm sức lao động và tổn thất đến năng suất lao động Bên cạnh đó, người hút thuốc và xã hội còn phải gánh chịu những chi phí do khám chữa các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá [7]

1.5.2 Tại Việt Nam

Mặc dù ngành công nghiệp thuốc lá có những đóng góp cho ngân sách quốc gia, nhưng phần đóng góp của ngành công nghiệp thuốc lá không đủ để

bù đắp những tổn thất kinh tế và sức khoẻ do sử dụng thuốc lá gây ra đối với các cá nhân, gia đình và xã hội Những tổn thất này bao gồm chi tiêu cho hút thuốc, chi cho khám, điều trị bệnh liên quan đến hút thuốc và do mất khả năng lao động vì bệnh tật và tử vong sớm, tổn thất do cháy nổ, ô nhiễm môi trường Năm 2012 người dân Việt Nam đã chi cho việc mua thuốc lá là 22 nghìn tỷ đồng và con số này tăng lên thành 31 ngàn tỷ đồng năm 2015

Chi tiêu cho thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình đặc biệt là các hộ có thu nhập thấp Các hộ nghèo tại Việt Nam phải tiêu tốn khoảng 5% thu nhập của gia đình vào thuốc lá Ở những hộ này, khoản tiền mua thuốc lá thậm chí cao hơn khoản tiền chi cho y tế hay cho giáo dục Nếu người hút thuốc nghèo bỏ thuốc, họ sẽ có nhiều tiền hơn để mua thức ăn hoặc để trả tiền học cho con cái của mình [7]

Trang 25

Ngoài tổn thất do chi mua thuốc hút, tổng chi phí điều trị và tổn thất do mất khả năng lao động vì ốm đau và tử vong sớm cho 5 bệnh (ung thư phổi, ung thư đường tiêu hóa-hô hấp trên, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhồi máu

cơ tim, đột qụy) do hút thuốc gây ra trong năm 2011 là hơn 23 nghìn tỷ đồng Các tổn thất Việt Nam chưa tính được do sử dụng thuốc lá bao gồm chi phí điều trị 22 bệnh còn lại, chi phí giảm hoặc mất năng suất lao động do mắc bệnh và tử vong sớm liên quan đến thuốc lá, chi phí nghỉ giữa giờ để hút thuốc, tổn thất do cháy nổ liên quan đến thuốc lá, chi phí vệ sinh môi trường tăng [7]

Nghiên cứu của Đặng Vũ Trung và cộng sự năm 2007 về chi phí điều trị nội trú quy cho thuốc lá của 3 bệnh ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, viêm tắc phổi mãn tính Ở cấp độ vĩ mô thì 72,5% các chi phí nằm viện cho 3 căn bệnh trên có thể được quy cho là do thuốc lá [32]

1.6 Chỉ đạo của Nhà nước về Kiểm soát thuốc lá

Hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân dẫn đến các bệnh nguy hiểm gây tử vong và gây ra những tổn thất cho xã hội Vì thế trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các cam kết và biện pháp nhằm kiểm soát việc sản xuất và tiêu dùng thuốc lá

Năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12 về “Chính sách quốc gia kiểm soát thuốc lá” giai đoạn 2001-2010 với các nội dung chính sau: các chính sách nhằm giảm sử dụng thuốc lá; giảm cung cấp; mở rộng hợp tác quốc tế trong phòng, chống tác hại thuốc lá [10]

Ngày 11/11/2004, Chủ tịch nước đã có Quyết định số 877/QĐ/CTN về việc phê chuẩn Công ước chung về việc kiểm soát thuốc lá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Công ước khung (FCTC) có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 17/3/2005 với mục tiêu là nhằm bảo vệ các thế hệ hiện nay và tương lai khỏi các hậu quả tàn phá về sức khỏe, xã hội, môi trường và kinh tế của việc tiêu thụ thuốc lá và phơi nhiễm với khói thuốc [20]

Trang 26

Quyết định số 1315/QĐ-TTg ngày 21/8/2009 của Thủ tướng chính phủ

về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện công ước khung về kiểm soát thuốc lá với mục tiêu chung nhằm làm giảm nhu cầu sử dụng tiến tới kiểm soát và giảm mức cung cấp các sản phẩm thuốc lá, giảm tỉ lệ chết và mắc các bệnh liên quan đến thuốc lá [36]

Ngày 18/6/2012, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và ngày 02/7/2012, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Luật này.Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2013 [29]

Nghị định số 77/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá về một số biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá [14]

Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế Từ Điều 23 đến Điều 27 Nghị định quy định xử phạt về phòng, chống tác hại thuốc lá bao gồm: Vi phạm quy định về địa điểm cấm hút thuốc lá (hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm bị cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng), hành vi khuyến khích, vận động người khác sử dụng thuốc lá (bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng), vi phạm quy định về bán thuốc lá, vi

Trang 27

phạm quy định về ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá, vi phạm quy định về cai nghiện thuốc lá và vi phạm quy định khác về phòng, chống tác hại thuốc lá [15]

Chỉ thị số 05/2013/CT-BYT ngày 28/5/2013 của Bộ Y tế về việc tăng cường thực thi quy định của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá trong ngành y tế bao gồm: tăng cường tuyên truyền, phổ biến về tác hại của thuốc lá; tăng cường chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quy định cấm hút thuốc lá tại các địa điểm công cộng [4]

Tuy nhiên chương trình phòng, chống tác hại thuốc lá đang gặp phải băn khoăn từ phía các nhà hoạch định chính sách về việc trồng, công nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc lá đang tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội Hơn 200.000 lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, hơn 17.000 lao động trong lĩnh vực sản xuất thuốc lá điếu, hằng năm các nhà máy thuốc lá đóng góp cho ngân sách quốc gia hơn 18.000 tỷ đồng Nhà nước cần có biện pháp, chính sách hợp lý, tránh gây ra những tác động lớn đến nền kinh tế đất nước

1.7 Nghiên cứu tình hình hút thuốc lá trên thế giới và ở Việt Nam

1.7.1 Trên thế giới

Theo điều tra toàn cầu về hút thuốc trong giới trẻ (GYTS 2007) ở học sinh-sinh viên tại các nước Đông Nam Á cho thấy, tỷ lệ hút ở nam sinh viên thấp nhất ở Campuchia(14,6%) và cao nhất là Malaysia là 46,3% Tỷ lệ nam sinh viên Việt Nam hiện hút là 20% Tỷ lệ học sinh-sinh viên bị hút thuốc thụ động là rất cao ở tất cả các nước Trong giới trẻ độ tuổi 15-24, tỷ lệ hút thuốc tương ứng nam là 26,1% và nữ là 0,3% Tỷ lệ chung là 13,3% [13]

Tổ chức Y tế Thế giới, Trung tâm Phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ và Hiệp hội Y tế công cộng Canada đã xây dựng Điều tra toàn cầu trong cán bộ ngành y (GHPSS) để thu thập những số liệu về tình hình hút thuốc lá và tư vấn bỏ hút thuốc trong sinh viên y khoa ở tất cả các nước thành viên, trong đó

Trang 28

có Việt Nam Kết quả của nghiên cứu trên sinh viên Y khoa Việt Nam đã cho thấy tỉ lệ hút thuốc khá cao trong sinh viên y khoa Tỉ lệ đã từng hút thuốc ở nam sinh viên là 19,8% và nữ sinh viên là 2,7% [22]

1.7.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu của Đỗ Văn Dũng với đề tài “Tỷ lệ hút thuốc lá ở học sinh, sinh viên, học viên khu vực phía Nam năm 2002” cho thấy tỉ lệ hút thuốc lá khác biệt đáng kể theo giới tính (ở nam là 14,25% và ở nữ là 0,08%), tuổi (tỉ

lệ hút thuốc lá gia tăng từ 15 tuổi và tăng nhanh nhất từ 18-22 tuổi), loại hình học tập (học sinh phổ thông là 1,12%; học viên học nghề 15,61% và sinh viên đại học là 9,51%), mức độ vận động thể lực, nghề nghiệp cha, nơi sinh [21]

Nghiên cứu của Lê Khắc Bảo với đề tài: “Khảo sát thực trạng hút thuốc

lá ở sinh viên năm 3 Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh” năm 2007, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá ở sinh viên là 12,6% ở nam và 1,2% ở nữ, có 77% sinh viên hiểu rõ về tác hại của thuốc lá, 82% sinh viên mong muốn được tham gia vào công tác phòng chống thuốc lá, 94% mong muốn được huấn luyện về các biện pháp hỗ trợ cai nghiện thuốc lá [3]

Nghiên cứu của Ngô Quý Châu và Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài

“Nghiên cứu tình hình hút thuốc lá, hiểu biết và thái độ của cán bộ y tế Bệnh viện Bạch Mai, năm 2004” đã cho thấy tỷ lệ nam cán bộ y tế đang hút thuốc

là 40,7%, còn ở nữ là 0% Khoảng 75% số hút thuốc bắt đầu hút thường xuyên trước 20 tuổi Trên 85% số đối tượng đã thể hiện sự hiểu biết và đồng tình với các biện pháp kiểm soát thuốc lá và vai trò quan trọng của cán bộ y tế đối với việc làm tấm gương và giúp thân chủ bỏ thuốc [11]

Nghiên cứu của Phạm Thị Quỳnh Nga, Lê Thị Thanh Hà về “Thực trạng, kiến thức và thái độ về hút thuốc của trường Đại học Y tế Công cộng năm 2004” cho thấy tỷ lệ hiện đang hút thuốc ở nam giới là 17,3% và nữ giới

là 0%, đã cai thuốc là 18,3%, 60,0% hút ít hơn 5 điếu/ngày, 16,7% hút trên 10 điếu/ngày Nơi hút thuốc trong trường thường là hành lang lớp học, lan can ký

Trang 29

túc xá Gần 90% thấy khó chịu khi người khác hút thuốc trước mặt và cũng gần 90% người hút thấy ngại khi hút trước mặt người khác Hầu hết đều ủng

hộ việc xây dựng mô hình và tích cực đưa ra các ý kiến đóng góp để xây dựng

mô hình hiệu quả [28]

Nghiên cứu của Võ Ngọc Lan Thanh, Tạ Văn Trầm (2009) về “thực trạng, kiến thức, thái độ về hút thuốc lá của cán bộ viên chức và học sinh - sinh viên trường Cao đẳng y tế Tiền Giang” cho thấy tỉ lệ hút thuốc lá chung của nam giới tương đối thấp (14,6%), tỉ lệ hiểu biết về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ rất cao (99,3%), có 1 tỉ lệ đáng kể (75%) cho rằng thuốc lá "nhẹ"

ít hoặc không gây hại sức khoẻ Hơn 70% người hút thấy ngại khi hút trước mặt người khác 100% cho rằng hút thuốc lá làm phiền người khác Hầu hết đều ủng hộ việc xây dựng mô hình "nhà trường không có khói thuốc" và đưa

ra các ý kiến đóng góp để xây dựng mô hình [35]

Nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết và cộng sự năm 2011về tình hình hút thuốc lá trên 413 sinh viên nam Y khoa hệ Chính quy và Chuyên tu trường Đại học Y Dược Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ hiện đang hút thuốc chung của nam sinh viên y khoa là 43,6% Tỉ lệ sinh viên hiểu biết được hút thuốc lá có hại cho sức khỏe chiếm tỉ lệ cao ở cả hệ chuyên tu và chính quy (chuyên tu: 99%, chính quy: 96,71%) Thái độ của sinh viên phản đối với tình trạng hút thuốc lá trong gia đình, thầy cô, bạn bè và ngoài cộng đồng đều chiếm tỷ lệ cao (phản đối với người hút thuốc trong gia đình: chuyên tu: 84%, chính quy: 88,73%) Cần có quy định cấm hút thuốc trong trường học (chuyên tu: 95%, chính quy: 94,37%); tỷ lệ sinh viên cho rằng hiện nay đã xử lý đúng mức vi phạm về hút thuốc lá (chuyên tu: 6%, chính quy: 0,94%) [37]

Nghiên cứu của Ngô Văn Sâm với đề tài ”Thực trạng và kết quả thử nghiệm về cấm hút thuốc lá tại các cơ sở y tế nhà nước huyện Bình Lục và huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” năm 2012 cho thấy: 99,7% nhân viên y tế cho rằng hút thuốc lá có hại cho sức khỏe, 99,4% nhân viên y tế cho rằng hút

Trang 30

thuốc lá thụ động có hại cho sức khỏe; 100% nhân viên y tế ủng hộ quy định cấm hút thuốc lá tại cơ sở y tế; 40,4% nhân viên y tế là nam còn hút thuốc lá, trong đó đáng chú ý là có tới 81,5% hút thuốc tại cơ sở y tế [31]

Điều tra hút thuốc ở người trưởng thành (GATS) năm 2015 cho thấy,

so với năm 2010, tỷ lệ hút thuốc lá thụ động giảm đáng kể ở tất cả các địa điểm Giảm mạnh nhất là tại trường đại học với mức giảm từ 54,3% xuống 37,9%; trên các phương tiện giao thông công cộng giảm từ 34,4% xuống 19,4% Đặc biệt, tại các khu vực thành thị, tỷ lệ hút thuốc chung giảm đáng kể

từ 23,3% xuống 20,6% Bên cạnh đó, nhận thức về tác hại đến sức khỏe của việc hút thuốc và hút thuốc thụ động cũng tăng so với năm 2010 Tỷ lệ người tin rằng hút thuốc gây các bệnh đột qụy, tim mạch và ung thư phổi tăng từ 55,5% lên 61,2% Tỷ lệ người tin rằng hút thuốc thụ động gây các bệnh nguy hiểm tăng từ 87,0% lên 90,3% [6]

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bích, Vũ Thị Hoàng Lan và CS với đề tài ”Thực trạng kiến thức, thái độ và tuân thủ cấm hút thuốc trong sinh viên

cử nhân chính quy và cán bộ trường Đại học Y tế Công cộng” năm 2016 cho thấy cán bộ và sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng có kiến thức tốt và tăng theo thời gian về các quy định cấm hút thuốc trong trường (sinh viên tăng từ 87,1% lên 95,8%, cán bộ tăng từ 94,3% lên 98,2%) Sinh viên và cán

bộ trường có kiến thức và thái độ đúng về hút thuốc thụđộng với tỷ lệ cao (trên 95% sinh viên và cán bộ có kiến thức đúng về tác hại của hút thuốc thụđộng ở cả hai giai đoạn và tăng lên theo thời gian) Tại trường Đại học Y

tế Công cộng, việc tuân thủ quy định cấm hút thuốc trong nhà trường được thực hiện tương đối tốt với tỷ lệ báo cáo vi phạm thấp [9]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lên và CS với đề tài: “Thực trạng hút thuốc lá của nam sinh viên trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2016” cho thấy: Tỷ lệ hút thuốc lá chung của nam sinh viên là 32,8%, tuổi bắt đầu hút thuốc lá trung bình của sinh viên nam là 16 tuổi, trung bình trong một ngày

Trang 31

hút 7,6 điếu; 88,5% sinh viên cho rằng hút thuốc lá có hại cho sức khỏe; 80,5% cho rằng hút thuốc thụ động có hại cho sức khỏe; 76,2% sinh viên phản đối việc mời thuốc, 35,2% cảm thấy khó chịu khi người bên cạnh hút thuốc lá Nguồn, kênh cung cấp thông tin về tác hại thuốc lá cho sinh viên nhiều nhất là từ internet (51,8%); tivi, đài phát thanh (49,5%) Có sự khác biệt

về tỷ lệ hút thuốc ở những sinh viên có bạn thân hút thuốc với những sinh viên không có bạn thân hút thuốc, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (OR= 0,59, p < 0,05) [27]

Nghiên cứu của Phạm Ngọc Cương và CS với đề tài “Đánh giá tình hình triển khai luật phòng, chống tác hại của thuốc lá tại tỉnh Ninh Bình năm 2017” cho thấy: 100% các đơn vị có treo biển cấm hút thuốc lá và 100% không có quảng cáo thuốc lá, không bày bán thuốc lá trong khuôn viên đơn

vị Tỉ lệ người đang sử dụng thuốc lá theo trình độ học vấn: Tốt nghiệp THPT

là 29,20%, trình độ trung cấp - cao đẳng - đại học là 22,67% Số điếu thuốc lá trung bình người hút dùng là 6,08 điếu, trung bình mỗi tuần là 51,87 điếu.Số người biết việc vi phạm hút thuốc có thể bị phạt là 80,21%, vẫn còn 24,19%

số người hút thuốc vi phạm hút thuốc ở nơi cấm Vẫn còn người vi phạm không bị xử phạt; không bị người có thẩm quyền nhắc nhở tới 83,81%; bị người xung quanh nhắc nhở 42,85% [19]

Trang 32

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành tại trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình

Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình, địa chỉ tại 297, đường Hải Thượng Lãn Ông, phường Nam Thành - thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình Trường được nâng cấp từ trường Trung cấp y tế Ninh Bình theo Quyết định

số 6757/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/10/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, là cơ

sở đào tạo bậc Cao đẳng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Trường trực thuộc

Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và chịu sự quản lý nhà nước về đào tạo của

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Từ tháng 7 năm 2013, trường trực thuộc Sở Y tế tỉnh Ninh Bình và từ tháng 01 năm 2017 đến nay, trường chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp theo Thông tư số 46/TT-BLĐTBXH ngày 26/12/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội

Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn y - dược có trình độ cao đẳng, trung cấp và các trình

độ khác; có phẩm chất chính trị, có năng lực chuyên môn, có sức khỏe, góp phần đáp ứng nguồn nhân lực y tế để phục vụ phát triển nền kinh tế - xã hội của địa phương và một số tỉnh lân cận

Trường có truyền thống 55 năm xây dựng và trưởng thành; có uy tín và kinh nghiệm trong giáo dục - đào tạo; nhà trường đã không ngừng được củng

cố và lớn mạnh; có đội ngũ cán bộ giảng viên năng động, tinh thần nhiệt tình,

ý thức trách nhiệm cao, say mê với nghề nghiệp, ham học hỏi, có trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển của trường; có chương trình đào tạo chuẩn mực và cơ chế quản lý năng động, đổi mới

Trường đào tạo các mã ngành Cao đẳng: điều dưỡng, dược (hệ chính quy và liên thông); Trung cấp: y sỹ, điều dưỡng và dược (hệ chính quy)

Trang 33

Ngoài ra, trường còn liên kết với một số trường Đại học đào tạo liên thông từ Trung cấp lên Đại học với mã ngành Điều dưỡng

Số sinh viên đang theo học tại trường (tháng 12năm 2018): [39]

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm, trường Cao đẳng

Y tế Ninh Bình luôn quan tâm đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, giáo viên và sinh viên nhà trường để mỗi cán bộ, giáo viên và sinh viên nhà trường nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành và nhà trường góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

Thực hiện Luật phòng chống tác hại của thuốc lá, các Nghị định, văn bản quy phạm pháp luật khác về phòng, chống tác hại của thuốc lá và xây dựng môi trường không khói thuốc; trường đã thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tác hại của thuốc lá do đồng chí Hiệu trưởng làm Trưởng ban và xây dựng kế hoạch thực hiện trường học không khói thuốc lá gồm những hoạt động cụ thể sau:

- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, giáo viên và sinh viên trong toàn trường về các tác hại của thuốc lá; có biển cấm hút thuốc lá ở khu vực hiệu bộ, khu vực giảng đường và trong phòng làm việc, trong lớp học

- Có quy định cụ thể về cán bộ, giáo viên và sinh viên không hút thuốc

lá trong trường học; có trách nhiệm vận động người thân trong gia đình, bạn

bè không hút thuốc lá để bảo vệ sức khỏe cho mình và những người xung quanh Mỗi cán bộ, giáo viên và sinh viên phải có bản cam kết không hút thuốc lá

Trang 34

Tuy nhiên việc thực hiện quy định cấm hút thuốc lá tại trường chưa được thường xuyên, chưa thật quyết liệt trong công tác chỉ đạo, việc thực hiện

ở một số phòng, bộ môn chưa triệt để nhất là các bộ phận có cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu còn hút thuốc lá Ý thức chấp hành của một số cán

bộ, giáo viên và sinh viên nhất là sinh viên liên thông chưa cao trong việc bỏ hút thuốc lá; còn dựa vào thói quen, áp lực, đặc thù công việc nên chưa bỏ được thuốc lá Công tác tuyên truyền phòng chống tác hại của thuốc lá chưa được tiến hành thường xuyên, kinh phí đầu tư chưa thỏa đáng và đặc biệt là công tác giám sát môi trường trường học không khói thuốc lá còn hạn chế nên hiệu quả có lúc chưa cao

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:

2.1.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Nam sinh viên học tập tại trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình ở thời điểm điều tra và đồng ý tham gia phỏng vấn

Cán bộ lãnh đạo Đảng ủy, Ban giám hiệu, các đoàn thể: Công đoàn, chi hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên có mặt tại thời điểm điều tra và đồng

ý tham gia nghiên cứu

2.1.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Nam sinh viên đang học tập tại trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình có thái

độ không hợp tác, từ chối tham gia phỏng vấn hoặc vắng mặt tại thời điểm điều tra

Cán bộ lãnh đạo Đảng ủy, Ban giám hiệu, Công đoàn, chi hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên vắng mặt tại thời điểm điều tra hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Thời giannghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2018 đến tháng 02/2019

Trang 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

n: cỡ mẫu điều tra

Z: độ tin cậy tính theo α, chọn α = 0,05 với khoảng tin cậy 95%, Z = 1,96

p: tỷ lệ sinh viên hiện đang hút thuốc lá, chọn p=0,173[28]

: hệ số tương đối so với p, được xác định là: 0,3

Cỡ mẫu tối thiểu được xác định là n = 205 Cỡ mẫu thực tế đã điều tra

là 226 nam sinh viên

- Chọn mẫu: đề tài sử dụng kỹ thuật chọn mẫu là chọn toàn bộ

Số nam sinh viên trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình tại thời điểm điều tra gồm: hệ chính quy: 135, hệ liên thông: 100, tổng số: 235 Thực tế, có 9 nam sinh viên vắng mặt vào khoảng thời gian điều tra Vì vậy, đề tài điều tra toàn bộ số nam sinh viên đang học tại trường với tổng số là 226 người

2.2.2.2 Mẫu định tính

Thực hiện 2 cuộc thảo luận nhóm, mỗi nhóm 10 sinh viên thuộc 2 hệ chính quy và liên thông

Thực hiện 5 cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ lãnh đạo Đảng ủy, Ban

giám hiệu, Công đoàn, chi hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên

Trang 36

2.2.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu

2.2.3.1 Nhóm biến số về các thông tin chung:

- Người hút thuốc trong gia đình

2.2.3.2 Nhóm biến số về thực trạng hút thuốc lá của nam sinh viên:

- Tỷ lệ nam sinh viên hút thuốc

- Thời điểm bắt đầu, thời gian, lý do, nơi thường hút thuốc và mức độ hút thuốc của nam sinh viên

- Mức độ nghiện của nhóm đang hút thuốc theo thang điểm Fagerstrom thu gọn

1 Anh bắt đầu hút thuốc lá sau khi thức

dậy vào buổi sáng bao lâu?

2.2.3.3 Nhóm biến số về kiến thức của nam sinh viên về việc hút thuốc

lá và phòng chống tác hại của thuốc lá:

- Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe

- Hút thuốc lá gây nghiện

- Hút thuốc lá làm giảm tuổi thọ

- Việc bỏ thuốc lá

Trang 37

- Kiến thức về các biện pháp giảm tỷ lệ hút thuốc ở cộng đồng và cấm hút thuốc lá trong trường học

- Kiến thức về mức xử phạt hành chính đối với vi phạm về hút thuốc lá

- Nguồn thong tin về tác hại của thuốc lá

2.2.3.4 Nhóm biến số về thái độ của nam sinh viên về việc hút thuốc lá

và phòng chống tác hại của thuốc lá:

- Thái độ của nam sinh viên khi hút thuốc lá mà người khác không đồng ý

- Thái độ của nam sinh viên khi nhìn thấy người thân trong gia đình, thầy cô giáo và bạn bè, người khác ở nơi công cộng hút thuốc

- Ý kiến của nam sinh viên về việc thực hiện quy định cấm hút thuốc lá trong trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình hiện nay

2.2.4 Phương pháp và phương tiện thu thập thông tin

2.2.4.1 Với nghiên cứu định lượng:

Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn trực tiếp các nam sinh viên của các lớp Công cụ để ghi nhận thông tin là bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước

(phụ lục 1) Bộ câu hỏi điều tra được xây dựng dựa vào nội dung và mục tiêu

nghiên cứu, có tham khảo các bộ công cụ của các nghiên cứu trước Cấu trúc của bộ câu hỏi gồm 4 phần:

- Các thong tin chung về đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng hút thuốc lá của sinh viên

- Phần hỏi về nhận thức của sinh viên đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá

- Phần hỏi về thái độ của sinh viên đối với hút thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá

Sau khi hoàn thành, bộ câu hỏi sẽ được tiến hành điều tra thử, chỉnh sửa và hoàn chỉnh trước khi cho điều tra chính thức

Trang 38

2.2.4.2 Với nghiên cứu định tính:

Tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm đại diện cho sinh viên chính quy và liên thông Nội dung thảo luận nhóm được nhóm nghiên cứu chuẩn bị trước

(phụ lục 2) Mỗi nhóm thảo luận gồm 10 sinh viên được lựa chọn từ hai hệ

đào tạo của Nhà trường Các thông tin trong các cuộc thảo luận nhóm sẽ được ghi chép trực tiếp của một thư ký thảo luận nhóm

Tổ chức 5 cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ lãnh đạo Đảng ủy, Ban giám hiệu, Công đoàn, chi hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên Nội dung

phỏng vấn được nhóm nghiên cứu chuẩn bị trước (phụ lục 3) Các thông tin

trong các cuộc phỏng vấn được ghi âm, sau đó được nhóm nghiên cứu gỡ băng, thảo luận, sắp xếp kết quả theo các chủ đề và được trình bày theo các mục tiêu nghiên cứu

2.2.4.3 Tổ chức thu thập thông tin:

Các điều tra viên được lựa chọn từ các cán bộ giảng dạy có kinh nghiệm nghiên cứu của Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình Điều tra viên được thảo luận

về bộ câu hỏi, được tập huấnkỹ và điều tra thử trước khi điềutra chính thức Tiến hành in ấn chính thức bộ câu hỏi đã hoàn chỉnh

Các điều tra viên được phân công sẽ tới các lớp sinh viên theo hẹn để phỏng vấn trực tiếp toàn bộ nam sinh viên tại các lớp

Việc điều hành thảo luận nhóm sẽ do sinh viên trực tiếp chỉ đạo, có một thư ký chịu trách nhiệm ghi âm và ghi chép các thông tin (ý kiến) trong cuộc thảo luận nhóm

2.2.5 Phương pháp đánh giá trong luận văn

Việc đánh giá kiến thức và thái độ của sinh viên về hút thuốc lá và phòng chống tác hại của thuốc lá bằng cách cho điểm để xác định Trong đó mỗi câu hỏi trả lời đúng được đánh giá tương đương với 1 điểm, câu hỏi nào không trả lời hoặc trả lời không đúng sẽ nhận 0 điểm

Câu hỏi 1 lựa chọn: trả lời đúng theo hướng dẫn

Trang 39

Câu hỏi nhiều lựa chọn: trả lời đúng từ 2 ý trở lên

Nếu trả lời đúng được ≥ 2/3 số câu hỏi sẽ được đánh giá là ”đạt” và nếu trả lời đúng < 2/3 số câu hỏi sẽ được đánh giá là ”không đạt”

2.2.5.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức

- Có kiến thức đúng về ảnh hưởng của hút thuốc lá đến sức khỏe (chọn ý

- Có kiến thức đúng về hút thuốc lá làm giảm tuổi thọ (chọn ý 1 cho C18)

- Có kiến thức đúng về thuốc lá có thể gây nghiện (chọn ý 1 cho C19)

- Có kiến thức đúng về chất gây nghiện trong thuốc lá (chọn ý 1 cho C20)

- Có kiến thức đúng về tác hại thuốc lá nhẹ (chọn ý 1 cho C21)

- Có kiến thức đúng về khả năng bỏ thuốc lá (chọn ý 1 cho C22)

- Có kiến thức đúng về đối tượng nên bỏ thuốc lá (chọn ý 1 cho C23)

- Có kiến thức đúng về cách bỏ thuốc lá tốt nhất (chọn ý 1 cho C24)

- Có kiến thức đầy đủ về các biện pháp cai (bỏ) thuốc lá (chọn ít nhất 2 trong các ý từ ý 14 cho C25)

- Có kiến thức đầy đủ về các biện pháp để giảm tình trạng hút thuốc lá trong cộng đồng (chọn ít nhất 2 trong các ý từ ý 15 cho C26)

- Có kiến thức đầy đủ về các biện pháp để cấm hút thuốc lá trong trường học (chọn ít nhất 2 trong các ý từ ý 17 cho C27)

Trang 40

- Có kiến thức đúng về mức phạt khi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm (chọn ý 2 cho C28)

- Có kiến thức đúng về mức phạt khi có hành vi khuyến khích, vận động người khác sử dụng thuốc lá (chọn ý 3 cho C29)

- Có kiến thức đầy đủ về các nguồn cung cấp thông tin về tác hại và phòng chống tác hại của thuốc lá (chọn ít nhất 2 trong các ý ý 15 cho C30)

2.2.5.2 Tiêu chuẩn đánh giá thái độ:

- Dành cho những người chưa hút thuốc bao giờ

+ Thái độ đúng khi người thân, bạn bè mời thuốc lá(chọn ý 2 cho C31) + Thái độ đúng về người thân, bạn bè hút thuốc lá (chọn ý 2 cho C32) + Thái độ đúng về ý định hút thuốc lá (chọn ý 2 cho C33)

+ Thái độ đúng về khuyên người thân, bạn bè bỏ thuốc lá (chọn ý 1 cho C34)

- Dành cho những người đã và đang hút thuốc

+ Thái độ đúng với việc rủ người khác hút thuốc lá (chọn ý 2 cho C36) + Thái độ đúng với ý định bỏ hút thuốc lá (chọn ý 1 cho C37)

+ Thái độ đúng với việc đã từng bỏ hút thuốc lá (chọn ý 1 cho C38) + Thái độ đúng của người thân với việc mình hút thuốc lá (chọn ý 1 hoặc

Ngày đăng: 22/08/2019, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w