Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về điều kiện vệ sinh, kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ và các cô giáo 11 2.1.. Để có những đề xuất góp phần cải thiện điều kiện cơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
- -
LÊ THỊ HÀ PHƯƠNG
THỰC TRẠNG VỆ SINH TRƯỜNG HỌC VÀ KIẾN THỨC
THỰC HÀNH CỦA CÔ GIÁO, BÀ MẸ VỀ CHĂM SÓC TRẺ
TỈNH THANH HÓA NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH - 2019
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
- -
LÊ THỊ HÀ PHƯƠNG
THỰC TRẠNG VỆ SINH TRƯỜNG HỌC VÀ KIẾN THỨC THỰC HÀNH CỦA CÔ GIÁO, BÀ MẸ VỀ CHĂM SÓC TRẺ
TỈNH THANH HÓA NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8 72 07 01 Hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Ngô Thị Nhu
2 TS Nguyễn Thị Hiên
THÁI BÌNH -2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu, Khoa Y
tế công cộng, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và hoàn thành luận văn cao học của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Ngô Thị Nhu và TS.Nguyễn Thị Hiên đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Y tế dự phòng, huyện Quảng Xương, Ban giám hiệu các trường mầm non: xã Quảng Phong, xã Quảng Tân và trường mầm non thị trấn Quảng Xương đã tạo mọi điều kiện để tôi triển khai đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn ân tình nhất tới gia đình, người thân, bạn
bè của tôi là nguồn động viên lớn giúp tôi hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Hà Phương
Trang 5MỤC LỤC
1.1 Một số khái niệm và yêu cầu đối với trường mầm non 3
1.1.5 Yêu cầu về các trang thiết bị cho chăm sóc trẻ 6 1.2 Thực trạng các trường mầm non và sức khỏe lứa tuổi mẫu giáo 7 1.3 Thực trạng các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 9 1.4 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về điều kiện vệ sinh, kiến
thức, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ và các cô giáo
11
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 20
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin, kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 25
Trang 62.2.7 Biện pháp khống chế sai số 27
3.1 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện vệ sinh của 3 trường
mầm non được nghiên cứu
4.1 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện vệ sinh của 3 trường
mầm non được nghiên cứu
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.5 Các dụng cụ vệ sinh phục vụ công tác chăm sóc trẻ 31
tại trường mầm non
Bảng 3.21 Thực hành của bà mẹ khi theo dõi sự phát triển của con 41 Bảng 3.22 Nhận định của bà mẹ về sự phát triển của con mình 42
Bảng 3.25 Kiến thức của cô giáo về yêu cầu khi nhận trẻ vào trường 44
Trang 8Bảng 3.26 Kiến thức của cô giáo về các nội dung chăm sóc trẻ ở trường
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.2 Sự hài lòng của bà mẹ về chăm sóc trẻ tại trường 35 Biều đồ 3.3 Tỷ lệ bà mẹ theo dõi sự phát triển của trẻ 41
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là những mầm ươm, chủ nhân tương lai của đất nước Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em là nội dung cơ bản của chiến lược con người, góp phần tạo nguồn nhân lực cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [2] Chính vì vậy việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em là việc rất quan trọng
Giáo dục mầm non là một phần trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi, tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời Trong giai đoạn lứa tuổi mầm non, ở trẻ xuất hiện những khả năng nhất định mang tính nền tảng cho những năng lực cao hơn sau này Nếu những khả năng nền tảng đó bị bỏ qua hoặc liên tục không được nuôi dưỡng thì trẻ không được chuẩn bị tốt cho những bước phát triển về sau như khả năng nghe nhìn, phát triển ngôn ngữ, nhận thức Có thể nói những năm đầu đời là giai đoạn phát triển quan trọng nhất của đời người, đặc biệt là giai đoạn não bộ phát triển và hoàn thiện Đây cũng là thời kỳ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ dinh dưỡng, sức khỏe và có tác động lớn nhất đến khả năng nhận thức, học tập, tính cách và các kỹ năng của con người [39]
Tuy nhiên, xã hội hiện nay ngày càng phát triển, nhu cầu gửi trẻ tới các trường mầm non càng gia tăng, nhiều trường mầm non không thể nhận thêm trẻ vì quá tải, mặc dù nhu cầu gửi trẻ của phụ huynh còn rất nhiều, đặc biệt tại các địa phương có khu, cụm công nghiệp, địa bàn tập trung đông dân
cư Điều này dẫn đến, các trường chịu nhiều áp lực về cơ sở vật chất, thiếu giáo viên, đồ dùng dạy học và đặc biệt ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
Trang 11Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe trường học, nhưng những nghiên cứu trong lĩnh vực mầm non chưa có nhiều và đặc biệt là đối với một huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa là huyện Quảng Xương, huyện tập trung các khu công nghiệp lớn như phía Bắc là khu công nghiệp Lễ Môn, phía Nam là khu công nghiệp động lực Nghi Sơn - Tĩnh Gia Huyện Quảng Xương nằm trên trục quốc lộ 1A, quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ số 4, phía Nam thành phố Thanh Hoá, là huyện đồng bằng ven biển Để có những đề xuất góp phần cải thiện điều kiện cơ sở vật chất và việc chăm sóc sức khỏe đối với trẻ trong các trường mầm non ở huyện, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Thực trạng vệ sinh trường học và kiến thức, thực hành của cô giáo, bà mẹ về chăm sóc trẻ tại ba trường mầm non huyện Quảng Xương,
tỉnh Thanh Hóa năm 2018” với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và điều kiện vệ sinh tại
3 trường mầm non huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa năm 2018
2 Kiến thức, thực hành về chăm sóc trẻ của cô giáo, bà mẹ tại địa bàn nghiên cứu
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm và yêu cầu đối với trường mầm non
1.1.1 Một số khái niệm về trường mầm non
Trường mầm non là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non Trường mầm non có chức năng thu nhận để chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, nhằm giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách; chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1 Trường mầm non bao gồm các nhóm trẻ của nhà trẻ và các lớp mẫu giáo:
- Từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi là tuổi nhà trẻ
- Từ 37 tháng đến 72 tháng tuổi là tuổi mẫu giáo
Mỗi lứa tuổi có những yêu cầu vệ sinh về chế độ ăn uống, sinh hoạt và dụng cụ phục vụ cho trẻ khác nhau [4]
1.1.2 Vai trò của trường mầm non
Trường mầm non là cơ sở giáo dục rất quan trọng đối với mỗi gia đình trẻ cũng như toàn xã hội Trường là nơi hàng ngày cha mẹ gửi con em đến sinh hoạt và học tập Trong suốt thời gian này trẻ được các cô giáo chăm sóc
về sức khỏe và tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi, rèn luyện về nề nếp một các nhịp nhàng, phù hợp, đảm bảo theo đúng chương trình GDMN của
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã quy định Trẻ đến trường mầm non được phát triển các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức, kỹ năng giao tiếp và hiểu biết chung, sự trưởng thành tình cảm, năng lực xã hội, sức khỏe và thể chất Đối với trẻ thì ngoài gia đình thì cô giáo mầm non có thể xem như một
“người mẹ thứ hai” để giúp trẻ có thêm tự tin, học hỏi được nhiều điều và giáo dục những kiến thức đầu tiên cho trẻ trong môi trường trường lớp Chính
vì vậy mà người làm giáo viên mầm non có vai trò vô cùng quan trọng trong
Trang 13việc giáo dục ra một thế hệ “mầm non” tương lai cho đất nước Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để nhà trường phát huy tầm ảnh hưởng của mình đến với các phụ huynh và xã hội Vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ phải là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các cơ
sở giáo dục mầm non [1], [3]
1.1.3 Yêu cầu chung về trường mầm non
Theo Quy định của Chính phủ trường mẫu giáo, trường mầm non, nhà trẻ phải được:
- Đặt tại khu dân cư phù hợp quy hoạch chung, thuận lợi cho trẻ em đến trường, bảo đảm các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường
- Độ dài đường đi của trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ: đối với khu vực thành phố, thị xã, thị trấn, khu công nghiệp, khu tái định cư, khu vực ngoại thành, nông thôn không quá 1km; đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn không quá 2km
- Diện tích khu đất xây dựng nhà trường, nhà trẻ gồm: diện tích xây dựng; diện tích sân chơi; diện tích cây xanh, đường đi Diện tích sử dụng đất bình quân tối thiểu 12m2 cho một trẻ đối với khu vực đồng bằng, trung du; 8m2 cho một trẻ đối với khu vực thành phố, thị xã và núi cao
- Khuôn viên của nhà trường, nhà trẻ có tường bao ngăn cách với bên ngoài bằng gạch, gỗ, tre, kim loại hoặc cây xanh cắt tỉa làm hàng rào, cổng chính của nhà trường, nhà trẻ có biển tên nhà trường, nhà trẻ theo quy định [9], [39]
1.1.4 Yêu cầu về vệ sinh phòng nuôi dạy trẻ [1]
Các công trình phải đảm bảo đúng quy định về tiêu chuẩn thiết kế và các quy định về vệ sinh trường mầm non hiện hành Các phòng nuôi dạy trẻ được xây dựng tương ứng với số nhóm, lớp theo các độ tuổi của nhà trường,
Trang 14nhà trẻ, đảm bảo mỗi nhóm, lớp có phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em riêng Phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em gồm:
- Phòng sinh hoạt chung: Đảm bảo 1,5 - 1,8m2 cho một trẻ, đủ ánh sáng
tự nhiên và thoáng, nền nhà láng xi măng, lát gạch màu sáng hoặc gỗ Có thể
sử dụng phòng sinh hoạt chung làm nơi ăn, ngủ cho trẻ mẫu giáo Phòng sinh hoạt chung được trang bị bàn, ghế cho trẻ và giáo viên đúng quy cách và đủ cho số trẻ trong lớp, hệ thống tủ, kệ, giá đựng đồ chơi, đồ dùng, tài liệu
- Phòng ngủ: Đảm bảo 1,2 - 1,5m2 cho một trẻ, yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Phòng ngủ bao gồm các thiết bị như: Giường, phản, chiếu, đệm, chăn, gối, màn, quạt tùy theo khí hậu từng miền Hệ thống
tủ, kệ, giá đựng các đồ dùng phục vụ trẻ em ngủ
- Phòng vệ sinh: Đảm bảo 0,4 - 0,6m2 cho một trẻ; đối với trẻ mẫu giáo
có chỗ riêng cho trẻ em trai, trẻ em gái Phòng vệ sinh được xây dựng liền kề với phòng sinh hoạt chung, thuận tiện cho sử dụng và dễ quan sát Phòng vệ sinh có các thiết bị sau:
+ Đối với trẻ nhà trẻ: vòi nước rửa tay, ghế ngồi bô, có thể bố trí máng
tiểu, bệ xí cho trẻ 24 - 36 tháng, vòi tắm, bể có nắp đậy hoặc bồn chứa nước
+ Đối với trẻ mẫu giáo: vòi nước rửa tay, chỗ đi tiểu và bệ xí cho trẻ
em trai và trẻ em gái, vòi tắm, bể có nắp đậy hoặc bồn chứa nước
- Hiên chơi: Đảm bảo 0,5 - 0,7m2 cho một trẻ, chiều rộng không dưới 2,1m; có lan can bao quanh cao 0,8-1m, sử dụng các thanh đứng với khoảng cách giữa hai thanh không lớn hơn 0,1m
- Nhà bếp: Đảm bảo 0,3 - 0,35m2 cho một trẻ Bao gồm có khu sơ chế, khu nấu ăn, khu chia thức ăn Nhà bếp có đầy đủ đồ dùng phục vụ trẻ em ăn bán trú tại trường, dụng cụ chế biến thực phẩm đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm Có tủ lạnh để lưu mẫu thực phẩm của trẻ em ăn bán trú Có đủ nước sử
Trang 15dụng, chất lượng nước phải được cơ quan Y tế kiểm định Đảm bảo việc xử lí các chất thải đúng quy định và yêu cầu phòng chống cháy nổ [39].
1.1.5 Yêu cầu về trang thiết bị trường mầm non
* Quy định về kích thước bàn - ghế của lớp mẫu giáo
Bàn ghế lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo phải phù hợp với tuổi của trẻ Sau đây là quy định kích thước bàn ghế cho trẻ theo chiều cao và lứa tuổi [38] Chiều cao trẻ
Kích thước bàn (cm) Cao Trước sau Dài/1 chỗ ngồi
* Trang thiết bị đối với một lớp mẫu giáo và lớp mầm non [6], [39]
- Có bàn, ghế đúng quy cách cho trẻ ngồi (đặc biệt đối với trẻ 5 tuổi): 1 bàn và 2 ghế/2 trẻ; 1 bàn, 1 ghế và 1 bảng cho giáo viên; kệ để đồ dùng, đồ chơi; thùng đựng nước uống, nước sinh hoạt Nếu lớp bán trú, có ván hoặc giường nằm, chăn, gối, màn, quạt phục vụ trẻ ngủ
- Có đủ thiết bị tối thiểu cho trẻ bao gồm: đồ chơi, đồ dùng và tài liệu cho hoạt động chơi và học có chủ đích
Trang 16- Đủ đồ dùng cá nhân cho mỗi trẻ
- Có đồ dùng, tài liệu cho giáo viên mẫu giáo gồm: bộ tài liệu hướng dẫn thực hiện hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; sổ theo dõi trẻ; sổ ghi chép tổ chức các hoạt động giáo dục của trẻ trong ngày; tài liệu dùng để phổ biến kiến thức nuôi dạy con cho cha mẹ
Căn cứ vào mỗi lứa tuổi (mẫu giáo, mầm non) của trẻ trong lớp để có trang bị phù hợp cho lớp
1.2 Thực trạng các trường mầm non và sức khỏe lứa tuổi mẫu giáo
Trong quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển giáo dục mầm non Với những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phổ cập giáo dục mầm non trẻ
5 tuổi và sự chỉ đạo quyết liệt của các ngành học từ Trung ương đến địa phương cùng với sự ủng hộ của các ban ngành có liên quan, cộng đồng xã hội, đến nay (năm học 2016-2017), 63/63 tỉnh thành phố trong cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi [5] Tỷ lệ trẻ 5 tuổi huy động
ra lớp đạt 99,8% Tất cả trẻ được chuẩn bị về thể chất, thẩm mỹ, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm và kỹ năng xã hội, sẵn sàng vào lớp 1 Triển khai có hiệu quả chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”; đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; quan tâm xây dựng môi trường giáo dục, tạo cơ hội cho trẻ được vui chơi, trải nghiệm; thực hiện tốt tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số, giúp các em sẵn sàng vào lớp 1 tại trường tiểu học Quy mô mạng lưới trường lớp phát triển (năm học 2016-2017 cả nước tăng 354 trường, 11.318 nhóm lớp), công tác đầu tư phát triển trường lớp mầm non khu công nghiệp được quan tâm; giáo dục mầm non ngoài công lập phát triển (277/354 trường tăng trong năm học)
Số lượng, tỉ lệ trẻ đến trường các độ tuổi đều tăng và vượt kế hoạch đề ra
Trang 17trong năm học Tỷ lệ trẻ được chăm sóc giáo dục 2 buổi/ ngày và bán trú tăng (87% trẻ được chăm sóc bán trú); tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) giảm so với đầu năm học [1], [37]
Đội ngũ giáo viên tăng nhanh về số lượng, chất lượng từng bước được nâng cao thông qua các đợt tập huấn, bồi dưỡng dưới nhiều hình thức Có nhiều tấm gương giáo viên mầm non hết lòng thương yêu chăm sóc trẻ được ngành tuyên dương, nhân dân ghi nhận
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục mầm non hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức Thực tế hiện nay, quy mô phát triển giáo dục mầm non chưa đồng đều giữa các vùng miền, cơ hội đến trường của trẻ em miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn hạn chế; chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở vùng nông thôn, vùng khó khăn còn thấp và còn chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền trong cả nước; những khó khăn, bất cập trong quy hoạch mạng lưới, chính sách phát triển giáo dục mầm non, các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục mầm non và các yêu cầu về nguồn lực, đặc biệt trong phát triển giáo dục mầm non cho trẻ em dưới 5 tuổi [3], [12]
Ở một số nơi, GDMN còn thiếu cơ sở vật chất, trường lớp không đủ, mới chỉ ưu tiên phổ cập cho trẻ 5 tuổi, hoặc trường lớp không đảm bảo điều kiện làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Ở một số khu đô thị, khu công nghiệp, tình trạng thiếu các cơ sở giáo dục mầm non, người lao động phải gửi con trong các nhóm trẻ tự phát, không đảm bảo an toàn cho trẻ… Một số nơi vùng núi cao, vùng sông nước (như đồng bằng sông Cửu Long), vùng dân cư ở không tập trung vẫn tồn tại nhiều điểm trường lẻ, khó khăn trong việc đầu tư nguồn lực, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Tình trạng thiếu phòng học chậm được khắc phục; vẫn còn phòng học tạm, học nhờ, công trình vệ sinh, nước sạch, bếp ăn ở nhiều nơi còn thiếu thốn [30]
Trang 18Tình trạng thiếu giáo viên vẫn chưa được khắc phục, tỷ lệ giáo viên/lớp còn thấp; đội ngũ giáo viên mầm non không ổn định Theo Báo cáo Tổng kết năm học 2016-2017, phương hướng, nhiệm vụ năm học 2017-2018 của giáo dục mầm non của Vụ Giáo dục Mầm non (Bộ GD&ĐT) số lượng giáo viên nói riêng và cả cán bộ quản lý, nhân viên bậc giáo dục mầm non tăng nhanh so với năm học trước Toàn ngành hiện có có 500.327 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên (tăng 36.374 người) Trong đó, có 38.382 cán
bộ quản lý (tăng 1.021 người); 344.994 giáo viên (tăng 26.661 người); 116.951 nhân viên (tăng 8.692 người) Tỷ lệ cán bộ quản lý, nhân viên, giáo viên trong biên chế 55,5%, giảm 2,2% so với năm trước; tỷ lệ giáo viên/lớp đạt 1,8 (tăng 0,04%) Trong đó, cán bộ quản lý có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên 99,8% (tăng 0,3%), trong đó, trên chuẩn 93,1% (tăng 1,0%); giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên 98,7% (tăng 0,4%), trên chuẩn đạt 64,7%, (tăng 2,5%) so với năm học trước Như vậy, riêng trong năm học 2016-2017, cả nước tăng đến hơn 26 nghìn giáo viên mầm non Số lượng giáo viên tăng nhanh và mạnh nhưng đến hiện tại tình trạng thiếu giáo viên bậc mầm non vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn Tỷ lệ giáo viên/lớp ở một
số địa phương còn rất thấp, chưa đáp ứng yêu cầu (An Giang: 1,28, Sơn La: 1,31, Hà Giang 1,32, Lai Châu: 1,34, Hưng Yên: 1,35, Gia Lai 1,38) Nguyên nhân lượng giáo viên mầm non tăng mạnh là do quy mô trường lớp mầm non tăng Năm học 2016-2017 cả nước tăng 354 trường và 11.318 nhóm, lớp; trong đó tăng nhiều là nhóm trường mầm non ngoài công lập (277/354 trường) Công tác y tế trường học còn nhiều bất cập, chưa có đủ biên chế, hoặc chỉ là kiêm nhiệm [10], [11]
1.3 Thực trạng các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục mầm non Các cấp ủy đảng, chính
Trang 19quyền và nhân dân các địa phương trong tỉnh đã quan tâm xây dựng đội ngũ nhà giáo, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, mua sắm trang thiết bị dạy học, tạo mọi điều kiện để nâng cao chất lượng, chăm sóc giáo dục trẻ GDMN tỉnh Thanh Hóa đã duy trì ổn định, giữ vững quy mô mạng lưới trường lớp
Năm học 2017-2018, toàn tỉnh có 652 trường mầm non công lập với 2.856 nhóm trẻ, 36.387 cháu nhà trẻ và 7.010 lớp với 186.483 cháu mẫu giáo;
tỷ lệ huy động các cháu nhà trẻ ra lớp trong toàn tỉnh đạt 26,2%, mẫu giáo 3-5 tuổi đạt 95,4%, mẫu giáo 5 tuổi đạt 99% Ngoài ra, còn có 21 trường mầm non ngoài công lập với gần 1.300 cháu nhà trẻ và trên 5.240 cháu mẫu giáo Trong tổng số 652 trường mầm non công lập, hiện mới có 3.842 phòng học kiên cố, đạt tỷ lệ 72,5%, 1.075 phòng học bán kiên cố, chiếm 14,5%, 966 phòng học tạm tranh tre nứa, chiếm 13% và 483 phòng học mượn, chiếm 6% Như vậy, so với nhu cầu, toàn tỉnh còn thiếu 1.404 phòng học Trong đó, một
số địa phương thiếu nhiều như: Ngọc Lặc trên 200 phòng, Bá Thước 190 phòng, Tĩnh Gia 125 phòng Nhiều địa phương do thiếu phòng học nên định mức trẻ/lớp quá cao, khó khăn cho giáo viên thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng
và dạy các cháu
Đối với bậc học Mầm non, việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ là rất quan trọng Tuy nhiên, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, nhiều trường của bậc học này không có nhân viên y tế mà chủ yếu là cán bộ Trạm Y
tế cấp xã kiêm nhiệm Việc bố trí nhân viên y tế tại trường mầm non có vai trò quan trọng trong việc cân, đo theo dõi tình trạng phát triển của trẻ Đồng thời, có thể khám sức khỏe định kỳ để phát hiện tình trạng bệnh tật, bảo đảm
vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường học đường Theo thống kê của Phòng Giáo dục Mầm non, Sở GD
và ĐT Thanh Hóa, năm học 2016 - 2017, toàn tỉnh có 652 trường Mầm non,
Trang 20nhưng mới chỉ có gần 200 trường có nhân viên y tế Đối với các trường Mầm non thuộc địa bàn xã vùng núi cao, đặc biệt khó khăn thì công tác y tế trường học vô cùng quan trọng và cần thiết Bởi vì xa trung tâm y tế huyện, điều kiện sống của bà con còn nhiều thiếu thốn, sự hiểu biết về phòng, chống các bệnh
mà trẻ hay mắc phải là hết sức hạn chế Hàng năm, Sở GD&ĐT tỉnh Thanh Hóa có tổ chức tập huấn công tác phòng, chống dịch bệnh tại trường học cho cán bộ quản lý, giáo viên Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế, về lâu dài, theo các giáo viên cần có sự đầu tư đồng bộ, cùng sự chung tay của các cấp, các ngành
1.4 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về điều kiện vệ sinh, kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ và các cô giáo
1.4.1 Trên thế giới
Quá trình khảo sát về sức khỏe và tình trạng sức khỏe với một cuộc khảo sát cắt ngang được thực hiện trong giai đoạn 2015-2016 tại 66 trường mầm non Phần Lan ở tám thành phố có 864 trẻ em (3-6 tuổi) Kết quả cho thấy trong chế độ ăn uống của học sinh thì tiêu thụ đồ uống có đường thường xuyên hơn và tiêu thụ rau, trái cây và quả mọng thấp hơn [52]
Nghiên cứu của tác giả Chery và cộng sự cho thấy mối quan hệ giữa thực hành vệ sinh và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em mẫu giáo ở Philippine Kết quả cho thấy tình trạng dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo có mối quan hệ rất có
ý nghĩa với thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm, nguồn nước (p = 0,001) [48]
Một số các nghiên cứu cũng chỉ ra có sự thiếu hụt về kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của các bà mẹ về các bệnh thường gặp của trẻ như tiêu chảy, tay chân miệng, sốt, nhiễm trùng đường hô hấp Bệnh tiêu chảy vẫn luôn là một vấn đề thời sự của Y tế Thế giới từ nhiều năm nay [59], [60] Trên phạm vi toàn cầu, tiêu chảy là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây tử vong sau bệnh tim mạch cho mọi lứa tuổi và là nguyên nhân gây tử vong cho trẻ em, cho nên một
Trang 21số nghiên cứu chỉ ra bà mẹ có kiến thức và thực hành đúng sẽ giúp giảm thiểu
tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong ở trẻ em [43], [46], [49]
Nghiên cứu của tác giả Akhtaruzzaman và cộng sự cho thấy tại một vùng của Sudan, khi tìm hiểu về kiến thức của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về ORS và thực hành cho ăn cũng như sử dụng các thuốc cho trẻ khi bị tiêu chảy
có 77,5% bà mẹ sử dụng ORS theo kiến thức của họ và 53,06% bà mẹ sử dụng nước ít hơn khi trẻ bị tiêu chảy [44]
Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính là nguyên nhân chính gây bệnh tật
và tử vong ở các nước đang phát triển và cũng phát triển Khoảng 13 triệu trẻ
em dưới 5 tuổi chết hàng năm trên thế giới, 95% ở các nước đang phát triển, một phần ba tổng số ca tử vong là do nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính (ARI)
[50] Một nghiên cứu tại Ấn Độ, tác giả cho thấy kiến thức của các bà mẹ và người trong gia đình trong chăm sóc trẻ bị bệnh viêm phổi còn thấp [45] Tác giả Bipin J và cộng sự cũng chỉ ra sự thiếu hụt kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc trẻ bị nhiễm trùng đường hô hấp [47]
Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra sự cần thiết phải trang bị những kiến thức cơ bản nhất cho bà mẹ, cô giáo và người chăm sóc trẻ lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo trong phòng tránh các bệnh tiêu chảy, tay chân miệng, nhiễm trùng hô hấp cấp tính [51], [53], [54]
Nghiên cứu của tác giả Myszkowska-Ryciak J, Harton A chỉ rõ ăn uống lành mạnh thì tăng trưởng khỏe mạnh Tác động của giáo dục dinh dưỡng đối với sức khỏe của trẻ tại các trường mầm non tại Ba Lan[55]
Kiến thức, thái độ và hành vi của các cha bà mẹ liên quan đến nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính được tác giả Peker E và cộng sự cho thấy trình
độ hiểu biết của cha mẹ về các loại thuốc mà con họ sử dụng còn thấp và có
tỷ lệ cao khi kháng sinh cho con không kê đơn [56]
Trang 22Bệnh tay chân miệng được ghi nhận chủ yếu ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt trẻ dưới 3 tuổi; bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa, sự lây lan của bệnh liên quan đến các thói quen hành vi không hợp vệ sinh của người chăm sóc trẻ, điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo vệ sinh Các tác giả Saleh H, Toussaint N, Zheng G và Zhang D cũng đã chứng minh được mối liên quan giữa việc lây lan bệnh và kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ và người chăm sóc chính trẻ (cô giáo, bảo mẫu, ông, bà, ) [57], [58], [61], [62].
1.4.2 Tại Việt Nam
Việc triển khai các nghiên cứu về thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết
bị, nguồn nhân lực phục vụ công tác chăm sóc trẻ tại trường và kiến thức trình
độ của cô giáo và các bà mẹ về chăm sóc trẻ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ về thể chất cũng như tinh thần trẻ Đối với ngành học mầm non, sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là một nhiện vụ thiết thực tạo sự liên kết thống nhất về nội dung, phương pháp, cách thức nuôi dạy trẻ ở lớp cũng như gia đình
Hiện nay, chưa thực sự có nhiều nghiên cứu về thực trạng điều kiện vệ sinh các trường mầm non, các nghiên cứu mới chỉ có đánh giá chung trong khảo sát các trường học, cũng như đánh giá sức khỏe trẻ em, một số bệnh thường gặp, tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại các trường mầm non nói riêng và trường học nói chung Một số nhà khoa học khi tìm hiểu về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở mầm non, Trương Thanh Yến Châu và nhóm nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì đang gia tăng ở trẻ mầm non 3-5 tuổi thuộc TP.Thủ Dầu Một là 24%; trong đó thừa cân là 12% và đã trở nên vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng cần quan tâm hiện nay[7] Yếu tố nguy
cơ gây béo phì của học sinh mẫu giáo được tác giả Phùng Đức Nhật cho biết đó
là thói quen ăn uống nhanh, thời gian hoạt động tĩnh lại cao Các lớp học chỉ
Trang 23rộng khoảng 35-40m2, có lớp chỉ rộng khoảng 25m2, sân trường cũng chỉ có khoảng 40m2 để đặt một số đồ chơi như đu quay, cầu trượt… Các động tác tập thể dục buổi sáng của trẻ chủ yếu là vận động thân mình như nghiêng mình, vặn hay quay thân, lắc, ngửa, cúi đầu, giang tay, chân Động tác di chuyển người bằng chân như chạy bộ không được thực hiện nhiều, do đó số bước chân của trẻ bị hạn chế Ngoài ra còn do trong các trường trẻ thường ăn uống nhanh, kiến thức của bà mẹ về dinh dưỡng và thừa cân béo phì Tác giả cũng đã cho thấy hiệu quả của biện pháp can thiệp vào tình trạng thừa cân béo phì của trẻ
[28], [29] Một đối tượng khác cũng ảnh hưởng đến sức khỏe các trẻ đó là người chế biến thức ăn cho trẻ tại trường Tác giả Hứa Khắc Linh khi nghiên cứu về kiến thức, thực hành về 5 chìa khóa vàng cho an toàn thực phẩm của nhân viên cấp dưỡng tại bếp ăn tập thể trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả chỉ có 53% có kiến thức đúng; nhưng tỷ lệ thực hành đúng lại là 80% [25] Một nghiên cứu khác của tác giả Dư Nguyễn Đại Nam và cộng sự lại cho thấy các cán bộ quản lý bếp ăn tập thể của trường mầm non tỉnh Bình Dương có kiến thức khá tốt về an toàn thực phẩm [26] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Tùng về kiến thức thực hành phòng chống ô nhiễm thực phẩm của người chế biến tại bếp ăn tập thể trường mầm non Thái Bình, kết quả chỉ ra kiến thức đạt 61%; 87,5% biết được nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm [41] Một số nghiên cứu đã cho thấy tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi còn nhiều tồn tại mà nguyên nhân do các yếu tố từ bà mẹ như trình độ văn hóa, tuổi mẹ khi sinh, chăm sóc trong thời kỳ thai nghén Tác giả Trần Chí Liêm cho biết một số nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ đó là các
bà mẹ không được chăm sóc tốt khi mang thai, các bà mẹ còn thiếu kiến thức chăm sóc trẻ [23]
Theo một số tác giả cho thấy truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho các bậc cha mẹ; một số kinh nghiệm đầu tư cơ sở vật chất trong trường mầm non…
Trang 24Trẻ khỏe mạnh hay không phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường - nơi một nửa thời gian hàng ngày của các em ở đó Việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe là nhiệm vụ quan trọng góp phần đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cho thế hệ tương lai của đất nước Song trên thực tế, hoạt động y tế học đường tại các trường mầm non hiện nay còn gặp nhiều khó khăn [35] Nhiều bệnh đang có xu hướng thay đổi và gia tăng như nhiễm giun sán, bệnh tay chân miệng, sốt do vi rút [22], [24]
Vẫn còn một số lượng trẻ em Việt Nam tử vong hàng năm Với tỉ lệ dân số trong độ tuổi sinh đẻ cao, một nước đông dân nên mặc dù tỉ lệ tử vong trẻ em nước ta tuy đã giảm một cách đáng kể nhưng số tử vong hàng năm vẫn rất cao Theo đánh giá của UNICEF, hàng năm có tới 28.000 trẻ dưới năm tuổi tử vong trong đó có khoảng 16.000 là trẻ sơ sinh Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 6,5% ước tính khoảng hơn 6.000.000 trẻ và số trẻ sơ sinh ra đời hàng năm khoảng từ 1.200.000 - 1.500.000 là nhóm đối tượng luôn cần được quan tâm một các đáng kể [59]
Trẻ có quyền được vui chơi, được chăm sóc và phải có luật bảo vệ trẻ
em đối với những kẻ vi phạm quyền trẻ em Đối với các tổ chức xã hội, đặc biệt là ngành giáo dục là nơi dạy dỗ phải có phương pháp phù hợp với từng lứa tuổi, là sân chơi bổ ích tạo sự phát triển về tinh thần Sự phát triển về tinh thần, thể chất phụ thuộc rất nhiều vào môi trường Một môi trường trong sạch
về mọi mặt có tác động lớn tới sự phát triển của trẻ [34]
Vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là hết sức quan trọng Theo báo Tạp chí Cộng sản ra ngày 01/07/2013 cho thấy:
Kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc
và ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em tới nay, công tác bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả, góp phần
Trang 25tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với lĩnh vực này Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, bên cạnh rất nhiều thành tựu ghi nhận thì những hạn chế, yếu kém của công tác bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em cũng bộc lộ Những yếu kém này góp phần làm cho một số mục tiêu, đặc biệt là mục tiêu bảo vệ trẻ em của các chương trình có nguy cơ không đạt được so với mục tiêu kế hoạch đề ra Nhiều nguyên nhân đã được các chuyên gia và các nhà quản lý nêu ra: nhận thức của từng gia đình và toàn cộng đồng chưa đầy đủ; năng lực của đội ngũ cán bộ còn yếu kém; dịch vụ bảo vệ trẻ em còn nghèo nàn, chưa có mạng lưới; thiếu
hệ thống pháp lý thân thiện với trẻ em; vai trò của quản lý nhà nước còn mờ nhạt, chưa hiệu quả [5] Trong nhiều năm, kinh tế xã hội phát triển, đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nhân dân nói chung và của từng gia đình nói riêng được nâng lên Những yếu tối cơ bản này đã và đang tạo điều kiện, mức
độ đầu tư chăm sóc con cái của các gia đình còn chênh lệch nhau, song hầu hết các gia đình đều ưu tiên đến mức cao nhất cho việc chăm sóc cho trẻ em được ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh
Nhận thức của cha mẹ về chăm sóc, nuôi dạy và bảo vệ trẻ đã từng bước được nâng lên Tuy vậy, qua sự phản ánh của báo chí và qua các kết quả khảo sát điều tra thì có thể nói hiện nay tình trạng trẻ em thiếu sự quan tâm, bị xúc phậm, xâm hại, trừng phạt… hiện vẫn đang ở mức cáo và càng ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Điều đáng lo lắng là những hiện tượng này diễn ra không chỉ trong môi trường xã hội mà còn ở ngay trong chính gia đình của các em Nói cách khác, trẻ em chưa được bảo vệ, chưa được an toàn ngay trong chính nhà mình, quyền của trẻ em chưa được chính các bậc cha mẹ thực hiện nghiêm túc và đầy đủ [27] Tất nhiên, khi trẻ em bị mất an toàn (cả về thể xác, cả về tinh thần) ngay trong nhà mình thì lỗi trước tiên phải thuộc về cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình Có thể kể ra đây một số nguyên
Trang 26nhân chính dẫn đến sự hạn chế trong ý thức của gia đình đối với công tác bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Nhận thức của những người có liên quan đến chăm sóc trẻ (bà mẹ, ông
bố, cô giáo, người thân trong gia đình) cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Thống kê mô tả và suy luận đã cho thấy khoảng một nửa (46,8%) số người được hỏi có giáo dục trung học chỉ có 6% có kiến thức quản
lý dinh dưỡng về bệnh tiêu chảy trong khi 54,8% có kiến thức về liệu pháp bù nước đường uống 71% số người được hỏi báo cáo thực phẩm Một số nghiên cứu ở trên thế giới cũng cho thấy bệnh tiêu chảy trẻ em có liên quan đến người chăm sóc trẻ và tình trạng vệ sinh nước uống cho trẻ [31], [32], [53]
Một vấn đề liên quan đến sự phát triển cho trẻ em là do trình độ học vấn của nhiều bậc cha mẹ còn thấp nên chưa có hiểu biết đầy đủ trong việc bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em Trong nhiều gia đình, trẻ em không bị thiếu
ăn nhưng vẫn SDD, khi đau ốm vẫn được cha mẹ đưa đi chữa trị nhưng lại không phải tại các cơ sở y tế, nhà cửa tương đối khang trang nhưng lại rất nghèo về thông tin…Chính vì sự thiếu hiểu biết của cha mẹ mà rất nhiều trẻ
em, tuy được sống trong những gia đình đầy đủ về điều kiện vật chất, nhưng vẫn chưa được bảo vệ và chăm sóc một cách phù hợp, rất nhiều trẻ em phải lao động nặng nhọc, mất an toàn trong gia đình, mặc dù rất khó khăn, nhưng vẫn chưa đến mức lâm vào tình cảnh buộc các em phải làm những công việc quá sức hay nguy hiểm đó Có không ít trẻ em đã trở thành tàn phế do sự thiếu hiểu biết của cha mẹ Nói cách khác là chính gia đình đã vô tình biến các em thành trẻ có hoàn cảnh đặc biệt Nghiên cứu của Tạ Văn Trầm cho thấy tỷ lệ mắc tiêu chảy trẻ dưới 5 tuổi bị ảnh hưởng rất lớn bởi thói quen ăn uống, vệ sinh cá nhân [33] Các nghiên cứu khác về tiêu chảy tại Việt Nam tương đối khác nhau về kết quả, thời gian, địa bàn nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của các tác giả thì tỷ lệ mắc
Trang 27tiêu chảy ở Việt Nam chủ yếu là ở trẻ em ở độ tuổi dưới 5 tuổi, lứa tuổi mầm non [13], [14], [16]
Tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2015, có 58.152 trường hợp mắc bệnh TCM tại 62/63 tỉnh, thành phố báo cáo tại Việt Nam trong đó có 5 trường hợp
tử vong Năm 2016, đã có 48.866 trường hợp mắc bệnh TCM và trong đó có một ca tử vong Năm 2017, cả nước có khoảng 48.009 trường hợp mắc TCM
ở khắp 63 tỉnh thành được báo cáo, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2016 và tiếp tục tăng và thay đổi vùng dịch trong 2 năm qua Lứa tuổi mắc cao nhất cũng là lứa tuổi trường mầm non (3-5 tuổi) [17] Bà mẹ và những người chăm sóc trẻ cần có kiến thức và thực hành tốt về bệnh để giúp trẻ giảm thiểu nguy
cơ mắc bệnh và hạn chế lây lan Khảo sát về kiến thức chăm sóc bệnh nhi bị bệnh TCM của các bà mẹ tại bệnh viện nhi đồng Cần Thơ cho thấy: phần lớn các bà mẹ đã được nghe về bệnh trước đó nhưng chỉ là tên bệnh chứ không rõ các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân và dấu hiệu nhận biết bệnh Cụ thể có 99,2% các bà mẹ đã nghe nói về bệnh trước đó nhưng chỉ 38,3% các bà mẹ biết thời điểm xảy ra bệnh, 69,2% biết bệnh lây qua đường tiếp xúc với dịch tiết mũi họng, từ phân hay bóng nước của người bệnh Về cách chăm sóc trẻ có 99,2% các bà mẹ biết cách chăm sóc đúng mụn nước, 62,5% biết cách xử trí nếu bé
có loét miệng Để giảm nguy cơ lây nhiễm khi trẻ bệnh thì 77,5% các bà mẹ cho rằng nên cách ly trẻ, 55% biết các biện pháp phòng tránh lây nhiễm Tuy nhiên, chỉ có 29,2% bà mẹ biết bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vẫn còn 70,8% cho rằng đã có thuốc điều trị đặc hiệu hoặc không biết [18] Nghiên cứu tại Tây Ninh năm 2013 đánh giá hiểu biết về bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi cho thấy 95% các bà mẹ biết triệu chứng cơ bản của bệnh, 50% các bà mẹ biết triệu chứng nặng và kiến thức chung về bệnh TCM của các bà mẹ chỉ đạt 32% Thực hành đúng phòng chống lây, xử lý phân hợp lý của các bà mẹ chiếm 94%, tuy nhiên thực hành dự phòng đúng chỉ chiếm
Trang 2846% Nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho đối tượng nghiên cứu chủ yếu là qua truyền hình 93%, cán bộ y tế 71%, đài phát thanh 48% và qua tranh tuyên truyền, áp phích là 35% [8]
Để góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, thể chất và trí tuệ của trẻ, ngoài trách nhiệm của nhà trường thì trách nhiệm của gia đình đóng vai trò rất quan trọng Gia đình là một tế bào của xã hội và trẻ được giáo dục nên tảng chính ở gia đình Giáo dục không chỉ đơn thuần là nuôi con đầy đủ về vật chất, mà chủ yếu giúp con trở nên hữu ích, là người con hiếu thảo trong gia đình, công dân tốt cho xã hội và đất nước Nhà trường đầu tiên là gia đình và người thầy đầu tiên là mẹ nên người mẹ rất quan trọng đối với trẻ Họ thực hiện thiên chức làm mẹ, làm thầy một trọng trách khó khăn nhưng cao cả Do vậy việc thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học chăm sóc, giáo dục trẻ cho bậc cha mẹ và cộng đồng nhằm giúp trẻ sự phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần, nhận thức, tình cảm, thẩm mỹ, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử là góp phần thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ mà nhiệm vụ năm học đã đề ra Ngoài ra, chăm sóc sức khỏe trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo không chỉ có gia đình nhà trường mà còn cần sự quan tâm chăm sóc của cộng đồng Trẻ bị các bệnh như tai nạn thương tích, viêm phổi, phế quản hoặc các bệnh cấp tính khác về tiêu hóa, nhiễm giun đường ruột, nếu không điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ [27]
Trang 29
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Thanh Hoá là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, với tổng diện tích tự nhiên 11.129,48 km2 Thanh Hoá là tỉnh lớn, đứng thứ 5
về diện tích và thứ 3 về dân số Thanh Hóa có vị trí địa kinh tế chiến lược, phía Bắc giáp các tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp Nghệ An; phía Đông giáp với Vịnh Bắc Bộ; và phía Tây giáp với tỉnh Hủa Phăn thuộc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Như vậy, Thanh Hóa đóng vai trò kết nối các trung tâm kinh tế trọng yếu của miền Bắc và các tỉnh Duyên hải miền Trung Tỉnh còn có lợi thế đường bờ biển dài 102km về phía Đông Thanh Hóa hiện có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 02 thành phố (thành phố Thanh Hóa và Sầm Sơn, trong đó thành phố Thanh Hóa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh), 01 thị xã (Bỉm Sơn), và 24 huyện (trong đó có 11 huyện miền núi)
Huyện Quảng Xương được xem là một huyện nghèo của tỉnh Thanh Hoá, đồng đất không mấy thuận lợi, lại chịu nhiều thiên tai Là một huyện đồng bằng ven biển có diện tích đất tự nhiên 227,63 km2, Quảng Xương từ lâu được coi là trọng điểm lúa của tỉnh Với chiều dài bờ biển gần 18km, Quảng Xương là một trong những huyện có tiềm năng về thuỷ, hải sản Hơn nữa, nằm trên các trục quốc lộ 1A, quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ số 4, phía bắc là thành phố Thanh Hoá với khu công nghiệp Lễ Môn, phía nam là Khu công nghiệp động lực Nghi Sơn - Tĩnh Gia, đồng thời là huyện có vị trí trọng yếu
về an ninh - quốc phòng của tỉnh Ðây là lợi thế đặc biệt quan trọng để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng Huyện Quảng Xương có 29 xã
Trang 30và 1 thị trấn, bao gồm: Thị trấn Quảng Xương, các xã Quảng Văn, Quảng Long, Quảng Phong, Quảng Nham, Quảng Phúc, Quảng Trạch, Quảng Đức, Quảng Hòa, Quảng Vọng, Quảng Tân, Quảng Giao, Quảng Chính, Quảng Lĩnh, Quảng Khê, Quảng Bình, Quảng Ninh, Quảng Yên, Quảng Lợi, Quảng Lộc, Quảng Hợp, Quảng Trung, Quảng Nhân, Quảng Thái, Quảng Hải, Quảng Lưu, Quảng Định, Quảng Ngọc, Quảng Trường
Nghiên cứu được tiến hành tại 03 trường là: Trường mầm non Thị trấn Quảng Xương, trường mầm non xã Quảng Phong, trường mầm non xã Quảng Tân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Trường mầm non Thị trấn Quảng Xương có 26 cô giáo, số cháu 300 Địa điểm xây dựng trường được đặt trên tuyến đường quốc lộ 1A Trường mầm non xã Quảng Tân có 38 cô giáo, số cháu là 438 Địa điểm trường xây dựng gần với khu dân cư, giao thông thuận lợi cho trẻ đến trường Trường mầm non xã Quảng Phong có 37 cô giáo, số cháu là 480 Địa điểm xây dựng trường đặt gần khu trung tâm hành chính xã
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và điều kiện vệ sinh tại 3 trường mầm non được nghiên cứu
- Bà mẹ có con học tại 3 trường mầm non
- Cô giáo chăm sóc trẻ tại 3 trường mầm non
* Tiêu chuẩn chọn bà mẹ: các bà mẹ có con đang theo học tại 3 trường mầm non được nghiên cứu với thời gian ít nhất là 1 năm, đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn chọn cô giáo: tất cả các cô giáo là những người tham gia trực tiếp dạy dỗ, chăm sóc trẻ
Trang 312.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2018 đến tháng 5/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trên cuộc điều tra cắt ngang
Nghiên cứu ngang qua các bảng kiểm và phỏng vấn để xác định thực trạng điều kiện vệ sinh và cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc trẻ của các trường mầm non ở huyện Quảng Xương, Thanh Hóa
Nghiên cứu ngang mô tả thông qua phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ và cô giáo về kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo tại các trường điều tra
2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu
a) Cỡ mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu cho kiểm tra cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh là toàn bộ 3
trường được chọn nghiên cứu đó là trường mầm non thị trấn Quảng Xương, trường mầm non xã Quảng Phong và trường mầm non xã Quảng Tân
- Cỡ mẫu điều tra các cô giáo chúng tôi chọn toàn bộ các cô giáo tại 3
trường nghiên cứu
- Cỡ mẫu cho phỏng vấn bà mẹ được tính theo công thức như sau [26]:
2
2 (1 )
Trang 32n: Là cỡ mẫu cho nghiên cứu
p: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về chăm sóc trẻ em, ước tính p = 0,5 [19] d: Độ sai lệnh mong muốn, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn d=0,05
Thay vào công thức, tính được n = 384, làm tròn là 400 bà mẹ Thực tế chúng tôi đã điều tra 469 bà mẹ, trong đó trường thị trấn là 146 bà mẹ, trường Quảng Tân là 172 bà mẹ và trường Quảng Phong là 151 bà mẹ
b) Kỹ thuật chọn mẫu
- Chọn trường: Huyện Quảng Xương, Thanh Hóa hiện có 30 trường mầm non công lập với phạm vi và công việc là như nhau, đều có nhiệm vụ chăm sóc trẻ em từ 3 tuổi đến 5 tuổi, số lượng trẻ em và biên chế các cô giáo
là tương đương nhau Trong đó có 01 trường mầm non thị trấn và 29 trường mầm non thuộc các xã trên địa bàn huyện Vì vậy chúng tôi sử dụng kỹ thuật chọn mẫu chủ đích 01 trường mầm non thị trấn và 02 trường mầm non ở xã vào nghiên cứu
- Chọn đối tượng điều tra:
+ Đối tượng là cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh: tất cả các trường được chọn vào nghiên cứu
+ Đối tượng là các bà mẹ: Lập danh sách các bà mẹ có con đang theo học tại mỗi trường được điều tra nói trên, sau đó sử dụng kỹ thuật chọn mẫu bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên để chọn ra các bà mẹ phỏng vấn điều tra cho
đủ cỡ mẫu nghiên cứu
+ Đối tượng là cô giáo: Lập danh sách các cô giáo đang làm việc tại 3 trường nói trên, sau đó phỏng vấn toàn bộ các cô giáo
Trang 332.2.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu
- Biến số về cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh:
Địa điểm xây dựng
Diện tích xây dựng
Cây xanh
Cung cấp nước sạch
Công trình vệ sinh: số lượng, loại
Các phòng phục vụ công tác nuôi dạy trẻ
Điều kiện vệ sinh phòng nuôi dạy trẻ
Y tế học đường
Bếp ăn: người chế biến, nguồn lấy thực phẩm, có được kiểm tra ko…
- Biến số về kiến thức và thực hành của các bà mẹ về chăm sóc trẻ Tuổi
Giới
Trình độ học vấn
Nghề nghiệp
Sự hài lòng về chăm sóc trẻ, lý do hài lòng
Kiến thức về những yêu cầu khi cho trẻ đến trường
Kiến thức về các bệnh dễ mắc ở lứa tuổi trẻ và cách phòng bệnh Nhu cầu các bà mẹ về chăm sóc trẻ
Kiến thức về chế độ ăn uống cho trẻ
Thực hành của các bà mẹ khi trẻ bị ốm thông thường
Trang 34- Biến số về kiến thức và thực hành của cô giáo về chăm sóc trẻ
Trình độ học vấn
Nơi đào tạo nghề
Thâm niên công tác
Kiến thức về yêu cầu khi nhận trẻ vào trường
Các phiếu điều tra được xây dựng chi tiết theo đề cương, được sự góp ý của các chuyên gia và cán bộ chuyên trách về vệ sinh trường học Sau đó bộ phiếu được điều tra thử để chỉnh sửa trước khi tiến hành nghiên cứu
Trang 35Các cán bộ nghiên cứu là nhóm cán bộ y tế thuộc Trung tâm Y tế dự phòng huyện Quảng Xương cùng với học viên được tập huấn và hướng dẫn chi tiết, cụ thể cũng như mục đích của cuộc điều tra
2.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá
- Đánh giá điều kiện vệ sinh các trường mầm non dựa vào tiêu chuẩn qui định của Bộ Y tế về vệ sinh trường học và nhà trẻ mẫu giáo [2],[3]:
* Trang thiết bị đối với một nhóm trẻ
1 Có chiếu cho trẻ ngồi chơi, giường nằm, chăn gối cho trẻ ngủ, giá để
đồ chơi, giá để khăn và ca, cốc cho trẻ; 1 ghế cho người nuôi, dạy trẻ
2 Có một bộ thiết bị tối thiểu gồm: thùng đựng nước uống; đồ chơi, đồ dùng và tài liệu cho hoạt động chơi và chơi - tập có chủ đích; có đủ bô đi vệ sinh cho trẻ dùng
3 Có đủ nước sạch dùng cho sinh hoạt và nước uống hàng ngày cho trẻ; có đủ giấy, bút dạ mầu và đồ dùng cá nhân cho mỗi trẻ như khăn mặt, cốc uống nước , có đồ chơi và đồ dùng tự tạo bằng nguyên vật liệu địa phương
4 Có đồ dùng, tài liệu cho người nuôi dạy trẻ, gồm: bộ tài liệu hướng dẫn thực hiện hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; sổ theo dõi trẻ; sổ theo dõi tài sản của nhóm trẻ; tài liệu dùng để phổ biến kiến thức nuôi dạy con cho cha mẹ
* Trang thiết bị đối với một lớp mẫu giáo và lớp mầm non
1 Có bàn, ghế đúng quy cách cho trẻ ngồi (đặc biệt đối với trẻ 5 tuổi): 1 bàn và 2 ghế/02 trẻ; 1 bàn, 1 ghế và 1 bảng cho giáo viên Nếu lớp bán trú, có ván hoặc giường nằm, chăn đệm cho trẻ đảm bảo đủ ấm hoặc giữ thoáng mát
2 Có một bộ thiết bị tối thiểu bao gồm: thùng đựng nước uống, nước sinh hoạt; đồ chơi, tài liệu, đồ dùng cho hoạt động học có chủ đích
3 Có đồ chơi và đồ dùng tự tạo bằng nguyên vật liệu địa phương; có kệ
để đồ dùng, đồ chơi
Trang 364 Mỗi trẻ có đủ đồ dùng riêng: cốc, khăn mặt, bát, thìa các đồ chơi,
đồ dùng học tập
5 Có đồ dùng, tài liệu cho giáo viên mẫu giáo gồm: bộ tài liệu hướng dẫn thực hiện hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; sổ theo dõi trẻ; sổ ghi chép tổ chức các hoạt động giáo dục của trẻ trong ngày; tài liệu dùng để phổ biến kiến thức nuôi dạy con cho cha mẹ
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu của đề tài nghiên cứu sẽ được nhập máy tính và phân tích
dựa trên phần mềm Epi-info 6.04 và Epi - Data, sử dụng các thuật toán thống
kê trong y học
- Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
2.2.7 Biện pháp khống chế sai số
- Xây dựng đề cương chi tiết sau khi thông qua Hội đồng đề cương
- Thiết kế và xây dựng bộ câu hỏi có sự tham gia của các chuyên gia về sức khỏe lứa tuổi
- Tập huấn kỹ cho điều tra viên
- Điều tra thử
- Điều tra chính thức có giám sát viên
- Mã hóa trước khi nhập số liệu
2.2.8 Đạo đức nghiên cứu
Đây là nghiên cứu xác định thực trạng điều kiện cơ sở vật chất và vệ sinh trường học để phục vụ công tác chăm sóc trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác chăm sóc trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo, nghiên cứu được sự đồng ý của Phòng GD&ĐT huyện
Trang 37Quảng Xương, Trung tâm Y tế dự phòng huyện Quảng Xương, Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa Và đề cương khoa học được thông qua Hội đồng khoa học và Y đức nhà trường nên không vi phạm đạo đức trong nghiên cứu
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện vệ sinh của 3 trường mầm non được nghiên cứu
Bảng 3.1 Địa điểm xây dựng trường mầm non (n=3)
Xa nơi nguy cơ xảy ra tai nạn cháy nổ 3/3
Xa bệnh viện, kho xăng dầu, bãi rác 3/3
Khu đất cao, sạch, không đọng nước 3/3
Kết quả khảo sát ở bảng 3.1 cho thấy tất cả các trường (3/3) đều đạt tiêu chuẩn quy định về địa điểm xây dựng như xa nơi gây ô nhiễm, gây ồn, gây tai nạn thương tích
Bảng 3.2 Quy hoạch xây dựng trường (n=3)
Hệ thống nước thải kín, dẫn vào cống chung 3/3
Sân chơi rộng và có thiết bị vui chơi 3/3
Vệ sinh xung quanh trường sạch sẽ 3/3
Kết quả bảng 3.2 cho thấy cả 3 trường mầm non đều không đạt tiêu chuẩn về diện tích xây dựng Chỉ có 1 trong 3 trường có diện tích trồng cây
Trang 39xanh đảm bảo 50-60% Tuy nhiên cả 3/3 trường đạt các tiêu chuẩn quy định khác như sân chơi rộng rãi và có thiết bị vui chơi, có đủ hệ thống cấp thoát nước trong trường học
Bảng 3.3 Cung cấp nước trong trường học (n=3)
Bảng 3.4 Các công trình vệ sinh nhà trường (n=3)
Trang 40Bảng 3.5 Các dụng cụ vệ sinh phục vụ công tác chăm sóc trẻ (n=3)
Có máng tiểu riêng cho bé trai và bé gái 3/3
Bảng 3.5 cho thấy tất cả 3/3 trường mầm non có đầy đủ dụng cụ vệ sinh cho trẻ (số lượng bồn cầu, chậu rửa tay, xà phòng, khăn mặt riêng cho trẻ)
Bảng 3.6 Thực trạng phòng y tế (n=3)
Kết quả bảng 3.6 cho thấy cả 3 trường mầm non đều có phòng y tế
Các trường đều có tủ thuốc, cân đo chiều cao Chỉ có 1 trường có nhân viên y
tế, 1 trường có nhân viên kiêm nhiệm Có 2/3 trường được trang bị đầy đủ dụng cụ theo quy định của phòng y tế