Thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tinThực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam thông qua công nghệ thông tin
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU TRANG
THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH Ở VIỆT NAM
THÔNG QUA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Mã số : 9.31.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Bùi Quang Tuấn 2: TS Nguyễn Bá Ân
Hà Nội, 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
NGUYỄN THỊ THU TRANG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 6
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
1.3 Bình luận, đánh giá 20
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH THÔNG QUA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 21
2.1 Các khái niệm 21
2.2 Vai trò, tác động của công nghệ thông tin đối với thực hiện tăng trưởng xanh 38
2.3 Các tiêu chí đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin 53
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin 54
2.5 Kinh nghiệm quốc tế về thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin 56
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH THÔNG QUA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM 78
3.1 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin đóng góp vào tăng trưởng kinh tế 78
3.2 Thực trạng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trở thành nền tảng, là hạ tầng của hạ tầng; được triển khai rộng khắp, đem lại hiệu quả kinh tế, năng suất cao, góp phần hiệu quả vận hành hệ thống kinh tế, xã hội của đất nước 87
3.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt nam nhằm sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, sử dụng tài nguyên ít hơn, giảm phát thải khí nhà kính và giảm ô nhiễm môi trường 102
3.4 Thực trạng về phát triển nguồn nhân lực CNTT cho thực hiện tăng trưởng xanh 117 3.5 Đánh giá những vấn đề đặt ra và những nguyên nhân chủ yếu 120
Trang 4CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH THÔNG QUA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM 127
4.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 127 4.2 Các quan điểm và định hướng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin 137 4.3 Giải pháp nhằm thúc đẩy thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ
thông tin ở Việt Nam 142
KẾT LUẬN 153
GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 154 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
Trang 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATTT An toàn an ninh thông tin
BĐKH Biến đổi khí hậu
BEMS Hệ thống quản lý năng lượng toà nhà
CNNT Công nghệ thông tin
CNPC Công nghiệp phần cứng
CNPM Công nghiệp phần mềm
FEMS Hệ thống quản lý năng lượng công xưởng
IBM Tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia
IBM Tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia
ICT Công nghệ thông tin và truyền thông
IEA Cơ quan Năng lượng Quốc tế
IoT Xu thế kết nối vạn vật
ITS Hệ thống giao thông thông minh
MTQG Mục tiêu quốc gia
NSNN Ngân sách nhà nước
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
UNEP Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
UNESCAP Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1 22 hạng mục thuộc 6 lĩnh vực về tăng trưởng xanh ít khí thải của
Hàn Quốc 63 Bảng 2.2 Hiệu quả cắt giảm lượng khí thải thông qua ứng dụng CNTT của
Hàn Quốc 63 Bảng 2.3 Tổng thể tình hình cắt giảm khí thải theo từng ứng dụng trong số 21
ứng dụng (tấn CO2) 64 Bảng 2.4 Chương trình phân tích hiệu quả cắt giảm khí thải bằng CNTT 66 Bảng 3.1 Doanh thu ngành công nghiệp CNTT giai đoạn 2008 - 2017 (triệu USD) 79 Bảng 3.2 Bảng so sánh tổng doanh thu ngành CNTT với tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2017 80 Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp CNTT qua các năm (%) 82 Bảng 3.4 Bảng so sánh tổng kim ngạch xuất khẩu ngành CNTT với tổng kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018 85 Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu chính thể hiện mức độ ứng dụng CNTT trong cơ quan
nhà nước 97 Bảng 3.6 Thống kê dịch vụ công trực tuyến 92 Bảng 3.7 Hệ thống mạng nội bộ trong các cơ quan nhà nước 101
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Trang
Biểu đồ
Biểu đồ 3.1 Tổng doanh thu ngành công nghiệp CNTT giai đoạn 2008 – 2017
(triệu USD) 80
Biểu đồ 3.2 Tổng doanh thu ngành CNTT đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017 81
Biểu đồ 3.3 Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp CNTT qua các năm 83
Biểu đồ 3.4 So sánh tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp CNTT với tốc độ tăng trưởng bình quân GDP cả nước giai đoạn 2008 – 2017 83
Biểu đồ 3.5 Đóng góp của ngành CNTT vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017 86
Biểu đồ 3.6 Tăng trưởng nhân lực CNTT trong ngành công nghiệp CNTT 118
Hình Hình 2.1 Các vấn đề môi trường cốt yếu mà tăng trưởng xanh hướng đến 29
Hình 2.2 Các cách tiếp cận của tăng trưởng xanh carbon thấp 29
Hình 2.3 Các kênh tác động đến thực hiện tăng trưởng xanh 34
Hình 2.4 Thực hiện tăng trưởng xanh 35
Hình 2.5 Cách thức tác động của CNTT tới thực hiện tăng trưởng xanh 36
Hình 2.6 Tiềm năng của ứng dụng CNTT trong giảm thải khí CO2 của các lĩnh vực đến năm 2020 42
Hình 2.7 Vai trò của CNTT trong tăng trưởng xanh ít khí thải 44
Hình 2.8 Khung phân tích của luận án 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để tăng trưởng và phát triển bền vững các nhà nghiên cứu và một số chính phủ nhận ra một cơ hội để giải quyết đồng thời các mối đe dọa biến đổi khí hậu, giá năng lượng tăng nhanh và sự bất ổn nguồn cung nhiên liệu thiên nhiên bằng một mô hình phát triển kinh tế mới dựa trên các nguyên tắc phát triển bền vững: Tăng trưởng xanh Thực tế cho thấy rằng, xu hướng thực hiện tăng trưởng xanh hướng tới nền kinh tế xanh và phát triển bền vững là một xu hướng bao trùm toàn cầu hiện nay Tăng trưởng xanh đã được xác định là trọng tâm trong chính sách phát triển quốc gia của nhiều nước trên thế giới trong nỗ lực đạt được sự phát triển bền vững Nhiều quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Hà Lan đã đi tiên phong trong việc thúc đẩy tăng trưởng xanh với nhiều nội dung quan trọng thể hiện
sự cam kết mạnh mẽ hướng tới nền kinh tế xanh và phát triển bền vững
Ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) đã thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đặc biệt là trong kỉ nguyên số CNTT có tác động mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực như: Kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, y
tế, giáo dục, nông nghiệp, giao thông, xây dựng… Khai thác tiềm năng, ứng dụng CNTT để đóng góp cho phát triển bền vững đã, đang và sẽ được các quốc gia trên toàn cầu thực hiện Trong đó, CNTT được sử dụng như một nền tảng phục vụ cho tăng trưởng xanh ở nhiều quốc gia, khu vực
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, quá trình thực hiện chuyển đổi từ tăng trưởng nâu sang tăng trưởng xanh Đây là một quá trình rất chú trọng vào hiệu quả của năng lực cạnh tranh, cần đến vai trò của CNTT và đổi mới sáng tạo nhiều hơn Đánh giá về tầm quan trọng của CNTT, tại diễn đàn chính sách, công nghệ và kết nối hợp tác doanh nghiệp quy
mô quốc gia và quốc tế thường niên do Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA) tổ chức dưới sự bảo trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông, Thủ
tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu: “Tôi tin rằng, với không ít lợi thế cạnh
tranh, phát triển CNTT và lợi thế nguồn lực dân số vàng, Việt Nam dù đi sau vẫn có thể thành công nếu chúng ta nắm bắt được cơ hội, có chiến lược đúng đắn, có chương trình hành động cụ thể kịp thời và triển khai thực thi quyết liệt, hiệu quả”
Hiện nay tăng trưởng xanh đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển
Trang 9của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Nhưng trên thực tế, quá trình thực hiện tăng trưởng xanh tại Việt Nam vẫn còn có nhiều hạn chế Rất nhiều chủ trương, chính sách nhưng mới chỉ dừng ở mức định hướng chung, chưa được triển khai nhiều và chưa có nhiều kết quả nổi bật Để thực hiện tăng trưởng xanh, bắt buộc cần có sự phát triển của công nghệ cao mà đặc biệt là CNTT Được xác định là một lợi thế, là một mũi nhọn của nền kinh tế nhưng những kết quả đạt được của ngành công nghiệp CNTT chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước, chưa đủ để vượt qua các thách thức to lớn mà chúng ta phải đối mặt Bên cạnh đó, tại Việt Nam việc ứng dụng CNTT cho thực hiện tăng trưởng xanh lại càng nhiều hạn chế
Hiện nay, những nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước về tăng trưởng xanh nói chung và đặc biệt là thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT nói riêng là chưa nhiều Đây là lý do để đề tài được đề xuất nhằm một phần lấp đầy khoảng
trống nghiên cứu đó Đề tài nghiên cứu: “Thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam
thông qua công nghệ thông tin” được thực hiện nhằm đánh giá, xác định về vai trò
của CNTT đối với thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam,xem xét thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT ở Việt Nam, bên cạnh đó đề xuất các giải pháp để phát huy vai trò của CNTT cho thực hiên tăng trưởng xanh nói riêng và phát triển kinh tế ở Việt Nam nói chung
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
2.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở xem xét thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT ở Việt Nam, luận án đề xuất các giải pháp để phát huy vai trò của CNTT cho thực hiên tăng trưởng xanh nói riêng và phát triển kinh tế ở Việt Nam nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Hệ thống hóa và làm rõ lý luận về tăng trưởng xanh, vai trò và sự tham gia
Trang 10của CNTT trong việc thực hiện tăng trưởng xanh
- Nghiên cứu và rút ra những bài học kinh nghiệm về thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT tại một số quốc gia điển hình trên thế giới
- Làm rõ thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT ở Việt Nam, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đề xuất định hướng và các chính sách, giải pháp chủ yếu để nâng cao vai trò
và gia tăng thêm đóng góp của CNTT trong thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT ở Việt Nam trong đó tập trung vào vai trò, sự tham gia của CNTT cho việc thực hiện tăng trưởng xanh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian:
+ Về thực trạng: Nghiên cứu sẽ xem xét giai đoạn từ 2008 đến 6 tháng đầu năm 2018
+ Về tương lai: Nghiên cứu dự báo đến 2030
- Không gian: Thực trạng vai trò, sự tham gia của CNTT trong triển khai thực hiện tăng trưởng xanh trên lãnh thổ Việt Nam
- Cách tiếp cận liên ngành: Gắn nội dung chuyên ngành kinh tế phát triển với
Trang 11ngành môi trường: giảm phát thải, ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên đầu vào …
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp lấy số liệu, thông tin
Lấy số liệu, thông tin, tư liệu từ nguồn liệu thống kê chính thức, tư liệu kinh tế xã hội các tỉnh/thành phố và số liệu điều tra từ các nguồn thống kê chính thức
4.2.2 Các phương pháp xử lý số liệu, thông tin
- Phương pháp phân tích, thống kê
Nghiên cứu sử dụng số liệu phân tích thực trạng vai trò, sự tham gia của CNTT cho thực hiện tăng trưởng xanh Bên cạnh đó, nghiên cứu xem xét các kênh
mà CNTT có thể đóng góp cho tăng trưởng xanh
- Phương pháp so sánh đối chiếu
Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm quốc tế với Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phương pháp quy nạp
Từ thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu khái quát hóa thành các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, các yếu tố quan trọng cho thúc đẩy thực hiên tăng trưởng xanh thông qua CNTT tại Việt Nam và những nguyên nhân, hậu quả, hạn chế đang cản trở vai trò, sự tham gia của yếu tố CNTT tới thực hiện tăng trưởng xanh
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Về mặt lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tăng trưởng xanh, vai trò và sự tham gia của CNTT trong việc thực hiện tăng trưởng xanh Đưa ra được khung phân tích thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT Xây dựng được hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT
- Về mặt thực tiễn, từ nghiên cứu và rút ra những bài học kinh nghiệm về thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT tại một số quốc gia điển hình trên thế giới, từ thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT ở Việt Nam, luận án chỉ ra được một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, cùng với tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn làm căn cứ và cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp giải pháp chủ yếu để nâng cao vai trò và gia tăng thêm đóng góp của CNTT trong thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam
- Về mặt chính sách, từ kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số giải pháp
và kiến nghị góp phần phát huy vai trò và gia tăng thêm đóng góp của CNTT trong
Trang 12thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam trong thời gian tới
- Về mặt học thuật, luận án là tài liệu tham khảo cho các tổ chức kinh tế, các nhà hoạch định chính sách, cơ quan QLNN, tổ chức KH&CN, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và những người quan tâm đến chủ đề các yếu tố tác động đến thực hiện tăng trưởng xanh và vai trò của sự phát triển CNTT đối với tăng trưởng kinh tế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về khoa học: Cung cấp cơ sở khoa học nhằm đổi mới nhận thức, đánh giá đúng vai trò và sự tham gia của CNTT trong việc thực hiện tăng trưởng xanh đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể áp dụng để tham khảo trong đổi mới chính sách với những giải pháp nhằm đánh giá, sử dụng CNTT như một nền tảng phục vụ, thúc đẩy cho thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài danh mục các từ viết tắt; danh mục các bảng, các hình; danh mục tài liệu tham khảo; phần nội dung của đề tài gồm mở đầu; 04 chương và kết luận:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin
Chương 3: Thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin ở Việt Nam
Chương 4: Giải pháp thúc đẩy thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin ở Việt Nam
Kết luận
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Tăng trưởng xanh
Cho tới bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn về tăng trưởng xanh trong các cuộc bàn luận chính sách và trong công chúng Khái niệm này có thể có phạm
vi hẹp đáp ứng một yêu cầu cụ thể như cải thiện môi trường đến sự kết hợp giữa giảm phát thải với tăng trưởng, đến một kế hoạch toàn diện nhằm cải thiện tính hiệu quả và tính bền vững về tài nguyên môi trường
Ý tưởng về tăng trưởng xanh bắt đầu từ thập kỷ 1970 do áp lực của khủng hoảng năng lượng 1972-1973 Từ cuối năm 2008, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã phát động “Sáng kiến kinh tế xanh” với mục tiêu tăng cường phối hợp và hợp tác quốc tế ứng phó với khủng hoảng tài chính đi đôi với xử lý các vấn đề toàn cầu nhằm hướng tới phát triển bền vững của kinh tế thế giới hậu khủng hoảng
Vấn đề tăng trưởng xanh gần đây cũng được nêu đậm tại nhiều khuôn khổ hợp tác (G8, ESCAP ) và diễn đàn quốc tế (Hội nghị Bác Ngao, Tương lai Châu
Á, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) ) Hội nghị Thượng đỉnh G8 (Italia, ngày 10/7/2009) nhấn mạnh các biện pháp kích thích kinh tế của G8 phải ưu tiên khuyến khích tạo việc làm “xanh” và hướng tới tăng trưởng bền vững, sử dụng hiệu quả năng lượng; cam kết nỗ lực giảm hoặc dỡ bỏ các rào cản đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan trực tiếp đến ứng phó biến đổi khí hậu, v.v
8-Tăng trưởng xanh từ chỗ là ý tưởng lồng ghép các vấn đề môi trường vào nền kinh tế, ngày nay đã trở thành mô hình tăng trưởng kinh tế mới, được nhiều nước đưa vào thực tiễn và các tổ chức quốc tế khuyến nghị, hỗ trợ thực hiện
Tăng trưởng xanh là “quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ
tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội” (UNEP)
Tăng trưởng xanh là phương thức phát triển kinh tế bền vững, là một bộ phận của phát triển bền vững, không đồng nghĩa và không thay thế phát triển bền vững Chuyển sang tăng trưởng xanh là chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế
Theo Liên Hợp quốc (UN) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) trong
nghiên cứu Tăng trưởng xanh, Tài nguyên và ứng phó: Tính bền vững môi trường ở
khu vực châu Á và Thái Bình Dương (Green Growth, Resources and Resilience:
Trang 14Environmental Sustainability in Asia and the Pacific) (2012) đã đưa ra quan điểm
tăng trưởng xanh là “phát triển kinh tế gìn giữ môi trường bền vững, ít các bon và
phát triển xã hội toàn diện” Nghiên cứu cũng trình bày tăng trưởng xanh và nền
kinh tế xanh như một mô hình phát triển mới, trong đó phát triển kinh tế và bền vững môi trường củng cố lẫn nhau Nó đòi hỏi “chiến lược tổng hợp hỗ trợ cho thay đổi về hệ thống theo cách tích hợp, bổ sung và củng cố lẫn nhau”1
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), trong Báo cáo tạm thời
của Chiến lược Tăng trưởng xanh: Thực hiện cam kết của chúng ta cho một tương lai bền vững (2010) đã đưa ra khái niệm: “Tăng trưởng xanh là một phương thức theo đuổi tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khi ngăn chặn suy thoái môi trường, mất đa dạng sinh thái và sử dụng tài nguyên thiên nhiên không bền vững
Nó được xây dựng dựa trên các sáng kiến phát triển bền vững tại nhiều quốc gia và nhằm mục đích xác định các nguồn lực sạch hơn để tăng trưởng, bao gồm nắm bắt
cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp, công việc và công nghệ xanh mới, trong khi cũng quản lý những thay đổi cấu trúc liên quan đến việc chuyển đổi sang
Khu vực Châu Á Thái Bình Dương như một tổng thể đã sáng lập và nuôi dưỡng tăng trưởng xanh Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (NESCAP) đi đầu trong việc vận động nâng cao nhận thức và
hỗ trợ cho tăng trưởng xanh trong và ngoài khu vực thông qua các hội nghị, nâng cao nhận thức, được ủng hộ và cam kết về các chương trình và các hoạt động thuộc chủ đề này trong khu vực
Các khái niệm về tăng trưởng xanh đã đạt được tăng trưởng đáng kể từ các sáng kiến trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương
NESCAP đã định nghĩa: “Tăng trưởng xanh là chiến lược tìm kiếm sự tối đa
hoá trong sản lượng kinh tế và tối thiểu hoá gánh nặng sinh thái Cách tiếp cận mới tìm kiếm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi trường bằng việc thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng xã hội”
Trung tâm đào tạo CNTT và Truyền thông Châu Á - Thái Bình Dương của
Liên hợp quốc (UN-APCICT) xuất bản học phần 10 (module10) Công nghệ thông
tin và truyền thông, Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng Xanh (Module 10 - ICT,
Trang 15Climate Change and Green Growth) năm trong bộ tài liệu bộ tài liệu “Academy of ICT Essentials for Government Leaders” Tài liệu đã đưa ra định nghĩa về tăng
trưởng xanh là “tập trung nhấn mạnh vào phát triển kinh tế bền vững với môi
trường để thúc đẩy phát triển toàn diện về xã hội và ít các bon”
Theo bài viết Tăng trưởng xanh, chính sách quốc gia của Hàn Quốc, đạt
được chú ý toàn cầu của Stacy Feldman, đã xem xét môi trường như một đối tác,
việc đầu tư được khuyến khích vào những hoạt động kinh tế mà nó thiết lập và tăng
cường nguồn vốn tự nhiên của trái đất “Tăng trưởng xanh tập trung vào việc giảm
sự khan hiếm về sinh thái và hiểm họa về môi trường, thúc đẩy quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp một cách bền vững Tăng trưởng xanh cũng bao gồm các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm năng lượng, chẳng hạn như sự phát triển của năng lượng tái tạo, giao thông ít các bon và các tòa nhà sử dụng năng lượng và nước hiệu quả”
Về cơ bản, ý tưởng này là mô hình mới để điều hành nền kinh tế theo cách hạn chế suy thoái môi trường và đảm bảo sự thịnh vượng.3
1.1.2 Công nghệ thông tin
Công nghệ Thông tin (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một
nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.4
Thuật ngữ "Công nghệ thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết
xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt và
Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là
công nghệ thông tin (Information Technology - IT)" 5
Các lĩnh vực chính của CNTT bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông.6 Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của CNTT như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây,
hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác Các nghiên cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính
Trang 161.1.3 Về các yếu tố ảnh hưởng
Năm 2005, nhân dịp Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm về Môi trường và Phát triển đã diễn ra tại Seoul, UNESCAP nhận một nhiệm vụ để thúc đẩy tăng trưởng xanh như một chiến lược để đạt được phát triển bền vững cùng lúc đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) thứ nhất về giảm nghèo và thứ 7 về bền vững môi trường7
Kết quả của hội nghị là sự thống nhất về một kế hoạch thực hiện trong khu vực
để phát triển bền vững khu vực Châu Á Thái Bình Dương Kế hoạch kêu gọi cải thiện môi trường bền vững; tăng cường hoạt động môi trường; thúc đẩy bảo vệ môi trường như một cơ hội để sự tăng trưởng kinh tế bền vững; tích hợp DRM (Disaster Risk Management - quản lý rủi ro thiên tai) vào các chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Một Tuyên bố chung của các Bộ trưởng về Môi trường và Phát triển ở châu Á và Thái Bình Dương đã được thống nhất Sáng kiến Seoul về tăng trưởng xanh cũng được thống nhất Sáng kiến này thiết lập một số mục tiêu như sau:
(1) Nâng cao hiệu quả sinh thái cho môi trường bền vững
(2) Tăng cường hoạt động môi trường
(3) Tăng cường bảo vệ môi trường như một cơ hội để phát triển bền vững (4) Tích hợp DRM và chuẩn bị sẵn sàng các chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Từ hội nghị này, một số chương trình và các hoạt động trong khu vực đã được đưa ra để giúp đạt được các mục tiêu đã được thống nhất trong năm 2005 Chúng bao gồm các sáng kiến khu vực và quốc tế sau đây:
(1) Chương trình Biến đổi khí hậu của ADB, Sáng kiến hiệu quả năng lượng, Sáng kiến thị trường các bon, Sáng kiến giao thông bền vững và Sáng kiến phát triển các Thành phố châu Á
(2) Đề xuất của Liên Hiệp Quốc về Khế ước xanh (Green New Deal)
(3) Sáng kiến Kinh tế xanh của UNEP
(4) Sáng kiến Công việc xanh được dẫn dắt bởi UNEP, Tổ chức Lao động Quốc tế, Tổ chức Sử dụng lao động Quốc tế và Liên đoàn Nghiệp Đoàn Quốc tế Sáng kiến Công việc xanh đã thu hút sự quan tâm đến tiềm năng tạo ra việc làm xanh ở các quốc gia đang phát triển
Tháng 4 năm 2010, Hội nghị Thượng đỉnh các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) kết thúc tại Hà Nội đã thông qua Tuyên bố của các Nhà Lãnh đạo
7UNESCAP, Preview, Tăng trưởng xanh, tài nguyên và ứng phó Bền vững môi trường ở châu Á và Thái Bình Dương, 2010 (United Nations, 2010)
Trang 17ASEAN về Phục hồi và Phát triển bền vững Tài liệu tuyên bố cam kết của các nhà
lãnh đạo để “thúc đẩy tăng trưởng xanh, đầu tư vào bền vững môi trường trong dài
hạn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên nhằm đa dạng hoá và đảm bảo khả
Trong tháng 5 năm 2010, kỳ họp thứ sáu mươi sáu của Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á và Thái Bình Dương thông qua Tuyên bố Incheon về Tăng trưởng xanh
Nhiều quốc gia trong khu vực đã theo đuổi chính sách tăng trưởng xanh và cũng đã đầu tư vào các chiến lược và cải cách chính sách phù hợp với tăng trưởng xanh Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác tin rằng nền kinh tế xanh không còn là lựa chọn nữa9
Tăng trưởng xanh đã được Chính phủ Hàn Quốc lựa chọn như con đường phía trước trong một thế giới hạn chế tài nguyên Hàn Quốc đã thực hiện triệt để khái niệm bao gồm các mục tiêu trung tâm của phát triển bền vững là xóa đói giảm nghèo và phát triển con người Một số quốc gia trong khu vực như Campuchia, Fiji, Kazakhstan, Maldives và Mông Cổ đã thực hiện báo cáo về chính sách hỗ trợ tăng trưởng xanh
Hàn Quốc thể hiện quan điểm trong nghiên cứu Tăng trưởng xanh: Một con
như một “Mô hình mới để
tăng trưởng kinh tế” Nó tìm cách thoát khỏi sự mâu thuẫn giữa “xanh” và “tăng trưởng” và đạt được tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn duy trì tính toàn vẹn môi
trường Hàn Quốc sẽ sử dụng ý tưởng tăng trưởng xanh để cơ cấu lại và củng cố nền kinh tế, thay đổi mô hình tiêu thụ và sản xuất, tạo ra công việc xanh và các ngành công nghiệp xanh Tăng trưởng xanh sẽ là động lực chính cho sự thay đổi ở Hàn Quốc, từ các chính sách kinh tế đến cuộc sống của người dân
John A Mathews - Green growth strategies - Korean initiatives (Chiến lược
tăng trưởng xanh - sáng kiến của Hàn Quốc) đã chỉ ra Hàn Quốc đã bắt tay vào một chiến lược tăng trưởng xanh sâu rộng, hứa hẹn sẽ đặt nền móng cho một quá trình
chuyển đổi từ một hệ thống chủ yếu là “nâu” để một hệ thống công nghiệp xanh
Trong bài báo này, các tính năng chính trong phương pháp của Hàn Quốc để xây dựng
và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh được vạch ra, và những tiến bộ đạt được cho
Trang 18đến nay (2009-2012) được xem xét So sánh với chiến lược phát triển xanh của Trung Quốc, như thể hiện trong kế hoạch năm năm lần thứ 12 (2011-2015), trong đó cả hai chiến lược có liên quan tới chuyển dịch cơ cấu công nghiệp và xây dựng động cơ tăng trưởng mới được thiết kế để tạo ra nền tảng xuất khẩu của thế kỷ 21
1.1.4 Về vai trò của công nghệ thông tin đối với thực hiện tăng trưởng xanh
Trung tâm đào tạo CNTT và Truyền thông Châu Á - Thái Bình Dương của
Liên hợp quốc (UN-APCICT) xuất bản học phần 10 (module10) Công nghệ thông
tin và truyền thông, Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng Xanh (Module 10 - ICT,
Climate Change and Green Growth) năm trong bộ tài liệu bộ tài liệu “Academy of
ICT Essentials for Government Leaders” Tài liệu đề cập tổng quan đến vai trò của
CNTT với tăng trưởng xanh
Học phần này nói về vai trò của CNTT và truyền thông trong việc tăng cường khả năng và năng lực của con người để đối phó với tác động của biến đổi khí hậu và góp phần phát triển bền vững Đối phó với tác động của biến đổi khí hậu có nghĩa là hoặc giảm đáng kể hoặc loại bỏ tác động tiêu cực của nó đối với con người
và môi trường tự nhiên, điều này được gọi là giảm nhẹ biến đổi khí hậu Các nguyên tắc phát triển bền vững là một hướng dẫn quan trọng để đảm bảo việc sử dụng CNTT và truyền thông để giảm đi biến đổi khí hậu được thực hiện theo cách không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai
Học phần này tập trung vào vai trò của CNTT và truyền thông trong việc giảm nhẹ biến đổi khí hậu bằng cách áp dụng các hành động để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bằng cách áp dụng các hành động thích ứng với biến đổi khí hậu Vì khí hậu và môi trường có mối liên hệ nên học phần này cũng xem xét vai trò của CNTT và truyền thông trong việc giúp con người hiểu được môi trường xung quanh họ, đây kà điều kiện tiên quyết để giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu
Học phần này cũng xem xét vai trò của CNTT và truyền thông trong giảm nhẹ nguy cơ thiên tai và quản lý rủi ro thiên tai, nó liên quan đến một số ứng dụng mới dựa trên CNTT và truyền thông
CNTT tạo điều kiện để thu được những hiệu quả mà rất nhiều sáng kiến tăng trưởng xanh phụ thuộc vào Một số biện pháp can thiệp thông minh được áp dụng cho tăng trưởng xanh đều thực hiện dựa trên CNTT
Những ứng dụng CNTT điển hình nhằm thúc đẩy sang kiến tăng trưởng xanh
về phương diện giảm phát thải khí nhà kính và tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, đó là:
(1) Lưới điện thông minh, có thể nhận ra nhờ sự phụ thuộc chủ yếu vào
Trang 19nhiên liệu hóa thạch để sản xuất điện và những hiệu quả quan trọng mà một hệ thống phát và phân phối điện dựa trên nền tảng CNTT Lưới điện thông minh rất cần thiết cho việc tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo và hướng đến một thị trường năng lượng hiệu quả
(2) Tòa nhà thông minh, do tầm quan trọng của các tòa nhà và tốc độ đô thị hoá nhanh trên toàn thế giới
(3) Hệ thống giao thông vận tải và hậu cần thông minh, bao gồm cả chuỗi cung ứng thông minh Những đổi mới định hướng CNTT sẽ làm cho việc kinh doanh hiệu quả về mặt năng lượng hơn
(4) Động cơ thông minh - tất cả các loại động cơ - hay bộ phận và ứng dụng được điều khiển bằng điện có thể được điều khiển bằng một bộ vi xử lý Điều này
có thể dẫn đến tiết kiệm năng lượng đáng kể và giảm phát thải khí nhà kính
(5) CNTT giúp mọi người tìm hiểu những hành vi của mình ảnh hưởng đến
sử dụng năng lượng, phát thải khí nhà kính và tác động đến môi trường Bằng cách cho phép hiển thị nhanh chóng sự nỗ lực, năng lượng và tài nguyên thiên nhiên tiêu thụ, chúng ta đang ở trong một vị trí tốt hơn để hiểu những tác động của hành vi của mình và thay đổi chúng cho phù hợp
Trong tài liệu Green IT: Reduce Your Information System's Environmental
Impact While Adding to the Bottom Line của Toby Velte, Anthony Velte, Robert C
Elsenpeter đã đề cập đến vấn đề làm sao để giảm tác động môi trường và chi phí cho cơ sở hạ tầng CNTT của các doanh nghiệp; các giải pháp mang tính đột phá được đề cập trong tài liệu cung cấp một lộ trình hoàn chỉnh cho việc tích hợp các kỹ thuật và công nghệ thân thiện môi trường vào kiến trúc hệ thống thông tin của các doanh nghiệp Tài liệu giải thích làm thế nào để áp dụng các sáng kiến xanh hướng kinh doanh và cung cấp một kế hoạch thực hiện chi tiết; các doanh nghiệp sẽ tìm thấy các chiến lược để giảm nhu cầu năng lượng, mua sắm năng lượng từ các nguồn thay thế, sử dụng công nghệ ảo hóa, quản lý và phát triển bền vững; nghiên cứu trường hợp nêu bật các dự án CNTT xanh thành công tại các tổ chức lớn; giữ cho
bộ phận CNTT của doanh nghiệp và tổ chức doanh nghiệp hoạt động trong màu xanh - cả môi trường và tài chính - với sự giúp đỡ từ các hướng dẫn toàn diện này
Tài liệu của nhóm tác giả Sunil Mithas, Jiban Khuntia, Prasanto K Roy -
Green Information Technology, Energy Efficiency, and Profits: Evidence from an Emerging Economy (International Conference on Information Systems 2010): Công nghệ thông tin xanh, năng lượng hiệu quả và lợi nhuận: Bằng chứng từ một
Trang 20nền kinh tế mới nổi là tài liệu trong Hội nghị Quốc tế về Hệ thống thông tin 2010
Các nghiên cứu trước cho rằng CNTT có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc
tăng trưởng bền vững và tăng trưởng "xanh hơn", nhưng ít người đã thực nghiệm
đánh giá việc áp dụng hiệu quả của các sáng kiến CNTT xanh ở cấp độ doanh nghiệp Nghiên cứu này khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện CNTT xanh tại các tổ chức; và hậu quả của việc thực hiện CNTT xanh về mặt bảo tồn năng lượng và lợi nhuận Dựa trên một cuộc khảo sát của 293 tổ chức ở Ấn Độ, nghiên cứu này thấy rằng cam kết quản lý đóng một vai trò quan trọng trong nhận thức về CNTT xanh trong một tổ chức Đổi lại, tầm quan trọng của nhận thức sáng kiến CNTT xanh trong một tổ chức có ảnh hưởng đến chi tiêu CNTT xanh như một tỷ lệ phần trăm của tổng chi tiêu CNTT xanh Trong số các tác động của việc thực hiện CNTT xanh, thực hiện CNTT xanh đang tích cực liên quan đến cắt giảm cao hơn trong các thiết bị CNTT tiêu thụ năng lượng và tác động lợi nhuận cao hơn Nghiên cứu này đưa ra thảo luận về ý nghĩa của việc nghiên cứu để đưa ra chính sách và thực hành quản lý, thiết kế và khuyến khích thực hiện các sáng kiến CNTT xanh cho môi trường bền vững
Jason Dedrick - Green IS: Concepts and Issues for Information Systems
Research (Communications of the Association for Information Systems 2010) (Hệ thống thông tin xanh: Các khái niệm và các vấn đề nghiên cứu hệ thống thông tin):
Trong khi nhận thức của công chúng về tính bền vững về môi trường ngày càng tăng, có mối quan tâm về các chi phí kinh tế của việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh Trong trường hợp của biến đổi khí hậu, một vấn đề quan trọng là mối quan hệ của sản lượng kinh tế phát thải khí nhà kính, đã được dán nhãn năng suất carbon Tăng năng suất cacbon có nghĩa là tăng trưởng kinh tế có thể được duy trì trong khi lượng khí thải được giảm CNTT có tiềm năng lớn để nâng cao năng suất carbon, như CNTT được sử dụng để nâng cao hiệu quả năng lượng của các tòa nhà, hệ thống giao thông vận tải, chuỗi cung ứng và lưới điện Mặt khác, việc sản xuất và
sử dụng máy tính là một phát triển nhanh thành phần của tiêu thụ năng lượng và phát thải khí nhà kính toàn cầu, một thực tế mà phải được cân bằng với lợi ích của ứng dụng CNTT Hệ thống thông tin xanh đề cập đến việc sử dụng các hệ thống thông tin để đạt được các mục tiêu về môi trường, trong khi CNTT xanh nhấn mạnh việc giảm tác động môi trường của sản xuất và sử dụng CNTT Bài viết này tập trung chủ yếu vào hệ thống thông tin xanh Nó nghiên cứu, trình bày một mô hình đầu tư CNTT và năng suất carbon, và đưa ra gợi ý cho nghiên cứu trong tương lai
Trang 21Martin I Hoffert, Ken Caldeira, Gregory Benford, David R Criswell, Christopher Green, Howard Herzog, Atul K Jain, Haroon S Kheshgi, Klaus S Lackner, John S Lewis, H Douglas Lightfoot, Wallace Manheimer, John C Mankins, Michael E Mauel, L John Perkins, Michael E
Schlesinger, Tyler Volk, Tom M L Wigley - Advanced Technology Paths to
Global Climate Stability: Energy for a Greenhouse Planet (Công nghệ tiên tiến để
ổn định khí hậu toàn cầu: Năng lượng cho một hành tinh xanh):
Trong nghiên cứu này, các tác giả khảo sát các nguồn năng lượng trong tương lai có thể, đánh giá về khả năng để cung cấp một lượng lớn năng lượng khí thải carbon và miễn phí cho tiềm năng cho quy mô lớn nhằm thương mại hóa Các nguồn năng lượng sơ cấp bao gồm năng lượng mặt trời và năng lượng gió trên đất liền, các vệ tinh năng lượng mặt trời, sinh khối, phân hạch hạt nhân, phản ứng tổng hợp hạt nhân và các nhiên liệu hóa thạch mà từ đó carbon đã được cô lập Công nghệ có thể góp phần vào ổn định khí hậu bao gồm những cải tiến hiệu quả, sản xuất hydro, lưu trữ và vận chuyển, siêu lưới điện toàn cầu và địa kỹ thuật Tất cả những phương pháp hiện có thiếu sót nghiêm trọng làm hạn chế khả năng của mình
để ổn định khí hậu toàn cầu Các tác giả kết luận rằng một loạt các nghiên cứu và phát triển chuyên sâu là rất cần thiết để sản xuất lựa chọn công nghệ có thể cho phép cả hai ổn định khí hậu và phát triển kinh tế
Alemayehu Molla Vanessa Cooper Brian Corbitt Hepu Deng Konrad
Peszynski Siddhi Pittayachawan Say Yen Teoh - E-Readiness to G-Readiness:
Developing a Green Information Technology Readiness Framework (Phát triển một khung công nghệ thông tin xanh): Nghiên cứu này đã chỉ ra các doanh nghiệp đang
chịu áp lực ngày càng tăng từ các đối thủ, nhà quản lý và các nhóm cộng đồng để thực hiện các hoạt động kinh doanh bền vững Cân bằng về kinh tế và môi trường xanh do đó là một vấn đề chiến lược quan trọng Các cuộc thảo luận tăng về CNTT
xanh đã gây ra sự quan tâm của nghiên cứu này CNTT xanh gây ảnh hưởng không
chỉ công nghệ mà còn chiến lược cạnh tranh và thậm chí cả tính hợp pháp của một
số lựa chọn chiến lược kinh doanh Sự hiểu biết và tận dụng CNTT là quan trọng cho sự tiến bộ liên tục của doanh nghiệp Tuy nhiên, các nguyên tắc, thông lệ và giá
trị của CNTT xanh chưa được nghiên cứu Bài viết này giới thiệu các khái niệm của
CNTT xanh và mô tả những trụ cột chính của một khung tiếp cận để giúp các tổ chức đánh giá sự sẵn sàng cho việc áp dụng CNTT xanh Nếu không có một sự hiểu
biết rõ ràng về khung tiếp cận, các tổ chức sẽ tiếp cận các sáng kiến CNTT xanh
Trang 22trên quảng cáo và phần nào có những phản ứng không mong muốn
Nigel P Melville - Information systems innovation for environmental
sustainability (Đổi mới hệ thống thông tin cho sự bền vững môi trường): tài liệu đã
nêu ra rằng cuộc sống con người phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, trong đó, hầu hết đều đồng ý, là nhanh chóng xuống cấp Các doanh nghiệp kinh doanh là một hình thức của một tổ chức xã hội và đóng góp vào sự xấu đi của môi trường tự nhiên Các học giả ở các ngành khoa học hành chính xem xét những vấn đề về tổ chức và môi trường tự nhiên bao trùm nhưng đã bỏ qua nhiều quan điểm hệ thống thông tin Ở nghiên cứu này phát triển một chương trình nghiên cứu về hệ thống thông tin đổi mới cho sự bền vững về môi trường Nghiên cứu này chứng tỏ vai trò quan trọng hệ thống thông tin trong việc định hình niềm tin về môi trường, trong việc cho phép và chuyển quy trình bền vững và thực tiễn trong tổ chức, và trong việc cải thiện hiệu suất môi trường và kinh tế Niềm tin, kết quả và khuôn khổ chương trình nghiên cứu liên quan đến cung cấp cơ sở cho một bài giảng mới trên
hệ thống thông tin cho sự bền vững môi trường
Yong Ho Shim, Ki Youn Kim, Ji Yeon Cho, Jin Kyung Park and Bong Gyou
Lee - Strategic Priority of Green ICT Policy in Korea: Applying Analytic Hierarchy
Process (Chiến lược ưu tiên của chính sách công nghệ thông tin xanh ở Hàn Quốc)
là nghiên cứu xem xét ưu tiên các mục tiêu cơ bản để tăng hiệu quả của chính sách CNTT xanh Gần đây một số nghiên cứu đã được công bố rằng CNTT có liên quan đến biến đổi khí hậu Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trước đây được giới hạn luật định trong công nghiệp và chính sách hướng đến CNTT xanh Bài viết này phân tích quá trình hoạch định chính sách CNTT xanh hiện nay có hệ thống Như một kết quả của các phân tích của Hàn Quốc về chính sách CNTT xanh, những nội dung sau đây nổi lên như là những vấn đề quan trọng để thực hiện chính sách CNTT xanh: sinh thái thân thiện, công nghệ tiến hóa, hiệu quả kinh tế, hiệu quả năng lượng, và nguồn cung cấp ổn định của năng lượng Đây là một nghiên cứu ban đầu phân tích chính sách CNTT xanh, trong đó cung cấp một khuôn khổ nghiên cứu
có thể được sử dụng một hướng dẫn để thiết lập chính sách CNTT xanh
Bên cạnh đó, có nhiều trang thông tin điện tử (Website) các phương tiện truyền thông khác, đặc biệt là các trang, mục chuyên cũng thường xuyên đề cập đến vấn đề này
Trang 231.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Tăng trưởng xanh
Hiện nay các cơ quan Liên hợp quốc có hàng loạt sáng kiến thúc đẩy hướng tới tăng trưởng xanh và đang thu được kết quả tốt đẹp như: Nông nghiệp thông minh với khí hậu (FAO phát động), Đầu tư công nghệ sạch (WB), Việc làm xanh (ILO), Kinh tế xanh (UNEP), Giáo dục vì sự phát triển bền vững (UNESCO), Xanh hóa khu vực y tế (WHO), Thị trường công nghệ xanh (WIPO), Tiêu chuẩn CNTT xanh, Giải pháp năng lượng xanh (UN WTO), Sản xuất sạch hơn và hiệu quả nguồn tài nguyên (UNEP và UNIDO), Các thành phố và biến đổi khí hậu (UN-HABITAT), Tái chế tàu biển (IMO),…
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn (2011 - 2020) của Việt
Nam đã nêu: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu” phù hợp với định hướng
phát triển trên; do đó, Việt Nam có thể đề xuất để được tham gia vào các chương trình thúc đẩy tăng trưởng xanh của Liên hợp quốc
- Thứ nhất, Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên lợi thế so sánh cao, vị
trí địa chính trị quan trọng; về khách quan đang trở thành một trung tâm của vùng Đông Nam Á, với tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú (vốn tự nhiên) để hướng tới Tăng trưởng xanh
- Thứ hai, nguồn lực lao động của Việt Nam đang ở giai đoạn “dân số vàng”,
nhân dân Việt Nam có truyền thống cần cù lao động, sống giản dị và hài hòa với thiên nhiên theo truyền thống văn hóa phương Đông, có khả năng tiếp thu kỹ năng quản lý
để phát triển nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học công nghệ hiện đại cũng như các nguồn lực chủ yếu của tăng trưởng xanh
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và sau đó là Kết luận Hội nghị TƯ3 (khoá XI) đã xác định nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái
cơ cấu nền kinh tế nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững Con đường phát triển kinh tế bền vững mà cộng đồng quốc tế đang thừa nhận hiện nay là kinh tế xanh, hay gọi cách khác là tăng trưởng xanh
Xác định tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu ở Việt Nam Ngày 25/9/2012,
Trang 24Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg, Phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh Để thực hiện các mục tiêu của mình, Chiến lược xác định ba nhiệm vụ cơ bản: giảm cường độ phát thải khí nhà kính, thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; xanh hóa sản xuất; xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững và xây dựng 8 giải pháp thực hiện
Gần đây nhất, ngày 20/03/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 403/QĐ-TTg, Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 – 2020; gồm 4 chủ đề chính, 12 nhóm hoạt động và 66 nhiệm vụ hành động cụ thể Trong đó, 4 chủ đề chính gồm: xây dựng thể chế và kế hoạch tăng trưởng xanh tại địa phương; Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; thực hiện xanh hóa sản xuất; thực hiện xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững
Căn cứ vào Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, đến nay, có 15 tỉnh thành đã tiến hành xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh cấp địa phương với sự hỗ trợ của các cơ quan hợp tác quốc tế (Koica, UNDP, ADB, USAID, UN Habitat) và nguồn lực của địa phương, như: Quảng Ninh, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Đà Lạt, Bắc Ninh, Bến Tre, Đồng Nai, Đà Nẵng, Cần Thơ
1.2.2 Công nghệ thông tin
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết
Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương
pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".11
1.2.3 Về các yếu tố ảnh hưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2014 đã chuẩn bị một báo cáo “Biến đổi
khí hậu và tăng trưởng xanh” Tài liệu này đưa ra tổng quan về tác động của biến
đổi khí hậu; đưa ra phương pháp dự tính, đánh giá và ứng phó tác động của biến đổi khí hậu; tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển Tài liệu cũng nghiên cứu về tăng trưởng xanh và công tác ứng phó biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh tại Việt Nam
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã tổ
chức một hội thảo và xuất bản một Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Chiến lược
11 “Nghị quyết số 49/CP về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm 90” Chính phủ Việt Nam
Trang 25tăng trưởng xanh ở Việt Nam - Chương trình hành động và vai trò của các trường đại học và các viện nghiên cứu Tài liệu gồm các bài tham luận phản ánh các nội
dung về chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam; vai trò của các trường đại học và các viện nghiên cứu trong việc thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh; đề xuất các hướng, giải pháp về đổi mới mô hình tăng trưởng thông qua việc nâng cao vai trò
của các trường đại học và tổ chức nghiên cứu
Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản một cuốn kỷ yếu hội thảo Tái cấu
trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng xanh: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam vào năm 2012 Tài liệu gồm 18 bài tham luận tham dự hội thảo với các nội
dung chính sau: Tái cấu trúc nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, khuôn khổ lí thuyết và kinh nghiệm quốc tế về kinh tế xanh, hướng tới nền kinh tế - lựa chọn chính sách cho Việt Nam
Nhà xuất bản Hồng Đức đã xuất bản cuốn sách “Tăng trưởng xanh cho mọi
người : Con đường hướng tới phát triển bền vững” Đây là tài liệu gồm các báo cáo
khoa học đề cập tới các vấn đề liên quan tới tăng trưởng xanh và khuôn khổ phân tích để tăng trưởng xanh cho mọi người Trong đó phân tích rõ vấn đề tăng trưởng xanh tác động tới các công ty, người tiêu dùng và các nhà hoạch định chính sách thông qua cơ chế thị trường, phi thị trường, nguồn vốn nhân lực, vốn tự nhiên, vốn
cơ sở vật chất và qui trình thiết kế chiến lược tăng trưởng xanh
Tác giả Bùi Quang Tuấn và Vũ Tuấn Anh đã có bài báo khoa học về “Tăng
trưởng xanh : Cơ hội, thách thức và những định hướng thực hiện” đã được đăng tại
Tạp chí Phát triển bền vững Vùng, số 1, năm 2015 Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh hiện nay, bài báo khoa học đã nêu được những thách thức trong chuyển đổi mô hình công nghiệp cho thực hiện tăng trưởng xanh Từ đó, đề xuất những giải pháp, định hướng trong chuyển đổi mô hình công nghiệp cho thực hiện tăng trưởng xanh
Tác giả Vũ Tuấn Anh đã có bài báo khoa học về “Chuyển đổi mô hình tăng
trưởng kinh tế theo hướng Tăng trưởng xanh” đã được đăng tại Tạp chí nghiên cứu
kinh tế, số 2, năm 2015 Trên cơ sở phân tích bối cảnh, mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay, bài báo khoa học đề cập tới tính tất yếu của việc chuyển đổi mô hình kinh
tế theo hướng tăng trưởng xanh Từ đó đề xuất các giải pháp cho việc thực hiện chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh
Tác giả Nguyễn Thế Chinh đã có bài báo khoa học về “Chuyển đổi sang mô
hình kinh tế xanh và thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam” Bài viết phân tích sự
Trang 26cần thiết phải chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh ở Việt Nam và những khó khăn
và thách thức của Việt Nam trong việc thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia Trên cơ sở đó tác giả đưa ra những gợi ý về chính sách trong đó bên cạnh những kiến nghị chung, tác giả làm rõ những kiến nghị, đề xuất đối với ngành giáo dục và đào tạo
Hội thảo các nước Đông Á - Mỹ Latinh đã ban hành tài liệu Tái cơ cấu kinh
tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững tại Việt Nam
(2013) Trên cơ sở phân tích bối cảnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế tại Việt Nam và nội dung tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bài viết đã nêu được kết quả bước đầu và một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình tái cơ cấu kinh tế
Từ đó chỉ ra Tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và các nước thành viên Diễn đàn hợp tác Đông Á-Mỹ La tinh (FEALAC) trong tiến trình tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững
Một kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ của tập thể tác giả Vũ Tuấn Anh (chủ
biên), Bùi Quang Tuấn, Đào Hoàng Mai và Nguyễn Trung Thắng về “Tiến tới nền
kinh tế xanh ở Việt Nam – Xanh hóa sản xuất” đã được xuất bản vào tháng 10 năm
2015 Nghiên cứu đề cập tới một số vấn đề về tái cấu trúc các ngành sản xuất theo hướng tăng trưởng xanh để đáp ứng những yêu cầu cấp bách cho việc tìm kiếm và xây dựng một mô hình cho quá trình tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới Nghiên cứu tập trung vào 3 nhóm vấn đề lớn: Thứ nhất, xây dựng khung khổ lý luận cho mô hình tăng trưởng xanh và cơ sở lý luận và tái cơ cấu các ngành sản xuất theo mô hình tăng trưởng này, nghiên cứu cơ sở thực hiện của tái cơ cấu ngành sản xuất theo hướng tăng trưởng xanh; Thứ hai, đánh giá thực trạng các ngành sản xuất theo hệ quan điểm tăng trưởng xanh, phân tích chính sách công nghiệp trong lồng ghép tăng trưởng xanh thời gian qua; Thứ ba, một số giải pháp tái
cơ cấu ngành sản xuất theo mô hình tăng trưởng xanh
1.2.4 Về vai trò của công nghệ thông tin đối với thực hiện tăng trưởng xanh
Công trình của Cha Hyunson, Phạm Mạnh Lâm, Nguyễn Quỳnh Anh “Phát
triển công nghệ thông tin xanh hướng tới tăng trưởng xanh ở Việt Nam” là một tài
liệu giới thiệu chiến lược phát triển CNTT xanh của Hàn Quốc, Nhật Bản, Đan Mạch Kinh nghiệm cắt giảm khí thải của Hàn Quốc Hiện trạng phát triển và các khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển CNTT xanh ở Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh (chủ biên), Nguyễn Việt Hùng, Giang
Trang 27Thanh Long về “Ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế” là một
tài liệu trình bày tổng quan, nhìn lại kinh tế Việt Nam trong hai thập kỉ qua: 2004; ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng các ngành sản xuất và tăng
1985-trưởng năng suất, tiến bộ công nghệ và hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp
1.3 Bình luận, đánh giá
Hiện nay những nghiên cứu cả trong nước và ngoài nước về tăng trưởng xanh, quá trình thực hiện tăng trưởng xanh (chuyển đổi từ tăng trưởng nâu sang tăng trưởng xanh nói chung và thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT nói riêng) còn chưa nhiều Các nghiên cứu đều đã thống nhất rằng thực hiện tăng trưởng xanh có thể dẫn tới phát triển bền vững
Các nghiên cứu đã chỉ ra có nhiều cách thức, con đường, nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động đến việc thực hiện tăng trưởng xanh như: vốn, lao động, thế chế và công nghệ Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đưa ra luận điểm, thực hiện tăng trưởng xanh dựa trên cơ sở của các thành tựu của CNTT như là một phương thức bắt buộc cần phải có Các nghiên cứu đề cập đến giải pháp thực hiện tăng trưởng xanh chưa nhiều, đặc biệt là nhóm giải pháp phát triển ngành công nghiệp CNTT; sử dụng các ứng dung, thành tựu CNTT cho phát triển các nguồn lực khác gián tiếp cho tăng trưởng xanh và đặc biệt là những ứng dụng CNTT mới trực tiếp tác động đến thực hiện tăng trưởng xanh là còn ít và hầu như là chưa có
Do vậy, khoảng trống nghiên cứu hiện nay là lớn và mối quan hệ giữa ngành công nghiệp CNTT, ứng dụng CNTT với tăng trưởng xanh; việc phát triển ngành CNTT và đẩy mạnh sử dụng các ứng dụng CNTT nhẳm thúc đẩy thực hiện tăng trưởng xanh, xem xét vai trò của CNTT đối với tăng trưởng xanh cũng nằm trong khoảng trống đó Vì vậy, đây là lý do để luận án này được đề xuất thực hiện nhằm góp phần lấp đầy khoảng trống nghiên cứu đó
Trang 28CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH THÔNG QUA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2.1 Các khái niệm
2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng xanh
2.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia Để đo lường kết quả sản xuất xã hội hàng năm, dùng làm thước đo so sánh quốc tế về mặt lượng của trình độ phát triển kinh tế giữa các nước, các nước có nền kinh tế thị trường vẫn thường sử dụng 2 loại chỉ tiêu kinh tế tổng hợp GNP và GDP Hai chỉ tiêu này khi sử dụng có tác dụng khác nhau, GNP phản ánh quá trình gia tăng giá trị tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ của quốc gia đối với các nước
có nền kinh tế mở đã khá phát triển, còn GDP phản ánh quá trình gia tăng giá trị tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ của quốc gia đối với những nước có nền kinh tế khép kín hoặc đã mở nhưng còn chậm phát triển; và do đó cùng dẫn theo mức tăng tương ứng của các chỉ tiêu đó tính theo bình quân đầu người dân Các chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng sản xuất hàng hoá và dịch vụ của mỗi quốc gia sau một giai đoạn nhất định nào đó được biểu thị bằng chỉ số % (thường là 1 năm)
Tăng trưởng kinh tế là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng qui mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nh-ưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng
Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần
về mặt số lượng; đây là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực, mặc dù nó cũng giúp cho xã hội có thêm các điều kiện vật chất cụ thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của công dân, của xã hội
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kì sau so với thời kì trước:
Yo: Tổng sản lượng thời kì trước
Y1: Tổng sản lượng thời kì sau
Mức tăng trưởng tuyệt đổi : delta = Y1 - Yo
Mức Tăng trưởng tương đổi: = Y1/ Yo
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự tăng lên về sản lượng hằng năm do nền kinh tế tạo ra Do vậy thước đo của sự tăng trưởng là các đại lượng sau: Tổng sản phẩm
Trang 29trong nước (GDP); tổng sản phẩm quốc dân (GNP); sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP); thu nhập quốc dân sản xuất (NI) và thu nhập quốc dân sử dụng (NDI)
- Tổng sản phẩm trong nước (Tổng sản phẩm quốc nội - GDP):
GDP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ mới được tạo ra trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Đại lượng này thường được tiếp cận theo các cách khác nhau:
Về phương diện sản xuất:
Tổng giá trị gia tăng của các ngành, các khu vực sản xuất và dịch vụ trong cả nước GDP = Giá trị tăng = Giá trị sản lượng - Chi phí các yếu tố trung gian(Y) (GO) (IC)
Về phương diện tiêu dùng : GDP = C + I + G + (X - M)
Trong đó:
C: Tiêu dùng các hộ gia đình
G: Các khoản chi tiêu của chính phủ
I: Tổng đầu tư- cho sản xuất của các doanh nghiệp
(X - M): Xuất khẩu ròng trong năm
Về phương diện thu nhập:
GDP là toàn bộ giá trị mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức Nhà nước thu được từ giá trị gia tăng đem lại
GDP = Cp + Ip + T
Trong đó:
Cp: các khoản chi tiêu mà các hộ gia đình được quyền tiêu dùng
Ip: Các khoản mà doanh nghiệp tiết kiệm được dùng để đầu tư
GDP theo cách xác định trên đã thể hiện một thước đo cho sự tăng trưởng kinh tế do các hoạt động kinh tế trong nước tạo ra, không phân biệt sở hữu trong hay ngoài nước với kết quả đó Do vậy, GDP phản ánh chủ yếu khả năng sản xuất của nền kinh tế một nước
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP):
GNP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ cuối cùng mà tất cả công dân một nước tạo ra và có thể thu nhập trong một năm, không phân biệt sản xuất được thực hiện trong nước hay ngoài nước
Như vậy GNP là thước đo sản lượng gia tăng mà nhân dân của một nước thực sự thu nhập được
GNP = GDP + Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài
Với ý nghĩa là thước đo tổng thu nhập của nền kinh tế, sự gia tăng thêm GNP
Trang 30thực tế đó chính là sự gia tăng tăng trưởng kinh tế, nó nói lên hiệu quả của các hoạt động kinh tế đem lại
GNP thực tế là GNP được tính theo giá trị cố định nhằm phản ảnh đúng sản lư-ợng gia tăng hàng năm loại trừ những sai lệch do sự biến động giá cả (lạm phát) tạo ra, khi tính GNP theo giá thị trường thì đó là GNP danh nghĩa
Hệ số giảm phát là tỷ lệ GNP danh nghĩa và GNP tực tế ở cùng một thời điểm Dùng hệ số giảm phát để điều chỉnh GNP danh nghĩa ở thời điểm gốc, để xác định mức tăng trưởng thực tế và tốc độ tăng trư-ởng qua các thời điểm
- Sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP):
NNP là giá trị còn lại của GNP, sau khi đã trừ đi giá trị khấu hao tài sản cố định (Dp)
NNP = GNP - Dp
NNP phản ánh phần của cải thực sự mới được tạo ra hàng năm
- Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI):
NDP là phần mà nhân dân nhận được và có thể tiêu dùng, là phần thu nhập ròng sau khi trừ đi thuế (trực thu và thuế gián thu) (Ti+Td) cộng với trợ cấp (Sd):
NDI = NNP - (Ti+Td) + Sd
Mục đích đưa ra các thước đo là để tiếp cận tới các trạng thái phát triển của nền kinh tế, mỗi thước đo đều có ý nghĩa nhất định và được sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu Mặc dù đó là các thước đo phổ biến nhất hiện nay, nhưng đó chỉ là những con số xấp xỉ về các trạng thái và tốc độ biến đối trong phát triển kinh
tế, vì bản thân các thước đo đó chưa thể phản ánh hết được các sự kiện phát triển cả mặt tốt lẫn mặt chưa tốt Chẳng hạn như các sản phẩm tự túc, công việc nội trợ gia đình, thời gian nghỉ ngơi, sự tự do, thoải mái trong đời sống sinh hoạt, sự tổn hại do
bị ô nhiễm môi trường thì được tính bằng cách nào
2.1.1.2 Tăng trưởng xanh
Vấn đề tái cấu trúc ngành sản xuất theo hướng tăng trưởng xanh trên thế giới
đã được đặt ra trước đây khá lâu, từ những năm 1990 Tuy nhiên, bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009 cũng như các vấn đề về cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và về những thay đổi càng ngày càng trầm trọng đi của khí hậu và môi trường trên thế giới đã làm cho chủ đề này trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu trong những chương trình nghị sự của nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế
Các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách quốc tế và
Trang 31trong nước đã có những nỗ lực nhất định trong việc tìm kiếm, xây dựng một mô hình tăng trưởng mới có tính bền vững cao hơn, trong đó tích hợp cả những vấn đề môi trường và xã hội, thay thế cho mô hình phát triển hiện tại vốn ẩn chứa nhiều bất
ổn Những nỗ lực này trước hết bắt nguồn từ những khiếm khuyết của nền kinh tế hiện tại qua hai cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu trong hơn thập kỷ phát triển vừa qua Bên cạnh đó nó cũng bắt nguồn từ sự thay đổi nhận thức trước sức ép
về vấn đề môi trường, về vấn đề cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Những giải pháp ban đầu cơ bản tập trung cho việc giải quyết vẫn đề biến đổi khí hậu, hậu quả của hành vi phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính trong sản xuất công nghiệp và trong đời sống Đây là hệ quả của việc phân bổ nguồn lực quá mức cho việc phát triển kinh tế và đặc biệt là cho quá trình công nghiệp hóa Trong giới hạn về công nghiệp sản xuất, hàng hóa được sản xuất với quy
mô lớn hơn, số lượng nhiều hơn nhưng cũng tiêu hao nhiều nguồn lực sản xuất, đặc biệt là tài nguyên không thể tái tạo Trên hết, người ta dễ dàng quan sát thấy tác hại của việc sản xuất theo mô hình tăng trưởng hiện tại đến môi trường sống xung quanh Nguồn nước, nguồn không khí bị ô nhiễm, tài nguyên rừng, biển bị khai thác kiệt quệ và sử dụng lãng phí Nước biển dâng do trái đất ấm lên, hệ quả của việc phát thải các loại khí nhà kính, đe dọa sinh kế của hàng tiệu người dân vùng duyên hải, đặc biệt là những người dân ở các nước nghèo
Tập trung vào việc kiểm soát và hạn chế phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính đã dẫn tới sự ra đời của Nghị định thư Kyoto (khởi đầu năm 1997 và có hiệu lực từ năm 2005) Trên cơ sở sự đồng thuận giữa các quốc gia, hệ thống các nghiên cứu và các chính sách thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp theo hướng thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, đã được triển khai Đây là khởi
nguồn của những thuật ngữ “sinh thái” (eco) trong đời sống kinh tế - xã hội
Phát triển sản xuất và tiêu dùng thân thiện với môi trường là cơ sở để các quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển, theo đuổi mô hình tăng trưởng mới Một
mô hình dành sự ưu tiên phân bổ nguồn lực nhiều hơn cho các ngành thân thiện với môi trường trong cơ cấu kinh tế, tạo ra những nguồn lực mới cho sự phát triển Đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất năng lượng, một lĩnh vực thiết yếu đối với phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và cũng là một lĩnh vực gây ra những tổn hại to lớn đối với nguồn lực sản xuất như tài nguyên thiên nhiên, đã có những bước phát triển mạnh
mẽ trong thời gian qua Tiến bộ khoa học, công nghệ đã thúc đẩy sự hình thành và
Trang 32phát triển của những nguồn năng lượng mới như điện gió, điện mặt trời Sự phát triển của các tế bào quang điện trên cơ sở tia hồng ngoại mở ra cơ hội sản xuất điện
từ năng lượng mặt trời ở quy mô công nghiệp mang lại những hi vọng cho một nền năng lượng xanh trong lương lai
Bắt đầu vào khoảng năm 2000, một cách tiếp cận tổng thể đến mục tiêu phát triển bền vững đã hình thành và phát triển trên thế giới, bên cạnh cách tiếp cận riêng
rẽ theo từng ngành công nghiệp, từng lĩnh vực nói trên Đó là cách tiếp cận có tính tổng quát, xem xét tổng hợp các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường như là ba trụ cột quan trọng của mô hình tăng trưởng Một cách tiếp cận ở đó, yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội được xem xét toàn diện hơn Đây là cơ sở của việc ra đời khái niệm tăng trưởng xanh (Green Growth) và các nghiên cứu khuyến nghị chính sách, chiến lược khung, hành động khung theo dõi đánh giá việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh ở các quốc gia phát triển trên thế giới
Tăng trưởng xanh được hiểu là “đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong
khi vẫn đảm bảo rằng tự nhiên vẫn có đủ năng lực cung cấp các nguồn lực sản xuất
và vẫn duy trì môi trường sống” (Định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế - OECD)12 Khái niệm này cho thấy có sự thay đổi về nhận thức phát triển theo hướng cân bằng hơn giữa yếu tố đảm bảo cơ hội tiếp cận các nguồn lực sản xuất cho các thế hệ tương lai ở các quốc gia trên thế giới
Từ cuối năm 2008, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã
phát động Sáng kiến kinh tế xanh với mục tiêu tăng cường phối hợp và hợp tác
quốc tế ứng phó với khủng hoảng tài chính đi đôi với xử lý các vấn đề toàn cầu nhằm hướng tới phát triển bền vững của kinh tế thế giới hậu khủng hoảng Trong
đó đã nêu khái niệm về tăng trưởng xanh là “quá trình tái cơ cấu lại hoạt động
kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và
sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội”
Cũng theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), trong Báo cáo
tạm thời của Chiến lược Tăng trưởng xanh: Thực hiện cam kết của chúng ta cho một tương lai bền vững (2010) đã đưa ra khái niệm chi tiết hơn: “Tăng trưởng xanh
là một phương thức theo đuổi tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khi ngăn chặn suy thoái môi trường, mất đa dạng sinh thái và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
12 http://www.oecdobserver.org/news/fullstory.php/aid/3542/The_OECD_Green_Growth_Straegy.html
Trang 33không bền vững Nó được xây dựng dựa trên các sáng kiến phát triển bền vững tại nhiều quốc gia và nhằm mục đích xác định các nguồn lực sạch hơn để tăng trưởng, bao gồm nắm bắt cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp, công việc và công nghệ xanh mới, trong khi cũng quản lý những thay đổi cấu trúc liên quan đến việc
Theo Liên Hợp quốc (UN) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) trong
nghiên cứu Tăng trưởng xanh, Tài nguyên và ứng phó: Tính bền vững môi trường ở
khu vực châu Á và Thái Bình Dương (Green Growth, Resources and Resilience:
Environmental Sustainability in Asia and the Pacific) (2012) đã đưa ra quan điểm
tăng trưởng xanh là “phát triển kinh tế gìn giữ môi trường bền vững, ít các bon và
phát triển xã hội toàn diện” Nghiên cứu cũng trình bày tăng trưởng xanh và nền
kinh tế xanh như một mô hình phát triển mới, trong đó phát triển kinh tế và bền vững môi trường củng cố lẫn nhau Nó đòi hỏi “chiến lược tổng hợp hỗ trợ cho thay đổi về hệ thống theo cách tích hợp, bổ sung và củng cố lẫn nhau”14
Tăng trưởng xanh là “quá trình tái cơ cấu hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng
để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội”
Đây là định nghĩa của Tổ chức Sáng kiến tăng trưởng xanh của Liên hợp quốc Định nghĩa này gắn tăng trưởng xanh với quá trình tái cơ cấu kinh tế nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm bất công xã hội đồng thời giảm phát thải khí nhà kính
Đồng quan điểm này, các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới đã có
lý luận cũng như hành động cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh
Khu vực Châu Á Thái Bình Dương như một tổng thể đã sáng lập và nuôi dưỡng tăng trưởng xanh Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (UNESCAP) đi đầu trong việc vận động nâng cao nhận thức và
hỗ trợ cho tăng trưởng xanh trong và ngoài khu vực thông qua các hội nghị, nâng cao nhận thức, được ủng hộ và cam kết về các chương trình và các hoạt động thuộc chủ đề này trong khu vực
Các khái niệm về tăng trưởng xanh đã đạt được tăng trưởng đáng kể từ các
sáng kiến trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương Theo UNESCAP “tăng
Trang 34trưởng xanh là trọng tâm chính sách của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó nhấn mạnh quá trình phát triển kinh tế bền vững về môi trường, thúc đẩy phát thải các bon thấp và bao gồm cả phát triển xã hội”15.UNESCAP đã định
nghĩa: “Tăng trưởng xanh là chiến lược tìm kiếm sự tối đa hoá trong sản lượng
kinh tế và tối thiểu hoá gánh nặng sinh thái Cách tiếp cận mới tìm kiếm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi trường bằng việc thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng xã hội” Trên cơ sở đó,
UNESCAP đã kêu gọi Sáng kiến Seoul về Tăng trưởng xanh (2005)
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cùng với Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Liên hiệp tổ chức thương mại quốc tế (ITUC) đã đưa ra sáng kiến Công việc xanh năm 2008 Bản thân các nước thuộc tổ chức OECD đã thông qua Chiến lược tăng trưởng xanh trong khuổn khổ hội nghị Hội đồng bộ trưởng tại Hàn Quốc năm 2009 Cũng trong năm này, tại Hội nghị quốc tế về Công nghiệp xanh ở Châu Á, do Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) phối hợp tổ chức, 16 nước tham dự đã tuyên bố cam kết thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp xanh Mới đây, Hàn Quốc và Ngân hàng Thế giới (WB), trên cơ
sở biên bản ghi nhớ Washington, đã nhất trí tăng cường hợp tác trong việc giúp đỡ các nước đang phát triển theo đuổi chiến lược tăng trưởng xanh
Trung tâm đào tạo CNTT và Truyền thông Châu Á - Thái Bình Dương của
Liên hợp quốc (UN-APCICT) xuất bản học phần 10 (module10) Công nghệ thông
tin và truyền thông, Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng Xanh (Module 10 - ICT,
Climate Change and Green Growth) năm trong bộ tài liệu bộ tài liệu “Academy of
ICT Essentials for Government Leaders” Tài liệu đã đưa ra định nghĩa về tăng
trưởng xanh là “tập trung nhấn mạnh vào phát triển kinh tế bền vững với môi
trường để thúc đẩy phát triển toàn diện về xã hội và ít các bon”
Theo bài viết Tăng trưởng xanh, chính sách quốc gia của Hàn Quốc, đạt
được chú ý toàn cầu của Stacy Feldman, đã xem xét môi trường như một đối tác,
việc đầu tư được khuyến khích vào những hoạt động kinh tế mà nó thiết lập và tăng
cường nguồn vốn tự nhiên của trái đất “Tăng trưởng xanh tập trung vào việc giảm
sự khan hiếm về sinh thái và hiểm họa về môi trường, thúc đẩy quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp một cách bền vững Tăng trưởng xanh cũng bao gồm các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm năng lượng, chẳng hạn như sự phát triển của năng lượng tái tạo, giao thông ít các bon và các tòa nhà sử
15 http://www.greengrowth.org ,truy cập ngày 01/10/2011
Trang 35dụng năng lượng và nước hiệu quả”
Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các khái niệm như phát triển carbon thấp, kinh tế xanh, tăng trưởng xanh dần trở nên quen thuộc, quan trọng và
trở thành vấn đề hàng đầu trong các cuộc tranh luận chính sách toàn cầu (United
Nations Environment Programme [UNEP] 2011; Barbier 2010; World Bank, 2011)
Khái niệm tăng trưởng xanh thường đi đôi với khái niệm “carbon thấp” (low-carbon)
và được gọi là tăng trưởng xanh carbon thấp (low - carbon green growth)
Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa nào hoàn toàn chính xác và thống nhất về tăng trưởng xanh carbon thấp Sau đây là một số khái niệm đáng lưu ý:
- “Tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khi vẫn đảm bảo rằng thiên nhiên vẫn có thể cung cấp những nguồn lực và điều kiện
môi trường để con người có thể tồn tại” (Towards Green Growth, OECD
Ministerial Council Meeting, 2011.5);
- “Tăng trưởng xanh là đạt được tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn đảm bảo tính bền vững về khí hậu và môi trường, trong đó, tập trung hướng vào các nguyên nhân cốt lõi của những thách thức này trong khi vẫn đảm bảo được sự tạo lập các kênh cần thiết để phân bổ các nguồn lực Các ý tưởng mới, đổi mới chuyển đổi và
công nghệ hiện đại sẽ trở thành động lực chính cho sự phát triển” (Green Growth
in motion, GGGI, 2011.5);
- “Tăng trưởng xanh là nâng cao lợi ích con người và lợi ích xã hội trong khi vẫn giảm thiểu đáng kể rủi ro về môi trường và sự khan hiếm về sinh thái Đó là
carbon thấp, hiệu quả về sử dụng tài nguyên và bao hàm cả yếu tố xã hội” (Green
Economy Initiative, UNEP, 2011.8);
- “Tăng trưởng xanh là hiện thực tăng trưởng kinh tế để thỏa mãn nhu cầu năng lượng ngày một tăng lên trong khi giảm thiểu tối đa các tác động có hại cho môi trường Điều đó có thể được thực hiện thông qua sự phổ biến công nghệ và hệ thống năng lượng sạch Sự thích ứng với biến đổi khí hậu cũng là một mục tiêu
quan trọng” (The APEC Leaders' Growth Strategy, APEC, 2010.9)
Như vậy, dù là định nghĩa nào thì tăng trưởng xanh cũng bao hàm: Tăng trưởng kinh tế, bảo tồn đa đạng sinh học, môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Hay nói cách khác, nó là sự tương tác giữa hai hệ thống: môi trường và kinh tế một cách bền vững Nó làm cho đầu tư môi trường trở thành một động lực
để phát triển kinh tế, đồng thời, hướng tới tối đa hóa các cơ hội khai thác các
nguồn tài nguyên sạch hơn, từ đó “tách rời” áp lực về môi trường ra khỏi tăng
Trang 36Biến đổi
khí hậu
Phát triển kinh tế
Sử dụng bền vững tài nguyên
Quản lý các nguyên vật liệu bền vững
Đa dạng sinh học và dịch
vụ sinh thái
trưởng kinh tế (OECD, 2010)
Tăng trưởng xanh carbon thấp đòi hỏi mức độ cao hơn Đó là sự kết hợp giữa nâng cao chất lượng môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế
để đồng thời đạt được các mục tiêu, thu được các đồng lợi ích (co - benefits) bao gồm ô nhiễm ít hơn và bảo tồn được rừng, bảo đảm tính hiệu quả trong phát triển và nâng cao được chất lượng cuộc sống (Hình 2.2)
Nguồn: OECD, 2010
Hình 2.1 Các vấn đề môi trường cốt
yếu mà tăng trưởng xanh hướng đến
Nguồn: ADB - ADBI, 2013
Hình 2.2 Các cách tiếp cận của tăng trưởng xanh carbon thấp
Tăng trưởng xanh chính là chìa khóa để đạt được một nền kinh tế xanh Đó là một mô hình phát triển, trong đó, không chỉ cải thiện đời sống con người, giảm dần sự bất bình đẳng mà còn giảm thiểu rủi ro về môi trường và sự khan hiếm về sinh thái - một mô hình tăng trưởng carbon thấp, hiệu quả về sử dụng tài nguyên và toàn diện về
mặt xã hội (UNEP, 2011) Mô hình này đòi hỏi phải (i) sử dụng ít năng lượng hơn,
nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và chuyển sang nguồn năng lượng carbon thấp, (ii) bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, (iii) thiết kế và phổ biến công nghệ carbon thấp vào các mô hình kinh doanh nhằm phục hồi kinh tế địa phương,và (iv) thực hiện chính sách
và ưu đãi nhằm khuyến khích áp dụng công nghệ carbon thấp(ADB - ADBI, 2013)
Tóm lại, tăng trưởng xanh là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất và tất yếu
để giải quyết các khó khăn, vượt qua các thách thức trước mắt và lâu dài của cả các nước phát triển và các nước đang phát triển Trong đó, việc thúc đẩy thay đổi và cải tiến công nghệ là chìa khóa để đạt được tăng trưởng xanh cho các quốc gia, đặt biệt
là các nước đang phát triển
Từ các trình bày, phân tích nêu trên, tác giả luận án đưa ra khái niệm như
Ứng phó với biến đổi khí hậu Đồng lợi ích
Hiệu quả của phát triển Tăng trưởng xanh carbon thấp Cải thiện
chất lượng môi trường Chất lượng cuộc sống
Phát triển
xã hội
Tăng trưởng toàn diện
Trang 37sau: Tăng trưởng xanh được coi là quá trình xây dựng nên kinh tế nhằm nâng cao đời sống xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro về môi trường và những tác động tiêu cực về sinh thái do hoạt động của con người Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng dựa trên sự điều chỉnh mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nên kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng một cách bền vững Cụ thể hơn, tăng trưởng xanh có thể được coi là một cuộc cách mạng phát triển mới mà vừa duy trì được tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn đảm bảo được sự bền vững của tài nguyên, môi trường và khí hậu
2.1.1.3 Sự khác biệt giữa tăng trưởng xanh và các mô hình tăng trưởng trước đây
“Xanh” là tính từ về màu sắc đặc trưng cho màu của tự nhiên, được gắn với danh từ về hoạt động phát triển của con người (kinh tế, tăng trưởng, sản xuất, tiêu dùng,…) để chỉ rằng các hoạt động này hướng tới giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường “Nâu” là tính từ về màu sắc và khi đi với danh từ về hoạt động phát triển thường có hàm ý ngược lại với xanh, là tiêu tốn nhiều nhưng kém hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, gây tổn hại tới tự nhiên, môi trường Ví dụ, phát triển nâu là hoạt động phát triển làm tổn hại, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường do thải nhiều chất thải không qua xử lý đáp ứng tiêu chuẩn môi trường Trong các tài liệu khoa học và trong thực tiễn quản lý phát triển,tính từ nâu ít được dùng và khi dùng thì thường hàm ý không thân thiện với tự nhiên, môi trường
Các mô hình phát triển kinh tế cũ được áp dụng chủ yếu tại các nước đang phát triển đặc điểm của các mô hình này này là chú trọng vào tăng trưởng GDP và thu nhập bình quân đầu người Tăng trưởng kinh tế theo mô hình phát triển kinh tế
cũ (tăng trưởng nâu) là dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có, phát triển kinh tế đồng nghĩa với khai thác và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, dẫn đến những hệ lụy: môi trường bị tàn phá nặng nề; cạn kiệt nguồn tài nguyên
Tăng trưởng xanh bao gồm nhiều phương hướng và ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế, mà tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi địa phương, mỗi thời
kỳ có thể chọn lựa để thực hiện Đó là: sử dụng năng lượng tái tạo và công nghệ carbon thấp thay thế cho nhiên liệu hóa thạch; giảm phá rừng và đẩy mạnh trồng rừng; phát triển nông nghiệp, thủy sản bền vững; sử dụng hợp lý và nâng cao hiệu
Trang 38quả sử dụng tài nguyên, trong đó quan trọng hàng đầu là tài nguyên nước; phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ bền vững, thân thiện môi trường, áp dụng các công nghệ tiên tiến tiết kiệm năng lượng và nguyên vật liệu, giảm rác thải và phát triển công nghệ tái chế và làm giàu tài nguyên; hình thành lối sống đô thị bền vững và phát triển các thành phố sinh thái, trong đó có hệ thống giao thông các bon thấp;
Có thể thấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong phát triển bền vững đã có những cụ thể hóa hơn Tăng trưởng kinh tế trong phát triển bền vững mới chỉ đặt ra nghiệp vụ đảm bảo cho các thế hệ hiện tại và tương lai có sự bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất Tăng trưởng xanh đến nay đã đặt ra nhiệm vụ cao hơn thế, đó là khai thác và phát triển các nguồn lực hiện có khó để các thế hệ sau có thể tiếp cận đến một số lượng lớn hơn các nguồn lực sản xuất cho phát triển Mục tiêu của tăng trưởng xanh không chỉ bao gồm tăng trưởng kinh tế thế mà còn tích hợp cả các mục tiêu đảm bảo tính bền vững của môi trường và phát triển xã hội, với hàm ý rằng cả ba trụ cột tăng trưởng cần được phát triển hài hòa
Như vậy, bản chất của tăng trưởng xanh khác với bản chất của các loại hình tăng trưởng trước đây Sự khác biệt nằm ở chỗ, tăng trưởng xanh không đặt ra hay nói chính xác hơn là không chấp nhận việc đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng với mục tiêu bảo vệ môi trường Quan điểm rằng ưu tiên cho phát triển kinh tế nhanh để tích lũy nguồn lực (chủ yếu là tích lũy vốn) và sử dụng nguồn lực tích lũy được đó
để quay lại tái tạo môi trường không tồn tại trong tăng trưởng xanh sự thay đổi quan điểm đó xuất phát từ thực tế cho thấy nhiều nguồn lực đã biến mất trong quá trình tăng trưởng kinh tế vừa qua và những nỗ lực sau đó nhằm tái tạo các nguồn lực này trên cơ sở tích lũy từ phát triển đã trở thành vô vọng
Trong mô hình tăng trưởng xanh, các quốc gia hướng tới sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái Ba trụ cột phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường được đặt cùng mức ưu tiên Tuân theo quy luật kinh tế, mô hình tăng trưởng xanh hướng tới việc tạo ra nhiều giá trị sử dụng hơn trên cơ sở sử dụng ít hơn các nguồn tài nguyên và gây ra ít hơn những thiệt hại cho môi trường sinh thái và cho các nguồn tài nguyên không thể tái tạo được Để đạt được mục tiêu này, cần có những xúc tác mới cho đầu tư và phát minh để tạo ra những cơ hội kinh tế mới Mặc dù còn là vấn đề mới về mặt cơ sở lý luận, tăng trưởng xanh đã được cộng đồng thế giới quan tâm và đề ra như một mô hình phát triển, một hướng đi cho thời kỳ mới, thời kỳ ứng phó với khủng hoảng kinh tế, tài nguyên và biến đổi khí hậu
Trang 392.1.2 Khái niệm công nghệ thông tin
Cuộc cách mạng CNTT diễn ra sôi động tác động sâu sắc và trực tiếp đến mọi hoạt động kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới, mở ra một thời kỳ phát triển mới khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI Nội dung chủ đạo của bước chuyển biến lần này là sự phát triển của nền văn minh công nghiệp tiến lên nền văn minh thông tin và trí tuệ, mà cơ sở của nó là sự phát triển từ nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế tri thức Về cơ bản, bước chuyển biến lần này được nảy sinh và thực hiện chủ yếu tại các nước đã có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, tác động của bước chuyển vĩ đại này đã lan toả nhanh chóng khắp các nước trên thế giới Xu thế này đang tạo ra những cơ hội to lớn và đồng thời cũng tạo ra những thách thức gay gắt cho các nước đang phát triển đang tìm đường công nghiệp hoá- hiện đại hoá nền kinh tế và xã hội của mình
Tại Việt Nam, CNTT mới được phổ biến rộng rãi từ khoảng năm 1997 Tại thời điểm đó, do đây là một khái niệm tương đối mới nên có nhiều định nghĩa khác nhau về nó Mặt khác đây là một khái niệm khá rộng, mỗi định nghĩa đưa ra thường phụ thuộc vào góc độ nhìn khái niệm này thế nào Do vậy hiện nay chưa có một khái niệm chung nhất về CNTT nhưng theo có thể xem xét tới một khái niệm có thể định nghĩa được về CNTT như sau:
CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là máy tính điện tử và các mạng viễn thông nhằm cung cấp các giải pháp toàn thể để tổ chức, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin gồm tri thức, sự kiện, số liệu âm thanh, hình ảnh Vì vậy, CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người
Tuy khái niệm thông tin rất phổ biến trong đời sống con người nhưng những nội dung khoa học chung nhất về thông tin và quá trình thông tin mới chỉ được bắt đầu được nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20, khi nhu cầu truyền tin của con người tăng rất nhanh Một trong những thành tựu đặc sắc của lý thuyết truyền tin là việc đưa ra khái niệm lượng
Trang 40thông tin Lý thuyết về lượng thông tin ra đời đã tạo nền móng cho con người phát hiện
ra thêm nhiều quy luật của thông tin và quá trình truyền tin Thông tin có nhiều loại khác nhau có thông tin là các số liệu, dữ liệu thu thập, điều tra, khảo sát Từ đó qua phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn
Trong giai đoạn mới của sự phát triển kinh tế và xã hội dưới tác động của CNTT, tri thức và ý tưởng sáng tạo đóng vai trò trung tâm có ý nghĩa quyết định Vì vậy hầu hết các quốc gia, các tổ chức, đơn vị đều hiểu rằng vị trí tương lai của họ trong thế giới và trên thị trường quốc tế phụ thuộc vào việc liệu họ có tận dụng được CNTT để phát triển một cách nhanh chóng mọi năng lực đổi mới nền sản xuất
và kinh tế của họ không Không những đối với các nước phát triển mà nhiều nước đang phát triền trong khu vực cũng có những chính sách mạnh mẽ phát triển CNTT trong những thập niên gần đây và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn
CNTT (tiếng Anh: InformationTechnology, viết tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn
Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin Vì lý do đó, những người làm việc trong ngành này thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant), và bộ phận của một công ty hay đại học chuyên làm việc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT
Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của chính phủ Việt Nam, như sau:
"CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội."
Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực
Theo định nghĩa này thì không thể nào có chuyên gia CNTT mà lại không hiểu biết về sử dụng máy tính và phần mềm máy tính
Theo Luật CNTT năm 2006 thì “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa
học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý,