THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƯỚNG TỰ CHỌN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƯỚNG TỰ CHỌN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Trang 1THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƯỚNG TỰ CHỌN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Trang 2- Một số đặc điểm cơ bản về tình hình kinh tế - xã hội
- giáo dục của quận Hải An, thành phố Hải Phòng
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Quận Hải An là quận nằm ở phía Đông Nam thành phốHải Phòng; phía Bắc giáp quận Ngô Quyền và huyện ThuỷNguyên, phía Nam giáp sông Lạch Tray và huyện Kiến Thuỵ,phía Đông giáp Sông Cấm có cửa Nam Triều đổ ra biển Bắc
Bộ và huyện Cát Hải, phía Tây giáp quận Ngô Quyền, vàsông Lạch Tray Với vị trí đó, Hải An có thuận lợi cơ bản cả
về giao lưu đường bộ và đường thuỷ Ngoài ra, Hải An có cácđầu mối giao thông quan trọng của thành phố Hải Phòng, baogồm các tuyến đường bộ, đường thuỷ (cả đường sông vàđường biển), đường sắt và cả đường Hàng không) Địa bànquận được bao quanh bởi hệ thống sông Lạch Tray, sông Cấm
có cửa Nam Triều đổ ra Vịnh Bắc Bộ Trục đường giao thôngliên tỉnh quan trọng nhất chạy qua địa bàn quận là Quốc lộ 5nối liền Hà Nội - Hải Phòng, các tuyến đường Trung tâmthành phố chạy đến quận như: đường Trần Hưng Đạo, LêHồng Phong, đường ra đảo Đình Vũ, Cát Bà; Có Cảng Chùa
Vẽ, Cảng Cấm, Cảng Quân Sự và một số Cảng chuyên dùng
Trang 3khác; Có tuyến đường sắt từ Ga Lạc Viên đến Cảng Chùa Vẽ;
Có sân bay Cát Bi với năng lực vận chuyển 200.000 lượt hànhkhách và gần 2.000 tấn hàng mỗi năm Đây cũng là một trongnhững điểm lợi thế của quận cần được chú ý khai thác phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội của quận [11]
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn quận là 10.484,31 hagồm: 2.939,76 ha đất nông nghiệp (chiếm 27,99%); 1.330,77
ha đất lâm nghiệp (chủ yếu là rừng phòng hộ chắn sóng);1.730 ha đất chuyên dùng (chiếm 16,51%); 361,25 ha đất ở(chiếm 3,45%) và 4.121,9 ha đất chưa sử dụng (chiếm39,32%) Hải An còn nhiều tiềm năng về diện tích đất đai, cóthể mở rộng các công trình phát triển đô thị Đất đai của quậnkhá đa dạng, cho phép quận phát triển kinh tế - xã hội theochiều hướng: phát triển các khu công nghiệp, phát triển ngànhnông nghiệp sinh thái, kết hợp nông nghiệp sinh thái với hoạtđộng du lịch (làng hoa truyền thống, nhà vườn) và kết hợp vớinuôi trồng thuỷ sản với du lịch sinh thái Ngoài ra, với tiềmnăng đất đai, còn có nhiều điều kiện trong việc xây dựng cơ
sở hạ tầng; giao thông, cấp thoát nước, các công trình phúclợi, văn hoá xã hội, các khu vui chơi giải trí
Hải An có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt,
Trang 4đường thuỷ và đường hàng không phát triển thuận lợi choviệc giao lưu với các tỉnh trong cả nước, là cửa ngõ có thể đónnhận các luồng hàng giao lưu với các tỉnh đồng bằng châu thổSông Hồng và mở rộng thị trường yếu tố đầu vào cũng như thịtrường tiêu thụ sản phẩm Có nguồn lao động dồi dào về sốlượng, quá trình đô thị hoá đang đẩy nhanh tốc độ [11].
- Tình hình kinh tế - xã hội
Căn cứ vào vị trí địa lý, tổ chức hành chính và cơ cấukinh tế - xã hội, Hải An có cơ cấu kinh tế khá hợp lý theo đặctrưng của một quận nội thành: Công nghiệp - Dịch vụ - Nôngnghiệp Hiện nay, công nghiệp xây dựng chưa thật tươngxứng với tiềm năng, dịch vụ vẫn còn nhỏ lẻ, mang tính nộivùng; nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấukinh tế Những lợi thế về du lịch, về nông nghiệp sinh thái, vềthuỷ sản có nhiều nhưng chưa được khai thác Các khu côngnghiệp Đông Hải, Đình Vũ phát triển, nhất là khi cảng nướcsâu (nếu điều kiện kỹ thuật cho phép) được xây dựng, đi vàohoạt động thì cơ cấu kinh tế Hải An có những thay đổi đáng
kể theo đúng xu hướng tích cực với sự đa dạng của các dịch
vụ cảng, kho tàng, bến bãi, vận tải và lưu chuyển hàng hoá.Với những biến đổi đó, sự phát triển, cơ cấu kinh tế của Hải
Trang 5An không chỉ góp phần vào việc hoàn thành được chức năngchung của Thành phố Hải Phòng là thành phố Cảng, Trungtâm công nghiệp và thương mại lớn của cả nước có sức lantoả, tạo động lực phát triển cho các tỉnh duyên hải phía Bắc,
mà còn giảm bớt đáng kể mật độ tập trung quá đông các giaodịch vụ vào các quận nội thành cũ và khu trung tâm thànhphố Ngoài ra, Hải An phải thực hiện cả việc xây dựng kết cấu
hạ tầng cho khu vực nông nghiệp để thực hiện sự chuyển đổisang nông nghiệp đô thị, sinh thái bền vững ở trình độ kỹthuật cao, hiện đại
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm
từ 19-21% trong giai đoạn 2006-2010, lên 20-22% giai đoạn2011-2015 và 21-22% trong giai đoạn 2016-2010 Quy môgiá trị sản xuất năm 2010 gấp từ 2,84 đến 3,1 lần so với năm
2004 và năm 2020 gấp 18,33-22 lần so với năm 2004 Giá trịbình quân sản xuất đầu người tăng từ 12,806 triệu đồng vàonăm 2010 và 70.254-80.236 triệu đồng vào năm 2020 [11]
Cơ cấu kinh tế dự kiến sẽ chuyển dịch như sau: Tỷ trọnggiá trị sản xuất nông nghiệp giảm từ 14,11% năm 2004 xuốngthấp là 0,4% đến 0,6% vào năm 2020 Tỷ trọng giá trị sản xuấtcông nghiệp từ 43,93% năm 2004 sẽ biến động xuống còn từ
Trang 636% đến 37,6% năm 2020 Tỷ trọng giá trị sản xuất các ngànhdịch vụ tăng từ 41,96% năm 2004 lên từ 62% đến 63,5% vàonăm 2020.
Đến năm 2020, cơ bản xây dựng nền công nghiệp cócông nghệ cao và hoạt động có kết quả ổn định Hướng tớiphát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu: lắpráp điện tử, đồ gia dụng, hoá mỹ phẩm, chế biến thuỷ sản.Hoàn thiện các khu Công nghiệp Đông Hải, Đình Vũ, cảngĐông Nam dọc theo đường xuyên đảo Đình Vũ và Sông Cấm.Xây dựng hệ thống Cảng biển, đường sắt trải toàn bộ phíaBắc bán đảo Đình Vũ Xây dựng hệ thống kho bãi, các cơ sởsản xuất hậu cần cho Cảng biển, Cảng nước sâu Công nghiệp
và xây dựng của Hải An sẽ là ngành có quy mô và tỷ trọnglớn nhất trong các ngành kinh tế trên địa bàn Công nghiệpTrung ương và Thành phố vẫn tiếp tục đầu tư nâng cấp và xâydựng mới để giữ vững vai trò chủ đạo trong các ngành côngnghiệp và xây dựng trên địa bàn [11]
- Tình hình giáo dục
Về quy mô giáo dục
Quy mô trường lớp ở các cấp học, ngành học ngày càng
Trang 7ổn định và phát triển, mở rộng phù hợp với yêu cầu phát triểncủa xã hội, đáp ứng nhu cầu được học tập của con em nhândân trên địa bàn quận.
Đến năm 2018, quận Hải An có 39 trường học với13.673 học sinh So với năm 2003, quận tăng 21 trường học
và 34 nhóm lớp mầm non tư thục Trong đó ngành học mầmnon có 25 trường (8 trường công lập, 17 trường ngoài cônglập) và 34 nhóm, lớp mầm non ngoài công lập được cấp phép
Số trường này góp phần huy động tỷ lệ trẻ đến lớp đạt 82,1%,riêng huy động trẻ 5 tuổi đến lớp đạt 100% Ở cấp tiểu học,quận Hải An có 7 trường công lập với 10.286 học sinh (tăng
01 trường và 5.391 học sinh so với năm 2003) Cấp Trung học
cơ sở có 6 trường công lập với 5763 học sinh (tăng 1.172 họcsinh so với năm 2003) Từ tháng 1-2018, quận có thêm trườngphổ thông nhiều cấp với 1.047 học sinh [11]
Về chất lượng giáo dục
Năm 2018, số trường học đạt chuẩn quốc gia của quậnđạt 13 trường, tăng 10 trường so với năm 2003 Trong đó có 2trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 là trường mầm non Cát
Bi và trường tiểu học Nam Hải, đứng trong tốp đầu thành phố
Trang 8Việc xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia và nâng caochất lượng đội ngũ giáo viên góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục khẳng định sự quan tâm đầu tư của quận Hải Antrong suốt 15 năm qua Không dừng ở đó, những con số ấntượng của giáo dục Hải An có thể kể đến: 100% học sinhTrung học phổ thông thi đỗ tốt nghiệp; 100% học sinh Trunghọc cơ sở được công nhận tốt nghiệp; 100% học sinh tiểu họcđược đánh giá hoàn thành về phẩm chất, năng lực và học tập;100% trẻ mầm non được chăm sóc nuôi dưỡng tại trường đảmbảo đúng yêu cầu độ tuổi; tỷ lệ trẻ kênh bình thường về chiềucao, cân nặng đạt 97%, tăng 0,9% so với đầu năm học.Cùngvới đó, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được quan tâm chỉđạo bằng nhiều giải pháp đem lại hiệu quả tích cực Học sinhtiểu học đạt 22 giải giao lưu học sinh cấp thành phố Học sinhTrung học cơ sở đạt 117 giải Học sinh giỏi cấp thành phố,trong đó đạt 83 giải các môn văn hóa, tăng 7 giải văn hóa sovới năm học trước; đạt 10 giải cấp Quốc gia, tăng 8 giải (vănhóa) so với năm học trước Học sinh Trung học phổ thông đạt
245 giải cấp thành phố; 94 giải cấp quốc gia và 2 giải quốc tế,khu vực [11]
Cơ sở vật chất dành cho giáo dục-đào tạo phát triển, chất
Trang 9lượng đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng lên, từ đó chấtlượng giáo dục của quận Hải An vươn cao, đứng trong tốpđầu thành phố Trong nhiều năm qua, Hải An luôn có học sinhgiỏi cấp quốc gia, tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường Trung họcphổ thông công lập đạt cao Giai đoạn 2014 – 2017, tỷ lệ họcsinh thi đỗ vào lớp 10 Trung học phổ thông công lập của quậnđứng đầu thành phố Riêng năm học 2016-2017 tỷ lệ học sinhthi đỗ đạt 92,38% (tăng 60,98% so với năm đầu thành lậpquận) Quận Hải An được thành phố công nhận đạt phổ cậpgiáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học vàtrung học cơ sở mức độ 3, phổ cập trung học phổ thông vànghề mức 2.
Về đội ngũ giáo viên
Toàn ngành hiện có 942 cán bộ quản lý, giáo viên.Trong đó, hiệu trưởng 20, phó hiệu trưởng 29, giáo viên: 893.Chất lượng đội ngũ đã được nâng lên rõ rệt: Năm 2017, trình
độ đào tạo giáo viên ngành học mầm non trên chuẩn đạt83,4%; tăng 6,6% so với năm học trước; giáo viên tiểu họctrên chuẩn đạt 99,4%; giáo viên Trung học cơ sở trên chuẩnđạt đạt 92,9%; tăng 5,3% so với năm học trước; giáo viênTrung học phổ thông trên chuẩn đạt 40,8%, tăng 12,6% so với
Trang 10năm học trước [11].
- Sơ lược về Trường Trung học phổ thông Hải An và Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, quận Hải An, thành phố Hải Phòng
- Trường Trung học phổ thông Hải An
Quy mô giáo dục
Ngày 22 tháng 12 năm 2003 Thành phố Hải phòngđược phép thành lập một quận mới: Quận Hải An, quận đượctách ra từ một phần của huyện An Hải và một phần của quậnNgô Quyền, cả quận chỉ có một trường Trung học phổ thông
Lê Quý Đôn (trường Trung học phổ thông thuộc quận NgôQuyền cũ), trước tình hình đó được phép của ủy Ban Nhândân thành phố Hải Phòng, trường Trung học phổ thông LêQuý Đôn mở thêm phân hiệu II: năm học 2003 – 2004 tuyển
4 lớp 10, năm học 2004 – 2005 tuyển năm lớp 10, năm 2005– 2006 tuyển 7 lớp 10 Đến ngày 31 tháng 8 năm 2006 phânhiệu II của trường Lê Quý Đôn được tách ra thành lập mộttrường mới là trường THPT Hải An theo quyết định số 1934/QĐ- UBND của Uỷ Ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Trang 11Năm học 2014-2015: Tổng số học sinh: 981, trong đókhối 12: 348 học sinh, khối 11: 315 học sinh, khối 10: 315học sinh.
Năm học 2015-2016: Tổng số học sinh: 966, trong đókhối 12: 312 học sinh, khối 11: 294 học sinh, khối 10: 360học sinh
Năm học 2016-2017: Tổng số học sinh: 962, trong đókhối 12: 294 học sinh, khối 11: 350 học sinh, khối 10: 318học sinh
Năm học 2017-2018: Tổng số học sinh: 996, trong đókhối 12: 326 học sinh, khối 11: 311 học sinh, khối 10: 359học sinh
Trường đã xây mới và đưa vào sử dụng dãy nhà 3 tầngvới 9 phòng học đưa tổng số phòng học của nhà trường 31phòng học, 02 phòng tin học, 02 phòng thực hành, 01 phòngthư viện và các phòng hội đồng, giáo viên, các phòng chứcnăng và phòng làm việc của ban giám hiệu, đoàn thanh niêncông đoàn có đủ Đầu năm học nhà trường cải tạo sửa chữanâng cấp sân trường phí trước và khu đằng sau lớp học làmcổng phụ, sửa chữa phòng học cũ Bổ sung máy chiếu, cơ sở
Trang 12vật chất tại các phòng học, phòng chức năng, phòng thực hànhthí nghiệm đủ để nhà trường thực hiện tốt mọi công tác dạyhọc theo đúng chỉ đạo của sở GD & ĐT và qui đinh của cáccấp ngành Trường Trung học phổ thông Hải An là 1 trongcác trường Trung học phổ thông trẻ nhất trong khối cáctrường Trung học phổ thông của Thành phố Là trường mớithành lập, lại nằm trong khu vực nội thành nên gặp rất nhiềukhó khăn: Cơ sở vật chất thiếu thốn: chỉ mới xây dựng được
12 phòng học tại cơ sở chính do đó nhà trường phải học ở 2
cơ sở (trong đó có một cơ sở đi thuê) Do phải học ở 2 nơi nênhoạt động của cả trường thường không tập trung đặc biệt giáoviên phải di chuyển địa điểm dạy (có thể là trong một buổihọc) Số phòng học thiếu, các phòng chức năng chưa đủ vàchưa đạt đúng yêu cầu (phòng thí nghiệm, phòng dạy điện tửcòn tạm thời), các phương tiện hỗ trợ cho công tác giảng dạynhư thiết bị thí nghiệm, tài liệu tham khảo, máy tính, máychiếu còn rất hạn chế [10]
Chất lượng giáo dục
Trường Trung học phổ thông Hải An là một trường mớithành lập, là một trong những trường trẻ nhất trong khối cáctrường Trung học phổ thôn vì vậy vẫn còn gặp rất nhiều khó
Trang 13khăn Cơ sở vật chất còn thiếu, trang thiết bị tài liệu còn hạnchế Đội ngũ giáo viên còn trẻ, trong khi đó chất lượng đầuvào còn thấp, trường thường là sự lựa chọn số 2 hoặc số 3 củacác em học sinh khi đăng ký vào 10, chất lượng đầu vào thấpkéo theo ý thức của các em còn chưa tốt nên hiệu quả học tập,thành tích của các em cũng chưa cao.
Tuy vậy, trường cũng nhận được sự quan tâm đặc biệtcủa Quận, Sở và thành phố cùng với sự năng động và nhiệthuyết của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên Bước đầu mặc
dù khó khăn nhưng nhà trường cũng đã đạt được thành tựu cơbản, theo báo cáo tổng kết trường Trung học phổ thông Hải
An từ 2010 -2015 tỷ lệ học sinh đạt khá giỏi của trường chiếm91,0 % (năm học 2014 – 2015), tỷ lệ tham gia thi học sinhgiỏi trong 5 năm từ 2010 đến 2015 có 104 em trong đó có 9giải nhất, 15 giải nhì, 51 giải ba và 29 giải khuyến khích.Trong khoá học 2014 – 2015 tỷ lệ đỗ tốt nghiệp của các emhọc sinh là 100%, tỷ lệ đủ điểm sàn vào đại học, cao đẳng là83% [10]
Đội ngũ giáo viên
Hiện tổng số cán bộ giáo viên người lao động toàn
Trang 14trường có 80 người trong đó: 62 giáo viên trực tiếp giảng dạy,ban giám hiệu 03 đồng chí, nhân viên 6 đồng chí, bảo vệ 6đồng chí, lao công 1 đồng chí, 1 giáo viên làm chuyên gia tạiĂnggola theo quyết định thành phố; 1 giáo viên học văn bằng
2 giáo dục Quốc phòng theo quyết định của Sở Giáo dục&Đào tạo, tháng 11 năm 2017 có 02 giáo viên chuyên công tác
Đa số là giáo viên trẻ (chiếm 95,6 %), giáo viên có 10 thạc sỹ,
10 người đang học cao học, 100% cán bộ giáo viên đạt chuẩn.Đội ngũ cốt cán nhà trường có 2/3 đạt trên chuẩn tào tạo theoqui định Những năm gần đây, đội ngũ giáo viên nhà trường
đã nhận thức rõ vai trò của giáo dục nói chung và vai trò củagiáo viên nói riêng trong hoạt động dạy học, vì vậy đã cốgắng tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, mặt khác cán bộquản lý nhà trường luôn tạo điều kiện về mọi mặt để các đồngchí giáo viên có thể yên tâm theo học, đào tạo trên chuẩn [10]
- Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn
Quy mô giáo dục
Hiện nay, ngôi trường mang tên nhà bác học Lê QuýĐôn là một trong những trường đẹp nhất của Hải Phòng đồngthời là một trong những địa chỉ giáo dục uy tín của ngành giáo
Trang 15dục thành phố Ngày đầu thành lập, trường mang tên cấp IIIHải An Đến ngày 4/9/1984, Uỷ ban nhân dân thành phốquyết định đổi tên thành trường Trung học phổ thông Lê QuýĐôn, nay là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn Từ khi
ra đời đến nay, trường đã chuyển qua nhiều địa điểm: ở xãĐằng Hải (nay thuộc quận Hải An) từ 1965-1969, về xã ĐằngGiang (nay thuộc quận Ngô Quyền) từ 1970- 1976, về Cát Bi
từ 1976 đến nay
Năm học 2013- 2014: Tổng số học sinh: 1432, trong đókhối 12: 581 học sinh, khối 11: 451 học sinh, khối 10:400 họcsinh
Năm học 2014- 2015: Tổng số học sinh: 1270, trong đókhối 12: 447 học sinh, khối 11: 404 học sinh, khối 10: 419học sinh
Năm học 2015- 2016: Tổng số học sinh: 1257, trong đókhối 12: 398 học sinh, khối 11: 421 học sinh, khối 10:438 họcsinh
Năm học 2016- 2017: Tổng số học sinh: 1248, trong đókhối 12: 419 học sinh, khối 11: 440 học sinh, khối 10: 389học sinh
Trang 16Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn hiện là mộttrong 5 trường Trung học phổ thông lớn nhất và đẹp nhấtthành phố Diện tích khuôn viên nhà trường là 13.000 m2, với
45 phòng học, 5 phòng học bộ môn, phòng vi tính, hộitrường, phòng truyền thống, thư viện đủ sách báo, các thiết
bị công nghệ thông tin đáp ứng tối đa nhu cầu dạy và họctrong tình hình giáo dục hiện nay Các tổ chuyên môn vănphòng tổ riêng, được trang bị máy tính để bàn, máy vi tínhxách tay, máy Projecter và màn hình để phục vụ dạy - học.Những năm gần đây, nhiều công trình được làm mới, cải tạonhư sân khấu, hệ thống vườn hoa, cây cảnh, lát gạch sântrường, sửa chữa phòng chờ giáo viên, sắp tới là nhà xe giáoviên và khu hiệu bộ Cảnh quan nhà trường luôn xanh-sạch-đẹp [33]
Chất lượng giáo dục
Trong quá trình phát triển, trường đã từng nằm trong tốp
100, 200 trường Trung học phổ thông có kết quả thi vào đạihọc cao nhất cả nước Hiện nay, điểm thi vào 10 Trung họcphổ thông, kết quả thi học sinh giỏi, thi đỗ vào đại học, caođẳng của trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn luôn nằmtrong tốp những trường dẫn đầu thành phố Hàng năm, tỉ lệ
Trang 17học sinh đỗ tốt nghiệp từ 99,97% đến 100% Những năm gầnđây, bình quân trên 95- 99% học sinh đạt hạnh kiểm tốt, 90-
95 % học sinh đạt học sinh giỏi, học sinh tiên tiến; bốn nămliên tiếp gần đây có học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia;nhiều học sinh đạt điểm cao trong kì thi tuyển sinh đại học.Trong kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2015, với sốđiểm bình quân là 6,09 trường xếp thứ tư (Sau trường chuyênTrần Phú, Thái Phiên, Ngô Quyền) trên tổng số 55 trườngTrung học phổ thông toàn thành phố Với những thành tíchxuất sắc nêu trên, trường đã vinh dự được nhận Huân chươngLao động hạng Ba năm 1992, 2008, Bằng khen của Thủ tướngchính phủ, Bằng khen và cờ thi đua xuất sắc của Uỷ ban nhândân thành phố Hải Phòng cùng với nhiều phần thưởng caoquý khác Trong bước đường tiến tới, trường Trung học phổthông Lê Quý Đôn tập trung mọi tâm huyết, trí tuệ và côngsức, phấn đấu đạt chuẩn Quốc giai giai đoạn II và vươn lêntrở thành trung tâm giáo dục chất lượng cao của Thành phố[33]
Đội ngũ giáo viên
Hiện nay, số lượng giáo viên là 94 đồng chí, đa số là giáoviên trẻ, 100% đạt chuẩn, 30% trên chuẩn, nhiều thầy cô giáo
Trang 18đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp thành phố, cấp cơ sở, nhiềuthầy cô được nhận Bằng khen của Thủ tướng chính phủ, của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bằng khen của Công đoànGiáo dục Việt Nam, của Liên đoàn Lao động thành phố Đặcbiệt, nhiều thầy cô giáo đã được tôn vinh là nhà giáo tiêu biểu
ở cấp cơ sở, cấp thành phố [33]
- Thực trạng tổ chức dạy học môn giáo dục thể chất theo hướng tự chọn cho học sinh trung học phổ thông tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng
- Thực trạng học môn giáo dục thể chất của học sinh Trung học phổ thông trên địa bạn quận Hải An
Hiện nay, môn học giáo dục thể chất bao gồm hai nhómmôn học là các môn thể thao bắt buộc và các môn thể thao tựchọn Có thể thấy rằng thời lượng của các môn thể thao bắtbuộc có tỷ lệ chênh lệch khá lớn so với các môn thể thao tựchọn, thời gian học các môn thể thao bắt buộc nhiều gấp 2,76lần đối với khối 10, và giảm dần đối với khối 11 và khối 12
- Số lần dạy học thể thao bắt buộc và thể thao tự chọn
Trang 19Nội dung
K ỳ I
Kỳ II
Cả năm
K ỳ I
Kỳ II
Cả năm
K ỳ I
K ỳ II
Cả năm
dù là vậy thì tỷ lệ chênh lệch giữa số thời gian học môn thể thao bắt buộc vẫn lớn hơn gấp 1,76 lần so với thời lượng học môn thể thao tự chọn Hơn một nửa số học sinh tham gia
Trang 20khảo sát thuộc trường Trung học phổ thông Hải An và trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn đều cảm thấy yêu thích các môn thể thao bắt buộc trong nhà trường, trong đó trường Trung học phổ thông Hải An chiếm tỷ lệ 53,8% yêu thích, và trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn chiếm 67,5% yêu thích
- Tỷ lệ yêu thích các môn thể thao bắt buộc trong nhà
Nhìn chung, trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn
có tỷ lệ các em học sinh yêu thích các môn học nhiều hơn so
Trang 21với trường Trung học phổ thông Hải An Với truyền thống phát triển và thành tích nổi trội, Trung học phổ thông Lê Quý Đôn là một trong những ngôi trường xuất sắc nhất tại Hải Phòng không chỉ được đầu tư về chất lượng chuyên môn giảng dạy mà còn phát triển hệ thống trang thiết bị cơ
sở vật chất dạy học Vì vậy, đảm bảo được chất lượng của các môn học so với trường Trung học phổ thông Hải An Đối với cả ba khối, tỷ lệ yêu thích môn học không có nhiều chênh lệch, khối 10 chiếm tỷ lệ 68,3%, khối 11 chiếm tỷ lệ 53,2% và khối 12 chiếm tỷ lệ 60,0%.
“Học tại trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn emthấy rất tốt, thầy cô giảng dạy hay, trường rộng sạch đẹp vàtrang thiết bị đều mới”
(PVS, nữ, học sinh lớp 11, trường Trung học phổ thông
Lê Quý Đôn)
Lý giải cho một nửa tỷ lệ không yêu thích các môn họcbắt buộc phần lớn là do các môn học nhiều lần, không có sântập và thời gian được học ít Đặc biệt đối với trường Trunghọc phổ thông Hải An tỷ lệ không yêu thích môn học bắt buộc
vì không có sân tập chiếm tỷ lệ cao 34,2%, điều đó cho thấy
Trang 22cơ sở vật chất phục vụ môn học giáo dục thể chất phần lớnvẫn ở dạng cơ bản và chưa đáp ứng được nhu cầu của các emhọc sinh Ngoài ra, đối với trường Trung học phổ thông LêQuý Đôn nhấn mạnh lý do các môn học nhiều lần, trong cáckhối 10, 11, và 12 các môn học thể thao liên tục được lặp đilặp lại và không có sự đổi mới Chính điều này cũng dẫn đếnviệc học sinh cảm thấy chán nản và không yêu thích các mônhọc bắt buộc
“Mấy năm học cấp 3 em đều học các môn này mà, nên thấy chán lắm, em thích học các môn thể thao khác hơn ví dụ như là môn erobic hoặc bơi, các môn đó em đều xin bố mẹ cho đi học thêm cuối tuần”.
(PVS, nữ, học sinh lớp 10, trường Trung học phổ thôngHải An)
- Nguyên nhân không thích thú các môn thể thao bắt buộc
tại trường học
Tỷ lệ: %
Trang 23Nội dung Trung học phổ
thông Hải An
Trung học phổ thông Lê Quý Đôn
Lê Quý Đôn tỷ lệ là 82,9% (xem bảng 2.4)
Trang 24“Bọn em có lịch thầy cô thông báo học các môn vào thứmấy thôi ạ Bọn em không biết việc chọn môn ạ, thường cácmôn thể dục bọn em học 3 đến 4 tiết 1 tuần, có lúc vào buổisáng, có lúc vào buổi chiều”.
(PVS, nữ, học sinh lớp 12, trường Trung học phổ thông
Lê Quý Đôn)
- Tỷ lệ học sinh tham gia tự chọn các môn giáo dục thể
Lê Quý Đôn
Trang 25ra các môn thể thao khá đa dạng và phong phú, trong đó môn học được học sinh mong muốn học nhất là cầu lông chiếm tỷ
lệ 24,6% mong muốn được học, tiếp theo là Gym chiếm 16,6%, thứ ba là bóng đá chiếm tỷ lệ 16,1%, cờ vua với 12,6% và bơi lội với tỷ lệ 7,5% (xem bảng 2.5)
“Hiện nay em có học thêm ngoài các môn thể thao nhưtập gym và nhảy hiện đại, tập gym với tập nhảy giúp em giảmbéo và khoẻ mạnh nữa, em hay tập vào buổi tối”
(PVS, nữ, học sinh lớp 11, trường Trung học phổ thông
Lê Quý Đôn)
Trang 26- Các môn học thể thao học sinh mong muốn học
Trang 27Các môn thể thao mong
14 lần trên tổng số 85 lần học các môn thể thao bắt buộc, vàkhối 12 là 18 lần trên tổng số 69 lần học các môn thể thao bắtbuộc Ngoài ra, các môn thể thao được các em yêu thích nhưGym, bóng đá, cờ vua hay bơi lội hiện tại trong các trườngTrung học phổ thông vẫn chưa đưa vào giảng dạy Có thểthấy, các môn học trong trường vẫn chưa đáp ứng được nhucầu của các em học sinh
“Hiện tại cuối cấp em ít đi tập nhưng em thích bóng đá, thi thoảng không phải đi học em vẫn thường đi đá bóng với các bạn, bọn em vẫn tổ chức đá với nhau các khối hoặc với
Trang 28trường khác, ở trường em làm gì có sân đá đâu ạ, bọn em toàn phải góp tiền thuê sân để đá thôi”
(PVS, nam, học sinh lớp 12, trường Trung học phổthông Hải An)
Đánh giá về các môn thể thao tự chọn hiện đang giảngdạy tại trường, phần lớn học sinh đều hài lòng như về thờigian học thực hành, quy định trong lớp học và đặc biệt là vềchất lượng giáo viên (chiếm tỷ lệ 61,0%), phương pháp giảngdạy (chiếm tỷ lệ 59,9%) Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đềcác em học sinh vẫn chưa hài lòng đặc biệt là về phòng họpthể dục, tỷ lệ không hài lòng chiếm tỷ lệ 24,3%, chưa hài lòngvới trang thiết bị, dụng cụ tập thể dục chiếm tỷ lệ 22,3%, chưahài lòng về sân tập thể dục chiếm tỷ lệ 15,0% Đối với cơ sởvật chất, trang thiết bị phòng học vẫn chưa đảm bảo được yêucầu đối với học sinh
“Bọn em tập thể dục toàn tập ngoài sân trường, trời nắng quá thì vào gốc cây tập, có khi nóng quá chạy có bạn còn ngất, mùa mưa thì nghỉ tập học tại lớp, vì sân ướt mưa không có chỗ trú”.
(PVS, nam, học sinh lớp 10, trường Trung học phổ
Trang 29thông Hải An)
- Mức độ hài lòng về giờ thể thao tự chọn tại trường
Tỷ lệ: %
Nội dung
Rất hài lòn g
Hài lòn g
Bình thườn g
Khôn
g hài lòng
Rất khôn
g hài lòng
4 Quy định của giáo
viên trong tiết học
Trang 30Nội dung
Rất hài lòn g
Hài lòn g
Bình thườn g
Khôn
g hài lòng
Rất khôn
g hài lòng
Trang 3162,5%) và sân bóng rổ (chiếm tỷ lệ 58,1%) Tuy nhiên, hiệnnay, các trường trung học phổ thông vẫn chưa có cơ sở đápứng được nhu cầu của các môn thể thao tự chọn và các mônthể thao được các em học sinh yêu thích như không có phòngtập tạ (chiếm tỷ lệ 67,9%), không có tạ tập (chiếm tỷ lệ67,7%), không có bể bơi (chiếm tỷ lệ 73,5%), một số học sinhcho rằng trong trường không có vợt cầu lông (chiếm tỷ lệ30,9%), không có sân cầu lông (chiếm tỷ lệ 27,7%), không có
hố nhảy (chiếm tỷ lệ 25,7%)
“Bản thân em thì thấy sân tập ở trường chỉ ở mức trung bình mà nếu đông lớp học không có sân mà học, cứ hết lớp này lớp khác mới có sân, dụng cụ tập thì toàn bọn em tự mang thôi, chứ ở trường có mấy bộ toàn hỏng thôi ạ”.
(PVS, nữ, học sinh lớp 11, trường Trung học phổ thông
Lê Quý Đôn)
- Đánh giá cơ sở vật chất các môn thể thao bắt buộc và tự
chọn
Tỷ lệ: %