“Vai trò của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phân tích những hạn chế, sai sót doanh nghiệp thường gặp trong thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nguyên nhân và giải pháp khắc phục”
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CSII)
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ─ PHÂN TÍCH NHỮNG HẠN CHẾ, SAI
SÓT DOANH NGHIỆP THƯỜNG GẶP TRONG THỰC TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
(Tiểu luận môn “Luật kinh tế”)
Giảng viên: ThS LÊ THỊ TOÀN
SV thực hiện: NGUYỄN MỸ DUYÊN – Đ16NL4
NGUYỄN THỊ THU MY – Đ16NL2
Khoa: Quản Lý Nguồn Nhân Lực
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CSII)
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ─ PHÂN TÍCH NHỮNG HẠN CHẾ, SAI
SÓT DOANH NGHIỆP THƯỜNG GẶP TRONG THỰC TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
(Tiểu luận môn “Luật kinh tế”)
Giảng viên: ThS LÊ THỊ TOÀN
SV thực hiện: NGUYỄN MỸ DUYÊN – Đ16NL4
NGUYỄN THỊ THU MY – Đ16NL2
Khoa: Quản Lý Nguồn Nhân Lực
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN
MỤC LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Xã hội ngày nay càng phát triển, điều này đòi hỏi con người càng lúc hiệnđại Các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn đang tìm chomình một lối đi để có thể “nâng tầm” nền kinh tế lên một nấc thang mới Mộttrong những lối đi quan trọng hàng đầu, đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân lẫn đấtnước mình chính là việc hình thành nhiều doanh nghiệp với các loại hình đa dạng
và kinh doanh nhiều hàng hóa và dịch vụ khác nhau, góp phần phát triển kinh tếđất nước
Tuy nhiên hiện nay, vấn đề nóng và gây nhiều tranh chấp giữa các cá nhân,
tổ chức với các doanh nghiệp là vấn đề hợp đồng trong kinh doanh Tầm quantrọng của hợp đồng ảnh hưởng rất nhiều đến uy tín và thương hiệu mà doanhnghiệp đã tạo ra trong nhiều năm, có thể làm phá sản hay giải thể doanh nghiệp.Căn nguyên sâu xa của sự việc này là do sự bất cẩn trong việc soạn thảo hợp đồng
và chưa thật sự tìm hiểu kĩ về hợp đồng dẫn đến mắc phải những lỗi lầm đáng tiếc
Ở Việt Nam, vấn đề hợp đồng trong kinh doanh vẫn chưa thật sự được xemtrọng Các doanh nghiệp khi kí một bảng hợp đồng nào đó sẽ lên internet xem vàtải bản mẫu về nhưng thực tế hợp đồng không có một chuẩn mực nào cho mọi mốiquan hệ kinh doanh Tùy thuộc vào từng giao dịch, chúng ta sẽ có những điềukhoản thích hợp Tuy nhiên có những điều khoản mẫu cần hiện hữu trong hợpđồng để giảm thiểu rủi ro tranh chấp pháp lý và hiểu lầm đáng tiếc có thể bảo vệcác quyền lợi pháp lý cho doanh nghiệp
Hợp đồng có vai trò rất quan trọng để phát triển doanh nghiệp góp phần vận
hành nền kinh tế Vì vậy, nhóm xin trình bày đề tài “Vai trò của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phân tích những hạn chế, sai sót doanh nghiệp thường gặp trong thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nguyên nhân và giải pháp khắc phục” để chỉ ra vai trò quan trọng cũng
như những hạn chế, thiếu sót trong soạn thảo hợp đồng của doanh nghiệp để từ đótrình bày những giải pháp khắc phục hiệu quả giúp doanh nghiệp tránh được saisót và nền kinh tế càng ngày phát triển hơn
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: Cơ sở lý thuyết
1 Hợp đồng
1.1 Khái niệm
Hợp đồng là một khái niệm có nguồn gốc lâu đời và là một trong những chếđịnh quan trọng của pháp luật Dân sự
Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định
khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những quan hệ về đầu
tư, lao động, kinh doanh thương mại, bảo hiểm… Nếu trong khái niệm về hợpđồng từ “dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và sau hai từ nghĩa vụ thìthực tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu rằng những quy định của Bộ luật Dân sựhiện hành chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự Điều này sẽ làm hạn chế phạm viđiều chỉnh của Bộ luật Dân sự đối với tất cả các loại hợp đồng, bao gồm cả hợpđồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại
Theo Bộ luật Dân sự 2015, các nhà làm luật đã có những chỉnh sửa liên quan đến khái niệm “hợp đồng” để khắc phục bất cập trên Điều 385 Bộ luật Dân sự
năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
So với Bộ luật Dân sự hiện hành thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ cụm từ
“dân sự” sau hai từ “hợp đồng” Quy định mới về khái niệm hợp đồng tại Điều
385 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là điểm mới quan trọng, đáng chú ý không
những về mặt kỹ thuật lập pháp và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thựctiễn áp dụng
1.2 Phân loại hợp đồng
Hợp đồng là một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ chứcthực hiện các giao kết đã thỏa thuận nhằm đạt được các lợi ích trong cuộc sống vàtrong hoạt động kinh doanh Vì thế trong thực tế, có rất nhiều loại hợp đồng vớinhiều cách phân loại theo các tiêu chí khác nhau
Trang 7 Theo nội dung của hợp đồng:
- Hợp đồng giao dịch trực tiếp hàng hóa, dịch vụ;
- Hợp đồng không giao dịch trực tiếp hàng hóa, dịch vụ
Theo các lĩnh vực đời sống xã hội:
- Hợp đồng có công chứng, chứng thực, hợp đồng phải đăng ký, xin phép
Theo sự phụ thuộc nhau về hiệu lực của hợp đồng:
- Hợp đồng chính (Khoản 3 Điều 406 Bộ Luật Dân sự);
- Hợp đồng phụ (Khoản 4 Điều 406 Bộ Luật Dân sự).
Theo đối tượng của hợp đồng:
- Hợp đồng có đối tượng là tài sản bao gồm: Hợp đồng mua bán tài sản, hợpđồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồngthuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản;
- Hợp đồng có đối tượng là dịch vụ: Hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảohiểm, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng dịch vụ
Theo tính chất đặc thù của hợp đồng:
- Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba (Khoản 5 Điều 406 Bộ Luật Dân sự);
Trang 8- Hợp đồng có điều kiện (Khoản 6 Điều 406 Bộ Luật Dân sự);
- Các hợp đồng liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất;
- Hợp đồng chuyển giao quyền tài sản thuộc quyền tác giả (Điều 743 Bộ LuậtDân sự);
- Hợp đồng chuyển giao công nghệ
1.3 Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể thamgia giao kết hợp đồng đã thoả thuận Các điều khoản đó xác định những quyền vànghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng
Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sauđây
1) Đối tượng của hợp đồng;
2) Số lượng, chất lượng;
3) Giá, phương thức thanh toán;
4) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
5) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
Điều khoản cơ bản của hợp đồng:
Là các điều khoản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng nên không thểthiếu đối với từng loại hợp đồng, nếu các bên không thỏa thuận được các điềukhoản này thì không thể xác lập được hợp đồng Chẳng hạn, điều khoản về giá làđiều khoản cơ bản của họp đồng mua bán
Điều khoản thông thường:
Là các điều khoản đã được pháp luật quy định nên khi giao kết hợp đồng, nếucác bên không thỏa thuận về những điều khoản này thì mặc nhiên thực hiện theoquy định của pháp luật Chẳng hạn, điều khoản về địa điểm giao tài sản là động
Trang 9sản trong hợp đồng mua bán có thể do các bên thỏa thuận, nếu các bên không thỏathuận thì địa điểm giao tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều khoản tùy nghi:
Là các điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng tùy ý lựa chọn vàthỏa thuận với nhau để xác định quyền, nghĩa vụ dân sự đối với nhau cũng như lựachọn cách thức thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó
Nếu các bên dựa vào quy phạm tùy nghi để xác định các điều khoản thì đượcgọi là tùy nghi theo pháp luật Nếu các bên xác định các điều khoản tùy nghi vềnhững vấn đề chưa được pháp luật quy định thì được gọi là tùy nghi ngoài phápluật
2 Hợp đồng kinh doanh – thương mại
2.1 Khái niệm
Theo ThS Lê Thị Toàn thì hợp đồng được ký kết nhằm thực hiện các hoạtđộng kinh doanh – thương mại, là sự thỏa thuận giữa các bên về quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm cụ thể trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh – thương mại
Luật Thương mại (2005) được hiểu là luật chuyên ngành không đưa ra định
nghĩa về hợp đồng trong kinh doanh, thương mại, song có thể xác định bản chấtpháp lý của hợp đồng trong kinh doanh, thương mại trên cơ sở quy định của Bộluật Dân sự về hợp đồng Do vậy, hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là mộtdạng cụ thể của hợp đồng dân sự
- Hợp đồng giaonhận thầu xây lắp
- Hợp đồng chuyểnnhượng dự án khu đô thịmới, khu nhà ở, dự án hạtầng kỹ thuật khu công
Trang 10tái xuất, tạm xuất tái nhập,
nghiệp )
Một cách khác về phân loại hợp đồng đã chỉ ra rằng: hợp đồng được chiathành các loại như sau:
Hợp đồng mua bán tài sản Điều 428 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng trao đổi tài sản Khoản 1 Điều 463 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng tặng cho tài sản Điều 465 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng vay tài sản Điều 471 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng thuê tài sản Điều 480 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng mượn tài sản Điều 512 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng dịch vụ Điều 518 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng vận chuyển Gồm Hợp đồng vận chuyển hành khách (Điều 527
Bộ Luật Dân sự) và Hợp đồng vận chuyển tài sản
(Điều 535 Bộ Luật Dân sự)Hợp đồng gia công Điều 547 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng gửi giữ tài sản Điều 559 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng bảo hiểm Điều 567 Bộ Luật Dân sự
Hợp đồng ủy quyền Điều 581 Bộ Luật Dân sự
2.3 Đặc điểm và nội dung của hợp đồng kinh doanh thương mại
Về chủ thể
Chủ thể của hợp đồng kinh doanh thương mại có ít nhất một bên là thương
nhân Theo Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm 2005 “thương nhân bao gồm
tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Đây là một điểm đặc trưng của
hợp đồng thương mại so với các loại hợp đồng dân sự Chủ thể hợp đồng có thể
Trang 11trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng hoặc thông qua người đại diện Có hai trườnghợp đại diện là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền.
Trong giao kết hợp đồng kinh doanh – thương mại, đại diện theo pháp luậtthường xảy ra khi chủ thể hợp đồng là các doanh nghiệp Khi đó giám đốc doanhnghiệp hoặc người mà theo quy định của Điều lệ doanh nghiệp là đại diện hợppháp của doanh nghiệp đó sẽ giao kết hợp đồng
Đại diện theo ủy quyền xảy ra khi chủ thể hợp đồng hoặc người đại diệntheo pháp luật ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện giao kết hợp đồng.Người được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại nếu được người ủy quyền đồng ýhoặc pháp luật có quy định cho phép ủy quyền lại
Những phân tích trên chứng tỏ chủ thể của hợp đồng chưa chắc đã là chủ thểgiao kết hợp đồng trong thực tế Do đó không thể đồng nhất hai loại chủ thể nàytrong quan hệ hợp đồng Quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ phát sinh với chủthể hợp đồng mà không phát sinh với chủ thể giao kết hợp đồng
Về hình thức
Hợp đồng thương mại được thiết lập theo cách thức mà hai bên thỏa thuận, cóthể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bêngiao kết Trong một số trường hợp nhất định, hợp đồng phải được thiết lập bằngvăn bản như hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa,hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại… theo
điều 24 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng háo mà pháp luật quy định phải được lập
thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó” Luật thương mại năm
2005 cũng cho phép thay thế hình thức văn bản bằng hình thức khác có giá trị
pháp lý tương đương, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu điện tử vàcác hình thức khác theo quy định của pháp luật
Về mục đích
Mục đích của hợp đồng kinh doanh - thương mại là sinh lợi Vì vậy xuất phát
từ mục đích đó các chủ thể khi giao kết hợp đồng đều muốn tìm kiếm lợi nhuận vềcho bản thân Ngoài ra, còn có thể có được lợi ích về kinh tế, góp phần làm tăng
Trang 12trưởng hoặc phát triển công ty Vì vậy khi kí kết hợp đồng, chỉ khi một bên giữahai chủ thể hoặc cả hai chủ thể đạt được mục đích về lợi nhuận thì hợp đồng mớitrở thành hợp đồng kinh doanh - thương mại Ngược lại, nếu cả hai bên chủ thể kíkết hợp đồng không có lợi nhuận thì đó chỉ là hợp đồng dân sự thông thường.
Theo Khoản 3 Điều 1 Luật thương mại năm 2005 “đối với những hợp đồng
giữa thương nhân với chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lợi, việc có áp dụng Luật thương mại để điều chỉnh quan hệ hợp đồng này hay không là do bên không có mục đích lợi nhuận quyết định”
2.4 Nội dung của hợp đồng kinh doanh – thương mại
Nội dung của hợp đồng thương mại thể hiện quyền và nghĩa vụ của các nhờvào các điều khoản trong hợp đồng quy định Vì vậy các bên chủ thể kí kết hợpđồng thỏa thuận càng chi tiết và phù hợp với quy định pháp luật hiện hành thì cảnggiảm bớt rủi ro về tranh chấp có thể xảy ra Ngoài ra còn có thể giảm bớt vấn đề vềthời gian và kí kết hợp đồng thuận lợi
Điều 402 bộ luật Dân sự 2005 quy định “ Tùy theo từng loại hợp đồng, các
bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây :
1) Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc khôngđược làm
2) Số lượng, chất lượng
3) Giá, phương thức thanh toán
4) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
5) Quyền , nghĩa vụ của các bên
6) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
7) Phạt vi phạm hợp đồng
8) Các nội dung khác”
Luật thương mại năm 2005 không quy định bắt buộc các bên phải thỏa thuận
những nội dung cụ thể nào nhưng có những điều khoản quan trọng cần phải chú ýlà: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểmgiao nhận hàng
Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, có sự bổ sung bởi phụ lục hợpđồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng, nhưng nội dung của phụ lục
Trang 13của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trườnghợp có thỏa thuận khác
Nếu các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoảntrong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi
Tuy nhiên, nội dung của hợp đồng phải hợp pháp vả tuân theo quy định của
pháp luật hiện hành được quy định tại bộ luật Dân sự 2005 Không được kinh
doanh hàng hóa dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa bị cấm lưu thông, cấm xuấtnhập khẩu, những hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa dịch vụ kinh doanh có điềukiện thì phải có đủ điều kiện
CHƯƠNG II: Vai trò và hạn chế của hợp đồng trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
1 Vai trò của hợp đồng kinh doanh – thương mại
Tại Ford, bên cạnh hàng nghìn các hợp đồng mua bán xe hơi mỗi ngày, hãngcòn tham gia vào rất nhiều giao dịch kinh doanh khác như đầu tư, phân phối, muanguyên vật liệu,… Jonh Mene – một cố vấn pháp luật của Ford cho biết: “trungbình mỗi ngày, tại Ford, các giám đốc, trưởng phòng ban phải ký hết gần 3000 hợpđồng khác nhau. Do vậy, quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng luôn được
Trang 14thực hiện rất chặt chẽ, có nhiều chữ ký nháy của các nhân viên tham gia vào việc soạn thảo hợp đồng”.
Tại Việt Nam, các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự coi trọng vấn đề ký kết hợpđồng Nhiều doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi nhuận được đặt ra mà không biếtrằng việc xem trọng và xem kĩ bản hợp đồng mình vừa kí có thể giúp doanhnghiệp của họ tránh khỏi những tranh chấp phát sinh và bảo vệ quyền lợi chínhđáng của doanh nghiệp Bởi thực tế, trong hợp đồng có những điều khoản mẫu cầnhiện hữu trong mọi bản hợp đồng nhằm giảm thiểu các rủi ro tranh chấp pháp lýcũng như những hiểu nhầm đáng tiếc đồng thời đảm bảo các quyền pháp lý cầnthiết cho doanh nghiệp Chúng còn được gọi là lớp áo giáp chống đạn cho mọi hợpđồng, hay điều khoản “áo giáp”
Thực tế cho thấy đã có nhiều trường hợp các bên giao kết hợp đồng với nhau
và tiến hành các hoạt động kinh doanh, nhưng rồi khi một tranh chấp nhỏ xảy ra,một trong hai bên đối tác lại lợi dụng sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng để thu lợiriêng cho mình Nếu một hợp đồng được soạn thảo không chặt chẽ sẽ làm nảy sinhnhiều nguy cơ rủi ro mà hậu quả không lường trước được Bởi vì chi phí để giảiquyết tranh chấp bằng con đường tòa án thì rất tốn kém Không chỉ thiệt hại vềkinh tế mà cả uy tín kinh doanh cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Ở một số nước trên thế giới, pháp luật của họ coi sự vi phạm về hình thức là viphạm lợi ích công cộng nên hợp đồng bị vô hiệu tuyệt đối Ngoài ra khi đối tác kíkết hợp đồng của bạn chưa có giấy phép đăng kí kinh doanh mà trong quá trình kíkết hợp đồng xảy ra tranh chấp thì bản hợp đồng ấy bị vô hiệu hoàn toàn Nó sẽđem đến những bất lợi gây khó khăn cho công ty cũng như mất nhiều thời gianquý báo cho cả đôi bên
Như vậy, hợp đồng có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của các cơquan, tổ chức cũng như các nhân Vai trò của hợp đồng được thể hiện ở nhữngđiểm cơ bản sau:
Hợp đồng là sự thỏa thuận, là những quy định mang tính pháp lý, là sự ràngbuộc giữa các bên tham gia về quyền và nghĩa vụ
Hợp đồng là sự thỏa thuận mang tính chất pháp lý, là căn cứ, là cơ sở đểgiải quyết những tranh chấp liên quan đến những vấn đề mà 2 bên đã thỏa thuận