Bệnh ĐTĐ là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểmnghèo điển hình là bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, hoại thư, bệnh lývõng mạc…Trong nghiên cứu một số lượng lớn các
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh quanh răng là bệnh phổ biến trong các bệnh răng miệng, đứng hàngthứ hai sau bệnh sâu răng Bệnh quanh răng (QR) có nguyên nhân và cơ chếbệnh sinh rất phức tạp, chính vì vậy mà hiện nay vẫn chưa có phương phápphòng và chữa đặc hiệu, nên vẫn là nỗi lo của con người sau tuổi 35 [10]
Bệnh QR bao gồm hai loại tổn thương chính: tổn thương khu trú ở lợi vàtổn thương toàn bộ tổ chức QR Viêm quanh răng (VQR) là giai đoạn tiếp theocủa viêm lợi khi tổn thương lan đến dây chằng QR, xương răng và xương ổrăng [8] Quá trình bệnh lý biểu hiện bằng tổn thương viêm và tổn thương thoáihóa Bệnh tiến triển âm thầm, nặng lên bởi những đợt cấp, và cho tới nay nóvẫn là thách thức đối với Y học nói chung và chuyên ngành Răng Hàm Mặt nóiriêng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhiễm khuẩn mạn tính do rất nhiềuloại vi khuẩn cầu khuẩn, trực khuẩn gram( +), cầu khuẩn gram( -)
Gần đây theo những nghiên cứu về dịch tễ học của "Trung tâm quốc gia
về thống kê sức khỏe" (National Centre for Health Statistics - Mỹ), và nhữngđiều tra của "Viện quốc gia nghiên cứu nha khoa" (National Institute of DentalResearch - Mỹ) cho thấy tính mẫn cảm của mỗi người đối với bệnh QR dườngnhư thay đổi tùy theo những yếu tố nguy cơ tác động khác nhau [3]
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăngglucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin; khiếm khuyết tronghoạt động của insulin; hoặc cả hai Bệnh ĐTĐ có hai loại, bệnh ĐTĐ typ 1chiếm 5 - 10% tổng số bệnh nhân ĐTĐ và ĐTĐ typ 2 chiếm 90 - 95% tổng sốbệnh nhân ĐTĐ [16]
Trang 2Bệnh ĐTĐ là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểmnghèo điển hình là bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, hoại thư, bệnh lývõng mạc…
Trong nghiên cứu một số lượng lớn các bệnh tổng quát được xem là "chỉthị nguy cơ" (Risk indicator) của bệnh QR, Grossi và cộng sự đã kết luận rằngbệnh ĐTĐ thật sự là yếu tố nguy cơ có tác động mạnh tới sự phát sinh và pháttriển của bệnh viêm quanh răng [26]
Những thay đổi trong kiến thức của chúng ta hiện nay về nguyên nhâncủa bệnh QR, cộng với sự hiểu biết về các yếu tố làm phát sinh và phát triểnbệnh QR, đã thúc đẩy việc nghiên cứu sâu về các yếu tố nguy cơ đặc thù củabệnh QR [3], [24]
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về liên quangiữa bệnh QR và ĐTĐ, tuy nhiên ở Việt Nam các nghiên cứu sâu về vấn đềnày còn ít được đề cập tới
Bệnh viện Bưu Điện là bệnh viện Đa khoa hạng I, hàng năm khám vàđiều trị rất nhiều bệnh nhân ĐTĐ Và chủ yếu là bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐtyp II Ở những BN này chúng tôi nhận thấy hầu hết đều có vấn đề về răngmiệng nhưng chưa có nghiên cứu nào về sự liên quan giữa bệnh QR vàbệnh ĐTĐ
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá tình trạng quanh răng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Bưu Điện" với mục tiêu:
1 Đánh giá tình trạng quanh răng ở bệnh nhân đái tháo đường týp
2 tại khoa Khám bệnh bệnh viện Bưu Điện
2 Xác định nhu cầu điều trị bệnh quanh răng của bệnh nhân đái tháo đường týp 2
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sức khỏe răng miệng nói chung và tình trạng bệnh quanh răng ở tuổi trưởng thành từ 18 tuổi trở lên trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Trên thế giới
- Bệnh răng miệng nói chung và bệnh quanh răng nói riêng có từ lâu đời
và đến nay vẫn là phổ biến có xu hướng lan rộng và tiến triển của bệnh rấtphức tạp Bệnh lưu hành rộng giữa các châu lục và các quốc gia,liên quan đếntuổi, giới, điều kiện kinh tế, xã hội, vùng địa lí Nhiều nghiên cứu về dịch tễhọc của vùng quanh răng được thực hiện Người ta thấy tất cả những thươngtổn của tổ chức quanh răng trong đó viên lợi và viêm quanh răng mãn lànhững bệnh phổ biến nhất (WHO 1986)
* Tình trạng viêm lợi:
Được phát hiện những năm 30 đầu thế kỉ Từ 40 năm sau đó các chỉ sốđánh giá tình trạng lợi như SBIcuar Muhlemann (1971), GI của Loe vàSilness ra đời phát triển và đạt kết quả thống nhất Ở Mỹ 18-74 tuổi viêm lợi
là 25%
Viêm lợi là bệnh phổ biến nhưng mức độ viêm lợi cũng có sự thay đổibởi vì sự thay đổi này có liên quan đến sự thay đổi về hooc môn, tuổi dậy thì,tình trạng vệ sinh răng miệng và các bệnh toàn thân khác nhau
Trang 4-Số liệu về tình trạng viêm QR ở các lứa tuổi và ở các nước cũng khácnhau Theo Brown và cộng sự 1981 ở Mỹ 65% người lứa tuổi từ 19 - 65 có túilợi sâu > 3mm, 28% có túi lợi sâu 4 - 6mm là 8% có túi lợi sâu > 6mm [36]
So với các châu lục trên thế giới thì các nước Châu Á tỷ lệ % ngườilành thấp (thông qua các cuộc điều tra ở một số nước và khu vực đại diệnChâu Á Bangladesh - 1982, Nhật Bản - 1984, Nepan - 1984, Srilanka - 1984
và Hồng Kông - 1984): 3% trong khi các châu lục khác khả quan hơn; ChâuÂu: 4,57% (thông qua điều tra tại: Phần Lan - 1984, Hungary - 1985 Italia -
1985, Hylạp 1985, Hà Lan 1981, Bồ Đào Nha 1994, Tây Ban Nha 1985), Châu Úc: 11% (đại diện Australia - 1984) Tỷ lệ ở các nước ĐôngNam Á có mức trung bình cộng là 6% (qua điều tra tại Thái Lan - 1982 vàInđônêxia - 1984)
-Một nghiên cứu gần đây của Nhật (năm 2004) có tỷ lệ 79% người Nhật
ở tuổi 25-34 có viêm lợi và viêm quanh răng và ở tuổi 35-44 tỷ lệ mắc bệnhquanh răng là 84% [37]
1.1.2 Ở Việt Nam
- Ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu điều tra về bệnh QR ởcác lứa tuổi, các vùng địa lý với các phương pháp, mục tiêu và quy mô khácnhau Tuy kết quả một vài công trình còn khác nhau do phương pháp đánh giá
Trang 5khác nhau, nhưng đều cho thấy các lứa tuổi đều mắc bệnh QR, tăng dần theotuổi và là nguyên nhân chủ yếu gây mất răng ở người lớn sau tuổi 35
Trong công trình điều tra của Vũ Xuân Uông, Lê Hoàng Hải và cs ở lứatuổi từ 6 đến 65 tuổi ở Cao Thành, Ứng Hoà - Hà Sơn Bình (1978) cho thấybệnh quanh răng có tỷ lệ mắc cao ở lứa tuổi 45 đến 54 và cao nhất ở lứa tuổi
65 (51,47%), thấp nhất ở lứa tuổi từ 15- 19 (1,44%) Theo số liệu điều tra, lầnnày có thể nói bệnh viêm QR gặp ở người già và tỷ lệ mắc ở nam cao hơn ở
nữ (18,62%; 17,92%) là không có sự khác biệt
Những năm gần đây việc điều tra xác định bệnh QR người ta đánh giábằng các chỉ số trong đó chỉ số nhu cầu điều trị bệnh QR cộng đồng (CPITN)
đã được áp dụng tại Việt Nam
Theo kết quả điều tra cơ bản trong toàn quốc tiến hành từ năm 1981
-1983 của Phân viện và Viện RHM Trung ương, Nguyễn Văn Cát và cs chothấy tỷ lệ mắc bệnh ở miền Nam: 91,3%, miền Bắc: 82,10% [24]
Theo số liệu kết quả cuộc điều tra cơ bản (ĐTCB) SKRM toàn quốctiến hành năm 1990 ở các tỉnh đại diện (phía bắc, phía Nam, miền Trung,đồng bằng châu thổ, trung du, miền núi, nông thôn và thành thị) ở các nhómtuổi (12, 15 và 35 - 44) [14] thì tỷ lệ mắc bệnh QR cao, đặc biệt chỉ số viêmlợi và lấy cao răng ở 3 nhóm tuổi đều trên 90%
Trong một điều tra riêng rẽ về bệnh QR ở các tỉnh phía Nam Việt Nam
và thành phố Hồ Chí Minh [3] tác giả Nguyễn Cẩn cho biết tỷ lệ người có caorăng rất cao xuyên suốt các lứa tuổi, gần giống như các nước, đặc biệt là cácnước thuộc thế giới thứ 3, viêm lợi luôn đi với cao răng, 1/3 viêm lợi sẽ tiếntriển sang viêm QR sau một thời gian thường thì sau tuổi 35
Báo cáo kết quả ĐTCB-SKRM các tỉnh phía Bắc năm 1995 được công
bố [17], [15] cho thấy rõ ở 3 nhóm tuổi 12, 15, 35-44 tỷ lệ người có tổ chức
Trang 6QR hoàn toàn lành mạnh rất thấp chưa quá 3% Chương trình ĐTSK-RM toànquốc năm 2000 do Việt Nam và Úc hợp tác đã cho kết quả > 90% người đượckhám bị bệnh viêm lợi và viêm quanh răng và chỉ số CPITN > 97% [16]
Theo tác giả Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, Trịnh Đình Hải trongbáo cáo điều tra SKRM toàn quốc năm 2001 thì tỉ lệ người có bệnh QR rấtcao ở mức 96,7% trong đó có 31,8% có túi lợi bệnh lý nông và sâu [22]
Những số liệu trên cho thấy tỉ lệ (%) người mắc bệnh QR cao, mức độbệnh nặng Theo kết quả điều tra kiến thức, thái độ và hành động về phòng vàđiều trị bệnh QR của nhân dân còn nhiều hạn chế chưa thích hợp và khoa học
Để đẩy mạnh hơn nữa công tác chăm sóc SKRM cộng đồng tránh sự tổn phítiền của và công sức của nhà nước và nhân dân, ngành RHM đã tiến hành cácbiện pháp dự phòng
+ Giáo dục VSRM cộng đồng phù hợp với điều kiện kinh tế và nhậnthức của nhân dân
+ Hướng dẫn vệ sinh ăn uống cho dân hợp lý, cân bằng
+ Huấn luyện VSRM như vấn đề: Sử dụng Flour tăng cường tổ chứccứng của mất răng, diệt khuẩn làm vùng quanh răng sạch và răng chắc hơn;cách chải răng và dùng chỉ kẽ răng, các loại kem đánh răng có Fluor
+ Tiến hành điều trị viêm QR không phẫu thuật [12]
1.2 Những hiểu biết hiện nay về bệnh quanh răng
- Vùng quanh răng: Vùng quanh răng lập thành một bộ phận hình thái
và chức năng, cùng với răng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể Đó
là toàn bộ những tổ chức bao bọc quanh răng bao gồm: Lợi, dây chằng quanhrăng, xương và xương ổ răng Vùng quanh răng và răng có mối quan hệ gắn
Trang 7bó chức năng và nó là một thành phần của bộ máy nhai có chức năng ăn nhai,phát âm và thẩm mĩ
1.2.1 Bệnh quanh răng
Khi tổ chức và vùng quanh răng bị viêm gọi là viêm tổ chức quanh răng,
nó bao gồm 2 quá trình: Quá trình tổn thương viêm và quá trình thoái hoá
Bệnh bao gồm: Viêm lợi và viêm quanh răng và được gọi chung làbệnh quanh răng Ở giai đoạn nặng, viêm phá huỷ tổ chức quanh răng, pháhuỷ sự cấu kết gắn bó chức năng giữa răng và tổ chức quanh răng, làm rănglung lay, gây ảnh hưởng tới chức năng ăn nhai và cuối cùng gây mất răng
Những dấu hiệu chung nhất của bệnh là: Viêm lợi cấp và mãn: Sưng
đỏ, chảy máu tự nhiên hoặc do kích thích Cao răng (CR) và mảng bám răng(MBR) thường có túi lợi bệnh lý ở mức độ khác nhau, trong đó có dịch viêm
và mủ, làm hơi thở nặng mùi, chân răng bị hở nên bệnh nhân đau buốt khi cókích thích nặng hơn đau nhức do viêm tủy, khó chịu, có biểu hiện tổn thươngdây chằng quanh răng, xương ổ răng và xương răng Vì vậy, nếu không đượcphát hiện và điều trị sớm thì vùng mất răng bị tổn thương nhiều, răng lung lay,
ăn nhai hạn chế, ảnh hưởng đến giao tiếp sinh hoạt hàng ngày, ở giai đoạncuối khả năng điều trị tất yếu phải nhổ răng
Viêm quanh răng là bệnh có từ lâu đời, qua các nghiên cứu trên sọ cổthấy bệnh đã có từ 3 000 năm trước công nguyên
Từ cuối thế kỷ 19 nhiều công trình nghiên cứu về bệnh này đã đượctiến hành và ngày càng có những bước tiến quan trọng, ở tất cả những lĩnhvực: Dịch tễ học, cơ chế sinh bệnh học, các phương pháp chẩn đoán bệnhcũng như các phương pháp điều trị và dự phòng
Trang 8Về dịch tễ học: Dịch tễ học đã được nghiên cứu một cách hệ thống bắtđầu từ những năm 40 của thế kỷ: MassHall (1944) điều tra ở Ấn Độ, Shwor
và MosFler (1950) điều tra ở Ý [14] Những cố gắng của các nhà lâm sàngcho thấy giá trị của dịch tễ học trong việc tìm hiểu bệnh và đi đến kết luậnrằng: VQR là một bệnh rất phổ biến, tỷ lệ bệnh tăng theo tuổi và nếu giữ vệsinh răng miệng tốt thì tỷ lệ bệnh giảm rất nhiều
1.2.2 Cơ chế sinh bệnh quanh răng
Từ lâu người ta đã nhận thấy các phản ứng qua lại phức tạp của yếu tốtoàn thân, tại chỗ cũng như ngoại cảnh [32] đối với sự hình thành và pháttriển của bệnh
Những năm thập kỷ 60, đa số các giả thuyết cho rằng VQR là donguyên nhân toàn thân và yếu tố tại chỗ [19] (tại chỗ là do vi khuẩn và sangchấn khớp cắn)
Từ những năm 60 trở lại đây người ta thấy rõ là nguyên nhân gây bệnhtoàn thân và thiếu dinh dưỡng có vai trò nhỏ trong phát sinh bệnh VQR Vàvai trò vi khuẩn với các men của nó là mắt xích đầu tiên trong quá trình pháhuỷ tổ chức quanh răng: Greene (1960), Ramfjord (1961) và Loe (1965) đãchứng minh ảnh hưởng của mảng bám (MBR) tới viêm lợi [19]
Năm 1975, Liondhe đã chứng minh sự liên quan từ viêm lợi dẫn tớiVQR ở chó
Rosling (1976) Soaerholm (1979) cũng kết luận: Nếu kiểm soát đượcMBR và VSRM tốt sẽ làm cho bệnh ổn định, xương ổ răng bị tổn thương sẽđược phục hồi [19] Các kết luận khác dựa trên những điều tra về dịch tễ họccũng cho thấy điều này
Trang 9Do vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh tới vai trò của vi khuẩn trongMBR Vai trò của phản ứng quá mức của người bệnh cũng đã được nghiêncứu từ những năm 50, cho đến nay người ta đã chứng minh: Sự đáp ứng miễndịch của từng cá thể là khác nhau đối với VQR [19]
Các yếu tố phụ cũng được kể đến như: Sự làm nặng thêm bệnh VQRkhi có sang chấn khớp cắn tiên phát hoặc thứ phát Những nghiên cứu mớiđây chỉ ra rằng nếu chỉ đơn thuần sang chấn khớp cắn thì không có khả nănggây bệnh VQR, nhưng nếu có viêm thì nó làm tiêu xương ổ răng nhanh hơn
Tóm lại:
Hiện nay người ta đã đi đến thống nhất quan điểm về sinh bệnh học củaVQR là sự khởi phát của bệnh cũng như sự chuyển từ viêm lợi đến VQR phụthuộc vào hai yếu tố chính [21]
• Vai trò của vi khuẩn trong MBR, trong đó có những chủng vi khuẩnđặc hiệu chiếm ưu thế
• Sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể
Từ quan điểm khoa học trên, người ta kết luận: VQR là một bệnhnhiễm khuẩn [21]
1.2.2.1 Mảng bám răng (MBR) [19]
- Cấu tạo: mảng bám răng bản chất là mảng vi khuẩn Trung bình lmm3
có 108 vi khuẩn gồm 200 loại khác nhau Có loại đã biết nhưng có loại chưabiết Các vi khuẩn gram (+) (cầu khuẩn và trực khuẩn) ở hai ngày đầu tiên.Sau tiếp tục các loại vi khuẩn hình thoi, vi khuẩn sợi, xoắn khuẩn Các loại vikhuẩn gram (-), có các loại vi khuẩn ái khí và yếm khí Mảng bám hoàn chỉnhsau 14 đến 21 ngày và có khả năng gây bệnh
- Những loại vi khuẩn liên quan tới các thể bệnh vùng quanh răng
Trang 10+ Actinnobacillus actinomyce temcomitans
+ Capnocytophase
+ B Gingivalis
- Chất gian khuẩn là chất tựa để vi khuẩn sống và phát triển bao gồm:Các axít hữu cơ, đường: glucoza, dextran và các Protein
- Theo vị trí, người ta chia mảng bám răng: trên lợi và dưới lợi
• Mảng bám trên lợi: Lúc đầu mới hình thành mảng bám trên lợi(MBIL) có ít vi khuẩn, chỉ có nhiều tế bào bong ra của niêm mạc miệng Đầutiên 90% là cầu khuẩn gram (+), 10% là cầu khuẩn gram (-) bằng các loạigram (+) và mảng bám răng có nhiều vi khuẩn yếm khí và trực khuẩn gram (-)tăng, khởi điểm cho tổ chức viêm nhận thấy trên lâm sàng
• Mảng bám răng dưới lợi (MBRDL): MBR hình thành ở dưới lợi.Theo một số tác giả: Khi lợi phù nề gây ra bởi phản ứng viêm, nó làm cho bờlợi phủ một phần MBR để trở thành MBRDL; nó phát triển độc lập với sựtham gia của dịch ri viêm, làm thức ăn cho vi khuẩn phát triển, vi khuẩn yếmkhí ngày càng tăng, đánh răng lúc này không có kết quả Tuy chưa biết hếtloại vi khuẩn nhưng người ta cũng đã thấy trong viêm quanh răng tỷ lệ vikhuẩn gram (-) tăng và một số vi khuẩn đặc hiệu gây bệnh
- Mảng bám răng và vai trò của nó trong bệnh sinh quanh răng: MBR, thựcchất là màng vi khuẩn có khả năng gây hại vùng QR bởi 2 cơ chế tác động
• Tác động trực tiếp: Qua quá trình sống của vi khuẩn có các sản phẩmđào thải của chúng là các men và nội độc tố Men làm mềm yếu sợi keo, phânhuỷ tế bào, làm bong rách nhiều mô dính, dẫn đến viêm, nội độc tố gây ra sựtiết Prostaglandine làm tiêu xương
Trang 11• Tác động gián tiếp: Vi khuẩn và chất gian khuẩn đóng vai trò khángnguyên, gây bệnh bằng cơ chế miễn dịch tại chỗ Vi khuẩn và chất gian khuẩnkích thích tổ chức, làm cho cơ thể huy động hệ thống miễn dịch
Sản phẩm từ lymphocyte và những yếu tố hoạt hoá đại thực bào dẫnđến sự phá huỷ tổ chức quanh răng
Những vi khuẩn ở mảng bám răng kích thích làm khởi động hoạt hoánhững cơ chế miễn dịch (Miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế bào đặc hiệu vàkhông đặc hiệu) hoặc ức chế phòng vệ của túc chủ Trong tác động gián tiếp
hệ thống miễn dịch tế bào đóng vai trò liên quan trực tiếp đến phản ứng viêmvùng quanh răng và phản ứng viêm được biết đến rõ nhất bằng tỉ lệ (CRP)một protein c phản ứng tăng cao trong huyết thanh [29], [33]
1.2.2.2 Cao răng
Hình thành từ quá trình vô cơ hoá mảng bám răng hoặc do sự lắng cặnmuối canxi trên bề mặt răng, cổ răng, là tác nhân gây hại sau mảng bám răng
Yếu tố gây bệnh của cao răng là:
- Cao răng bám vào xương và chân răng làm bờ lợi không ôm khít cổrăng dễ bị kích thích gây viêm
- Vi khuẩn trên bề mặt cao răng đi vào nơi bờ lợi, rãnh lợi bong gây bệnh Theo vị trí bám, có 2 loại cao răng: trên lợi và dưới lợi
• Cao răng trên lợi: Nhìn thấy được màu vàng hoặc nâu xám, thườngxuất hiện ở những răng cạnh lỗ tuyến nước bọt, mặt ngoài răng 6-7 hàm trên,
ở hàm dưới thì ở mặt trong nhóm răng cửa và răng 6
• Cao răng dưới lợi: Nhìn rõ khi lợi đã bong ra khỏi cổ răng, màu xám,bám chắc vào răng; có thể nhìn thấy qua lọi và ánh sáng đèn soi, chụp phimsau ổ răng
Trang 121.2.2.3 Vi khuẩn trong MBR [21]
Vai trò gây bệnh của vi khuẩn đã được chứng minh từ những công trìnhcủa Loe (1965) gây viêm thực nghiệm Đây là nguyên nhân chủ yếu gặp hầuhết trong các bệnh viêm răng Ngay cả bệnh quanh răng do nguyên nhân khác,
sự có mặt của mảng bám cũng đóng góp làm cho bệnh nặng thêm
Hơn 10 năm qua, người ta chú ý đến vai trò vi khuẩn của mảng bámrăng và tìm vi khuẩn đặc hiệu ở mảng bám đó Qua nhiều năm nghiên cứu ởcác quần thể khác nhau trên thế giới đã chứng tỏ rằng có sự liên quan chặt chẽgiữa mảng bám răng (hay mảng bám vi khuẩn) với tỷ lệ bệnh quanh răng vàmức độ trầm trọng của bệnh Đó là một điều không còn nghi ngờ gì nữa
Cho đến nay những thể bệnh quanh răng khác nhau phải được coi như
là những bệnh nhiễm khuẩn (Page và Schroeder 1992), trong đó mỗi bệnhđược đặc trưng bởi sự chiếm ưu thế của một hay nhiều vi khuẩn đặc hiệu
• Viêm quanh răng cấp ở người trẻ:
Actinobacillus actinomyces temcomitans (Slots và cộng sự 1980) Bacteroides gingivalis (Tanner và cộng sự 1979)
Eikenella corrodens (Mandel 1984)
• Viêm quanh răng tiến triển nhanh gồm các loại:
Bacteroides gingivalis, Bacteric Fusifonne, Spirochete (Tanner và cộng
sự 1979)
• Viêm quanh răng người lớn thể nặng:
Actinobacillus actinomyces temcomitans, Bacteroides gingivalis,Bacteroides intermedius (Slots 1976)
• Viêm lợi loét hoại tử: Treponema, Bacteroides ontermedius,
Fusobacterium, Selenomonate (Locsche và cs 1980 V V )
Trang 131.2.2.4 Sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể [21]
Sự đáp ứng này có thể có những mặt yếu ở những giai đoạn khác nhau,
sự khởi động của nó có thể dẫn đến những hiện tượng tự phá huỷ Tuy những
vi khuẩn tác động tại chỗ, nhưng theo sự khác nhau trong phản ứng của túcchủ, có khi cùng một lượng mảng bám răng cũng sẽ gây ra những mức độviêm khác nhau ở những cá thể khác nhau
Trước đây sự đánh giá những yếu tố bệnh căn nội tại cho thấy là không
có một yếu tố nào quyết định cả Vì thế người ta chú ý đến tính chất đặc biệtcủa vùng quanh răng và các tổ chức quanh răng Khái niệm “Sức đề kháng”của vùng quanh răng ở đây không bao hàm trong cơ cấu giải phẫu tổ chứchoặc sinh hoá Sau khi xác định một cách rõ ràng mảng bám là tác nhân ngoạilai chính và kế đó là sự tiến bộ của miễn dịch học giúp cho người ta hiểu rõhơn khái niệm này
Hiện nay, khái niệm: Sức đề kháng của vùng quanh răng, chúng ta hiểunhư là khả năng của tổ chức quanh răng chống lại sự phát sinh của mảng bámrăng bao gồm:
* Sự sắp xếp giải phẫu của vùng quanh răng là tối ưu nhất
* Phản ứng miễn dịch của vùng quanh răng là có tác dụng và ý nghĩanhất trong sự bảo vệ các phương tiện quanh răng chống MBR Phản ứng miễndịch bao gồm: Đặc hiệu và không đặc hiệu
- Miễn dịch không đặc hiệu:
Nước bọt và các thành phần nước bọt trong miệng có tác dụng sáttrùng, làm tiêu vi khuẩn bởi các men như lysozym, các đại thực bào và yglobulin trong nước bọt
- Miễn dịch đặc hiệu bao gồm:
Trang 14* Miễn dịch dịch thể: là điều kiện để tạo ra những kháng thể của các
globulin miễn dịch, chúng sản xuất ra Plasma có vai trò quan trọng trong bệnhviêm quanh răng Những kháng thể cùng với kháng nguyên tạo thành phứchợp kháng nguyên - kháng thể mà trong đó kháng nguyên được trung hoà ởnơi tạo thành của phức hợp phát sinh hoại tử
* Miễn dịch tế bào: là đáp ứng miễn dịch chậm, những lymphocyte
nhạy cảm được làm môi giới và huy động tới kháng nguyên, trung hoà khángnguyên giải phóng tế bào lympho gây viêm Một cách tổng quát người ta chorằng những chất chuyển hóa trung gian có mặt trong quá trình phản ứng viêmgây sự phá hủy một cách tiềm tàng chúng có thể thuộc thể dịch như kinin mộtchất gây giãn mạch và gây đau bổ thể bởi sự sản xuất ra độc tố quá mẫn, làmtăng phản ứng viêm và sự xâm lấn bạch cầu Hệ thống đông máu có thể đượcvận dụng một cách có hệ thống có thể dẫn đến sự hình thành cục huyết tắc [19]
Và sự khởi bệnh viêm quanh răng phụ thuộc vào hai yếu tố chính:Những vi khuẩn của mảng bám tác động tại chỗ và sự phản ứng khác nhaucủa túc chủ Có khi cùng một lượng mảmg bám răng sẽ gây ra những mức độviêm khác nhau ở cá thể khác nhau
Sự xuất hiện của bệnh viêm quanh răng tương ứng với sự mất cân bằnggiữa sức đề kháng của túc chủ và các vi khuẩn chứa trong MBR và bề mặtrăng (Theo Pare và Schroeder 1976)
1.2.3 Phân loại bệnh quanh răng
Việc phân loại bệnh quanh răng là cần thiết cho việc chẩn đoán và điềutrị Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả phân loại: Năm 1884 Rhein đưa raphân loại đầu tiên, sau này Hội răng miệng quốc tế năm 1931 (F.D.I -Federation Dentaire International) và Hội nghiên cứu bệnh quanh răng đượcthành lập (ARPA - Association Pour Les Paradondopathies) và đưa ra phân
Trang 15loại bệnh quanh răng năm 1958 Tổ chức Y tế thế giới có phân loại năm 1961,
1978 và 1982 v.v Từ thực tế lâm sàng cách phân loại theo quan niệm mớiđược áp dụng đó là:
- Viêm quanh răng cấp tính trước tuổi dậy thì
- Viêm quanh răng cấp ở người trẻ
- Viêm quanh răng tiến triển nhanh
- Viêm quanh răng mãn ở người lớn tuổi
- Viêm lợi loét hoại tử VQR
1.2.4 Các chỉ số dùng trong điều tra dịch tễ học bệnh quanh răng
Có nhiều chỉ số được dùng trong điều tra dịch tễ học bệnh quanh răng,nhưng chủ yếu chúng tôi dùng các chỉ số sau:
1.2.4.1 Chỉ số lợi GI (Gingival index) theo Loe và Silness, 1965 [21]
- Mục đích: Đánh giá mức độ viêm của lợi
- Chọn răng và vùng lợi: 4 vùng lợi (xa, ngoài, gần, trong) được khámcho các răng đại diện (16 21 24 36 41 44)
- Phương pháp khám: Thổi khô răng và lợi, dưới ánh sáng vừa đủ, dùnggương sáng và sonde quanh răng
+ Sonde đưa ép vào lợi để xác định độ săn chắc lợi, nhìn màu sắc lợi + Đưa sonde vào rãnh lợi, đánh giá mức độ chảy máu
- Tiêu chuẩn đánh giá:
0 = Lợi bình thường: màu hồng nhạt, săn, thăm không chảy máu
1 = Viêm nhẹ: Nề nhẹ, lợi đổi màu, trương lực giảm, thăm dò khôngchảy máu
Trang 162 = Viêm trung bình: Lợi đỏ, nề láng bóng, chảy máu khi thăm
3 = Viêm nặng: Lợi đỏ, nề loét, thăm chảy máu và chảy máu tự nhiên
Cách tính:
- GI cho vùng: Một trong 4 mặt lợi (xa, ngoài, gần, trong) ghi mã số từ 0 - 3
- GI cho một răng: Cộng 4 mặt chia 4
- GI cho một nhóm răng: Ghi tổng số của các răng được khám trongnhóm chia cho số răng đã khám Chỉ số lợi có thể được xác định đối vớinhững răng đặc biệt, một nhóm răng, 1/4 hàm hoặc một phía miệng
- GI cho cá thể: Cộng tất cả mã số chia cho số răng khám Ngưỡng tínhcho bệnh nhân
Rất tốt TốtTrung bình Kém (nặng)
00,1-0,9
1 0 -1,9
2 0- 3,0Cách tính chỉ số lợi
Trang 17- Mục đích: Đánh giá mức sạch của miệng bởi bám các chất cặn và caorăng trên bề mặt răng
- Thành phần: Chỉ số VSM đơn giản có 2 thành phần (DI - S) - chỉ sốcặn đơn giản và (CI - S) chỉ số cao răng đơn giản Ghi 2 số bằng 2 mã khácnhau hoặc có thể kết hợp
Chọn răng và mặt răng
+ 6 răng đại diện: 16 26 11 mặt ngoài
36 46 31 mặt lưỡi+ Khám 1/2 chu vi răng đại diện cho bao gồm cả mặt bên tới vùng tiếp giáp Cách tiến hành:
+ Tối thiểu phải khám 2 trong 6 mặt cần khám
+ Ghi 6 mã số cặn và 6 mã số cao răng, chất lắng cặn ghi từ 0 - 3 chomỗi răng
- Ghi mã số:
+ OHI - s cho cá thể:
* Xác định chỉ số cặn đơn giản (DI - S) và chỉ số cao răng đơn gián (CI - S)
- Chia tổng mã số cho số vùng lục phân
-DI - S và CI - s thay đổi từ 0 - 3
* Chỉ số VSM đơn giản (OHI - S)
- Cộng DI - S và CI-S
- Giá trị OHI - s từ 0 - 6
+ Tính ngưỡng chuẩn:
DI: S và CI: S
Trang 181.2.4.3 Chỉ sô quanh răng về nhu cầu điều trị - CPITN (Community Periodontal Index of Treatment Needs) [21 ]
- Chỉ số dựa vào sự đánh giá những biểu thị về:
Trang 19+ Tình trạng chảy máu sau thăm nhẹ
+ Độ sâu của túi lợi
+ Sự có mặt của cao răng
Và để xác đinh nhu cầu ở điều tri đề tài này chúng tôi chia ra nhóm tuổi:
Trang 20thì tất cả các răng còn lại ở vùng đó sẽ được ghi làm đại diện của vùng đó mã
số cho nhu cầu điều trị CPITN được ghi từ 0 đến 4
- Tiêu chí đánh giá và nhu cầu điều trị (trình bày phần phương phápnghiên cứu)
1.3 Một vài nét về liên quan giữa bệnh quanh răng và bệnh đái tháo đường
Ảnh hưởng của ĐTĐ đến mô QR đã được nhiều tác giả trên thế giới chú ýnghiên cứu
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) theo tổ chức y tế Thế giới WHO ”là một
hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việcthiếu hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trongbài tiết và hoạt động của insulin ’’ [16]
Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnhhiểm nghèo, điển hình là bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, mùmắt, suy thận, liệt dương, hoại thư
.Tỉ lệ người mắc bệnh ĐTĐ ngày càng gia tăng trên thế giới.TheoWHOnăm 2025 sẽ có 300-330 triệu người mắc ĐTĐ chiếm tỷ lệ 5,4% dân số toàncầu Theo hiệp hội ĐTĐ quốc tế IDF năm 1994 có 110 triệu người mắcĐTĐ,năm 2000 có 151 triệu người mắc ĐTĐ Theo quĩ ĐTĐ thế giới WDF tỉ
lệ mắc ĐTĐ ở các nước phát triển tăng 42%, ở các nước đang phát triển tăng170% Bệnh có liên quan đến dân tộc,khu vực địa lý.Tỷ lệ ĐTĐ typ 2 caonhất số người Mỹ bản xứ và các đảo Thái Bình Dương 40% ở người trưởngthành [16] Bệnh có tốc độ phát triển khác nhau phụ thuộc vào trình độ pháttriển kinh tế,tỷ lệ ĐTĐ typ 2 ở khu vực thành phố cao hơn nông thôn và miềnnúi Ở các nước phát triển bệnh ĐTĐ chiếm tỉ lệ trung bình 6,2% ( năm 2003)
dự báo tỉ lệ này sẽ là 7,6% (vào năm 2025 ) [16]
Trang 21Tỉ lệ ĐTĐ ở Việt nam cũng ngày càng gia tăng, tỉ lệ ĐTĐ ở Hà nội năm
1990 là 1,2% năm 2002 tỉ lệ này là 2,16 % các nghiên cứu khác cũng cho kếtquả tỉ lệ ĐTĐ ở vùng núi 3,2% vùng đồng bằng ven biển là 4% và vùng đô thịkhu công nghiệp là 4,4%
ĐTĐ có 2 loại:ĐTĐ typ 1 và ĐTĐ typ 2 Bệnh đái tháo đường typ 2 chiếm
khoảng 90-95% trong tổng số bệnh nhân bệnh ĐTĐ, thường gặp ở lứatuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiệnngày càng nhiều ở lứa tuổi 30,thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên
Chẩn đoán xác định:
- Đường máu lúc đói ≥ 126 mg/dl (≥ 7 mmol/l) thử ít nhất 2 lần liên tiếp
- Đường máu sau ăn hoặc bất kỳ ≥ 200 mg/dl (≥ 11,1 mmol/l)
- Định lượng HbA1C
Ngoài các xét nghiệm này, HbA1C cũng là một xét nghiệm giúp việcchẩn đoán xác định bệnh tiểu đường mang lại kết quả chính xác Glucosetrong máu có thể gắn kết với hemoglobin (phần mang oxy) của hồng cầu đểtạo nên một phức hợp gọi là HbA1c (Hemoglobin glycosylat) Một khiglucose gắn kết với hemoglobin, nó sẽ ở đó và tồn tại đến hết đời sống củahồng cầu kéo dài khoảng 3 tháng Như vậy nếu nồng độ glucose trong máucàng cao thì lượng glucose gắn vào hemoglobin của hồng cầu càng nhiều, vànhư vậy nồng độ HbA1c cũng sẽ gia tăng Định lượng HbA1C đánh giá hồicứu tình trạng đường máu 2-3 tháng gần đây Đường máu cân bằng tốt nếuHbA1c < 6,5%
Biểu hiện bệnh ĐTĐ ở miệng: viêm góc mép, cảm giác khô và nóng trongmiệng, giảm lưu lượng nước bọt, thay đổi hệ vi sinh vật trong miệng Có thểnhiễm Candida albicans,liên cầu tan huyết,tụ cầu chiếm số lượng lớn
Trang 22Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của bệnhĐTĐ lên vùng QR,một số thay đổi ở vùng QR đã được mô tả như: lợi phì đạipolyp lợi mềm hoặc có cuống, áp xe vùng QR, VQR,lung lay răng Cơ chế là
do đường huyết và đường nước bọt làm thay đổi hệ vi sinh vùng QR và giảmkhả năng đề kháng tại chỗ
Bệnh VQR ở người ĐTĐ không theo một hình mẫu cố định nào.NgườiĐTĐ bị VQR và vệ sinh kém thường có viêm lợi nặng,túi lợi sâu, tiêu xươngnặng, áp xe QR
Người bệnh ĐTĐ thường có sưng nề lợi tiến triển trong đáp ứng với mảngbám vi khuẩn [21], [27] Đáp ứng này có thể liên quan đến mức độ kiểm soátđường máu, với những cá thể ĐTĐ được kiểm soát tốt có được mức độ viêmlợi giống như ở những người không mắc ĐTĐ và những cá thể ĐTĐ đượckiểm soát kém có sự viêm sưng lợi gia tăng một cách đáng kể [22], [28]
Trong một nghiên cứu được thực hiện ở bang Arizona với tộc người PimaIndian, nơi có tỷ lệ bệnh ĐTĐ týp 2 cao nhất trên thế giới (50% ở người trên 35tuổi) người ta đã thấy sự phổ biến của mất bám dính và tiêu xương ổ răng ởngười ĐTĐ là lớn hơn ở nhóm chứng không mắc ĐTĐ với cùng độ tuổi Trongmột phân tích đa biến thể nguy cơ, người ta đã thấy rằng những người ĐTĐ cónguy cơ mắc viêm quanh răng (VQR) lớn hơn 2,8 - 3,4 lần so với người khôngmắc ĐTĐ sau khi đã điều chỉnh về tuổi, giới và tình trạng VSRM [22]
Cũng trong một nghiên cứu được tiến hành trên 3.524 người từ 18 tuổi trởlên, người ta đã chứng minh được rằng có sự liên quan đáng kể giữa VQR vàĐTĐ ĐTĐ có thể không chỉ ảnh hưởng tới sự phổ biến, mức độ nặng củaVQR mà còn tới sự tiến triển của bệnh Nguy cơ tiêu xương tiến triển ở ngườiĐTĐ lớn hơn 4,2 lần so với người không mắc ĐTĐ, và đặc biệt nguy cơ nàylớn nhất ở những bệnh nhân dưới 34 tuổi
Trang 23Nhiều nghiên cứu trên lâm sàng đã chỉ ra rằng những bệnh nhân ĐTĐ mắcbệnh lâu ngày được kiểm soát kém có xu hướng phá hủy QR nặng hơn nhữngngười kiểm soát chuyển hóa tốt Seppala và đồng nghiệp đã chứng minh rằngnhững người ĐTĐ được kiểm soát kém có tỷ lệ mất bám dính và tiêu xươngtăng đáng kể so với nhóm kiểm soát chuyển hóa tốt Tervonen và Oliver chỉ rarằng những người kiểm soát chuyển hóa kém qua tiến trình 2 - 5 năm có tỷ lệ túi
QR sâu và mất bám dính lớn hơn đáng kể so với nhóm kiểm soát đường máu tốt.Nghiên cứu của Taylor và đồng nghiệp cũng cho kết quả tương tự [31]
Grossi và cộng sự đã nghiên cứu một số lượng lớn người ĐTĐ týp I2kiểm soát chuyển hóa kém có VQR nặng được điều trị nạo dưới lợi kết hợp vớidùng Doxycycline đường toàn thân (100mg/ ngày) hoặc dùng giả dược trong
14 ngày Kết quả nghiên cứu cho thấy sự kết hợp điều trị nạo dưới lợi vàDoxycycline toàn thân cho kết quả cải thiện đáng kể các thông số của kiểmsoát chuyển hóa [26]
Theo AAP tại Mỹ (2010) bệnh nhân ĐTĐ tỉ lệ mắc VQR 93% so vớibệnh nhân không mắc ĐTĐ tỉ lệ mắc VQR 63% VQR được coi là biếnchứng thứ 6 của ĐTĐ ĐTĐ được coi là yếu tố nguy cơ của bệnh VQR vàngược lại [16]
Khảo sát của Khoa Răng Hàm Mặt Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh chothấy bệnh nhân tiểu đường có nguy cơ VQR cao gấp 2,8 đến 3,4 lần ngườikhông bị tiểu đường Ở nhiều người, vi khuẩn gây viêm lợi và VQR có trongmảng bám và trong cao răng với số lượng lớn, chờ thời cơ để gây viêm nhiễm.Tuy nhiên trong trường hợp suy giảm miễn dịch hoặc ở bệnh nhân tiểu đường,
dù với số lượng nhỏ vi khuẩn vẫn có thể gây bệnh nặng, vết loét lanrộng.TS.BS Nguyễn Cẩn khuyên bệnh nhân tiểu đường cần quan tâm đến việc
Trang 24vệ sinh răng miệng thường xuyên và đúng cách, cạo cao răng và làm sạch chânrăng, phẫu thuật nha chu
Ở Việt Nam, trong một nghiên cứu được tiến hành tại khoa Nội tiết bệnhviện Bạch Mai, Nguyễn Xuân Thực đã kết luận tình trạng vệ sinh răng miệngcủa bệnh nhân đái tháo đường rất kém, mức độ viêm lợi 100% Tỷ lệ có túibệnh lý là 66,2% so với người không mắc bệnh ĐTĐ với p < 0,01 [18]
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Việc nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2016
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Khám lâm sàng đánh giá tình trạng quanh răng
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
- Khoa khám bệnh bệnh viện Bưu Điện
- Khoa Răng Hàm Mặt - Bệnh viện Bưu Điện
2.1.4 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Mẫu nghiên cứu những bệnh nhân được chẩn đoán và đang điều trịĐTĐ typ 2 ngoại trú tại khoa khám bệnh Bệnh viện Bưu Điện đồng ý thamgia nghiên cứu N=90
- Những bệnh nhân này không mắc các bệnh cấp tính, rối loạn tâm thầnkinh, không mất răng toàn bộ tại thời điểm nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu mô tả cắt ngang này chúng tôi tiến hành chọn mẫu bệnhnhân ngẫu nhiên trong thời gian 8/2014 đến 8/2016 và đánh giá kết quả
2.2.1 Các thông tin thu thập
Những bệnh nhân nghiên cứu đều được ghi vào bệnh án những thông tincần thiết thứ tự các mục (có mẫu bệnh án kèm theo)
- Hành chính
Trang 26- Tìm kiếm và tham khảo tài liệu
- Thiết lập mẫu hồ sơ bệnh án dùng trong nghiên cứu
2.2.3 Dụng cụ và phương tiện khám
- Khay khám gồm: gương nha khoa, gắp, sonde thăm quanh răng, bông
- Sonde thăm quanh răng là dụng cụ đặc biệt theo tiêu chuẩn WHO
2.2.4 Cây thăm dò quanh răng
- Đây là dụng cụ thăm quanh răng đặc biệt của Tổ chức Y tế thế giớiMục đích đo độ sâu túi lợi phát hiện cao răng dưới lợi, phát hiện chảy máutrong và sau khi thăm khám
- Cây thăm dò có tay cầm mảnh và nó rất nhẹ Đây là cây thăm dò đầu
có hình cầu có đường kính 0,5mm có đánh dấu vạch màu đen, giới hạn dướicủa vạch đen cách đầu tận cùng của cây thăm dò là 3,5mm, giới hạn trên củavạch màu đen cách đầu tận cùng cây thăm dò là 5,5m
Cây thăm quanh răng (theo WHO)
- Cách sử dụng cây thăm dò:
+ Cầm cây thăm dò sao cho trục của phần đầu cây thăm dò song songvới trục của răng được khám, đưa đầu cây thăm dò nhẹ nhàng vào trong túilợi (giữa khoảng cách răng và lợi) tới độ sâu nhất định cảm giác được Chiều
Trang 27sâu đó của túi lợi được đọc bởi sự quan sát vị trí của vùng màu đen Sự thăm
dò có thể được thực hiện bằng cách rút đầu cây thăm dò mỗi lần thăm ra khỏitúi lợi hoặc thay đổi, với đầu dò vẫn còn trong vùng lợi, có thể đi xung quanhrăng ở 6 điểm cho mỗi răng khám:
“nhân cảm” nhất định Khi đưa đầu thám châm vào túi lợi nếu nhìn thấy giới hạndưới của vạch màu đen thì túi đó sâu < 3,5mm, thấy giới hạn trên của vạch màuđen thì túi đó sâu < 5,5mm, không nhìn thấy vạch màu đen thì ≥ 6mm
+ Lực dùng để thao tác, theo y văn, khoảng 15 – 25gr trước khi khámcần thử nghiệm để xác định lực đó: đưa đầu cây thăm dò lách vào kẽ dướimóng tay cái nhẹ nhàng, ấn khi thấy trắng phần móng tay đó (≈ 15 – 20gr).Nếu dùng lực quá mạnh khi thăm khám sẽ làm bệnh nhân đau và chảy máu.+ Thời gian theo dõi phản ứng chảy máu lợi sau thăm khám và chảy máu
2.2.5 Khám răng và tổ chức quanh răng đánh giá
2.2.5.1 Lợi
Màu sắc độ chắc của lợi, đánh giá bằng chỉ số lợi với mã số sau (theo GI):
- Code 0: Tổ chức quanh răng bình thường (lành mạnh)
- Code 1: Viêm nhẹ nề nhẹ, không chảy máu khi thăm, lợi đổi màu ít
- Code 2: Viêm trung bình lợi đỏ, nề láng bóng, chảy máu khi thăm
- Code 3: Lợi đỏ nề loét, thăm chảy máu hoặc chảy máu tự nhiên
Trang 28- GI cho vùng: một trong 4 mặt lợi (xa, ngoài, gần trong) ghi mã số từ 0 – 3.
- GI cho 1 răng: cộng 4 mặt chia 4
- GI cho 1 nhóm răng: ghi tổng số của các răng được khám trong nhómchia cho số răng đã khám Chỉ số lợi có thể được xác định đối với những răngđặc biệt, một nóm răng, ¼ hàm hoặc phía miệng
- GI cho cá thể: Cộng tất cả mã số chia cho số răng khám
Cho 1 nhóm: GI = GI người khámSố người khám
2.2.5.2 Chỉ số vệ sinh miệng đơn giảm OHI – S
Mục đích: Đánh giá mức sạch của miệng bởi mức bám các chất cặn caorăng trên bề mặt răng
- Thành phần: Chỉ số VSM đơn giản có 2 thành phần DI – S chỉ số cặnđơn giản và CI – S chỉ số cao răng đơn giản Ghi 2 chỉ số bằng 2 mã khácnhau hoặc có thể kết hợp
- Chọn mặt răng của 6 răng làm đại diện cho mỗi vùng lục phân
Trang 29R11, R31, R16, R26 khám mặt ngoài R36, R46 khám mặt lưỡi.
- Cách khám dùng thăm quanh răng để khám bằng mắt thường
Tiêu chuẩn đánh giá:
+ DI-S: cặn bám trong miệng là chất ngoại lai, mềm phủ trên bề mặtrăng gồm có mảng bám vi khuẩn và thực ăn thừa
0: Không có cao răng
1: Cao răng trên lợi có ở 1/3 bề mặt thân răng
2: Cao răng trên lợi bám từ 1/3 – 2/3 bề mặt thân răng hoặc cảm giácthấy cao răng dưới lợi quanh cổ răng
3: Cao rang trên lợi bám 2/3 bề mặt răng và có cao răng dưới lợi
Ghi 6 mã số cặn và 6 mã số cao răng từ 0 – 3 cho mỗi răng:
DI.S = Tổng số mã số chất cặn
Tổng số răng khám
CI.S = Tổng số mã số chất cặnTổng số răng khámCách tính cho 1 người: OHI.S = DI.S + CI.S
Cách tính cho 1 nhóm: Cộng tất cả chỉ số chia cho số người khám
Tính ngưỡng chuẩn:
DI.S và CI.S:
Trang 302.2.5.3 Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng CPITN
Khám phát hiện và hướng dẫn cá thể hoặc nhóm nhu cầu điều trị quanh răng
* Cách khám: Chia bộ răng thành 6 vùng, đánh giá mỗi vùng 1 răng:răng 6 ở phía sau, răng cửa giữa phải trên và răng cửa giữa trái dưới, lục phânphía sau bắt đầu phía sau răng nanh, vùng lục phân còn ít nhất 2 răng hoặchơn, còn chức năng Khi vùng chỉ còn một răng thì cho sang vùng bên cạnh.Nếu vùng không còn răng nào thì gạch chéo (X)
Dùng sonde thăm của Tổ chức Y tế thế giới, xác định độ sâu của túi, độsâu của túi lợi là khoảng cách đo từ vị trí đáy túi lợi tới bờ lợi Dùng lực 15 –25gr tránh gây khó chịu cho bệnh nhân, nhìn vào cột màu nhận biết túi sâu <3,5mm; 3,5 – 5,5mm và > 5,5mm
* Tiêu chuẩn: 5 mức độ được ghi:
Code 0 = Tổ chức quanh răng bình thường (lành mạnh)
Code 1 = Chảy máu sau thăm nhẹ
Code 2 = Cao răng trên hoặc dưới lợi
Code 3 = Túi sâu 4 – 5mm
Code 4 = Túi bệnh lý sâu ≥ 6mm
Phân loại nhu cầu điều trị quanh răng: bệnh nhân được phân loại cácmức (0, I, II, III) nhu cầu điều trị theo mã số cao nhất trong khi khám
0 = Không cần điều trị (Code 0)
Trang 31I = Hướng dẫn vệ sinh răng miệng (Code 1).
II = Hướng dẫn VSRM + lấy cao răng và làm nhẵn mặt chân răng, loạitrừ mảng bám, sửa lại sai sót trong hàn răng và chụp răng (Code 2, 3)
III = I + II + điều trị phức hợp lấy cao răng và làm nhẵn mặt chân răng,nạo mở có tê và phẫu thuật (Code 4)
CPITN cho 1 người
2 vùng mất (x) mã số code 2, 3, 4 cho khám những vùng còn lại ghi hồ
sơ và làm kế hoạch điều trị
- Xử lý số liệu bằng máy tính theo chương trình toán thống kê y học trênchương trình SPSS 20.0
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới
Sự phân bố theo nhóm tuổi chủ yếu là nhóm tuổi 61-70
Bảng 3.2: Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc ĐTĐ, giới
Trang 35Bảng 3.4 Tình trạng mất răng theo số lượng bệnh nhân và số răng mất
Số người mất răng do viêm