1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn việt nam trên báo điện tử từ góc nhìn văn hóa việt (khảo sát trên các báo điện tử vietnamnet vn, ngoisao net, news zing vn giai đoạn từ năm 2014 2016)

284 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 284
Dung lượng 4,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều tác phẩm báo chí TPBC bị các nhà nghiên cứu và công chúng lên án gọi là “thảm họa” truyền thông là “bãi rác” và nơi bóp méo chân dung của giới NSBD, thiếu tầm nhìn văn hóa truyền t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG NGỌC VINH HẠNH

THÔNG TIN VỀ GIỚI NGHỆ SĨ BIỂU DIỄN VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA VIỆT

(Khảo sát trên các báo điện tử Vietnamnet.vn, Ngoisao.net, News.zing.vn

giai đoạn từ năm 2014 - 2016)

Ngành: BÁO CHÍ HỌC

Mã số: 9320101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH THÁI

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưng từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Hoàng Ngọc Vinh Hạnh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC ẢNH vi

DANH MỤC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THÔNG TIN 13

VỀ GIỚI NGHỆ SĨ BIỂU DIỄN TRÊN BÁO CHÍ 13

1.1 Nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa Việt Nam và báo chí Việt Nam 13

1.2 Nghiên cứu vấn đề truyền thông văn hóa nghệ thuật Việt Nam trên báo chí Việt Nam 16

1.3 Nghiên cứu vấn đề thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn trên báo chí 19

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GÓC NHÌN VĂN HÓA VIỆT VÀ VẤN ĐỀ THÔNG TIN VỀ GIỚI NGHỆ SĨ BIỂU DIỄN VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 39

2.1 Văn hóa và góc nhìn văn hóa Việt 39

2.2 Nghệ sĩ biểu diễn và nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam 48

2.3 Báo chí Việt Nam và nhiệm vụ truyền thông văn hóa Việt Nam 545

2.4 Báo điện tử và vấn đề thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam 57

Trang 4

2.5 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam trên báo điện tử từ góc nhìn văn hóa Việt 712

Tiểu kết Chương 2 79 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ GIỚI NGHỆ SĨ BIỂU DIỄN VIỆT NAM TRÊN VIETNAMNET.VN, NEWS.ZING.VN,

NGOISAO.NET TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA VIỆT 81

3.1 Khái quát báo điện tử là đối tượng được khảo sát 813.2 Khảo sát thực trạng thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam trên Vietnamnet.vn, News.zing.vn và Ngoisao.net từ góc nhìn văn hóa Việt 843.3 Đánh giá chất lượng thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam trên báo điện tử 126

Tiểu kết chương 3 135 CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN

VỀ GIỚI NGHỆ SĨ BIỂU DIỄN VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 1378

4.1 Vấn đề đặt ra trong việc thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam trên báo điện tử 13784.2 Giải pháp tăng cường chất lượng thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam trên báo điện tử 15960

Tiểu kết chương 4: 1789 KẾT LUẬN 17980 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1867 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.8

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Ngoisao Báo điện tử Ngoisao.net

NSBD VN Nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam

TTĐC Truyền thông đại chúng

VHNT Văn hóa nghệ thuật

VNN Báo điện tử Vietmamnet.vn

Zingnews Báo điện tử News.zing.vn

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Khảo sát mức độ quan tâm của công chúng tới thông tin về giới

NSBD VN theo độ tuổi 86

Bảng 3.2: Thống kê nội dung thông tin đăng tải trên báo điện tử 90

Bảng 3.3: Khảo sát lượt xem tin bài về Khánh Ly 91

Bảng 3.4: Khảo sát số lượng ảnh trong tin bài đăng trên báo điện tử 100

Bảng 3.5: Nội dung ảnh đăng trên các báo điện tử 101

Bảng 3.6: Khảo sát tin bài theo từ khóa trên báo điện tử 104

Bảng 3.7: Nguồn tin cho tin bài về giới NSBD VN trên báo điện tử 107

Bảng 3.8: So sánh nghệ sĩ Giang Hồng Ngọc và Hariwon 112

Bảng 3.9: Đánh giá của công chúng về hàm lượng thông tin giới NSBD VN trên báo điện tử 121

Bảng 3.10 Số lượng tin bài về NSBD VN trên báo điện tử năm 2016 123

Bảng 3.11: Phản hồi của công chúng với thông tin giới NSBD VN trên báo điện tử 124

Bảng 3.12: Đánh giá của công chúng về ảnh hưởng của NSBD VN thông qua tin bài về họ trên báo điện tử 125

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ tin bài về giới NSBD VN trong mục văn hóa – giải trí 89

Biểu đồ 3.2: Tần suất tin bài về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam 89

Biểu đồ 3.3: Thể loại báo chí sử dụng trong thông tin về giới NSBD VN 102

Biểu đồ 3.4: Nguồn tin cho thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử 106

DANH MỤC ẢNH Ảnh 3.1: Hình ảnh Ngọc Trinh và Hương Giang idol trên báo Ngoisao.net 94

Ảnh 3.2: Thông tin Ngọc Trinh đăng trên trang cá nhân được Zingnews khai thác 110

Ảnh 3.3: thống kê top KOLs có bài viết ảnh hưởng trong ngành luyện tập thể hình (gym) trong ngày 15/5/2015 116

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Mô hình quy trình thông tin của Stuart Hall 61

Hình 2.2: Mô hình hệ thống/kênh truyền thông phức hợp 62

Hình 2.3: Mô hình thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử 64

Hình 2.4: Mô hình Ozone 65

Hình 2.5: Mô hình cơ chế tác động của báo chí 72

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong bài nghiên cứu khoa học “Truyền thông văn hóa và văn hóa

truyền thông” đăng trên trang www.ajc.edu.vn ngày 22/04/2015, PGS.TS

Nguyễn Thị Minh Thái khẳng định: “Báo chí truyền thông (BCTT) của bất kỳ

quốc gia nào cũng có nhiệm vụ truyền thông về nền văn hóa của chính quốc

gia mình” [111] Báo chí Việt Nam hiện đại mặc nhiên phải truyền thông về

nền văn hóa Việt Nam với toàn bộ sinh hoạt văn hóa của người Việt

Từ sinh hoạt văn hóa truyền thống Việt Nam vốn thuộc v ng văn hóa phương Đông nông nghiệp điển hình Khi bị thực dân Pháp xâm lược và bị biến thành thuộc địa của Pháp, một cuộc giao lưu văn hóa Đông Tây đã xảy

ra, và dù muốn dù không, nền văn hóa nông nghiệp căn cơ của Việt Nam cũng bị được “Tây hóa” như một xu hướng văn hóa không tránh khỏi Quá trình tiếp biến mạnh mẽ giữa Đông và Tây giữa cổ và kim, tạo nên một cuộc thay đổi mà bất cứ một cuộc bể dâu nào cũng không thể so sánh Để rồi từ trong lòng sự tiếp biến này hình thành nên những dòng chảy văn hóa mới hoàn toàn khác biệt, phát triển mạnh mẽ, mà tiêu biểu nhất có lẽ là sự ra đời của chữ Quốc ngữ (dẫn tới sự xuất hiện của báo chí Quốc ngữ và nền văn học nghệ thuật hiện đại), lối sống đô thị và thói quen tiếp nhận thông tin theo kiểu phương Tây của công chúng Tuy nhiên, chính ba hằng số “nông dân – nông nghiệp – nông thôn” như GS Trần Quốc Vượng sử dụng để định danh nền văn

hóa nông nghiệp đặc thù của Việt Nam [137, tr184] đã dẫn tới “bi kịch của sự

phát triển” với những xung đột giữa “những giá trị cổ truyền của văn hóa cũ

ấy với những điều mới lạ của văn hóa Tây phương” mà học giả Đào Duy Anh

trong “Việt Nam văn hóa sử cương” [2, tr39] Và tất nhiên báo chí Việt Nam

có nhiệm vụ truyền thông về những bi kịch và xung đột ấy

Trang 9

Nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam (NSBD VN) trong xã hội hiện đại là một

kiểu người và kiểu sinh hoạt văn hóa biểu thị rõ ràng cho sự tiếp biến văn hóa Đông – Tây và được công chúng quan tâm Truyền thông về giới này cũng chính là truyền thông về văn hóa Việt Nam Vài thập kỉ trở lại đây khi báo chí bước vào thời kì tự chủ tài chính khi văn hóa đại chúng và công nghiệp giải trí phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam thì thông tin về giới NSBD trên báo chí đặc biệt là trên báo điện tử luôn chiếm dung lượng lớn Bên cạnh những thông tin nghiêm túc về hoạt động nghề nghiệp của NSBD, báo điện tử (với những ưu thế dựa trên nền tảng internet) cũng truyền tải nhiều khía cạnh khác nhau về đời sống riêng của họ như chuyện tình cảm, hôn nhân, sự cố trang phục trên thảm đỏ, phát ngôn gây sốc, mối quan hệ phức tạp trong ngành công nghiệp giải trí… Những thông tin này vừa để giúp người nghệ sĩ tới gần hơn với công chúng nhưng cũng vừa để đáp ứng sự tò mò vô biên của công chúng và lôi kéo họ nhằm tăng số lượng lượt xem, lượt bình luận và cùng với

đó là doanh thu quảng cáo cho các tòa soạn Ở góc độ ngược lại chính giới NSBD VN cũng nhận thức rất rõ vai trò ưu thế của báo điện tử, tìm mọi cách

để khai thác, sử dụng báo điện tử cho việc phát triển nghề nghiệp và sự nổi tiếng của mình Sự “tương tác” và “lợi dụng” lẫn nhau giữa hai bên khiến thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử luôn dồi dào Nhờ đó, bất kể ngày đêm công chúng đều có thể vừa đọc, vừa nghe, vừa xem clip, vừa tương tác, phản hồi ý kiến, thậm chí đối thoại xung đột, cãi vã và cả “ném đá” những thông tin về NSBD nếu muốn

Văn nghệ sĩ nói chung và NSBD VN nói riêng giữ một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại Thời gian qua đội ngũ văn nghệ sĩ đã cống hiến cho nhân dân, cho nền văn hóa Việt Nam và cho nhân loại những tác phẩm có giá trị, thể hiện được bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam Do đó thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam trên báo chí không chỉ được

Trang 10

đông đảo công chúng quan tâm, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của công chúng mà còn tác động rất lớn tới việc hình thành hệ giá trị cho công chúng, nhất là công chúng trẻ Tuy nhiên, bên cạnh hiệu quả không thể phủ nhận trong việc truyền thông văn hóa nghệ thuật Việt Nam; việc khai thác quá đà những thông tin hậu trường của giới NSBD VN; đặc biệt là hiện tượng kết nối giữa báo điện tử và truyền thông xã hội (social media) khiến báo điện

tử bộc lộ không ít những biểu hiện tiêu cực, lệch chuẩn trong cách thức thông tin Nhiều tác phẩm báo chí TPBC bị các nhà nghiên cứu và công chúng lên

án gọi là “thảm họa” truyền thông là “bãi rác” và nơi bóp méo chân dung của giới NSBD, thiếu tầm nhìn văn hóa truyền thông nặng về giải trí tầm thường, “thổi phồng” sự thật, tạo dư luận xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín, danh dự của nhiều cá nhân, tổ chức, dẫn đến những hiện tượng tiêu cực trong xã hội như: bạo lực học đường, sống ảo suy thoái đạo đức… Và những

“mảng tối” này trong hiện trạng thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử

hiện nay là một phần trong tấn “bi kịch của sự phát triển” của xã hội Việt

Nam hiện đại TK XXI mà học giả Đào Duy Anh từng tiên đoán từ năm

1938 Cắt nghĩa hiện tượng này từ góc nhìn văn hóa Việt có thể thấy, Việt Nam đang ở vào buổi giao thời trong giao lưu hội nhập văn hóa toàn cầu Những hệ giá trị văn hóa truyền thống giúp điều tiết xã hội trước đây giúp con người định hướng các sống, cách ứng xử dù không biến mất hẳn nhưng

đã không còn ph hợp với đời sống hiện đại, thậm chí nảy sinh ra những phi giá trị Trong khi đó những giá trị mới lại chưa được định hình Xã hội rơi vào khủng khoảng giá trị khiến con người mất niềm tin và định hướng Nhiều phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt đang bị thách thức bởi những làn sóng văn hóa ngoại lai, bởi logic kinh tế thị trường và đời sống vật chất tiện nghi Công chúng được tiếp cận nhiều thông tin nhưng lạc lối trong xác định

lý tưởng sống, không có giá trị để theo đuổi Trong khi đó báo điện tử khi

Trang 11

thông tin về giới NSBD VN lại truyền bá những xu hướng, phong cách sống mới mà có thể mâu thuẫn với những chuẩn mực cũ Thực trạng này dẫn đến vấn đề thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử ngày trở nên cấp thiết, cần phải được đặt ra đánh giá chính xác và nhất là được phản biện từ góc nhìn văn hóa, bởi nếu không sẽ dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực làm phương hại hình ảnh của văn hóa dân tộc, làm méo mó, tầm thường thẩm mĩ văn nghệ của dân tộc Việt Nam trên đường phát triển trong xu hướng hội nhập toàn cầu D cho đi qua bao cuộc bể dâu giao lưu hay tiếp biến văn hóa đi chăng nữa thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của báo chí Việt Nam là phải truyền thông về văn hóa Việt Nam một cách có văn hóa ph hợp với hệ giá trị văn hóa Việt Nam, đảm bảo sự hài hòa giữa việc phát triển các giá trị mới gắn liền với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa và hội nhập quốc tế PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái phân tích: “Nhiệm

vụ hàng đầu của nhà báo Việt Nam muốn truyền thông về văn hóa Việt Nam, đương nhiên phải giải mã được bản sắc văn hóa Việt, nếu không sẽ không thể làm tốt nhiệm vụ căn cơ này của nền BCTT Việt” [111]

Mặc dù có nhiều luận án, luận văn khóa luận, bài nghiên cứu khoa học, bài báo đề cập tới vấn đề thông tin về NSBD VN trên báo chí nhưng nhìn nhận vấn đề này từ góc nhìn văn hóa Việt, trên một loại hình báo chí hiện đại

là báo điện tử thì vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu Từ sự

cấp thiết đó tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Thông tin về giới nghệ sĩ biểu

diễn Việt Nam trên báo điện tử từ góc nhìn văn hóa Việt” làm luận án tốt

nghiệp bậc học Tiến sĩ chuyên ngành Báo chí – Truyền thông Tác giả hy

vọng kết quả nghiên cứu của luận án có đóng góp nhất định cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành, cung cấp cho các cơ quan báo chí nhà quản lí báo chí một bức tranh tổng thể thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam hiện nay trên

Trang 12

một số tờ báo điện tử ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp để cải tiến

nội dung cũng như hình thức khi thông tin về lĩnh vực này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận về thông tin trên báo chí, về góc nhìn văn hóa Việt, về giới NSBD và giới NSBD VN Soi chiếu lý luận vào thực tiễn để đánh giá thực trạng và chất lượng thông tin, chỉ ra thế mạnh, hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước) có liên quan tới đề tài để làm rõ những vấn đề đã nghiên cứu, làm tiền đề cho nghiên cứu tiếp theo của luận án

- Làm rõ những khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận án Xác lập mối quan hệ giữa nền văn hóa Việt Nam và báo chí Việt Nam Giải mã nền văn hóa Việt Nam và hệ giá trị văn hóa Việt Nam để xác lập góc nhìn văn hóa Việt các tiêu chí đánh giá thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử từ góc nhìn văn hóa Việt

- Phân tích đánh giá thực trạng thông tin về giới NSBD VN trên các trang Vietnamnet.vn, Ngoisao.net, News.zing.vn ở cả ba góc độ: chủ thể thông tin đối tượng được thông tin và đối tượng tiếp nhận thông tin Soi chiếu thực trạng này từ góc nhìn văn hóa Việt, chỉ ra những điểm tích cực, hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn đến thực trạng

- Phân tích các kết quả thu được, đưa ra các khuyến nghị khoa học, chỉ

ra các vấn đề cấp thiết, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng thông tin về giới NSBD VN trên báo mạng điện tử

- Hoàn thành báo cáo khoa học, công bố kết quả nghiên cứu

Trang 13

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu vấn đề thông tin về giới NSBD VN trên báo điện

tử Việt Nam đầu thế kỉ 21

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thông tin về giới NSBD VN là một đề tài rộng báo điện tử ở Việt Nam cũng phong phú về số lượng nên luận án này chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thông tin về giới NSBD VN trên sự lựa chọn 3 trang: Vietnamnet.vn, Ngoisao.net và News.zing.vn Mặc dù chỉ là trang con của Vnexpress.net nhưng Ngoisao.net hoạt động gần như độc lập với trang báo điện tử này Ngoisao.net có quy chế thu chi riêng biệt, tổ chức hệ thống tòa soạn và quy trình hoạt động sản xuất tin bài đầy đủ như bất cứ một trang báo điện tử nào khác Do đó tác giả lựa chọn Ngoisao.net làm một trong những đối tượng khảo sát khi nghiên cứu thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử bởi những đặc trưng khi sản xuất tin bài về giới NSBD VN của trang tin này

Việc thông tin về giới NSBD VN trên báo điện thử khi trở thành vấn đề nghiên cứu sẽ được tác giả nhìn nhận, phân tích trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực Tuy nhiên, do giới hạn không gian của một luận án Tiến sĩ cho nên khi nghiên cứu thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử, tác giả chỉ tập

trung nghiên cứu phần tiêu cực với những lỗi văn hóa gặp phải trong quá

trình thông tin trên tinh thần phản biện xã hội (PBXH) Trong bối cảnh truyền thông mạng xã hội phát triển mạnh mẽ và phức tạp như hiện nay, việc chỉ ra

và nghiên cứu chuyên sâu các hiện tượng tiêu cực, các lỗi văn hóa trong quá trình thông tin về giới NSBD VN đồng thời chỉ rõ ảnh hưởng của giới NSBD

VN và những thông tin về họ đối với đời sống xã hội hiện đại nói chung đối với công chúng và chính những NSBD nói riêng có ý nghĩa nhất định, cung cấp cho các cơ quan báo chí các nhà quản lý báo chí những giải pháp phù

Trang 14

hợp nhằm cải tiến nội dung và hình thức khi thông tin về giới NSBD VN, từ

đó thoát khỏi tình trạng “hỗn mang” và “bi kịch” khi thông tin về giới này

Tác giả cũng tập trung nghiên cứu thông tin về giới nghệ sĩ biểu

diễn Việt Nam hoạt động ở hai loại hình nghệ thuật biểu diễn là âm nhạc

và điện ảnh, bởi lẽ đây là những loại hình nghệ thuật biểu diễn hiện đại

gắn liền với văn hóa đại chúng (mass/popular culture), phản ánh rõ ràng

nhất sự giao lưu tiếp biến của văn hóa toàn cầu và được đông đảo công

chúng quan tâm

Thời gian khảo sát: từ tháng 12/2014 tới tháng 12/2016 được cập nhật

và bổ sung thêm trong quá trình nghiên cứu)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

- Vận dụng quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí

và văn hóa về vai trò của báo chí trong việc phát triển văn hóa Việt Nam: Nghị quyết 23 - NQ TƯ về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới và Chỉ thị số 46-CT TƯ của Ban Bí thư Trung ương định hướng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế Trong đó báo chí phải đưa các nhân tố văn hóa tinh thần nhân văn thấm sâu vào các lĩnh vực đời sống, phát triển kinh tế văn hóa xã hội qua đó gìn giữ, phát huy được truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc trước sự tác động của những yếu tố bên ngoài

- Vận dụng lý thuyết về “Hệ giá trị văn hóa Việt Nam” của GS Trần

Ngọc Thêm (Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đền hiện đại và con đường

tới tương lai, NXB Văn hóa – Văn nghệ, 2016) để giải mã văn hóa Việt Nam,

xây dựng góc nhìn văn hóa Việt và các tiêu chí đánh giá từ góc nhìn này, từ

đó sử dụng như điểm tựa phân tích các hiện tượng thông tin về giới NSBD

VN trên báo điện tử hiện nay

Trang 15

- Vận dụng khái niệm “Bá quyền văn hóa” của triết gia chính trị, sáng

lập viên Đảng Cộng sản Ý – Antonio Gramsci (1981-1937 để giải thích các

xu hướng phát triển văn hóa nghệ thuật và thông tin văn hóa nghệ thuật (bao gồm giới NSBD) trên báo chí

- Vận dụng mô hình truyền thông đại chúng của Stuart Hall (Endcoding

and Decoding), mô hình truyền thông phức hợp của PGS.TS Trương Đình

Chiến (Quản trị Marketing – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2017) để phân

tích các yếu tố tham gia vào quá trình thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử hiện nay cũng như sự tương tác lẫn nhau của các yếu tố này

- Vận dụng nghiên cứu về “mô hình Ozone” và “Các nhân tố F” của Philip Kotler & Hermawan Kartajaya Iwan Setiawan (Marketing 4.0 –

Moving from Traditional to Digital, Wiley Edition, 2017) để phân tích vai trò

và ảnh hưởng của giới NSBD VN đối với cả báo điện tử và công chúng) trong truyền thông hiện đại

- Vận dụng lý thuyết về “Cơ chế tác động của báo chí đến công chúng” của PGS TS Nguyễn Văn Dững (Báo chí truyền thông hiện đại – NXB Đại

học Quốc gia Hà Nội) để phân tích những ảnh hưởng và tác động của thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử hiện nay tới công chúng cũng như sự tiếp nhận và đánh giá của công chúng với thông tin về giới này

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích nội dung văn bản: luận án nghiên cứu thông

tin về giới NSBD VN thông qua 300 tác phẩm được lựa chọn ngẫu nhiên theo tác phẩm hoặc các chuỗi tác phẩm viết về những sự kiện nổi bật của những NSBD VN nổi tiếng ở hai lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh trên ba tờ báo điện tử Vietnamnet.vn, Ngoisao.net, News.zing.vn Tác giả lựa chọn những NSBD

VN nổi bật ở nhiều khía cạnh, theo nhiều góc độ đại diện cho những hình ảnh, lối sống và tư duy khác nhau như: Khánh Ly Đặng Thái Sơn Sơn T ng

Trang 16

MTP, Hồ Ngọc Hà, Ngọc Trinh…Một số các từ khóa được sử dụng để tìm kiếm các tác phẩm này như: “Khánh Ly + ngoisao.net + 2016 2015 2014”

“Hồ Ngọc Hà + ngoisao.net + 2016/2015/2015” “Hồ Ngọc Hà Chu Đăng Khoa + News.zing.vn”… Đây là những TPBC thực tế đáng tin cậy để phân tích trong luận án, từ đó đưa ra những đánh giá và kết luận cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: luận án phân tích, hệ thống hóa các

văn bản, giáo trình, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Phương pháp điều tra bảng hỏi:

Trường hợp nghiên cứu của luận án là cỡ mẫu lớn và không biết tổng thể do đó tác giả áp dụng công thức lựa chọn cỡ mẫu:

20 câu hỏi để khảo sát đánh giá của công chúng hiện nay về thông tin NSBD

VN trên báo điện tử; đo lường mức độ và phạm vi tác động của thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử tới tư duy lối sống, thẩm mĩ…của họ; đo lường sự thay đổi thói quen trong việc tiếp nhận thông tin của công chúng…

Trang 17

từ đó giúp tác giả so sánh và hệ thống được những tác động của thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử đối với các nhóm công chúng khác nhau ở Việt Nam Để đảm bảo tính khách quan, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên ở cả khu vực thành thị và nông thôn (Hà Nội và Vĩnh Phúc Trong đó về giới tính thì nữ chiếm 54,7%, nam chiếm 45,3%; về độ tuổi: tuổi

từ 16-45 chiếm 73%; về ngành nghề: phổ biến nhất là công chức, cán bộ văn phòng (chiếm hơn 40% ; nông dân chiếm 7,2%, kinh doanh chiếm 21,8%; về trình độ văn hóa thì 62% có trình độ đại học trở lên

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 9 nhân

vật bao gồm lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông (TT& TT), lãnh đạo tòa soạn báo điện tử và một số phóng viên (PV), biên tập viên (BTV) báo điện tử;

phỏng vấn sâu một số độc giả Từ đó sử dụng vào việc phân tích các TPBC liên quan đến vấn đề nghiên cứu và rút ra các kết luận liên quan đến nội dung nghiên cứu trong luận án

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết 1: Thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử ngày càng

nhiều và là nguồn thông tin được công chúng quan tâm trong đời sống xã hội

Việt Nam hiện đại; Đặc trưng loại hình báo điện tử đã tự tạo lập ưu thế vượt

trội trong việc thông tin về giới NSBD VN

- Giả thuyết 2: Thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử đã phần

nào thực hiện được nhiệm vụ truyền thông văn hóa tuy nhiên quá trình thông tin nảy sinh những phi giá trị gây ảnh hưởng tiêu cực cho văn hóa Việt

- Giả thuyết 3: Áp lực kinh tế thị trường, hiện tượng thương mại hóa

báo chí khiến báo điện tử mất dần vai trò định hướng là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới những phi giá trị cho văn hóa Việt trong việc thông tin về giới NSBD VN

Trang 18

6 Đóng góp của luận án

- Cái mới của luận án: Trên cơ sở kế thừa thành tựu của những nhà

nghiên cứu đi trước, luận án hệ thống hóa và làm rõ vấn đề thông tin về giới NSBD VN trên truyền thông từ góc nhìn văn hóa Việt; tác động của những thông tin này tới công chúng trong môi trường truyền thông hiện đại với sự ảnh hưởng sâu sắc của giao lưu văn hóa toàn cầu và tư duy kinh tế thị trường;

- Ý nghĩa lý luận: Dựa trên thành tựu của những nhà khoa học đi trước,

luận án xác lập mối quan hệ giữa văn hóa và báo chí; vấn đề thông tin về giới NSBD Việt Nam trên báo điện tử; mô hình thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử, góc nhìn văn hóa Việt các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin

từ góc nhìn văn hóa Việt để phân tích thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là một minh chứng về lợi thế đặc thù của loại hình báo điện tử khi thông tin về giới NSBD VN; vai trò và tác động to lớn của thông tin về giới NSBD VN đối với đời sống xã hội hiện đại nói chung đối với công chúng và chính những NSBD VN nói riêng; thể hiện

sứ mệnh quan trọng của báo điện tử trong việc truyền thông văn hóa Việt Việc thực hiện đề tài góp phần tìm hiểu một yếu tố quan trọng trong việc thông tin về giới NSBD Việt Nam trên báo điện tử hiện nay là xác lập và tuân thủ theo những tiêu chí văn hóa dựa trên hệ giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình thông tin Luận án cũng mở ra hướng nghiên cứu liên ngành giữa báo chí truyền thông và văn hóa

- Ý nghĩa thực tiễn: Đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo được nhiệm

vụ xuyên suốt của báo chí Việt hiện đại là truyền thông về văn hóa Việt Nam,

về giới NSBD VN và truyền thông một cách có văn hóa, phù hợp với hệ giá trị văn hóa Việt Nam Đề tài thành công sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà nghiên cứu báo chí truyền thông, nhà quản lý báo chí, nhà báo, phóng viên, biên tập viên và sinh viên báo chí…

Trang 19

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận án gồm

4 chương cơ bản:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề thông tin về giới

nghệ sĩ biểu diễn trên báo chí

Chương 2: Cơ sở lý luận của góc nhìn văn hóa Việt và vấn đề thông

tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam trên báo điện tử

Chương 3: Thực trạng thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam

trên Vetnamnet.vn, News.zing.vn, Ngoisao.net từ góc nhìn văn hóa Việt

Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về giới nghệ sĩ

biểu diễn Việt Nam trên báo điện tử

Trang 20

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THÔNG TIN

VỀ GIỚI NGHỆ SĨ BIỂU DIỄN TRÊN BÁO CHÍ

Để lý giải một cách rõ ràng vấn đề nghiên cứu của luận án, trước tiên tác giả tìm hiểu và khái quát những công trình nghiên cứu mang tính nền tảng

về quan hệ chung nhất giữa nền văn hóa Việt Nam và nền báo chí Việt Nam, đặt VHNT như là một thành tố của văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ này, sau đó mới hướng trọng tâm vào vấn đề cụ thể hơn: thông tin về giới NSBD trên báo chí

1.1 Nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa Việt Nam và báo chí Việt Nam

Hầu hết các nhà nghiên cứu văn hóa và báo chí Việt Nam đều nhận định rằng: các nền văn hóa và các nền báo chí trên toàn cầu đều có mối quan hệ qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau Tuy nhiên đặc trưng của nền văn hóa khác nhau sẽ sinh ra đặc trưng khác nhau của nền báo chí ở mỗi quốc gia

Ở góc độ văn hóa học, trong sách “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc; “Cơ sở văn hóa Việt Nam” và “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm; “Cơ sở văn hóa Việt Nam” và “Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi

và suy ngẫm” của Trần Quốc Vượng…, các tác giả đều chỉ ra rằng: chữ Quốc

ngữ và báo chí Việt Nam được hình thành từ trong cuộc giao lưu tiếp xúc với với văn hóa phương Tây khi người Pháp đặt bước chân xâm lược vào lãnh thổ Việt Nam Mặc dù mục đích ban đầu của báo chí là phục vụ cho sự cai trị của thực dân Pháp, phổ biến các văn kiện chính thức của chính quyền Pháp, tuy nhiên sau này báo chí (nhất là báo chí cách mạng đã góp phần quan trọng trong việc phổ cập giáo dục, nâng cao dân trí, thức tỉnh ý thức dân tộc và truyền thông văn hóa Việt Nam Những nghiên cứu này đã cho thấy, giữa văn hóa và báo chí có mối quan hệ qua lại với nhau, báo chí là một sản phẩm của văn hóa báo chí quốc ngữ Việt Nam là sản phẩm ra đời trong lớp văn hóa

Trang 21

giao lưu với văn hóa phương Tây; đồng thời những sự thay đổi của văn hóa cũng được phản ánh, truyền thông trên báo chí

Ở góc độ báo chí học, giáo trình “Lịch sử báo chí Việt Nam” do GS.TS

Đỗ Quang Hưng PGS.TS Đào Duy Khoát; PGS.TS Vũ Duy Thông chủ biên,

sách “Về báo chí” của Hồ Chí Minh do Tạ Ngọc Tấn tuyển chọn và giới thiệu

đã chỉ ra: về căn bản, báo chí quốc ngữ là “con đẻ” của chế độ thuộc địa và luôn bị chế độ này khống chế Bởi vậy, lịch sử báo chí Việt Nam đồng thời cũng là sự phản ánh của lịch sử cận đại Việt Nam, lịch sử văn hóa ngôn ngữ (chữ quốc ngữ văn học, nghệ thuật… Việt Nam Mặc d có đề cập tới quan

hệ giữa văn hóa Việt Nam và báo chí Việt Nam nhưng những nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến những vấn đề có tính chất lịch sử của báo chí Việt Nam trong buổi đầu của nó, những điều kiện ra đời của nền báo chí thuộc địa

Văn hóa và báo chí luôn là mối quan hệ hai chiều, viết về mối quan hệ

này, bài nghiên cứu “Nhà báo – Chủ thể chính trị xã hội” của Th.S Trần Văn Phương nằm trong cuốn “Những vấn đề về văn hóa, báo chí – truyền thông”

(Phạm Ngọc Trung chủ biên) đề cập tới báo chí giống như tấm gương phản chiếu văn hóa qua đó văn hóa biết phải làm gì để bổ sung, chỉnh sửa chính

mình Trong kỷ yếu “Văn hóa truyền thông trong thời kỳ hội nhập” (NXB

Thông tin và truyền thông, 2013) cũng đăng tải nhiều bài nghiên cứu đề cập

tới quan hệ giữa văn hóa và báo chí như: “Văn hóa truyền thông và truyền

thông có văn hóa” của GS Hà Minh Đức, “Báo chí và văn hóa” của NB Phan

Quang, “Báo chí – truyền bá và sáng tạo văn hóa”- PGS.TS Vũ Duy Thông

Bàn về hàm lượng văn hóa và tính nhân văn của báo chí hiện nay” của

PGS.TS Nguyễn Văn Dững…Các bài nghiên cứu đều khẳng định mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa với bản sắc riêng, góp phần tạo nên sự bền vững của dân tộc Mối quan hệ giữa văn hóa và báo chí được các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau: chữ viết, nghệ thuật, giáo dục văn hóa nhà báo….,

Trang 22

từ đó chỉ ra rằng báo chí là một bộ phận cấu thành văn hóa đồng thời là phương tiện thực thi, quảng bá văn hóa, tự thân sáng tạo những giá trị mới của

văn hóa Do vậy, việc nhìn nhận đánh giá báo chí hay người làm báo đều

phải từ góc nhìn văn hóa

Bài nghiên cứu “Truyền thông văn hóa và văn hóa truyền thông” của

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái đăng trên trang www.ajc.vn ngày

20 04 2015 cũng chỉ ra: ngay từ khi tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ra đời văn hóa Việt Nam đã được nhận diện và truyền thông trên báo chí Việt Nam Bài nghiên cứu là một tư liệu quý, mang lại cho người đọc cái nhìn tổng quan về quan hệ giữa nền văn hóa Việt Nam và báo chí Việt Nam

[111] Hay nghiên cứu “Một số vấn đề xung quanh khái niệm Văn hóa

truyền thông” của TS Nguyễn Đức Hạnh không chỉ bàn về văn hóa và

những vấn đề văn hóa liên quan đến quá trình phát triển của đất nước và của thời đại, mà còn bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và truyền thông Tác giả

đã dựa trên quan điểm nghiên cứu những hoạt động truyền thông như một hiện tượng về văn hóa để tìm hiểu các yếu tố trong toàn bộ quá trình hoạt động truyền thông của xã hội loài người… Nghiên cứu đặt ra vấn đề phải dùng lý thuyết về văn hóa hiểu được định nghĩa văn hóa Việt Nam thì mới giải mã được nền báo chí Việt Nam, từ đó mới truyền thông văn hóa Việt Nam một cách có văn hóa được

Ngoài ra, rất nhiều sách của các tác giả như: “Việt Nam văn hóa sử

cương” của Đào Duy Anh; “Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam” của Vũ

Ngọc Khánh; “Văn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm” của Trần Quốc Vượng; “Một cách tiếp cận văn hóa” của Phan Ngọc; “Văn hóa Việt Nam –

đặc trưng và cách tiếp cận” của Lê Ngọc Trà cùng nhiều bài nghiên cứu

khác cũng đề cập tới sự ra đời của báo chí Việt Nam với tư cách là một sản phẩm của văn hóa Việt Nam, có nhiệm vụ truyền thông văn hóa Việt

Trang 23

1.2 Nghiên cứu vấn đề truyền thông văn hóa nghệ thuật Việt Nam trên báo chí Việt Nam

Văn hóa nghệ thuật là một thành tố của văn hóa do vậy giữa văn hóa nghệ thuật và báo chí đương nhiên cũng tồn tại mối quan hệ qua lại Vấn đề truyền thông VHNT Việt Nam trên báo chí Việt Nam cũng được nhiều tác giả

bỏ công sức ra để nghiên cứu Trong sách “Báo chí Việt Nam từ khởi thủy tới

1945”, TS Huỳnh Văn Tòng đã khẳng định, báo chí tạo ra những ảnh hưởng

lớn tới VHNT Việt Nam mà trước hết là văn học Việt Nam Trong giai đoạn đầu, hai tờ báo quan trọng nhất góp phần vào việc xây dựng nền văn học Việt

Nam là Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí khi thu hút được những

nhà văn nổi tiếng, tạo ra phong trào văn học có thể lôi kéo sự tham gia của những nhà tri thức và giới trẻ Việt Nam say mê nền văn học quốc ngữ, dẫn đến những ảnh hưởng đáng kể ở lĩnh vực văn chương Cuốn sách này cũng nghiên cứu quan hệ giữa báo chí Việt Nam với VHNT Việt Nam trong tiến trình lịch sử đầy biến động cho tới năm 1945 [126, tr118]

Nghiên cứu về vấn đề truyền thông VHNT Việt Nam trên báo chí Việt

Nam, sách “Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945” của tác giả Đỗ Quang

Hưng đã đề cập tới vai trò của báo chí trong việc định hình, phát triển và truyền thông VHNT Việt Nam kể từ khi giao lưu với văn hóa phương Tây

Tác giả phân tích dưới sự điều khiển của Trương Vĩnh Ký Gia Định Báo –

tờ báo quốc ngữ đầu tiên đã có nhiều thay đổi quan trọng văn học nghệ thuật được đăng tải với nội dung phong phú và khởi sắc hơn nhờ những bài khảo cứu, nghị luận và thơ ca của các danh sĩ Nam kỳ như: Huỳnh Tịnh Của,

Trương Minh Ký… [61, tr28] Hay tờ Nông cổ phím đàm tuy là tờ báo kinh tế

nhưng cũng dành tới 3 4 trang đăng tải truyện dịch, truyền dài, truyện ngắn, mục Thi phổ đăng sáng tác mới văn học dân gian… Chính tờ này là tờ báo đầu tiên tổ chức cuộc thi truyện ngắn trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại

Trang 24

Như vậy, truyền thông VHNT Việt Nam đã là nhiệm vụ được xác định ngay từ khi ra đời của báo chí quốc ngữ Việt Nam

Giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí” do PGS.TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên

đã chỉ rõ: một trong những nhiệm vụ của báo chí là truyền đi các hoạt động văn hóa văn nghệ, các hoạt động nghệ thuật một cách rộng khắp, trở thành món ăn tinh thần cho cả xã hội, hàng ngày, hàng giờ tác động vào đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam hiện đại, từ đó góp phần nâng cao trình độ hiểu biết đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của nhân dân lao động Giáo trình bước đầu nghiên cứu sự phát triển của những loại hình truyền thông mới (ví

dụ như truyền hình) và cho rằng các loại hình mới mẻ này đã phá vỡ những giới hạn trong truyền thông VHNT của những loại hình báo chí cũ ví dụ như báo in) Ngoài việc tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận thông tin VHNT, những loại hình truyền thông mới cũng tạo ra rất nhiều mặt trái khi truyền

thông về lĩnh vực này Hay sách “Cơ sở lý luận báo chí” của PGS.TS Nguyễn

Văn Dững cho rằng, không chỉ truyền tải các giá trị văn hóa của dân tộc, báo chí còn là những kênh truyền thông tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân tham gia giải trí thông qua những tin tức, những chương trình mang tính nghệ thuật, giúp công chúng cân bằng trạng thái tâm lý và tái sản xuất sức lao động [22, tr.187-191] Những tin tức giải trí này chính là những chuyên trang văn hóa – giải trí trên báo in báo điện tử; các bản tin chương trình gameshow chương trình ca nhạc, phim ảnh… trên phát thanh truyền hình… Như vậy, theo quan điểm của các tác giả, báo chí có nhiệm vụ là là kênh truyền bá, phổ biến một cách sinh động và hấp dẫn đời sống VHNT văn nghệ nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của công chúng và đáp ứng nhu cầu thưởng thức tin VHNT của nhân dân Tuy nhiên, trong những nghiên cứu này, các tác giả chỉ mới đề cập tới quan hệ giữa VHNT với báo chí một cách chung chung, gợi mở chứ chưa phân tích hay khảo sát thực nghiệm kĩ càng

Trang 25

Luận văn Thạc sĩ của Trương Thị Bích Ngọc với đề tài “Văn hóa ứng xử

của các nhà báo trực tuyến đối với thông tin văn hóa nghệ thuật” cho thấy tình

trạng loạn thông tin VHNT trên báo trực tuyến Luận văn này đã chỉ ra cách các nhà báo tiếp cận khai thác đề tài và đưa thông tin về VHNT trên báo trực tuyến hiện nay; Nghiên cứu tính đặc thù của báo trực tuyến trong thông tin VHNT so với loại hình báo phát thanh, báo in, báo truyền hình; đưa ra định hướng để góp phần giúp các nhà báo trực tuyến khai thác và cung cấp thông tin VHNT một cách hiệu quả Gần như có c ng một góc nhìn với Trương Thị Bích Ngọc, luận

văn của Trần Thị Như Quỳnh với đề tài: “Nghiên cứu thảm họa báo mạng

trong việc thông tin về văn hóa nghệ thuật (khảo sát báo điện tử Vietnamnet,

Vnexpress và Dantri năm 2011-2012 ” cũng phân tích đưa ra cái nhìn thực tế, khách quan và chân thực về tình trạng bị tha hóa trong cách ứng xử của các nhà báo khi tiếp cận thông tin VHNT đồng thời đưa ra những kinh nghiệm trong việc ứng xử với thảm họa báo mạng và đề xuất mô hình quản lý một cách hợp

lý cho báo mạng điện tử Việt Nam Tuy nhiên, cả hai luận văn của các tác giả trên mới nhìn nhận và phân tích các hiện tượng thông tin VHNT trên báo trực tuyến ở góc độ nhà báo và ứng xử của họ chưa gắn vào đó các phân tích từ góc nhìn văn hóa, vì vậy chưa đưa ra được cái nhìn khái quát và tổng thể nhất

Có thể thấy, gần như không có mâu thuẫn giữa các nhà khoa học trong việc định vị mối quan hệ giữa văn hóa và báo chí cũng như nhiệm vụ truyền thông văn hóa nghệ thuật của báo chí Báo chí là một sản phẩm của văn hóa và một trong những nhiệm vụ quan trọng của báo chí là truyền thông về văn hóa Văn hóa Việt Nam có bao nhiêu vấn đề thì báo chí Việt Nam cũng có bấy nhiêu vấn đề để thông tin Chỉ khi báo chí Việt Nam ra đời thì mới có sự phản ánh sinh hoạt văn hóa Việt Nam theo cách của phương Tây và trong toàn bộ sinh hoạt ấy mặc nhiên có sinh hoạt về nghệ thuật, trong đó có sinh hoạt biểu diễn của giới NSBD VN

Trang 26

Những nghiên cứu về quan hệ giữa văn hóa và báo chí, về nhiệm vụ truyền thông văn hóa nghệ thuật của báo chí đề cập ở trên là nền tảng lí luận,

cơ sở phương pháp luận cơ bản, quan trọng, gợi mở cho việc nghiên cứu vấn

đề thông tin về giới NSBD VN (một nội dung cụ thể của Văn hóa Việt Nam) trên báo điện tử thế kỉ 21

1.3 Nghiên cứu vấn đề thông tin về giới nghệ sĩ biểu diễn trên báo chí

Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào dùng thuật

ngữ “giới NSBD” nhưng trong rất nhiều tài liệu, bài viết, công trình nghiên

cứu trong nước và quốc tế đã ít nhiều đề cập tới giới NSBD theo nhiều cách gọi khác nhau hoặc thông qua những “tập hợp” lớn hơn ngôi sao người nổi tiếng người của công chúng ) mà giới NSBD là một “phần tử”

Trong giới thuyết phạm vi nghiên cứu luận án, tác giả đã chỉ rõ trọng tâm nghiên cứu của mình là thông tin về những nghệ sĩ tham gia vào các hoạt động nghệ thuật biểu diễn hiện đại gắn liền với sự xuất hiện của công nghiệp văn hóa cultural industry) ở hai lĩnh vực nổi bật nhất “nóng” nhất là: âm nhạc và điện ảnh Như vậy, giới NSBD mà luận án đề cập ở đây cũng ít nhiều gắn liền với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của văn hóa đại chúng

1.3.1 Các tài liệu quốc tế nghiên cứu vấn đề thông tin về giới NSBD trên báo chí

Một bộ phận các nhà nghiên cứu đã bày tỏ quan điểm phê phán mạnh mẽ đối với văn hóa đại chúng bao gồm cả những NSBD trong thời đại công nghiệp văn hóa

Trong sách “Khai hóa văn minh và văn hóa thiểu số”, FR.Leavis đã

đứng trên lập trường của văn hóa tinh hoa elite culture để chỉ trích văn hóa đại chúng Ông cho rằng văn hóa đại chúng là tầm thường, nhằm mục đích giải trí phàm tục khi phục vụ cho đại chúng có văn hóa thấp Thương mại hóa điều gắn liền với công nghiệp văn hóa và văn hóa đại chúng theo quan điểm của nhà nghiên cứu này, là mối hiểm họa lớn của văn hóa

Trang 27

C ng quan điểm với Leavis hai đại diện tiêu biểu của trường phái

Frankfurt là Max Horkheimer và Theodor trong bài tiểu luận kinh điển “Công

nghiệp văn hóa – Biện chứng của thời đại khai sáng” được công bố vào năm

1947 đã cho rằng văn hóa đã bị thương phẩm hóa được mua bán và trao đổi Nói cách khác văn hóa đã trở thành một sản phẩm hàng hóa Trong nền văn hóa công nghiệp mà văn hóa đại chúng được chứa đựng trong đó thì các nguyên tắc thương nghiệp đã thay thế, lấn át các nguyên tác về nghệ thuật, điều này khiến các tác phẩm văn hóa nghệ thuật trở nên tầm thường, không còn mang các giá trị nghệ thuật nữa Các học giả trường phái Frankfurt nhấn mạnh văn hóa đại chúng là sự lừa dối, chế ngự đại chúng công khai của chủ nghĩa cực quyền trong xã hội tư bản chủ nghĩa thông qua các hoạt động giải trí; bởi thế, công chúng lúc này là những người tiêu thụ thụ động, không còn

óc phê phán trước sự thuyết phục của các phương tiện TTĐC

Rất nhiều những tác phẩm nghiên cứu sau này cũng chỉ ra những khía cạnh tiêu cực của văn hóa đại chúng và những NSBD các loại hình văn hóa

nghệ thuật đại chúng Trong tiểu luận “The crisis in Culture” Sự khủng

hoảng trong văn hóa , tác giả Hannah Arendt khẳng định, truyền thông trong nền kinh tế thị trường sẽ dẫn đến sự áp đặt của giải trí đối với văn hóa [162]

Hay MacDonald trong trong bài nghiên cứu “A theory of Mass Culture” in trong sách “Mass culture” Văn hóa đại chúng đã nhìn nhận rằng văn hóa đại

chúng là một thứ văn hóa hời hợt, thiển cận Sự phát triển của văn hóa đại chúng qua một thời gian có thể khiến công chúng hướng tới những sản phẩm văn hóa dễ dãi [174]

Không chỉ có Leavis, những học giả của trường phái Frankfut, hay MacDonald, Hannah Arendt mà rất nhiều các nhà nghiên cứu khác cũng có cái nhìn thiếu tích cực khi đề cập tới khuynh hướng và sự phát triển của văn hóa đại chúng và công nghiệp văn hóa Trong đó phê phán sự thương phẩm

Trang 28

hóa nghệ thuật, sự hạ thấp và lấn át các giá trị nghệ thuật bằng giá trị tiêu dùng của hàng hóa; sự lừa dối của chủ nghĩa tư bản, sự chế ngự của chủ nghĩa cực quyền khi thông qua văn hóa đại chúng và những nghệ sĩ biểu diễn văn hóa nghệ thuật đại chúng để lừa dối và chế ngự đại chúng Trong xã hội hiện đại văn hóa đại chúng ngày càng xuống cấp khi vì đặt mục đích lợi nhuận lên cao nhất, những tin tức thời sự đã bị thay thế bằng các thông tin giải trí, chương trình truyền hình, show thực tế ; trên mặt báo những thông tin về các ngôi sao giải trí, những nghệ sĩ nổi tiếng nhờ tai tiếng hơn là nhờ thành tựu biểu diễn nghệ thuật của chính họ, những hình ảnh thiếu vải của những người được gọi là người của công chúng đã thay thế cho những tin tức văn hóa nghệ thuật chính thống

Trái ngược với các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Frankfut hay Leavis, MacDonald , không ít nhà nghiên cứu có cái nhìn tích cực và cởi mở hơn về văn hóa đại chúng cũng như công nghiệp văn hóa Tiêu biểu nhất cho luồng quan điểm này phải kể đến Raymond Wiliams – nhà nghiên cứu thuộc trường phái Birmingham Ông cho rằng văn hóa đại chúng không chú trọng đến tính kinh điển mà hướng tới tính sáng tạo của công chúng trong quá trình tiếp nhận và hưởng thụ các sản phẩm văn hóa công nghiệp đồng thời bày tỏ sự bất đồng trong việc phân chia văn hóa thành văn hóa cấp thấp và cấp cao Ông muốn loại bỏ sự khác biệt giữa nghệ thuật cao cấp và văn hóa đại chúng Raymond và các đại diện của trường phái Birmingham khẳng định, nghiên cứu văn hóa không chỉ bị giới hạn trong sản phẩm văn hóa mà còn là toàn bộ quá trình từ sản xuất tới phân phối và tiêu thụ sản phẩm văn hóa

Trong sách “Mass media and Popular culture”, K Tunner [173] nhấn

mạnh tới mối quan hệ cộng sinh phụ thuộc lẫn nhau giữa văn hóa đại chúng

và truyền thông đại chúng Điều này được chứng minh một cách rõ nét với sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 29

như phát thanh truyền hình internet… vào thế kỉ XX, tạo tiền đề cho sự phát triển của xã hội thông tin trong kỷ nguyên số ở thế kỉ XXI Mối liên kết chặt chẽ giữa văn hóa đại chúng và truyền thông đại chúng đã dẫn tới sự xuất hiện

của văn hóa truyền thông đại chúng (media culture), với đặc trưng cơ bản là chịu

sự chế định của các phương tiện TTĐC Văn hóa đã tiếp biến thay đổi từ đọc sang nghe nhìn, từ bút mực sang báo mạng, từ văn hóa tinh hoa sang văn hóa tiêu dùng, vận hành theo logic của kinh tế thị trường

Năm 1995, trong “Media culture” Văn hóa truyền thông) [149], GS

Douglas Kellner đã đặt văn hóa truyền thông trong mối quan hệ với đời sống chính trị xã hội; nghiên cứu những vấn đề chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong văn hóa xã hội và truyền thông Cùng với Douglas, hàng loạt công trình nghiên cứu trong thập kỉ 80, 90 của thế kỉ XX cũng đề cập tới những vấn đề

đa dạng của văn hóa đại chúng đối với toàn bộ đời sống xã hội ở Tây Âu điển

hình như: “Truyền thông văn hóa và xã hội” (Collins, 1986); “Văn hóa truyền

thông đại chúng: đánh giá về truyền thông đa quốc gia” (Skovmand &

Schroder, 1992); Nghề làm báo và văn hóa đại chúng (Gripsrud, 1992);

“Hiểu biết về văn hóa truyền thông đại chúng” Stevenson 2002 …

Đến thế kỉ XXI, khi Philip Kotler nghiên cứu về truyền thông và

marketing trong kỉ nguyên số đã chỉ ra trong sách “Marketing 4.0, moving from

traditional to digital” [181] rằng: trong kỷ nguyên số, chủ thể truyền thông

phải truyền tải thông tin tới công chúng theo quy tắc hàng ngang (hoàn toàn với quy tắc truyền taỉ thông tin theo hàng dọc trước đây và phải được sự chấp nhận của công chúng Bằng những nghiên cứu về công chung mục tiêu, Kotler

đã chứng minh văn hóa truyền thông trong kỉ nguyên số đã hoàn toàn thay đổi; chỉ ra được mối quan hệ giữa doanh nghiệp – văn hóa đại chúng và truyền thông; đồng thời lí giải được vì sao ngày nay người nổi tiếng lại xuất hiện trên truyền thông như các công cụ quảng cáo hữu hiệu cho các doanh nghiệp

Trang 30

Từ các nghiên cứu đề cập ở trên có thể thấy: văn hóa đại chúng và giới NSBD là những thuật ngữ xuất phát từ phương Tây ra đời bởi tác động từ sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của các phương tiện TTĐC mới Khi hướng trọng tâm nghiên cứu sâu hơn vào đối tượng nghiên cứu là giới NSBD, nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn nhận và phân tích về giới này như một hiện tượng của truyền thông hiện đại

Sách “The Image: A Guide to Pseudo-Events in America” của Daniel Broostin đã đưa ra khái niệm về người nổi tiếng “Người nổi tiếng là người

nổi tiếng vì sự nổi tiếng của họ” [144, tr.49] Tác giả cho rằng: “Người hùng

tự tạo ra chính mình, còn người nổi tiếng do truyền thông tạo ra” [144,

tr.61] Trong “thành phần” của người nổi tiếng (celebrity) của Daniel bao gồm cả những “ngôi sao” - diễn viên điện ảnh ca sĩ người mẫu (Giới NSBD), và Daniel cho rằng sự nổi tiếng của họ được tạo ra nhờ truyền thông, nhờ sự xuất hiện của họ trên truyền thông, khi truyền thông bắt đầu chuyển mối quan tâm từ những thành tựu nghề nghiệp của họ sang thông tin về đời sống riêng tư của họ Ví dụ như, một ca sĩ một diễn viên điện ảnh sẽ trở thành “ngôi sao” khi công chúng thấy rằng đời sống thường ngày của họ hấp dẫn hơn bài hát hay vai diễn Ở nghiên cứu của mình Daniel đã khẳng định giữa Người nổi tiếng (celebrity) và báo chí là quan hệ truyền thông, và chỉ khi

có truyền thông thì những ca sĩ diễn viên người mẫu…mới trở thành người nổi tiếng Ông đã phân tích quan hệ này, soi chiếu nó từ góc nhìn văn hóa phương Tây để đánh giá mức độ phù hợp của thông tin về người nổi tiếng trên báo chí đối với văn hóa xã hội phương Tây tuy nhiên phần lớn dung lượng của cuốn sách, Daniel nhấn mạnh hơn vào vai trò của truyền thông hiện đại trong việc tạo ra “Người nổi tiếng”

Sách “Understanding Celebrity (2004), tác giả Graeme Turner Australia đã chỉ ra: “Những người nổi tiếng có thể nhìn thấy trên các phương

Trang 31

tiện truyền thông, thường xuất hiện từ các ngành thể thao hoặc giải trí, và cuộc sống riêng tư của họ thu hút sự chú ý bằng hoặc thậm chí lớn hơn hoạt động nghề nghiệp của họ” [161, tr3] Turner cho rằng người nổi tiếng là một hiện

tượng độc đáo của truyền thông hiện đại Một mặt người nổi tiếng là những người “phi thực” bởi họ dường như không tồn tại “thật” mà công chúng biết tới họ thông qua những tác phẩm nghệ thuật như MV ca nhạc, phim ảnh… đó

có thể coi là sự cộng dồn của vô số hình ảnh đại chúng Nhưng mặt khác, họ lại cực kì bình thường, bởi họ cũng là một con người cũng kết hôn sinh con cũng đối mặt với đủ vấn đề đủ chuyện hỉ nộ ái ố của cuộc đời, bị chồng bỏ, bị nghiện, bị cưỡng hiếp… Nhưng chính những thông tin “hậu trường” ấy, những thông tin về cuộc sống đời thường của những “ngôi sao” lại khiến công chúng càng thêm kích thích hơn muốn tìm hiểu hơn về những “idol” thần tượng của mình Turner trong nghiên cứu của mình đã tập trung chỉ ra lý do vì sao mà các

“ngôi sao” lại có sức hút lớn như vậy đối với độc giả báo chí

Cũng giống như Turner sách “Simulacra and Simulation, The

University of Michigan Press” của Jean Baurdrillard đã đề cập tới vì sao mà

những người nổi tiếng, những nghệ sĩ ca sĩ diễn viên khi xuất hiện trên mặt báo lại “hot” lại trở thành tâm điểm chú ý Chính là sự tò mò, họ đặc biệt hay cũng chỉ bình thường? Họ nổi tiếng nhờ thực lực hay chỉ là ăn may? Họ là thiên tài hay là “hàng giả”? Công chúng sẽ cảm thấy như thế nào khi bắt gặp một người nổi tiếng, một ca sĩ một diễn viên đi trên đường thay vì đi trên thảm đỏ, mặt mộc thay vì trang điểm? [167, tr.81]

Trong nghiên cứu “Celebrity Journalism: navigating the Stars”,

Nathan Farrrell cho rằng, trong xã hội hiện đại, những ngôi sao luôn có mối liên kết với các doanh nghiệp và truyền thông Họ giống như những sản phẩm hàng hóa được sản xuất và tiêu thụ trên thị trường, có thể được mua bởi các doanh nghiệp và được rao bán, quảng cáo trên các phương tiện TTĐC Nathan

Trang 32

cũng đề cập tới thuật ngữ “tabloid” báo lá cải như một hiện tượng tất yếu

của truyền thông hiện đại Những tờ báo lá cải kết nối các “ngôi sao” với công chúng không chỉ bằng hoạt động nghề nghiệp của họ mà bằng cả những câu chuyện hậu trường đời tư của họ Đó là nhu cầu tự thân của các ngôi sao, công chúng và cả chính các trang báo khi các ngôi sao được coi là thực thể sinh lợi cho tòa soạn) Điều này dẫn tới những thách thức rất lớn cho cái gọi

là đạo đức báo chí [179]

Giáo sư luật Robin Barnes trong sách “Outrageous Invasions:

Celebrities’s Private Lives, Media, and the Law” (tạm dịch: những cuộc xâm

phạm thái quá: cuộc sống riêng tư của người nổi tiếng, Truyền thông và Pháp luật đã cho rằng, thông tin về những nghệ sĩ những người nổi tiếng đã được đăng tải tràn lan trên báo chí truyền thông mà không có sự chọn lọc Đó là những bài báo “lá cải” theo kiểu “vạch áo cho người xem lưng” xâm phạm thái quá vào đời sống những người nổi tiếng Công dân của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu được bảo đảm quyền bảo vệ hiến pháp để an toàn, bảo mật và

tự do thể hiện bản thân, tuy nhiên Barnes khẳng định, các quyền này của những người nổi tiếng, những “ngôi sao” của Mỹ thường xuyên bị truyền thông vi phạm [183]

Jamie Berkovitz trong bài viết “Loss of Privacy the price of fame for

Celebs” đăng trên trang articles.sun-sentinel.com ngày 14/10/2005 [190], hay

Benjamin SiuJocelyn Heng trong “Do celebrities deserve privacy?” – bài viết

đăng trên trang www.scmp.com ngày 11/10/2006 [164] đã phân tích ảnh hưởng của những thông tin đăng tải trên truyền thông đối với những “ngôi sao” Họ cho rằng, những ngôi sao như Linsay Lohan Anna Hathaway, Brad Pitt Paris Hilton… chỉ đến với công chúng bằng các sản phẩm nghệ thuật Đời sống của họ, tính cách của họ, ứng xử của họ - giống như bất cứ người nào khác, không phải là hoàn hảo, và có những chuyện họ muốn nó là của

Trang 33

riêng mình Tuy nhiên đôi khi các tay săn ảnh, những PV lại luôn cố gắng tạo

ra những câu chuyện từ sự không hoàn hảo đó từ sự riêng tư đó để hấp dẫn độc giả Những tin tức lá cải - đôi khi đó là sự vô ý, cẩu thả của người nổi tiếng, và nhiều khi là sự cố ý của truyền thông hiện đại để chiều lòng độc giả nhằm tăng số lượng lưu hành báo

Tờ “USA Today” tháng 3 2009 từng đăng tải bài viết của Erik Braday

và Sterve Dimeglio - “Người của công chúng đáng được hưởng bao nhiêu sự

riêng tư?”(How much privacy do public figures deserve?) khi vụ ngoại tình

của “ông vua golf” Tiger Woods bị phát hiện và phanh phui trên báo chí Tiger phải lên tiếng cầu xin “sự riêng tư” như của một con người bình thường USA Today đã trích lời ông Mike Paul - chuyên gia quan hệ công chúng và giải quyết khủng hoảng làm việc tại New York - rằng đã là người nổi tiếng

thì cần phải chấp nhận sự phơi bày riêng tư ấy “Tin tốt là anh được trả rất

nhiều tiền Tin xấu là: Sự riêng tư ư? Anh đùa đấy à? Nó tự đi ra ngoài cửa

sổ mất rồi” Bài viết cho thấy sức hút của người nổi tiếng cũng như sức hút

những chuyện riêng tư liên quan tới người nổi tiếng lớn như thế nào, cách truyền thông đăng tải những thông tin này ra sao, và ảnh hưởng của những thông tin này tới những người nổi tiếng là gì? [153]

Các nhà nghiên cứu ở Hàn Quốc – quốc gia với làn sóng văn hóa đại chúng (pop culture) mạnh mẽ, tràn sang cả các quốc gia khác trong đó có Việt Nam – đã nghiên cứu khá nhiều về những ca sĩ nghệ sĩ thần tượng của quốc

gia này và sự lan tỏa ảnh hưởng của họ trên truyền thông, báo chí Sách “The

Korean Wave: Korean Media Go Global” (Làn sóng Hàn Quốc: truyền thông

Hàn Quốc hướng tới toàn cầu, Nxb Routledge, 2013) của tác giả Youna Kim

đã nghiên cứu về hiện tượng làn sóng văn hóa đại chúng Hàn Quốc trong kỉ nguyên internet toàn cầu Sự phát triển và lan tỏa của làn sóng văn hóa đại chúng Hàn Quốc (phim ảnh, âm nhạc, thời trang… gắn liền với sự phát triển của truyền thông internet và truyền thông kĩ thuật số Những nghệ sĩ Hàn

Trang 34

Quốc hiểu được rằng, công chúng trẻ tuổi – những công dân toàn cầu có khả năng sử dụng internet – là công chúng chính của họ Do đó nghệ sĩ Hàn Quốc xây dựng những chiến lược truyền thông (chứ không chỉ đơn giản là chiến lược hoạt động nghệ thuật) phù hợp với thói quen truyền thông (media habit) của những nhóm công chúng ở các quốc gia khác nhau nhằm chinh phục họ

Bài nghiên cứu “Hybridity and the rise of Korean popular culture in

Asia” Sự lai căng và trỗi dậy của văn hóa đại chúng Hàn Quốc ở châu Á) của

tác giả Doobo Shim (2006) đã chỉ ra rằng: sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đã tạo cơ hội để làn sóng Hàn Quốc lan rộng tới các khu vực Đông và Đông Nam Á Thông qua nghiên cứu gần đây về bước “nhảy vọt” của truyền thông Hàn Quốc, bài nghiên cứu phản biện lại luận điểm thống trị của Mỹ về toàn cầu hóa Mặc dù phim ảnh và truyền hình là phát minh của phương Tây nhưng người Hàn đã tạo những đặc trưng của riêng họ để truyền bá trên truyền thông dựa trên yếu tố văn hóa bản địa đặc sắc Ở đây Shim muốn nhấn mạnh rằng sự pha trộn khéo léo và tôn vinh những giá trị văn hóa Hàn Quốc truyền thống chính là yếu tố tạo ra nét đặc sắc riêng cho văn hóa đại chúng Hàn Quốc trên truyền thông trong quá trình toàn cầu hóa văn hóa Nói cách khác, nghệ sĩ Hàn Quốc có nhiệm vụ truyền thông văn hóa Hàn Quốc tới công chúng của các quốc gia khác

Có thể thấy, các nghiên cứu về văn hóa đại chúng, TTĐC, giới NSBD trên thế giới phần lớn đều được tiếp cận từ góc độ đa ngành báo chí truyền thông văn hóa xã hội học, lịch sử, triết học… bàn luận đến những vấn đề của văn hóa TTĐC ở nhiều khía cạnh khác nhau, tập trung vào các nội dung: báo chí và NSBD có mối quan hệ với nhau, vai trò của NSBD trên truyền thông ngày càng lớn và ngược lại, sức hút của NSBD với công chúng, và cái giá phải trả của NSBD khi nổi tiếng nhờ truyền thông… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, mô hình và lí giải mà các nhà nghiên cứu trên đưa ra khó có

Trang 35

thể áp dụng vào một môi tường với những đặc trưng văn hóa khác biệt như Việt Nam Do đó thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử từ góc nhìn văn hóa Việt là vấn đề nóng, cấp thiết cần phải được đặt ra và nghiên cứu một cách nghiêm túc

1.3.2 Nghiên cứu vấn đề thông tin về giới NSBD VN trên báo chí Việt Nam

Ở Việt Nam, có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa đại chúng nói chung và giới NSBD VN nói riêng Ở mức độ nhất định, các công trình này cũng đã đề cập tới vấn đề thông tin về giới NSBD VN trên báo chí từ nhiều khía cạnh khác nhau

Sách “Văn hóa truyền thông đại chúng ở Việt Nam trong điều kiện kinh

tế thị trường và toàn cầu hóa” do PGS.TS Đặng Thị Thu Hương làm chủ biên

đã đề cập đến khá nhiều những vấn đề của văn hóa đại chúng văn hóa truyền thông đại chúng và những tác động của nền kinh tế thị trường toàn cầu tới văn hóa truyền thông đại chúng trên thế giới và Việt Nam Sử dụng tới 3001 mẫu tại 7 tỉnh và thành phố, nhóm nghiên cứu đã thực hiện điều tra xã hội học tập trung vào việc tìm hiểu thực trạng sử dụng các phương tiện TTĐC của công chúng đo lường mức độ và phạm vi tác động của TTĐC tới đời sống, thói quen của công chúng đo lường đánh giá của công chúng về chất lượng các sản phẩm văn hóa trên các phương tiện TTĐC… Nghiên cứu đã chỉ ra những biến đổi của công chúng hiện đại trong văn hóa thời gian rảnh rỗi và sự hình thành các văn hóa giải trí mới; sự thay đổi trong tiêu d ng văn hóa và văn hóa tiêu d ng dưới ảnh hưởng của văn hóa TTĐC; thừa nhận việc giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế là điều kiện rất cần thiết và là xu thế tất yếu… Nhóm nghiên cứu cũng đã nghiên cứu văn hóa đại chúng ở một số quốc gia như:

Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… Có những quốc gia, nền văn hóa và văn hóa đại chúng rất gần Việt Nam như Hàn Quốc, Nhật Bản Nghiên cứu

đã chỉ ra các yếu tố mang lại sự thành công cho văn hóa đại chúng cũng như

Trang 36

hoạt động truyền thông đại chúng cho nền văn hóa đại chúng ở các quốc gia này Rất nhiều những kết quả nghiên cứu trong cuốn sách này được tác giả kế thừa và vận dụng vào trong luận án tiến sĩ của mình [59]

Trong Luận văn thạc sĩ “Hình ảnh người nổi tiếng trên báo chí và việc

hình thành hệ giá trị cho giới trẻ Việt Nam”, tác giả Lê Thị Phước Thảo

thông qua việc khảo sát báo Tuổi trẻ và báo Tiền phong từ tháng 3/2014 tới tháng 3 2015 đã chỉ ra thực trạng việc phản ảnh về người nổi tiếng (giới showbiz) hiện nay trên báo chí đang có thành công và hạn chế gì, những ảnh hưởng và tác động động thông tin về người nổi tiếng trên báo in đối với công chúng nói riêng và việc hình thành hệ giá trị cho giới trẻ Việt Nam Luận văn tập trung vào nghiên cứu thông tin về người nổi tiếng trên loại hình báo in và những tác động của nó tới công chúng trẻ chưa nghiên cứu cụ thể đối tượng giới NSBD trên loại hình báo điện tử

Khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Ngọc Nga đề tài “Báo mạng điện tử

với việc đưa tin về người nổi tiếng nhờ mạng xã hội: Nghiên cứu trường hợp

Lệ Rơi (Khảo sát báo điện tử Zing.vn, dân việt và Tuổi trẻ online từ ngày 1/6/2014 – 31/12/2014) đã đề cập đến lí thuyết chung về báo mạng điện tử, về

mạng xã hội (MXH) cũng như cách thức của việc báo mạng điện tử đăng tải

thông tin về đời tư người nổi tiếng nhờ MXH đến với công chúng như thế nào; và thông tin ấy nó tác động gì đến công chúng; tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích một trường hợp cụ thể của ca sĩ Lệ Rơi – một người nông dân trở thành một hiện tượng của MXH và truyền thông nhờ vào những bài hát với tất cả sự thật thà, quê mùa thô kệch của mình

Luận văn Thạc sĩ “Truyền thông về các loại hình nghệ thuật biểu diễn

trên báo điện tử” của tác giả Lê Thị Thúy Hà đã hệ thống lý luận về nghệ

thuật biểu diễn đồng thời so sánh đánh giá về việc báo mạng đưa thông tin

về các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống so với các loại hình biểu

Trang 37

diễn nghệ thuật hiện đại, từ đó đưa ra những đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng truyền thông về các loại hình nghệ thuật biểu diễn trên báo điện tử Tuy nhiên tác giả mới tập trung vào phân tích nội dung truyền thông như một hiện tượng mà chưa đánh giá hiện tượng này ở những lớp lang sâu hơn như nhà báo hay những nghệ sĩ biểu diễn các hoạt động nghệ thuật biểu diễn này

từ góc nhìn văn hóa Việt

Luận văn Thạc sĩ “Xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báo

mạng điện tử hiện nay” (Khảo sát báo điện tử Vietnamnet, Vnexpress và VTC News) của tác giả Nguyễn Linh Có là công trình nghiên cứu gần sát nhất với

nội dung nghiên cứu trong Luận án này Nguyễn Linh Có đã phân tích các yếu tố tác động đến việc báo mạng điện tử khai thác thông tin về đời tư của giới ca sĩ chỉ ra một số quy định về “quyền đối với bí mật thông tin đời tư” của một số quốc gia trên thế giới, phân tích thực trạng việc xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên diện khảo sát là ba tờ báo mạng là Vietnmanet, Vnexpress và VTC news, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báo mạng điện tử Việt Nam Thông qua khảo sát thực tế, tác giả Nguyễn Linh Có đã phân tích thực trạng và làm rõ nguyên nhân, hạn chế của việc xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báo mạng điện tử hiện nay Tuy nhiên đúng như tên gọi của luận văn tác giả mới chỉ tập trung phân tích vào đối tượng là ca sĩ chưa đề cập đến vấn đề đăng tải thông tin về giới NSBD nói chung trong đó có ca sĩ trên loại hình báo điện

tử chưa phân tích và lí giải nó từ góc nhìn văn hóa Việt

Một số các công trình khóa luận, luận văn Thạc sĩ luận án Tiến sĩ báo

chí… như: Khóa luận “Vấn đề thông tin về đời tư nghệ sĩ trên báo mạng hiện

nay” của Ngô Thị Quỳnh Hoa; Khóa luận “Thông tin văn hóa – giải trí trên báo trực tuyến Vnexpress, Vietnamnet, VTC news” của Nguyễn Thị Hồng…

cũng đã đề cập tới vấn đề thông tin về giới NSBD trên báo chí

Trang 38

Bên cạnh đó có khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đơn lẻ liên quan tới văn hóa đại chúng và vấn đề thông tin về giới NSBD VN trên báo điện tử

Bài nghiên cứu “Ảnh hưởng của mạng internet tới văn hóa đại chúng” của ThS Hoàng Thị Thu Hà đăng trên sách Văn hóa truyền thông trong thời

kì hội nhập (NXB Thông tin và Truyền thông 2013 đã nghiên cứu những

ảnh hưởng của internet tới văn hóa đại chúng đặc biệt là tới thói quen tiếp nhận và nhu cầu thông tin về người nổi tiếng trong các lĩnh vực âm nhạc và phim ảnh Tác giả cho rằng người nổi tiếng là mảnh ghép cơ bản trong bức tranh về văn hóa đại chúng và hẳn nhiên có những tác động tới “tinh thần” của xã hội Nghiên cứu gợi mở những thay đổi trong vai trò của TTĐC đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam hiện đại và tác giả kế thừa điều này trong luận án của mình

Bài nghiên cứu “Một số vấn đề về truyền thông đại chúng, văn hóa đại

chúng và văn hóa truyền thông trong kỷ nguyên Kỹ thuật số” của PGS.TS

Đặng Thị Thu Hương đăng trên sách Văn hóa truyền thông trong thời kì hội

nhập (NXB Thông tin và Truyền thông, 2013) đã hệ thống lại quan điểm của

các trường phái nghiên cứu truyền thông nổi bật trong thế kỉ XX để từ đó tìm hiểu về mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa truyền thông đại chúng văn hóa đại chúng và văn hóa truyền thông; về những tác động của truyền thông đại chúng đối với công chúng từ nhận thức, hành vi cho tới lối sống; đặt vấn

đề về vai trò và trách nhiệm của TTĐC Việt Nam trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt trong thời kỳ hội nhập văn hóa toàn cầu đồng thời khẳng định không thể đánh đồng văn hóa đại chúng với khuynh hướng thương mại hóa, tầm thường hóa và dung tục hóa nền văn hóa Nghiên cứu này là gợi mở về mặt lý luận cho tác giả nghiên cứu các vấn đề đặt ra trong luận án của mình

Trang 39

Một số bài nghiên cứu khác đã được công bố liên quan tới vấn đề văn hóa đại chúng và thông tin về giới NSBD trên báo chí cũng của tác giả Đặng Thị Thu

Hương như: “Hallyu and its effect on young Vietnamese” (Làn sóng văn hóa

Hàn Quốc và ảnh hưởng của nó tới giới trẻ Việt Nam, Korea Herald, 2009);

“Ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại trong bối cảnh hội nhập quốc tế”

(Tạp chí Người làm báo 2009 …phản ánh khá đa dạng những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hóa đại chúng, truyền thông đại chúng văn hóa truyền thông đại chúng Việt Nam trong kỷ nguyên số, ảnh hưởng của truyền thông Hàn Quốc thông qua TTĐC tác động tới giới trẻ Việt Nam…Mặc dù vậy, các bài nghiên cứu này chưa hệ thống hóa, nghiên cứu và phân tích toàn diện hoạt động truyền thông văn hóa Việt Nam trên báo chí Việt Nam từ góc nhìn văn hóa Việt, vì vậy chưa đề xuất được những giải pháp mang tính chiến lược và toàn diện

Trong bài nghiên cứu “Truyền thông văn hóa và văn hóa truyền thông”

đăng trên trang www.ajc.vn ngày 20/4/2015, PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái

đã từ góc nhìn văn hóa Việt hôm nay chỉ rõ những vấn đề tiêu cực (lỗi văn hóa), những lệch chuẩn thẩm mỉ và lỗi văn hóa của BCTT trong việc truyền thông về văn hóa Tuy nhiên, trong giới hạn khuôn khổ một bài nghiên cứu, tác giả mới chỉ đề cập tới việc truyền thông văn hóa Việt trên báo chí nói chung chưa đi vào phân tích cụ thể nội dung thông tin về giới NSBD VN trên loại hình báo điện tử [111]

“Về việc ủy thác tính giải trí cho truyền thông”, bài nghiên cứu của TS

Nguyễn Thị Thu Giang đăng trên trang cá nhân của tác giả vào năm 2011 cũng đưa ra những nhìn nhận đánh giá trước sự ngập tràn của thông tin giải trí với những trò “câu view” mà tác giả gọi là “rẻ tiền” từ việc đăng tải thông tin của người nổi tiếng trên mặt báo Cho rằng có “cầu” mới có “cung” tác giả đã đứng ở cả khía cạnh công chúng độc giả, nhà báo lẫn cả những người được đăng tải thông tin để phân tích Nhà báo có nhu cầu “tăng view” công

Trang 40

chúng có nhu cầu “nhìn trộm nghe lén” để thỏa mãn tò mò còn người nổi tiếng – họ có nhu cầu được nổi tiếng hơn Chính vì những “nhu cầu” này từ cả

ba phía mà “Từ lúc nào không biết, người Việt Nam đã chìm đắm vào một cả

một vùng biển ngập sâu của sự-giải-trí trong thời đại thông tin, nơi gần như không thể phân định nổi đâu là gà, đâu là trứng” [37]

Cũng là TS Nguyễn Thu Giang, trong tiểu luận “Hiện tượng người nổi

tiếng và chức năng xã hội của nó” đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc

gia Quý 3/2011, tác giả đã xem xét hiện tượng người nổi tiếng (bao gồm cả giới NSBD trên các phương tiện TTĐC trong bối cảnh xã hội Việt Nam dưới

sự quy chiếu của lý thuyết nghiên cứu văn hóa truyền thông Bài viết đã khẳng định 3 chức năng xã hội của người nổi tiểng gồm: Cân bằng nhu cầu giao tiếp của người đô thị; cung cấp sự đa dạng về căn tính văn hóa và củng

cố ý thức hệ Từ chức năng rất giản dị trong đời sống xã hội như cân bằng giao nhu cầu giao tiếp của người đô thị, người nổi tiếng còn củng cố ý thức hệ cho công chúng Tác giả lí giải sức hút của “Người nổi tiếng” trên các phương tiện TTĐC là bởi họ gần như phi thực, vừa thực lại vừa không thực, vừa được thần tượng hóa lại vừa bị tầm thường hóa Chính vì sự đan xen đó trong thế giới ảo nên công chúng luôn tò mò và thích tìm hiểu về những khoảnh khắc đời thường, những sự cố “lộ hàng” những hành động hớ hênh, thậm chí cả những chuyện mang tính riêng tư của người nổi tiếng Và nhà báo – luôn sẵn lòng săn và cung cấp những thông tin này để chiều lòng công chúng [38]

Ngoài ra tác giả cũng tìm thấy rất nhiều những đánh giá phân tích về vấn đề truyền thông văn hóa và thông tin về giới NSBD VN trên gần 100 bài

báo khác nhau trên báo điện tử như: “Playboy hóa báo chí?” của tác giả

Nguyên Minh đăng trên Báo Thể thao&Văn hóa số ra ngày 31/3/2011; Loạt bài viết cũng của PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái đăng tải trên trang

www.news.zing.vn: “Không nên bênh vực Hồ Ngọc Hà” - ngày 22/2/2016,

Ngày đăng: 21/08/2019, 06:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w