1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế và sự hài lòng của người bệnh về công tác xã hội tại bệnh viện đa khoa tỉnh ninh bình, năm 2018

86 209 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số mô hình tổ chức hoạt động CTXH trong bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễn như: phòng CTXH, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội… thuộc bệnh

Trang 1

NGUYỄN TIẾN NAM

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ

VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH

VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH NINH BÌNH NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH - 2019

Trang 2

NGUYỄN TIẾN NAM

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ

VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH

VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

THÁI BÌNH - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn nghiên cứu này là công trình do bản thân tôi chủ trì thực hiện việc điều tra thu thập thông tin Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong báo cáo này hoàn toàn trung thực theo kết quả điều tra và chƣa từng đƣợc công bố tại các công trình khoa học nào khác./

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Nam

Trang 4

Lời đầu tiên cho phép tôi được trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng cùng các thầy,

cô giáo của Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuân lợi để tôi hoàn thành khoá học

Với lòng kính trọng và biết ơn chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Vũ Phong Túc và PGS.TS Đỗ Văn Dung, những người Thầy đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và tập thể cán bộ viên chức của Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình; Tập thể cán bộ, viên chức của Phòng Công tác xã hội của Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để tôi có thể hoàn thành bản luận văn của mình

Xin chân thành cảm ơn những người bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, những người đã đồng ý tham gia nghiên cứu để tôi có được số liệu báo cáo trong bản luận văn này

Xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi chia sẻ kinh nghiệm học tập, động viên, khuyến khích tôi trong học tập và công tác

Xin trân trọng cảm ơn

Thái Bình, tháng 6 năm 2019

Tác giả luận văn

Trang 5

BHYT Bảo hiểm y tế

BVĐK Bệnh viện đa khoa

LĐTBXH Lao động thương binh xã hội

TTDSKHHGĐ Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

Trang

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 3

1.1.1 Công tác xã hội 3

1.1.2 Nhân viên công tác xã hội 3

1.1.3 Y tế 4

1.1.4 Bệnh Viện 4

1.2 Tổng quan về công tác xã hội trong lĩnh vực y tế 5

1.2.1 Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế trên Thế giới và Việt Nam 5

1.2.2 Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện 9

1.3 Nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện 16

1.3.1 Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh 16

1.3.2 Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật: 16

1.3.3 Vận động tiếp nhận tài trợ: 17

1.3.4 Hỗ trợ nhân viên y tế: 17

1.3.5 Đào tạo, bồi dưỡng: 17

1.3.6 Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm CTXH của bệnh viện 18

1.3.7 Tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh viện tại cộng đồng (nếu có) 18

1.4 Một số nghiên cứu về công tác xã hội 18

1.4.1 Một số nghiên cứu về vấn đề chung của CTXH trong bệnh viện: 18 1.4.2 Một số nghiên cứu về thực trạng CTXH trong bệnh viện: 19

Trang 7

1.5.1 Sự hài lòng 22

1.5.2 Sự hài lòng của bệnh nhân 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 24

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27

2.2.2 Cỡ mẫu, chọn mẫu 27

2.2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 28

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin 30

2.2.5 Phân tích xử lý số liệu 30

2.2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về công tác xã hội 31

3.2 Sự hài lòng của người bệnh đối với công tác xã hội của bệnh viện 41

Chương 4 BÀN LUẬN 47

4.1 Kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về công tác xã hội 47

4.2 Sự hài lòng của người bệnh đối với công tác xã hội của bệnh viện 55

KẾT LUẬN 62

KHUYẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Trang

Bảng 3.1 Đặc điểm về nhóm tuổi và giới của nhân viên y tế 31Bảng 3.2 Đặc điểm về trình độ chuyên môn của đối tượng nghiên cứu 32Bảng 3.3 Tỷ lệ nhân viên y tế biết bệnh viện có phòng công tác xã hội 32Bảng 3.4 Tỷ lệ nhân viên y tế biết bệnh viện có đội ngũ cộng tác viên tham

gia các hoạt động công tác xã hội 33Bảng 3.5 Tỷ lệ nhân viên y tế biết bệnh viện có thực hiện hoạt động từ thiện

và vận động, tiếp nhận tài trợ về kinh phí, vật chất 33Bảng 3.6 Đánh giá của nhân viên y tế về việc hỗ trợ, tư vấn giải quyết các

vấn đề về công tác xã hội của bệnh viện 34Bảng 3.7 Đánh giá của nhân viên y tế về mức độ cung cấp dịch vụ công tác

xã hội tại bệnh viện 34Bảng 3.8 Kiến thức của nhân viên y tế về việc cử nhân viên của bệnh viện đi

tập huấn kiến thức về CTXH 35Bảng 3.9 Kiến thức của nhân viên y tế về việc phối hợp đào tạo, bồi dưỡng

kiến thức cơ bản cho người làm việc về công tác xã hội 35Bảng 3.10 Ý kiến chủ quan của nhân viên y tế về mức độ cần thiết của các

hoạt động hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề công tác xã hội 36Bảng 3.11 Ý kiến chủ quan của NVYT về mức độ cần thiết của các hoạt

động thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật 37Bảng 3.12 Ý kiến chủ quan của nhân viên y tế về mức độ cần thiết của các

hoạt động vận động tiếp nhận tài trợ và hỗ trợ nhân viên y tế 38Bảng 3.13 Kiến thức của nhân viên y tế về các hoạt động công tác xã hội của

bệnh viện đã thực hiện 39Bảng 3.14 Đặc điểm tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu 41

Trang 9

của nhân viên y tế 42Bảng 3.16 Tỷ lệ người bệnh được đón tiếp, chỉ dẫn và cung cấp thông tin giới

thiệu về dịch vụ khám bệnh tại bệnh viện 42Bảng 3.17 Tỷ lệ người bệnh được tư vấn, hỗ trợ tiếp cận các chương trình,

chính sách về BHYT, trợ cấp xã hội trong khám chữa bệnh 43Bảng 3.18 Tỷ lệ người bệnh nhận được sự quan tâm của bác sĩ về tình trạng

sức khỏe của mình trong quá trình khám và điều trị 43Bảng 3.19 Tỷ lệ người bệnh biết bệnh viện có thực hiện chính sách hỗ trợ

cho người bệnh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 44Bảng 3.20 Tỷ lệ người bệnh biết BV có hỗ trợ khẩn cấp cho người bệnh là

nạn nhân của bạo hành, bạo lực gia đình, bị tai nạn, thảm họa 44Bảng 3.21 Mức độ hài lòng của người bệnh về thái độ đón tiếp của NVYT 45Bảng 3.22 Đánh giá của người bệnh về bác sĩ điều trị trực tiếp cho mình 45Bảng 3.23 Đánh giá của người bệnh về mức độ tận tâm phục vụ của nhân

viên y tế khi tư vấn, khám và điều trị 46Bảng 3.24 Đánh giá của người bệnh về sự đáp ứng trang thiết bị cho việc

khám và điều trị tại bệnh viện 46

Trang 10

ra đời và phát triển như một ngành khoa học với việc ứng dụng các môn khoa học xã hội như: Tâm lý học, Xã hội học, Nhân chủng học, Kinh tế học… vào những hoạt động cụ thể với từng cá nhân, từng nhóm xã hội để khắc phục các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội

Hơn một thế kỷ qua, khoa học về chuyên môn công tác xã hội đã hình thành và phát triển đem lại những lợi ích đáng kể thông qua việc cung cấp các dịch vụ hữu ích cho con người Đến nay, công tác xã hội có mặt tại 80 nước trên thế giới, đã và đang hỗ trợ cho những người yếu thế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, mang lại bình đẳng và công bằng xã hội Với ý nghĩa quan trọng đó, công tác xã hội đã được đưa vào rất nhiều lĩnh vực khác nhau, như: Chăm sóc hỗ trợ những đối tượng thiệt thòi, yếu thế (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật,…) trong toà án, trường học và nhất là trong lĩnh vực y tế [29]

Trong những năm gần đây, thực trạng quá tải bệnh viện, đặc biệt là các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến Trung ương đã đặt ra cho ngành Y tế nhiều vấn

đề cần phải được đổi mới Tại nhiều bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh và tuyến huyện đã triển khai hoạt động CTXH với sự tham gia của đội ngũ nhân viên y tế kiêm nhiệm và tình nguyện viên nhằm hỗ trợ thầy thuốc

Trang 11

trong phân loại người bệnh, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc người bệnh… góp phần làm giảm bớt khó khăn trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Một số mô hình tổ chức hoạt động CTXH trong bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễn như: phòng CTXH, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội… thuộc bệnh viện hay nhóm công tác xã hội tham gia hỗ trợ người có HIV/AIDS, bệnh nhân tâm thần, giúp phục hồi chức năng tại xã/phường [15], [20], [28]…

Tuy nhiên, hoạt động CTXH trong Ngành Y nói chung và tại Bệnh viện

đa khoa tỉnh Ninh Bình nói riêng còn chưa thực sự đạt được yêu cầu mong đợi Đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tính chuyên nghiệp [18], [26]

Bởi vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Kiến thức, thực hành của nhân

viên y tế và sự hài lòng của người bệnh về công tác xã hội tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2018” nhằm các mục tiêu sau đây:

1 Mô tả kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về công tác xã hội tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2018

2 Đánh giá sự hài lòng của người bệnh đối với công tác xã hội tại địa bàn nghiên cứu

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Công tác xã hội

Theo khái niệm được Liên đoàn Công tác xã hội Quốc tế và Hiệp hội

Quốc tế các trường Công tác xã hội chính thức thông qua năm 2014: “Công

tác xã hội là một nghề mang tính chất thực hành và là một ngành khoa học thúc đẩy sự thay đổi và phát triển xã hội, gắn kết xã hội, tăng năng lực và giải phóng con người Các nguyên tắc về công bằng xã hội, quyền con người, trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự đa dạng là trọng tâm của công tác xã hội Dựa trên cơ sở các lý thuyết về công tác xã hội, khoa học xã hội, nhân văn và kiến thức bản địa, CTXH thu hút con người và cơ cấu xã hội nhằm giải quyết những khó khăn trong cuộc sống và nâng cao an sinh” (IFSW, 2014) [39]

CTXH là một ngành khoa học, một lĩnh vực hoạt động chuyên môn phát triển hướng đến các đối tượng yếu thế (người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người di cư, người dân tộc thiểu số, nhiễm HIV/AIDS ) trong xã hội để giải quyết các vấn đề đang nảy sinh trong cộng đồng, theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến

bộ xã hội, góp phần phát triển bền vững [3]

1.1.2 Nhân viên công tác xã hội

Đó là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về CTXH có bằng cấp chuyên môn Đó là những cán bộ, những chuyên gia có khả năng phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức, vận động, giáo dục, biết cách thức hành động nhằm mục đích tối ưu hoá sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượng sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội

Trang 13

1.1.3 Y tế

Theo từ điển Tiếng Việt thì “Y tế là một ngành y học ứng dụng, chuyên

việc phòng, chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ”

Khoa học sức khỏe là một ngành thuộc khoa học ứng dụng nhằm mục đích chăm sóc sức khỏe cho con người và động vật Khoa học sức khỏe được chia là hai ngành: sức khỏe công cộng (dự phòng) và sức khỏe lâm sàng Nghiên cứu, khảo sát và kiến thức, thái độ, kỹ năng về sức khỏe; và cách vận dụng kiến thức đó vào việc giữ gìn sức khỏe, ngừa bệnh, chữa bệnh và hiểu biết những chức năng tâm sinh lý, tâm lý, sinh lý, sinh hóa trong cơ thể con người và động vật Nghiên cứu dựa vào các môn khoa học thuần túy: sinh vật học, sinh hóa học, vật lý học, tâm thần học, xã hội học, hành vi học, tâm lý học, giáo dục và nâng cao sức khỏe

1.1.4 Bệnh Viện

Bệnh viện hay nhà thương là cơ sở để khám và chữa trị cho người bệnh khi bệnh của họ không thể chữa ở nhà hay nơi nào khác Đây là nơi tập trung các chuyên viên y tế gồm các bác sĩ nội và ngoại khoa, các y tá, các kỹ thuật viên xét nghiệm cận lâm sàng

BVĐK là những bệnh viện lớn, có thể xét nghiệm và chữa trị hầu hết các loại chứng bệnh Tại đây bác sĩ chuyên khoa mỗi ngành làm việc tại một khu riêng của ngành mình nhưng vẫn có thể liên lạc với những bác sĩ của ngành khác để cộng tác chữa trị công hiệu - nhất là nghiên cứu những bệnh khó chẩn đoán hay chữa trị Các bệnh viện này thường có phòng cấp cứu, phòng xét nghiệm máu và quang tuyến và phòng điều trị tăng cường

Bệnh xá hay trạm xá là nơi chẩn đoán và chữa trị tạm thời người bệnh địa phương thường do y tá quản lý Nếu bệnh trầm trọng sẽ được gửi lên bệnh viện lớn

Trang 14

1.2 Tổng quan về công tác xã hội trong lĩnh vực y tế

1.2.1 Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế trên Thế giới và Việt Nam

1.2.1.1 Trên thế giới

Công tác xã hội (CTXH) trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, công tác

xã hội trong các cơ sở y tế, công tác xã hội trong bệnh viện, là những cách gọi thường được dùng để chỉ công việc của người nhân viên xã hội trong bệnh viện Công tác xã hội trong bệnh viện có một lịch sử phát triển lâu đời trên thế giới, từ cuối thế kỷ 19, từ những năm 1880 ở Anh khi có một nhóm tình nguyện viên làm việc tại một bệnh viện tâm thần của Anh đã có những cuộc thăm viếng thân thiện nhằm tìm hiểu và giúp đỡ người bệnh sau khi xuất viện trở lại trạng thái cân bằng trong điều kiện nhà ở hiện tại của họ Sau đó, ở Mỹ, CTXH lần đầu tiên được đưa vào bệnh viện năm 1905 tại Boston và đến nay hầu hết các bệnh viện đều có phòng CTXH và đây là một trong những điều kiện để các bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện Mỹ [19]

Tại bệnh viện, nhân viên xã hội là một thành phần trong công tác trị liệu Nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, phương pháp chữa trị thích hợp trên cơ sở thu thập thông tin về điều kiện sống, thói quen, cá tính, đặc điểm tâm lý của người bệnh Nhân viên xã hội còn thực hiện các trợ giúp về tâm lý đối với người bệnh như: trấn an, giảm áp lực, tránh xấu hổ, tư vấn về điều trị… Nhân viên xã hội cũng có thể tham mưu

về kế hoạch xuất viện của người bệnh và theo dõi người bệnh sau khi ra viện CSSK tại gia đình và cộng đồng cũng rất cần có sự tham gia của nhân viên xã hội Họ có thể tham dự vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng như: truyền thông, giáo dục sức khoẻ, giúp các nhóm đặc thù phục hồi, phát triển thể chất và tinh thần… Sự xuất hiện của nhân viên

xã hội trong CSSK tại cộng đồng là phương thức để mở rộng mạng lưới

Trang 15

CSSK đến với người dân ở mọi nơi, mọi lúc, nhằm khuyến khích họ tích cực tham gia giải quyết những vấn đề sức khoẻ bằng chính khả năng của mình và với các phương pháp thích hợp Đồng thời, CTXH còn cần thiết phải được ứng dụng ở cấp hoạch định chính sách về CSSK Ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, CSSK được xác định là một trong những lĩnh vực của an sinh xã hội Do đó, khi hoạch định những chính sách

về CSSK cần phải ứng dụng những tri thức của CTXH sao cho mọi người dân đều có cơ hội được hưởng lợi

Ở Singapore, Philippines tại hầu hết ở các bệnh viện đều thành lập một đơn vị chuyên đảm nhận hoạt động thực hành CTXH trong bệnh viện Về cơ cấu tổ chức có thể là một bộ phận trực thuộc bệnh viện do ngành y tế quản lý, cũng có thể là một bộ phận độc lập hoạt động tại bệnh viện nhưng do ngành chủ quản (như ngành Lao động – thương binh và xã hội ở nước ta) quản lý Kinh phí để duy trì hoạt động có thể từ kinh phí Nhà nước, song cũng có thể huy động từ quỹ của người bệnh hoặc quỹ KCB tại bệnh viện do cộng đồng quyên góp [50]

Hội CTXH Úc hiện có khoảng 6.000 thành viên và số nhân viên CTXH trong cả nước ước tính khoảng 19.300 người; ở Mỹ, hiện có khoảng 500.000 nhân viên CTXH Tại Úc, nhân viên CTXH được đào tạo 04 năm đại học và ít nhất 980 giờ thực hành; nhân viên CTXH ở Mỹ được trang bị kiến thức tốt để làm việc trong bệnh viện Tại Đức, muốn trở thành nhân viên CTXH trong bệnh viện, các ứng viên phải được rèn luyện qua rất nhiều khóa tập huấn chuyên môn Tại bệnh viện Đại học Chulalongkorn của Thái Lan, nhân viên CTXH được đào tạo từ chính bộ môn CTXH của trường [29]

1.2.1.2 Tại Việt Nam

Gần đây, Chính phủ đã chọn ngày 25/3 hàng năm là “Ngày Công tác xã hội Việt Nam”, ghi nhận vai trò to lớn của nghề Công tác xã hội trong đời

Trang 16

sống dân sinh tại Việt Nam Bên cạnh việc công nhận “Ngày công tác xã hội Việt Nam” là ngày 25/3 hàng năm, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ LĐ-TB&XH chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan và các địa phương hướng dẫn, tổ chức “Ngày Công tác xã hội Việt Nam” bảo đảm thiết thực, hiệu quả với mục đích tôn vinh giá trị cao quý, ý nghĩa nhân văn của Nghề “Ngày công tác xã hội Việt Nam” còn là sự kiện tôn vinh vai trò và đóng góp của người làm công tác xã hội trong việc tham gia giải quyết các vấn đề của cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, góp phần bảo đảm thực hiện quyền con người, công bằng, tiến bộ xã hội và hạnh phúc của nhân dân

Theo thống kê của ngành y tế, hiện nay cả nước có hơn 1.000 bệnh viện, với gần 300.000 giường bệnh Trong số đó, có 42 bệnh viện Trung ương với gần 22.000 giường bệnh, 348 bệnh viện tuyến tỉnh với 199.342 giường bệnh Tuy nhiên, hiện tại, ở cả 3 cấp độ hoạt động của ngành y tế (tại cộng đồng, trong bệnh viện và ở cấp hoạch định chính sách) đều thiếu hoặc ít có sự tham gia của CTXH [5]

Những năm gần đây, tại một số bệnh viện tuyến Trung ương cũng đã triển khai hoạt động CTXH với sự tham gia của đội ngũ nhân viên y tế kiêm nhiệm và tình nguyện viên nhằm hỗ trợ thầy thuốc trong phân loại người bệnh, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc cho người bệnh… góp phần làm giảm bớt khó khăn trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Một số mô hình tổ chức của hoạt động CTXH trong bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễn như: phòng CTXH, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội…thuộc bệnh viện hay nhóm CTXH tham gia hỗ trợ người có HIV/AIDS, nghiện ma túy, trẻ tự kỷ, người cao tuổi, người bệnh tâm thần, giúp phục hồi chức năng tại xã/phường [9], [11], [12], [13]…

Trang 17

Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngày 15/7/2011, Bộ Y tế

đã chính thức triển khai Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y

tế giai đoạn 2011 – 2020”, nhằm kịp thời giải quyết những vấn đề y tế nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Hiện mô hình CTXH đang được triển khai thí điểm ở bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội) và bệnh viện Nhân dân 115 (TP Hồ Chí Minh) [3], [6]

Bệnh viện Nhi Trung ương là một trong những bệnh viện đã thành lập

tổ CTXH sớm nhất ở nước ta Năm 2008, Tổ CTXH của bệnh viện được thành lập Với hoạt động giúp đỡ, chia sẻ với người bệnh; trợ giúp bác sỹ trong KCB; theo dõi, chăm sóc người bệnh nhi mắc bệnh hiểm nghèo; gây quỹ; tổ chức các sự kiện… Tổ CTXH đã góp phần xoa dịu nỗi đau bệnh tật của bệnh nhi, trợ giúp đắc lực cho bác sỹ, tạo ra mối thiện cảm, sự gắn kết giữa bệnh nhân - cơ sở y tế - người nhà bệnh nhân

Việc triển khai thí điểm Đề án ở bệnh viện Nhân dân 115 cho thấy CTXH thực sự mang lại hiệu quả: Các nhân viên CTXH có vai trò tích cực trong giải thích cho người dân về BHYT, về cơ sở vật chất của bệnh viện, giải thích những thắc mắc của bệnh nhân trong quá trình điều trị và báo cáo kịp thời diễn biến tâm tư của người bệnh với thầy thuốc để có hướng điều trị tối ưu [26]

Thực tế, tại hầu hết các bệnh viện, hoạt động KCB chỉ được thực hiện bởi các nhân viên có trình độ chuyên môn về y Các biện pháp trị liệu về xã hội chưa được quan tâm Do vậy, chưa có chức danh chuyên môn về CTXH trong cơ cấu nhân sự và chưa có phòng CTXH trong tổ chức bộ máy của bệnh viện Tại bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Nhi Đồng 1 đã tổ chức các hoạt động CTXH hỗ trợ cho cán bộ y tế và bệnh nhân, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và vượt qua những lo lắng bệnh tật [8], [10]

Trang 18

Tuy nhiên, hoạt động CTXH trong Ngành hiện mới chỉ mang tính tự phát, chưa được điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý Đội ngũ cán

bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong đợi Theo phản ánh của đại diện Sở Y tế tỉnh Bình Thuận, Đồng Tháp, hiện nay, trong các bệnh viện tại tỉnh chưa có cán bộ làm CTXH, cán bộ y tế người Kinh ít biết tiếng dân tộc, thiếu kỹ năng về công tác xã hội [23], [24]

Từ đòi hỏi thực tế và bản chất quan trọng của CTXH trong lĩnh vực y

tế, công tác này đã được xác định là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển bền vững trong công tác CSSK nhân dân

Tại Hội thảo “Phát triển CTXH trong lĩnh vực y tế”, Bộ trưởng Bộ Y tế

đã nhấn mạnh, Bộ Y tế sẽ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo phát triển CTXH trong Ngành Bộ trưởng đã giao Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng cán bộ Dân số - Y

tế, Bộ Y tế thường trực báo cáo để triển khai lĩnh vực này [3]

Như vậy, ngành CTXH trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam đã có một hướng đi rõ ràng Thực hiện thành công việc đưa CTXH vào lĩnh vực y tế sẽ góp phần đáng kể cải thiện năng lực của hệ thống Y tế Việt Nam [22]

Có thể nói, CTXH trong ngành Y tế là một nội dung hoạt động rất quan trọng trong quá trình chuyên nghiệp hoá lĩnh vực CTXH, góp phần không nhỏ vào công cuộc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân [27]

1.2.2 Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện

Công tác xã hội trong bệnh viện là các hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữa bệnh Mục đích là hỗ trợ các nhóm đối tượng khắc phục những khó khăn về

Trang 19

xã hội để đạt được hiệu quả chăm sóc sức khỏe tốt nhất Nhân viên công tác

xã hội trong bệnh viện là cầu nối để giải quyết các mâu thuẫn giữa bệnh nhân

và nhân viên y tế, giữa bệnh nhân và bệnh nhân, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân [32], [36],…Do đó, công tác xã hội trong bệnh viện thực sự có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Công tác xã hội không đơn thuần chỉ là công tác từ thiện trong bệnh viện, như các bữa ăn, nồi cháo từ thiện cho bệnh nhân nghèo, tặng quà cho các bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn,… Ngoài ra, công tác xã hội trong bệnh viện là một nội dung hoạt động rất quan trọng trong quá trình chuyên nghiệp hoá lĩnh vực công tác xã hội, góp phần không nhỏ vào công cuộc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân [43]

Ngay từ cuối thế kỷ XVII, với cuộc cách mạng công nghiệp; xã hội phương Tây đã bắt đầu phải chứng kiến nhiều vấn đề phức tạp mới với quy

mô rộng lớn Trước những vấn đề này, đã có nhiều hoạt động từ thiện của các

cá nhân, các tổ chức được thực hiện nhằm hỗ trợ nạn nhân vượt qua khó khăn Song, không những không thay đổi được tình hình mà còn tạo ra thói quen ỷ lại trong các nhóm đối tượng yếu thế Các hoạt động từ thiện chỉ có tác dụng xoa dịu nỗi đau nhất thời, không tìm ra căn nguyên của vấn đề mà đối tượng đang gặp phải cũng như không giúp đối tượng tìm ra cách tháo gỡ Vào giữa những năm 20 của thế kỷ trước, những nhà hoạt động xã hội ở Anh, Mỹ từ chỗ thấu hiểu sâu sắc những tác hại của cách làm từ thiện theo kiểu ban phát

đã bắt đầu mở các khóa đào tạo ngắn hạn đầu tiên về công tác xã hội và vận dụng các môn Tâm lý, Xã hội học, Kinh tế học,… vào chương trình đào tạo Cho đến giữa thế kỷ XX, công tác xã hội đã trở thành một ngành học được đào tạo chính quy ở hầu hết các nước trên thế giới, có cả ở châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ,… cả ở các nước tư bản cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa Ngày nay, trên thế giới đã hình thành mạng lưới quốc tế về công tác xã

Trang 20

hội với nhiều tổ chức như: Hiệp hội các trường CTXH, Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội, Các tổ chức và bảo vệ an sinh nhi đồng, dịch vụ gia đình,… Nhiều tổ chức Liên hiệp quốc như UNDP, UNICEP, ESCAP,… đã đặc biệt

đề cao công tác xã hội như một cách tiếp cận khoa học và thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển xã hội ở những nước chậm phát triển công tác xã hội vì vậy mà đã trở thành một ngành nghề được xã hội trọng dụng tại nhiều nước trên thế giới [29]

Đầu thế kỷ XIX, dạng công tác xã hội sơ khai được thực hiện bởi các nhà truyền giáo và các tình nguyện viên (ở Mỹ) Những tình nguyện viên thường xuyên được tuyển chọn và được phân công giúp đỡ những người nghèo đói, ốm yếu, bệnh tật, trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa,…

Họ được gọi là “những vị khách thân thiện” Các nhà tình nguyện còn thông qua các “Ủy ban cải thiện hình thức vệ sinh” và “Vụ giải phóng nô lệ” giúp

đỡ chăm sóc những nô lệ vừa được giải phóng nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng xã hội [46]

Năm 1877, “Tổ chức từ thiện xã hội” được thành lập ở Mỹ đã chú ý tới việc tổ chức các tình nguyện viên Cũng từ đó “các tình nguyện viên” của những năm 1880-1890 đã trở thành những nhân viên công tác xã hội

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, công tác xã hội với mục đích thực hiện sự điều chỉnh xã hội giúp thân chủ vượt qua hoàn cảnh để hòa nhập và phát triển Do vậy, công tác xã hội có một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sức khỏe cho mỗi người Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe bao gồm: hoàn cảnh và điều kiện sống (mức sống, vệ sinh, môi trường,…); trình độ học vấn và văn hóa; bùng nổ dân số - gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe; trình độ phát triển khoa học, kỹ thuật,… Các giải pháp nhằm tăng cường chăm sóc sức khỏe gồm có: nâng cao nhận thức của người dân về chăm sóc sức khỏe; khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào những hoạt động

Trang 21

chăm sóc sức khỏe; tôn trọng sự tự quyết và tự lực của cộng đồng đối với các hoạt động chăm sóc sức khỏe; phổ cập các kỹ thuật thích hợp, thích ứng với khả năng chi trả của người dân để tăng khả năng tiếp cận cho tất cả mọi người Cả bốn giải pháp này đều cần có sự ứng dụng của công tác xã hội Song, công tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh với người thân, giữa người bệnh với những người xung quanh, giữa người bệnh với cơ sở y tế,… Để làm được điều này, người làm công tác xã hội phải tìm hiểu đặc điểm tâm lý, xã hội của người bệnh, hoàn cảnh thực tế mà

họ đang phải đối mặt cùng những mong muốn của họ Từ đó tìm ra sự hỗ trợ thích hợp dành cho thân chủ Vì lẽ đó, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, bệnh viện là nơi cần có sự xuất hiện của công tác xã hội nhất Ở Mỹ, công tác xã hội lần đầu tiên được đưa vào bệnh viện năm 1905 tại Boston và đến nay hầu hết các bệnh viện đều có phòng công tác xã hội và đây là một trong những điều kiện để các bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện Mỹ [46]

Tại châu Á, hoạt động xã hội được công nhận đầu tiên tại Trung Quốc

là hoạt động xã hội về y tế tại khoa công tác xã hội bệnh viện tại Bắc Kinh, thành lập năm 1921 bởi một nhân viên làm công tác xã hội Hoa Kỳ, Ida Pruitt Bộ phận này cung cấp các dịch vụ nghiên cứu xã hội, công tác thích ứng, tái định cư; bên cạnh đó, đào tạo dịch vụ được tổ chức cho các nhân viên

xã hội - có thể đây là công việc đào tạo đầu tiên tại Trung Quốc

Tại bệnh viện, nhân viên xã hội là một thành phần trong ê kíp trị liệu Nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, phương pháp chữa trị thích hợp trên cơ sở thu thập thông tin về điều kiện sống, thói quen,

cá tính, đặc điểm tâm lý của người bệnh Nhân viên xã hội còn thực hiện các trợ giúp về tâm lý đối với người bệnh như: trấn an, giảm áp lực, tránh xấu hổ,

Trang 22

tư vấn về điều trị,… Nhân viên xã hội cũng có thể tham mưu về kế hoạch xuất viện của người bệnh và theo dõi người bệnh sau khi ra viện Chăm sóc sức khỏe tại gia đình và cộng đồng cũng rất cần có sự tham gia của nhân viên xã hội Họ có thể tham dự vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng như: truyền thông, giáo dục sức khỏe, giúp các nhóm đặc thù phục hồi, phát triển thể chất và tinh thần,… Ngoài ra, sau khi điều trị bệnh, nhân viên công tác xã hội còn giúp người bệnh hồi phục và tái hòa nhập đời sống bình thường của gia đình và cộng đồng

Sự xuất hiện của nhân viên xã hội trong chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng là phương thức để mở rộng mạng lưới chăm sóc sức khỏe đến với người dân ở mọi nơi, mọi lúc, nhằm khuyến khích họ tích cực tham gia giải quyết những vấn đề sức khỏe bằng chính khả năng của mình và với các phương pháp thích hợp Đồng thời, công tác xã hội còn cần thiết phải được ứng dụng

ở cấp hoạch định chính sách về chăm sóc sức khỏe Ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, chăm sóc sức khỏe được xác định là một trong những lĩnh vực của an ninh xã hội Do đó, khi hoạch định những chính sách

về chăm sóc sức khỏe, cần phải ứng dụng những tri thức của công tác xã hội sao cho mọi người dân đều có cơ hội được hưởng lợi,…

Nghề công tác xã hội ở Việt Nam có thể được coi là chính thức được công nhận từ năm 2010 sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 [6] Công tác xã hội trong ngành y tế cũng

đã được hình thành ngay sau đó khi mà Bộ Y tế ban hành Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” [3] Trong những năm gần đây, tại một số bệnh viện tuyến Trung ương cũng đã triển khai hoạt động công tác xã hội với sự tham gia của đội ngũ nhân viên y tế kiêm nhiệm và tình nguyện viên nhằm hỗ trợ thầy thuốc trong phân loại người bệnh, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc người bệnh,…

Trang 23

góp phần làm giảm bớt khó khăn trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Một số mô hình tổ chức hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễn như: phòng công tác xã hội, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội,… thuộc bệnh viện hay nhóm công tác xã hội tham gia hỗ trợ người có HIV/AIDS, bệnh nhân tâm thần, giúp phục hồi chức năng tại xã/phường,… Tuy nhiên, hoạt động công tác xã hội trong ngành hiện mới chỉ mang tính tự phát, chưa được điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý Đội ngũ cán

bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong đợi

Hiện nay, ở cả 3 cấp độ hoạt động của ngành Y tế đều chưa có sự tham gia của công tác xã hội Trước hết, tại các bệnh viện ở tất cả các tuyến của khu vực công lập cũng như ngoài công lập, hoạt động khám chữa bệnh mới chỉ được thực hiện bởi các nhân viên có trình độ chuyên môn về y, dược Các biện pháp trị liệu về xã hội chưa được quan tâm Do vậy, chưa có văn bản quy định về chức danh chuyên môn về công tác xã hội trong cơ cấu nhân sự cũng như chưa có phòng công tác xã hội trong tổ chức bộ máy của bệnh viện Hiện một số bệnh viện, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam có duy trì hoạt động xã hội mang tính từ thiện để trợ giúp người bệnh song vẫn chỉ là những việc làm tự phát do một số cá nhân hoặc tổ chức tự nguyện tham gia Các hoạt động này còn thiếu tính chuyên nghiệp, mang nặng tính ban phát, chỉ giúp người bệnh giải quyết được một số nhu cầu bức thiết như: bếp ăn từ thiện, gây quỹ từ thiện,… Trong khi đó tại hầu hết các bệnh viện của cả nước, nhất là các bệnh viện tuyến trên thường xuyên ở trong tình trạng quá tải Nhân viên y tế không

có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu bức xúc của người bệnh như: khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu xã hội của người bệnh,

Trang 24

cung cấp thông tin về giá cả, chất lượng, địa điểm của các loại dịch vụ, tư vấn

về phác đồ điều trị, tư vấn cách phòng ngừa, trấn an tinh thần cho người bệnh,… Do vậy, hiện đang có nhiều vấn đề nảy sinh tại các bệnh viện như:

“cò bệnh viện”, sự thiếu hụt thông tin khi tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, sự không hài lòng của người bệnh đối với các cơ sở y tế, sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa người bệnh và thầy thuốc,… Theo niên giám thống kê năm 2013, cả nước có khoảng 1.125 bệnh viện với 215.640 giường bệnh Trong số này có 46 bệnh viện Trung ương với 26.756 giường bệnh, 447 bệnh viện tuyến tỉnh với 110.549 giường bệnh, 1.214 bệnh viện huyện với 77.134 giường bệnh và 155 bệnh viện ngoài công lập với 9.501 giường bệnh1 Nếu hình thành một mạng lưới hoạt động công tác xã hội tại hàng trăm bệnh viện nêu trên thì cũng có nghĩa là sẽ cần đến hàng nghìn nhân viên xã hội Hoạt động công tác xã hội ở bệnh viện sẽ không chỉ có vai trò trong hỗ trợ người bệnh mà còn có tác dụng lớn trong việc hỗ trợ thầy thuốc giảm bớt

áp lực công việc cũng như nâng cao hiệu quả điều trị [5]

Tại cộng đồng, nhiều chương trình mục tiêu y tế quốc gia đang triển khai và rất cần có sự tham dự của nhân viên công tác xã hội, đặc biệt là các chương trình liên quan đến những nhóm xã hội đặc thù như: quản lý, chăm sóc, tư vấn cho người nhiễm HIV tại cộng đồng, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, phòng chống lao, chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng, quản lý sức khỏe hộ gia đình, sức khỏe sinh sản, dân số kế hoạch hóa gia đình, phòng chống tai nạn thương tích,…Tại tuyến xã/phường, các chương trình này từ trước đến nay thường do nhân viên y tế thôn bản và các cán bộ đoàn thể đảm nhận theo tinh thần tự nguyện, chưa được đào tạo một cách chuyên nghiệp Nếu hình thành mạng lưới công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng thì cũng có nghĩa là cần phải có đến hàng nghìn nhân viên được đào tạo qua trường lớp về lĩnh vực này [1], [2]

Trang 25

1.3 Nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện

Thông tư số 43/2015/TT-BYT ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế quy định

về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện có quy định nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện gồm [4]:

1.3.1 Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho người bệnh và

người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh

- Đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện cho người bệnh ngay từ khi người bệnh vào khoa khám bệnh hoặc phòng khám bệnh;

- Tổ chức hỏi thăm người bệnh và người nhà người bệnh để nắm bắt thông tin về tình hình sức khỏe, hoàn cảnh khó khăn của người bệnh, xác định mức độ và có phương án hỗ trợ về tâm lý, xã hội và tổ chức thực hiện;

- Hỗ trợ khẩn cấp các hoạt động công tác xã hội cho người bệnh là nạn nhân của bạo hành, bạo lực gia đình, bạo lực giới, tai nạn, thảm họa nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh: hỗ trợ về tâm lý, xã hội, tư vấn về pháp lý, giám định pháp y, pháp y tâm thần và các dịch vụ phù hợp khác;

- Hỗ trợ, tư vấn cho người bệnh về quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của người bệnh, các chương trình, chính sách xã hội về bảo hiểm y tế, trợ cấp

xã hội trong khám bệnh, chữa bệnh;

- Cung cấp thông tin, tư vấn cho người bệnh có chỉ định chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc xuất viện; Hỗ trợ thủ tục xuất viện và giới thiệu người bệnh đến các địa điểm hỗ trợ tại cộng đồng (nếu có);

- Phối hợp, hướng dẫn các tổ chức, tình nguyện viên có nhu cầu thực hiện, hỗ trợ về công tác xã hội của bệnh viện;

1.3.2 Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật:

- Thực hiện công tác phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí;

Trang 26

- Xây dựng kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh

và tổ chức thực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt;

- Xây dựng nội dung, tài liệu để giới thiệu, quảng bá hình ảnh, các dịch

vụ và hoạt động của bệnh viện đến người bệnh và cộng đồng thông qua tổ chức các hoạt động, chương trình, sự kiện, hội nghị, hội thảo:

- Cập nhật và tổ chức phổ biến các chính sách, pháp luật của Nhà nước

có liên quan đến công tác khám bệnh, chữa bệnh, hoạt động của bệnh viện cho nhân viên y tế, người bệnh và người nhà người bệnh;

- Tổ chức thực hiện quy tắc ứng xử, hòm thư góp ý của bệnh viện;

- Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phù hợp cho nhân viên y tế và người bệnh

1.3.5 Đào tạo, bồi dưỡng:

- Tham gia hướng dẫn thực hành nghề công tác xã hội cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo nghề công tác xã hội;

- Bồi dưỡng, tập huấn kiến thức về công tác xã hội cho nhân viên y tế

và nhân viên bệnh viện; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về y tế cho người làm việc về công tác xã hội

Trang 27

1.3.6 Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội của bệnh viện

1.3.7 Tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh viện tại

cộng đồng (nếu có)

1.4 Một số nghiên cứu về công tác xã hội

1.4.1 Một số nghiên cứu về vấn đề chung của CTXH trong bệnh viện:

Nói về lịch sử hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện trên thế giới, tác giả Bùi Thị Thanh Tuyền và Trần Thị Trân Châu đã biết công tác xã hội trong bệnh viện lần đầu tiên xuất hiện ở Anh vào cuối thế kỷ

19, năm 1895 và sau đó xuất hiện ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, năm 1905 Lúc đầu nhân viên xã hội trong bệnh viện chỉ có vai trò là "nhân viên phát chẩn", sau đó là phòng dịch vụ xã hội với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho người bệnh (vào năm 1905-1913) Dần dần, nhân viên xã hội trong bệnh viện đã được chuyên nghiệp hóa và được gọi là nhân viên xã hội y tế Nhân viên xã hội y tế có 6 hoạt động chủ yếu: Quản lý trường hợp về mảng y-xã hội, ghi chép dữ liệu, giảng dạy về sức khỏe, theo dõi người bệnh, điều chỉnh mức phí và mở rộng dịch vụ y tế bằng cách chuyển người bệnh đến các nhà dưỡng bệnh, cơ quan phúc lợi xã hội hay các cơ sở y tế khác Tác giả Bùi Thị Thanh Tuyền cho rằng xem lại lịch sử phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện cho thấy có sự tương đồng với quá trình hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện ở Việt Nam về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của nhân viên xã hội trong bệnh viện [29]

Đề cập đến mô hình công tác xã hội trong bệnh viện tại Mỹ, tác giả Trương Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thị Thu cho biết, các bệnh viện ở

Mỹ thường có hai mô hình công tác xã hội (CTXH) Mô hình CTXH theo chiều dọc thì có một phòng CTXH chuyên nghiệp điều phối hoạt động CTXH chung và có đội ngũ nhân viên xã hội có thể thực hiện được nhiều vai

Trang 28

trò và có thể luân chuyển vị trí cho nhau Mô hình CTXH trong bệnh viện thứ hai là được tổ chức theo chiều ngang, trong đó, ở mỗi khoa chức năng sẽ

có một nhân viên y xã hội riêng và thực hiện các công việc chuyên môn đặc thù mà từng chuyên khoa và với những kiến thức sâu hơn về bệnh lý của người bệnh Mỗi một mô hình CTXH như thế này đều có những ưu điểm và nhược điểm, do đó đòi hỏi nhà quản lý bệnh viện cân nhắc khi áp dụng ở Việt Nam [22]

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại các bệnh viện ở tỉnh Bến Tre của các tác giả Huỳnh Văn Chẩn và Nguyễn Thị Hồng với mục đích tìm hiểu nhu cầu phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bài viết: "Công tác xã hội trong bệnh viện - Nhu cầu của các bệnh viên tại tỉnh Bến Tre" đã cho thấy các bệnh viện đều có nhu cầu rất cao trong việc tuyển dụng nhân viên xã hội vào làm việc [7]

Tiếp theo là những bài viết của các tác giả: Cao Liên Hương, Nguyễn Thị Thanh Tùng, Phạm Thị Tâm, Tạ Thị Thanh Thủy, Phan Thành Phúc Phạm Thị Oanh, Vũ Thị Thu Phương Những bài báo được viết dành cho các nhóm bệnh nhân khác nhau trong bệnh viện (bệnh nhân nghiện chất, bệnh nhân là người cao tuổi bị Alzheimer, bệnh nhân nhiễm HIV) nhằm chỉ ra những đặc điểm tâm lý xã hội của các nhóm bệnh nhân và những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng mà nhân viên xã hội cần phải có khi làm việc với những nhóm bệnh nhân khác nhau [12], [21], [26]

1.4.2 Một số nghiên cứu về thực trạng CTXH trong bệnh viện:

Tác giả Lê Minh Hiển và Nguyễn Thị Thùy Dương với bài viết: "Kết quả các hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Chợ Rẫy" đã cho thấy Tổ Y

xã hội được thành lập ở bệnh viện Chợ Rẫy cách đây trên 10 năm (năm 2004)

và có nhiều đóng góp cho việc hỗ trợ bệnh nhân nghèo và hoạt động của Tổ Y

Trang 29

xã hội chủ yếu mang tính chất từ thiện Đơn vị Y xã hội chỉ mới được kiện toàn lại tổ chức và thành lập phòng Công tác xã hội từ 8/2015 [10]

Tương tự như Bệnh viện Chợ Rẫy, tác giả Đoàn Thị Thùy Loan với bài viết: "Thực trạng triển khai họat động công tác xã hội tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa"[17] và tác giả Huỳnh Thị Kim Tuyến và Nguyễn Thị Kim Long với bài viết: "Thực trạng và giải pháp phát triển nghề công tác xã hội bệnh viện lao và bệnh phổi tỉnh Bến Tre" [28] đã cho thấy thực trạng hoạt động CTXH trong các bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa và bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Bến Tre chưa được hoàn thiện Tại các bệnh viện này chưa có ai chuyên trách về công tác xã hội bệnh viện Đảm nhiệm công việc như nhiệm vụ của người làm công tác xã hội trong bệnh viện, phần lớn do

hộ lý, y tá, y sỹ, bác sỹ,…thực hiện Như vậy, bên cạnh nhiệm vụ chuyên môn được giao, toàn thể nhân viên bệnh viện đảm nhiệm luôn công việc của người làm công tác xã hội Khi bệnh nhân, thân nhân cần sự giúp đỡ, tư vấn,

họ luôn sẵn sàng giải thích, hướng dẫn đúng yêu cầu, phòng tránh thấp nhất mức độ lây nhiễm khó kiểm soát Tuy nhiên, với số lượng bệnh nhân ít hoặc vừa đủ chuẩn thì việc kiêm nhiệm tạm thời vẫn có thể chấp nhận được Nhưng khi lượng bệnh nhân tăng đột biến, việc này có thể được thực hiện song không thể đáp ứng theo đúng chức năng và nhiệm vụ của người làm công tác xã hội Ngoài ra, với nhiều bệnh nhân bị bệnh lao nặng, khó chẩn đoán như lao thanh quản, lao phế quản, lao da, lao ruột, lao xương khớp, lao màng phổi, màng tim, dò hậu môn trực tràng do lao, bệnh lý khác phối hợp với bệnh lao như dạ dày, tiểu đường, suy gan, suy thận, Các bệnh phổi nặng khó chẩn đoán như: tràn khí màng phổi rung thất, bệnh bụi phổi, sarcoidosis, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở tất cả các cấp độ, Bên cạnh việc khám và điều trị bệnh, người bệnh và thân nhân rất cần đến sự hỗ trợ, tư vấn về mặt tinh thần và bảo vệ sức khỏe từ đội ngũ những người làm công

Trang 30

tác xã hội [28] Trong bài viết của mình tác giả Huỳnh Thị Kim Tuyến cũng đưa ra 6 nhóm giải pháp để phát triển nghề công tác xã hội tại bệnh viện gồm: 1, Tiến hành điều tra, khảo sát nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực công tác xã hội bệnh viện; 2, Xây dựng chương trình đào tạo và biên soạn giáo trình phù hợp theo yêu cầu của nghề công tác xã hội bệnh viện đa khoa và chuyên khoa; 3, Tập huấn, bồi dưỡng nghề công tác xã hội bệnh viện từ đội ngũ y, bác sĩ bệnh viện; 4, Đội ngũ giảng viên tham gia đào tạo nghề công tác xã hội bệnh viện cần được thường xuyên cập nhật tri thức, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ và liên hệ nghề nghiệp thực tế phù hợp; 5, Liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và bệnh viện; 6, Vấn đề kiểm tra, đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo cần được coi trọng

Tuy nhiên, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa thì hoạt động công tác xã hội lại được triển khai tốt hơn [17], [25] Theo thống kê của phòng công tác xã hội của bệnh viện thì Năm 2014, phòng công tác xã hội chỉ vận động 373 triệu đồng, tập trung chủ yếu ở các tổ chức từ thiện Đến năm

2015, số tiền vận động được 875 triệu đồng, cao gấp gần 3 lần so với năm

2014, tập trung nhiều ở các cá nhân Trong năm 2014, phòng công tác xã hội phối hợp với khoa Dinh dưỡng hỗ trợ hơn 24 ngàn suất ăn với tổng số tiền là 720,030 triệu đồng Năm 2015, hỗ trợ được 17.077 suất ăn với tổng số tiền

là 597,695 triệu đồng [17] Từ các nghiên cứu của mình Đoàn Thị Thùy Loan đã đưa ra kết luận: Hoạt động của phòng công tác xã hội đang dần được hình thành theo nhu cầu thực tế của người bệnh, gia đình họ cũng như đội ngũ nhân viên chăm sóc sức khỏe trong bệnh viện và các cơ sở y tế, thông qua con đường chính thức hóa và chuyên nghiệp hóa theo các quy định của ngành y tế Với sự quá tải ở các bệnh viện, áp lực công việc nặng

nề đối với người thầy thuốc, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình khám, chữa

Trang 31

bệnh cho nhân dân, nếu có sự tham gia của nhân viên công tác xã hội hoặc cán bộ y tế được trang bị tốt kỹ năng chuyên môn sẽ làm tăng sự hài lòng của người bệnh, khiến họ tuân thủ điều trị và chất lượng khám chữa bệnh sẽ được tăng lên, góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu của bệnh viện Nghiên cứu đã bổ sung thêm bằng chứng về tính thực tiễn của việc triển khai

mô hình công tác xã hội trong bệnh viện Đây chính là cơ sở để những người quản lý y tế và nhà hảo tâm trong cộng đồng có các chính sách phù hợp, quyết định hoạt động ưu tiên đảm bảo cho sự phát triển của ngành dịch vụ y

tế và phát triển xã hội công bằng, hiệu quả, duy trì truyền thống đẹp của Việt Nam “lá lành đùm lá rách”

1.5 Sự hài lòng đối với dịch vụ khám chữa bệnh

1.5.2 Sự hài lòng của bệnh nhân

- Theo các tác giả Mohsen Asadi-Lari, Marcello Tamburini và David Gray, sự hài lòng của bệnh nhân có liên quan tới nhu cầu chăm sóc sức khỏe nói chung và những nhu cầu trong những điều kiện cụ thể được đáp ứng Việc lượng giá mức độ hài lòng của BN liên quan nhiều tới điều trị lâm sàng, vì những bệnh nhân cảm thấy hài lòng thường dễ tuân theo những hướng dẫn điều trị cũng như có biểu hiện tích cực trong việc tự chăm sóc sức khỏe bản thân [44]

Trang 32

- Còn nhận định theo góc độ nhà quản lý, bệnh nhân đánh giá chất lượng bệnh viện phần lớn nghiêng về đánh giá chất lượng chăm sóc Chất lượng về kỹ thuật mặc dù là khía cạnh cần thiết để đánh giá chất lượng chung nhưng nó thường vượt quá nền tảng kiến thức của bệnh nhân và thường phải

sử dụng thuật ngữ và phương pháp chuyên môn Quan điểm về chất lượng chăm sóc bị ảnh hưởng từ khi bệnh nhân bước vào bệnh viện, bao gồm việc tiếp xúc với người cung cấp và môi trường xung quanh

- Sự hài lòng của bệnh nhân là một trong những nội dung luôn luôn được đặt ra trong quá trình đánh giá chất lượng các dịch vụ của một cơ sở điều trị

Trang 33

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình

* Một số đặc điểm về Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình:

Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình là Bệnh viện hạng 1 trực thuộc Sở Y

tế Ninh Bình, Bệnh viện có trụ sở tại đường Tuệ Tĩnh - Phường Nam Thành- Thành phố Ninh Bình được xây dựng trên diện tích 20 Ha quy mô 700 giường bệnh bao gồm 01 tòa nhà 11 tầng, 02 tòa nhà 05 tầng, 05 tòa nhà 02 tầng với

số vốn đầu tư ban đầu khoảng 1500 tỷ VNĐ từ trái phiếu chính phủ Bệnh viện đã được đưa vào sử dụng từ tháng 4 năm 2010 Hiện nay Bệnh viện được giao 600 giường bệnh với 648 cán bộ trong đó nam giới có 198 người và nữ là

450 người; 155 bác sỹ (CKII: 5; CKI: 47; ThS: 22; Bs: 77), 51 dược sỹ (CKI: 03; Ths: 01; Đại học: 07; trung học: 40); 298 Điều dưỡng (CKI: 01; Đại học: 64; Cao đẳng: 39; trung học: 194); 02 Nữ hộ sinh, 142 cán bộ khác làm việc tại 29 khoa, 9 phòng của Bệnh viện Cán bộ chủ chốt của bệnh viện gồm có

05 đồng chí (1 đồng chí Giám đốc, 04 phó Giám đốc) 20 cán bộ trưởng phó phòng, 61 cán bộ là trưởng phó khoa, 25 điều dưỡng trưởng khoa Cán bộ sau đại học 81 người tỷ lệ 12,5%; cán bộ đại học: 201 người tỷ lệ 31% Cao đẳng:

55 người tỷ lệ 8,5% còn là cán bộ khác

* Chức năng nhiệm vụ phòng công tác xã hội BVĐK tỉnh Ninh Bình:

Phòng CTXH là phòng chức năng thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình được thành lập theo Quyết định số 1455/QĐ-SYT ngày 15/7/2016 của

Sở Y tế Ninh Bình Chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/6/2017, chịu sự lãnh đạo, quản lý toàn diện của Giám đốc Bệnh viện và chịu sự lãnh đạo,

Trang 34

quản lý của Phó Giám đốc phụ trách Phòng CTXH hiện có 01 Phó trưởng phòng và 07 nhân viên

Trình độ chuyên môn: 01 Bác sỹ, 01 Thạc sỹ quản trị kinh doanh, 01

Cử nhân Y tế công cộng, 01 Cử nhân kế toán, 01 Trung cấp dược, 02 Kỹ thuật viên

+ Chức năng

- Tham mưu cho Giám đốc BV tổ chức thực hiện cung cấp các dịch vụ

về công tác xã hội cho bệnh nhân (BN), thân nhân bệnh nhân (TNBN) và nhân viên y tế trong quá trình khám chữa bệnh cho nhân dân

- Là đầu mối cho việc điều phối mọi hoạt động mang tính xã hội trong bệnh viện nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho BN trong suốt quá trình điều trị bệnh, nhất là những hoạt động mang tính nhân đạo, từ thiện giúp BN và TNBN yên tâm hơn trong thời gian nằm viện

- Phòng CTXH cũng là bộ phận duy trì và quảng bá hình ảnh của BVĐK tỉnh Ninh Bình đến với công chúng thông qua hoạt động truyền thông

- giáo dục sức khỏe và hoạt động báo/đài trên cả nước Từng bước mở rộng phạm vi hoạt động để trở thành trung tâm huấn luyện và thực hành về nghề công tác xã hội trong bệnh viện

- Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật

- Vận động tiếp nhận tài trợ và thực hiện hoạt động từ thiện hỗ trợ BN

có hoàn cảnh khó khăn

Trang 35

- Đào tạo, bồi dưỡng: tham gia hướng dẫn thực hành nghề công tác xã hội cho học viên ngành công tác xã hội Bồi dưỡng, tập huấn kiến thức về công tác xã hội cho nhân viên y tế và nhân viên bệnh viện; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về y tế cho người làm việc về công tác xã hội

- Phối hợp và hỗ trợ Đoàn Thanh niên tổ chức các hoạt động từ thiện

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Giám đốc

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

* Nhân viên y tế: Các Điều dưỡng, y, bác sĩ đang công tác tại bệnh viện

đa khoa tỉnh Ninh Bình

* Người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình

- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:

+ Nhân viên y tế: là những cán bộ, nhân viên của bệnh viện có thời gian làm việc tại bệnh viện từ đủ 12 tháng liên tục trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu

+ Người bệnh: Những người đang điều trị nội trú trong bệnh viện ở độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng trả lời các câu hỏi của điều tra viên Lý

do lựa chọn người bệnh đang điều trị nội trú là chỉ có đối tượng này mới được tiếp cận đầy đủ các hoạt động của phòng công tác xã hội trong bệnh viện, khác với bệnh nhân điều trị ngoại trú chỉ được tiếp xúc với bộ phận tiếp đón ở khoa khám bệnh

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Người bệnh hoặc nhân viên y tế không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2018 tới tháng 05/2019

Trang 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm

mô tả thực trạng nhận thức và thực hành của nhân viên y tế về công tác xã hội tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2018 và Đánh giá sự hài lòng của người bệnh đối với công tác xã hội tại địa bàn nghiên cứu

) 1

(

d

p p

Trong đó:

n: cỡ mẫu nghiên cứu (nhân viên y tế)

Z1 -  /2: Hệ số tin cậy (với độ tin cậy 95%, Z1 -  /2=1,96)

p: tỷ lệ tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về công tác xã hội tại bệnh viện, p ước tính bằng 50% (p=0,5)

d = sai số mong muốn, lấy d=5%

Thay các dữ liệu vào công thức tính được n=384 (nhân viên y tế) Trên thực tế đã điều tra 402 nhân viên y tế

- Cỡ mẫu đánh giá sự hài lòng của người bệnh đối với công tác xã hội được áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả sau:

2

2

2 / 1

) 1

(

d

p p

nz   

Trong đó :

Trang 37

n: cỡ mẫu nghiên cứu (người bệnh)

Z1 - /2: Hệ số tin cậy (với độ tin cậy 95%, Z1 - /2=1,96)

p: tỷ lệ người bệnh hài lòng về công tác xã hội tại bệnh viện, p ước tính bằng 50% (p=0,5)

d: Sai số tuyệt đối Trong nghiên cứu này chọn d = 0,05

Thay các dữ liệu vào công tác tính được n=384 (người bệnh) Trên thực

tế đã điều tra 408 người bệnh

* Phương pháp chọn mẫu:

- Chọn nhân viên y tế: Dựa vào danh sách nhân viên y tế của bệnh viện, chọn ngẫu nhiên các nhân viên y tế theo tiêu chuẩn lựa chọn nghiên cứu (là những người đang công tác tại bệnh viện, không tính những người đang đi học hoặc những người đang đi công tác xa)

- Chọn người bệnh: theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, tại thời điểm nghiên cứu tháng 11/2018, chọn tất cả những người bệnh đang điều trị nội trú tại bệnh viện từ 18 tuổi trở lên, đồng ý tham gia nghiên cứu và có khả năng trả lời các câu hỏi của điều tra viên Phỏng vấn đến khi đủ cỡ mẫu thì kết thúc điều tra

2.2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

* Biến số của mục tiêu 1: Nhận thức và thực hành của nhân viên y tế về công tác xã hội

- Tuổi, giới, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác

- Tỷ lệ nhân viên y tế biết về phòng công tác xã hội, biết có đội ngũ cộng tác viên tham gia các hoạt động công tác xã hội

- Tỷ lệ nhân viên y tế có thực hiện hoạt động từ thiện

- Đánh giá của nhân viên y tế về hoạt động CTXH của bệnh viện: cung cấp dịch vụ, tham gia đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ cán bộ

Trang 38

- Kiến thức của nhân viên y tế về sự cần thiết của các hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện Phần nhận thức được chia thành 3 mức độ là: không cần thiết, cần thiết và Rất cần thiết Các mức độ này tương ứng với 3 mức độ đánh giá tương ứng là 1, 2 và 3

Không cần thiết ứng với 1 điểm;

Cần thiết ứng với 2 điểm;

Rất cần thiết ứng với 3 điểm

Điểm trung bình càng cao thì người trả lời càng nhất trí với nội dung được hỏi

- Thực hành của nhân viên y tế về các hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện Các phần kiến thức và thực hành của nhân viên y tế được lấy từ Thông tư số 43/2015/TT-BYT ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế quy định về nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện

* Biến số của mục tiêu 2: Sự hài lòng của người bệnh đối với công tác xã hội

- Tuổi, giới của người bệnh tham gia phỏng vấn

- Tỷ lệ người bệnh có tham gia bảo hiểm y tế

- Đánh giá của người bệnh về một số hoạt động của công tác xã hội: đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin dịch vụ; tư vấn, hỗ trợ tiếp cận các chương trình, chính sách; sự quan tâm của nhân viên y tế

- Mức độ hài lòng của người bệnh về một số hoạt động công tác xã hội

- Một số đóng góp ý kiến của người bệnh đối với hoạt động công tác

xã hội của bệnh viện

Các mức độ về sự hài lòng của người bệnh đều là các ý kiến chủ quan của người bệnh

Trang 39

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin

Các nhân viên y tế được yêu cầu điền vào bộ phiếu tự điền được chuẩn

bị trước để cung cấp các thông tin về nhận thức, thực hành về công tác xã hội tại bệnh viện (Phụ lục 1)

Người bệnh được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi được chuẩn bị trước bởi các nhân viên của phòng công tác xã hội (Phụ lục 2)

Cả hai bộ phiếu đều được xây dựng bởi các chuyên gia, được tiến hành điều tra thử để xác định mức độ phù hợp với đối tượng nghiên cứu

Các nhân viên của phòng công tác xã hội được tiến hành tập huấn điều tra thử bộ phiếu; về mục đích và yêu cầu của việc điều tra để thống nhất các nội dung trước khi điều tra chính thức

2.2.5 Phân tích xử lý số liệu

Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1 Sau

đó được phân tích xử lý trên phần mềm SPSS 16.0

Số liệu sau khi phân tích được trình bày dưới dạng bảng tần suất và tỷ

lệ %, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, biểu đồ minh họa,…

2.2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Đề cương nghiên cứu được thông qua hội đồng chấm đề cương luận văn thạc sĩ của Trường Đại học Y Dược Thái Bình Đề tài được Ban lãnh đạo Bệnh viện ủng hộ, cho phép thực hiện nghiên cứu

Cam kết tiến hành nghiên cứu với tinh thần trung thực, áp dụng các nguyên lý về nghiên cứu và đạo đức nghiên cứu cũng như phổ biến kết quả nghiên cứu

Sự đồng ý tham gia nghiên cứu phải là tự nguyện mà không có cưỡng bức, có quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào, người già, trẻ em không

có khả năng quyết định thì phổ biến cho người thân của họ nắm rõ để họ quyết định

Trang 40

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về công tác xã hội

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm về nhóm tuổi và giới của nhân viên y tế

Giới Nhóm tuổi

Ngày đăng: 22/08/2019, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w