1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả giảm đau và tác dụng không mong muốn của gây tê ngoài màng cứng liên tục bằng ropivacain ở các nồng độ khác nhau phối hợp với fentanyl sau phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ tử cung

46 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức y tế thế giới WHO, Hội nghiên cứu đau quốc tế IAPS đãcông bố tại hội nghị Montreal năm 2011 coi việc điều trị đau là quyền conngười, một số trung tâm y khoa lớn trên thế giới còn

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau sau phẫu thuật là một vấn đề được chú trọng, không những ở nhữngnước phát triển mà ở cả Việt Nam hiện nay Đau là một trong những ám ảnhcho bệnh nhân khi phải trải qua phẫu thuật Đau gây ra những cảm giác khóchịu, lo lắng sợ hãi không những cho bệnh nhân mà cả gia đình, người thân.Đau ảnh hưởng đến tâm lý, sinh hoạt, đời sống xã hội cũng như quá trìnhphục hồi của người bệnh Mặt khác đau còn gây ra hàng loạt các rối loạn tạicác hệ thống cơ quan như tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, nội tiết, miễn dịch…

Từ đó làm chậm quá trình hồi phục sau phẫu thuật

Tổ chức y tế thế giới (WHO), Hội nghiên cứu đau quốc tế (IAPS) đãcông bố tại hội nghị Montreal năm 2011 coi việc điều trị đau là quyền conngười, một số trung tâm y khoa lớn trên thế giới còn coi đau như là dấu hiệusinh tồn thứ năm (fifth vital sign)[1], để bệnh nhân phải chịu đau đớn trongquá trình nằm viện là điều không thể chấp nhận được cả khía cạnh chuyênmôn cũng như đạo đức Chính vì vậy mà việc điều trị đau sau phẫu thuật làmột vấn đề cơ bản và cấp thiết trong các phẫu thuật nhằm giúp người bệnhgiảm sự đau đớn, nỗi ám ảnh về tâm lý, dần phục hồi chức năng bị tổnthương, vận động sớm, giảm các biến chứng và tạo nên sự thoải mái cho bệnhnhân sau phẫu thuật

Trong những năm gần đây hiểu biết về đau cũng như sự phát triển vềmặt dược lý, các kỹ thuật giảm đau tiên tiến càng đạt được những bước tiếnlớn, nhưng kiểm soát đau trên thực tế dường như không đạt được kết quả nhưmong muốn, ngay cả những nước có nền y học phát triển trên thế giới.Sommer M (2008) nghiên cứu tỷ lệ đau sau phẫu thuật trên 1420 bệnh nhântại Hà Lan cho thấy 30% bệnh nhân phải chịu đựng cơn đau mức trung bình

và nặng vào ngày đầu sau phẫu thuật[2] Couseiro (2009) nghiên cứu trên 187

Trang 2

bệnh nhân ở Bồ Đào Nha cho thấy 46% báo cáo đau trong 24 giờ đầu sauphẫu thuật [3] Tại Việt Nam, điều tra gần đây của Nguyễn Hữu Tú và cộng

sự cho thấy 59% bệnh nhân ở tuần đầu tiên, 32% bệnh nhân ở tuần thứ hai và7% bệnh nhân ở tuần thứ ba phải chịu mức độ đau từ nhiều đến rất đau [4].Bên cạnh các biện pháp giảm đau truyền thống (NSAIDs), các opioid đườngtiêm dưới da, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch ngắt quãng, việc áp dụng các biệnpháp giảm đau tiên tiến như đặt catheter phong bế thần kinh ngoại vi, catheterngoài màng cứng hay giảm đau do bệnh nhân tự điều khiển,… đã mang lạinhiều lựa chọn hiệu quả hơn cho điều trị đau

Phẫu thuật nội soi cắt tử cung hoàn toàn thường gây đau cấp sau phẫu thuật[5],[6], [18],[20], mức độ đau khác nhau tùy thuộc vào mức độ can thiệp củaphẫu thuật, bệnh nhân mổ lần đầu hay có mổ can thiệp trước đó Ở vùng phẫuthuật này, biện pháp giảm đau bằng đường tĩnh mạch, tiêm bắp( dưới da), uốnghay gây tê được nghiên cứu- áp dụng Sử dụng thuốc giảm đau paracetamol,NSAIDs, hoặc thậm trí sử dụng thuốc giảm đau họ morphin, các thuốc tê thế hệtrước cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng, nhưng đôi khi hiệu quả giảm đauchưa được như mong đợi và còn nhiều tác dụng phụ không mong muốn, còn gâyđộc cho tim mạch và thần kinh

Chính vì mục đích nhằm đạt được hiệu quả giảm đau tốt nhất và giảmthiểu những tác dụng không mong muốn, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả giảm đau và tác dụng không mong muốn của gây tê ngoài màng cứng liên tục bằng Ropivacain ở các nồng độ khác nhau phối hợp với Fentanyl sau phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ tử cung”,

với hai mục tiêu:

1 Đánh giá tác dụng giảm đau của Ropivacain 0,08% và 0,1% phối hợp Fentanyl 1mcg/ml

2 Đánh giá một số tác dụng không mong muốn của phương pháp giảm đau trên.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Sinh lý đau

1.1.1 Định nghĩa của cảm giác đau

Theo IASP: “Đau là một cảm nhận thuộc về giác quan và xúc cảm do tổnthương đang tồn tại hoặc tiềm tàng ở các mô gây nên và phụ thuộc vào mức

độ nặng nhẹ của tổn thương ấy” [5] Đây là định nghĩa được chấp nhận rộngrãi nhất hiện nay, cho thấy bản chất cũng như tính chất phức tạp của quá trìnhcảm nhận đau

Về mặt lâm sàng, một định nghĩa khác được cho là thực tế hơn khi coi

“Đau là những gì bệnh nhân trải nghiệm, cảm nhận thấy và cho rằng đó làđau” [6] Về bản chất đau là dấu hiệu có tính chất chủ quan do đó khó lượnggiá một cách chính xác và đầy đủ

Hiện nay, có quan niệm cho rằng đau là chức năng tích hợp của cơ thểnhằm động viên các hệ thống chức năng khác nhau, bảo vệ cơ thể tránh tácđộng của các yếu tố gây hại và bao gồm nhiều thành phần khác nhau như ýthức, cảm giác, trí nhớ, động lực, các phản ứng thực vật, phản ứng soma vàtập tính, cảm xúc [7] Như vậy, cảm giác đau có tính chất vô cùng phức tạp

1.1.2 Phân loại cảm giác đau[8]

- Theo cơ chế gây đau

+ Đau cảm thụ (nociceptive pain): Đau do tổn thương tổ chức (cơ, da,nội tạng,…) gây kích thích vượt ngưỡng đau

+ Đau thần kinh (neuropatic pain): Là chứng đau do những tổn thươngnguyên phát hoặc những rối loạn do hệ thần kinh gây nên

+ Đau hỗn hợp (mixed pain): gồm cả cơ chế đau cảm thụ và đau thần kinh + Đau do căn nguyên tâm lý (psychogenic pain)

Trang 4

- Theo thời gian đau:

+ Cấp tính: là đau mới xuất hiện, có cường độ mạnh mẽ

+ Mãn tính là chứng đau dai dẳng tái đi tái lại nhiều lần

- Theo khu trú đau:

+ Đau cục bộ: là cảm nhận vị trí đau trùng với vị trí tổn thương

+ Đau xuất chiếu là cảm nhận vị trí đau ở vị trí khác với vị trí tổn thương + Đau lan xiên: là cảm giác đau gây ra do sự lan tỏa từ một nhánh dâythần kinh này sang một nhánh dây thần kinh khác

1.1.3 Cơ chế dẫn truyền cảm giác đau

Dẫn truyền đau không phải là quá trình dẫn truyền đơn giản các xungđộng từ ngoại vi đến các trung tâm ở vỏ não, mà là một hiện tượng phức tạpbao gồm nhiều giai đoạn mà kết quả cuối cùng là sự khu trú và cảm nhận vềđau[9]

Hình 1.1 Các đường dẫn truyền đau[10]

Trang 5

1.1.3.1 Ổ nhận cảm đau

Cơ quan nhận cảm (nociceptors) là các thụ thể chịu trách nhiệm về việcphát hiện đau, chúng là tận cùng các dây thần kinh; được phân bố nhiều ở da,diện khớp, màng xương, xung quanh thành các mạch máu và có số lượng íthơn trong các cơ quan nội tạng Ở điều kiện bình thường, cơ quan nhận cảmđau "im lặng" không hoạt động Khi mô tổn thương xảy ra phản ứng viêm bắtđầu với các enzym được tiết ra từ các tế bào bị hư hại Những enzym này hoạtđộng như những chất hóa học gây kích thích các cơ quan nhận cảm đau gây raxung động dẫn truyền cảm giác đau[11]

Cơ chế nhận cảm đau của các thụ cảm thể chưa được hiểu biết rõ ràng Cóthể các tác nhân gây đau đã kích thích các tế bào tại chỗ giải phóng ra các chấttrung gian hóa học như các kinin (bradykinin, serotonin, histamin), một sốprostaglandin, chất P Các chất trung gian hóa học này tác động lên thụ cảm thểnhận cảm đau làm khử cực các thụ cảm thể này và gây ra cảm giác đau

Hình 1.2 Các mediator đau[11]

1.1.3.2 Dẫn truyền cảm giác đau từ ngoại vi vào tủy sống

Dẫn truyền cảm giác từ ngoại vi vào tủy sống do thân tế bào neuron thứnhất nằm ở hạch gai rễ sau đảm nhiệm

Trang 6

Các sợi Aα và Aβ (týp I và II) là những sợi to, có bao myelin, tốc độ dẫntruyền nhanh, chủ yếu dẫn truyền cảm giác bản thể (cảm giác sâu, xúc giác tinh).Các sợi Aδ (týp III) và sợi C là những sợi nhỏ và chủ yếu dẫn truyềncảm giác đau, nhiệt và xúc giác thô Sợi Aδ là sợi dẫn truyền cảm giác đaunhanh, còn sợi C là sợi dẫn truyền cảm giác đau chậm[11].

1.1.3.3 Dẫn truyền cảm giác đau từ tủy sống lên não

Đường dẫn truyền cảm giác đau, nhiệt và xúc giác thô (sợi Aδ và C) đi

từ rễ sau vào sừng sau tủy sống, ở đó các axon của neuron thứ nhất hayneuron ngoại vi kết thúc và tiếp xúc với neuron thứ hai trong sừng sau tủysống theo các lớp khác nhau (lớp rexed) Các sợi Aδ tiếp nối synap đầu tiêntrong lớp I (viền waldeyer) và lớp V, trong khi sợi C tiếp nối synap đầu tiêntrong lớp II (chất keo rolando) Có hai nhóm tế bào chính được hoạt hóa bởiviệc kích thích các sợi nhỏ, mảnh:

+ Nhóm các neuron nhận cảm đau tổn thương không chuyên biệt: cácneuron này đáp ứng cùng một lúc với các kích thích cơ học nhẹ và với nhữngkích thích nhận cảm đau tổn thương cơ học, nhiệt và đôi khi hóa học

+ Nhóm neuron nhận cảm đau tổn thương chuyên biệt: các neuron này

chỉ bị hoạt hóa khi có các kích thích cơ học và kích thích nhiệt dữ dội[11] 1.1.4 Cơ chế gây đau sau phẫu thuật nội soi ổ bụng

Cho đến nay, nguyên nhân đau sau phẫu thuật nội soi ổ bụng vẫn còn làgiả thiết Dường như giả thiết được nhiều người chấp nhận hơn cả là giả thiết

do CO2 được đưa vào ổ bụng với một số lượng lớn Khí CO2 được bơm vào ổbụng kết hợp với H2O tạo thành H2CO3, chính axít này kích thích phúc mạcgây nên hiện tượng viêm dẫn tới cảm giác đau [25]

Trang 7

Ở một khía cạnh khác, sự tồn dư của khí CO2 ở vòm hoành sau mổcũng là nguồn gốc của đau hai vai sau phẫu thuật nội soi ổ bụng Tuy nhiên,bệnh nhân thường đau vai trái hơn vì vòm hoành phải được bảo vệ tốt hơn do

có gan che chắn Cảm giác đau vai thường kéo dài trên 24 giờ Một số nghiêncứu xác nhận, khí tồn dư trong khoang phúc mạc có thể quan sát được trên X-quang cho tới ngày thứ ba sau mổ [25]

1.1.5 Chi phối cảm giác đau ở các lỗ chọc trocar

Đau ở chỗ rạch da, nơi chọc trocar trong mổ nội soi cắt tử cung hoàntoàn, nằm trong vùng bụng từ rốn trở xuống, chi phối cảm giác bởi các sợidây thần kinh tủy sống được tác ra từ T10 đến T12, kích thích trực tiếp thầnkinh nhận cảm cảm giác ở thành bụng của vùng này

Trang 8

Hình 1.3 Chi phối cảm giác đau ngoài da

1.1.6 Chi phối cảm giác đau vùng tử cung phần phụ

Tử cung, phần phụ là một tạng nằm trong chậu hông, được chi phối bởicác ợi thần kinh tủy sống tác ra từ T10, T11, T12 cho vùng đáy tử cung Cácnhánh từ S2-S4 và đám rối hạ vị, đám rối thần kinh thẹn chi phối cổ tử cung

và âm đạo

Hình 1.4 Thần kinh chi phối tử cung phần phụ

Trang 9

Ngoài ra cơ chế đau vùng tử cung phần phụ còn tuân theo cơ chế đauquy chiếu, nghĩa là:Thông thường, một người cảm nhận đau trong một phần

cơ thể thì cảm giác ấy xuất phát từ mô gây đau

Hình 1.5 Cơ chế đau quy chiếu

Theo hình minh họa trên, những sợi thần kinh dẫn truyền cảm giác đau từcác tạng có cùng vị trí tiếp nối synapse sang neuron thứ 2 tại tủy sống với cácđường cảm giác từ da Cụ thể là, nếu kích thích đau sợi cảm giác tạng, cơn đau

sẽ được nhận thức như một cơn đau xuất phát từ da Vậy nên, người bệnh dễ lầmtưởng cảm giác đau đớn này hoàn toàn có nguồn gốc từ da mà thôi

1.2 Các phương pháp đánh giá đau

Để điều trị đau hiệu quả, an toàn thì bước quan trọng đầu tiên là phảiđánh giá đúng mức độ và bản chất của đau Tuy nhiên, đau là cảm nhận chủquan của bệnh nhân đồng thời chịu sự tác động của nhiều yếu tố do đó trênthực tế việc đánh giá mức độ đau không phải lúc nào cũng dễ dàng và chínhxác nếu chỉ dựa vào thông báo của bệnh nhân Do đó, ngoài cảm nhận chủquan của bệnh nhân cần xem xét tới yếu tố khác như dấu hiệu sinh tồn (Mạch,huyết áp, kiểu thở), biểu hiện về cảm xúc và hành vi khi lượng giá đau[12]

1.2.1 Phương pháp khách quan

Trang 10

- Đo sự thay đổi các chỉ số sinh hóa máu: nồng độ hormone, catecholamine,cortisol…là những phương pháp tốn kém, không chính xác vì có nhiều yếu tốảnh hưởng tới kết quả

- Đo sự thay đổi các chỉ số hôhấp: khí máu, thể tích thở ra gắng sứctrong giây đầu tiên (FEV1), cung lượng đỉnh thở ra (VEFR), thể tích khí lưuthông (Vt)

- Tính lượng thuốc giảm đau (Morphine, Fentanyl, Dolargan…) mà bệnhnhân dùng qua hệ thống giảm đau PCA[13]

1.2.2 Phương pháp đánh giá chủ quan

- Thang điểm lượng giá bằng số ( Verbal Numeric Rating Scale - VNRS)

Đây là thang điểm đơn giản đánh giá đau theo cảm nhận chủ quan củangười bệnh Việc đánh giá dựa trên một thước thẳng gồm 11 điểm được đánh số

từ 0 đến 10 trên đó các điểm 0,3,5,7 và 10 tương ứng với các mức độ: “khôngđau”, “đau nhẹ”, “đau trung bình”, “đau nhiều”, “đau không chịu nổi”[14]

-Thang điểm nhân hình đồng dạng ( Visial Analog Scale - VAS)

Đây là thang điểm được sử dụng phổ biến nhất trên lâm sàng ThướcVAS được cấu tạo gồm hai mặt Mặt giành cho bệnh nhân đánh giá ở phía tráighi chữ “không đau” và phía phải ghi chữ “đau không chịu nổi”[6]

Thang điểm này có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểu đối với bệnh nhân và cóthể thực hiện nhanh và lặp lại nhiều lần để đánh giá mức độ đau và hiệu quảđiều trị[14]

Trang 11

Hình 1.6 Thước VAS[16]

Dựa vào thang điểm VAS cường độ đau được chia làm 3 mức độ: đau íttương ứng với VAS ≤ 3 cm, đau vừa hay đau trung bình khi VAS trongkhoảng từ 4 đến 7 cm và đau nặng hay đau nhiều khi VAS > 7 cm Trong giaiđoạn hồi tỉnh bệnh nhân diễn đạt bằng lời nói bị hạn chế, lúc này VAS đượccho là thang điểm thích hợp để đánh giá đau và đa số tác giả thống nhất khiVAS từ 4cm trở lên là tương ứng với mức độ đau cần điều trị[16],[17]

1.3.Dược động học của Ropivacain- Tên thương mại là Anaropin

Trang 12

1.3.2 Dược động học[30]

- Hấp thu: Nồng độ ropivacain trong huyết tương phụ thuộc vào liều, loại phong bế và sự phân bố mạch ở vị trí tiêm Ropivacain có dược lực học tuyến tính Nồng độ tối đa trong huyết tương tỉ lệ với liều.

- Phân bố: Trong huyết tương, ropivacain chủ yếu liên kết với acid glycoprotein trong đó dạng tự do chiếm gần 6%.

- Chuyển hóa: ropivacain được chuyển hóa chủ yếu ở gan bởi phản ứnghydroxyl hóa nhân thơm tạo thành 3-hydroxy-ropivacain( được chuyển hóabởi CYP1A2) và phản ứng khử N-alkyl ( được chuyển hóa bởiCYP3A4)

- Thải trừ: Các chất chuyển hóa được thải trừ qua thận

- Gây tê ngoài màng cứng trong phẫu thuật, bao gồm cả mổ đẻ

-Gây tê tủy sống

- Phong bế thần kinh lớn

Trang 13

- Phong bế thần kinh ngoại biên, gây tê vùng có chọn lọc, gây tê thấm

- Giảm đau cấp: Truyền liên tục ngoài màng cứng hoặc tiêm liều cao gián đoạn đẻ giảm đau sau phẫu thuật hoặc giảm đau sau đẻ [33].

* Liều lượng và cách dùng:

Gây tê phẫu thuật thường cần dùng liều cao và nồng độ cao hơn so với nồng

độ 0,2% được chỉ định chung cho giảm đau cấp.

-Tác dụng tê bề mặt của ropivacain:

+ Đặc điểm gây tê: thời gian khởi tê chậm, tác dụng gây tê lâu, cường

độ gây tê mạnh [30]

+ Thuốc tê tác dụng trên tất cả các sợi thần kinh trung ương và thầnkinh thực vật lần lượt từ sợi bé đến sợi to tùy theo nồng độ của thuốc Thứ tựmất cảm giác là: đau, lạnh, nóng, xúc giác nông rồi đến xúc giác sâu Khi hếtthuốc, tác dụng phục hồi theo chiều ngược lại

+ Gây tê bề mặt bôi hoặc thấm thuốc tại chỗ: Dung dịch (0.1% - 1%).+ Gây tê tiêm ngấm dưới da để thuốc ngấm được vào tận cùng thầnkinh: Dung dịch (0.1% - 1%), liều tối đa 3mg/kg thể trọng

* Chống chỉ định [30]:

- Ropivacaine tuyệt đối không được dùng để gây tê tĩnh mạch

- Thận trọng khi dùng đối với bệnh nhân trong tình trạng sốc, tụt huyết

áp, thiếu khối lượng tuần hoàn, bệnh lý về tim mạch

- Dị ứng với các chất gây tê nhóm amino amid

1.3.5 Độc tính của ropivacain

Sau khi tiêm tủy sống, thường không xuất hiện độc tính toàn thân do dùngliều thấp Tiêm tủy sống liều quá cao có thể gây phong bế toàn bộ tủy sống

Trang 14

- Độc tính toàn thân:phản ứng nhiễm độc toàn thân chủ yếu liên quan đến

hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch

- Độc tính lên thần kinh trung ương: Diễn ra từ từ, với các triệu chứng

1.4 Dược động học của thuốc họ morphin/ Fen tanyl

1.5 Giải phẫu tử cung và phần phụ[29]

1.5.1 Giải phẫu tử cung

Tử cung có dạng hình nón cụt, đáy rộng ở trên và hẹp ở dưới, chia làm

ba phần: Thân tử cung, eo tử cung, cổ tử cung

Trang 15

1.7 Các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật

1.7.1.Phương pháp paracetamol và NSAIDs

1.7.2 Phương pháp Opioid toàn thân

1.7.3 Phương pháp gây tê: Gây tê ngoài màng cứng - Gây tê thân thần kinh- Gây tê thấm liên tục qua vết mổ

Trang 16

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu.

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Tất cả các bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn quanội soi

- ASA I đến II

- Tâm thần bình thường, đồng ý làm giảm đau sau mổ bằng phương phápgây tê ngoài màng cứng, hợp tác tham gia nghiên cứu

- Không có chống chỉ định với gây tê ngoài màng cứng

- Được hướng dẫn đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có rối loạn đông máu

- Bệnh nhân bị ung thư di căn tới nhiều cơ quan

- Bệnh nhân có tai biến hoặc biến chứng về phẫu thuật hoặc gây mê

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.

- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2018 tới tháng 6/2019

- Tại Khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức Bệnh viện phụ sản Trung Ương

2.3 Phương pháp nghiên cứu.

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu.

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đơn có so sánh

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu.

Trang 17

Nghiên cứu tiến hành trên 80 bệnh nhân chia thành hai nhóm, mỗi nhóm

40 bệnh nhân theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện

Cho đến khi mỗi nhóm đủ 40 bệnh nhân

Cả hai nhóm đều sử dụng một công thức giảm đau sau phẫu thuật bằngbolus 8 ml dung dịch thuốc tê sau đó truyền liên tục bằng máy 6 ml/giờ trongvòng 72 giờ

2.4 Tiến hành nghiên cứu.

2.4.1 Chuẩn bị bệnh nhân.

- Bệnh nhân được khám trước phẫu thuật 1 ngày Được giải thích tư vấnđộng viên để bệnh nhân an tâm, tin tưởng và hợp tác tốt với thầy thuốc trongquá trình nghiên cứu

- Giải thích cho bệnh nhân về đau sau phẫu thuật cũng như mục đíchnghiên cứu, cách tiến hành, hiệu quả, các tác dụng không mong muốn có thểxảy ra và biện pháp điều trị Bệnh nhân xác nhận đã được giải thích và đồng ýtham gia nghiên cứu

- Khai thác tiền sử: dị ứng với thuốc tê, kháng sinh và các thuốc khác…

- Hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thước đánh giá độ đau VAS

- Kiểm tra và bổ sung các xét nghiệm cần thiết, phát hiện các bệnh lýkèm theo, các tiêu chuẩn đảm bảo cho cuộc phẫu thuật và gây mê hồi sức

2.4.2 Cách thức tiến hành.

Trang 18

- Tại Phòng Mổ:

Tiến hành gây tê ngoài màng cứng tại vị trí L1-2 ( kiểm tra đúng kỹthuật bằng test Lidocain 1% - 40mg có pha adrenalin 1/200000 UI)

Nêu quy trình và kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng

Bệnh nhân được gây mê nội khí quản theo quy trình:

+ Khởi mê: Propofol 2,5mg/ kg

+ Thời gian nghiên cứu 72 giờ, tính từ thời điểm bệnh nhân sau rút ốngnội khí quản, tỉnh táo hoàn toàn, có thể đánh giá thang điểm VAS

+ Các thời điểm nghiên cứu:

 T0: Khi bệnh nhân tỉnh táo hoàn toàn ( Khi rút ống NKQ)

 T1: Sau thời điểm T0 - 15 phút

 T2: Sau thời điểm T0 - 30 phút

 T3: Sau thời điểm T0 - một giờ

 T4: Sau thời điểm T0 - hai giờ

Trang 19

 T6: Sau thời điểm T0 - sáu giờ.

 T12: Sau thời điểm T0 - mười hai giờ

 T24: Sau thời điểm T0 - hai mươi bốn giờ

 T36: Sau thời điểm T0 - ba mươi sáu giờ

 T48: Sau thời điểm T0 - bốn mươi tám giờ

 T60: Sau thời điểm T0 - sáu mươi giờ

 T72: Sau thời diểm T0 - bảy mươi hai giờ

2.5 Các biến số và chỉ số nghiên cứu.

2.5.1 Đặc điểm chung bệnh nhân nghiên cứu

- Tuổi, cân nặng, chiều cao, BMI

- Thời gian phẫu thuật (phút)

- Lượng thuốc giảm đau (Fentanyl) dùng trong phẫu thuật

2.5.2 Biến số và chỉ số đánh giá mức độ đau.

- Điểm VAS: tại các thời điểm nghiên cứu bao gồm:

 VAS khi nghỉ - nằm yên

 VAS Khi vận động: Khi bệnh nhân co chân, thay đổi tư thế, đilại, ho

- Mức độ hài lòng của bệnh nhân với phương pháp giảm đau: Có 3 mức độ

- Tác dụng giảm đau sau phẫu thuật: Ở cả hai nhóm

+ Số lượng bệnh nhân phải giải cứu đau bằng tiêm morphin dưới da.+ Số lần bấm PCA và lượng Morphine sử dụng giải cứu đau

- Mức độ tê bì hai chân và liệt vận động: theo thang điểm Bromage

2.5.3 Biến số và chỉ số liên quan tới tác dụng không mong muốn.

- Ảnh hưởng trên tuần hoàn: Tần số tim và HA trung bình

Trang 20

- Ảnh hưởng trên hô hấp: Đếm Tần số thở - Đo SpO2

- Các tác dụng không mong muốn khác:

+ Buồn nôn và nôn: Đánh giá theo 4 mức độ

+ Chóng mặt: Xác định định tính có hoặc không

+ Đau đầu: Xác định định tính có hoặc không

+ Ngứa: Xác định định tính có hoặc không

+ Bí tiểu: Xác định định tính có hoặc không

2.5.4 Một số tiêu chuẩn và định nghĩa khác sử dụng trong nghiên cứu:

- Phân loại sức khỏe theo ASA: Gồm 5 mức độ:

Trang 21

+ Rất hài lòng: Đau nhẹ hoặc không đau, thoải mái, dễ chịu trong suốt quátrình tiến hành giảm đau sau phẫu thuật, không có tác dụng không mong muốn.+ Hài lòng: Còn đau nhẹ hoặc có tác dụng không mong muốn nhưngthoáng qua, ít gây khó chịu và chấp nhận được Bệnh nhân sẽ tiếp tục chọnphương pháp giảm đau đang dùng nếu có phẫu thuật lần sau.

+ Không hài lòng: Đau nhiều và hoặc có tác dụng không mong muốngây lo lắng, khó chịu nhiều Bệnh nhân không muốn dùng lại phương phápgiảm đau đang dùng nếu được lựa chọn

- Buồn nôn và nôn: Đánh giá theo 4 mức độ[24]:

+ Độ I: Không buồn nôn, không nôn

+ Độ II: Chỉ buồn nôn, không nôn

+ Độ III: Buồn nôn và nôn ít (≤ 3 lần/ ngày)

+ Độ IV: Buồn nôn và nôn nhiều (> 3 lần/ ngày)

- Mức phong bế: (Vùng phong bế) Theo sơ đồ phân bố của Scott.D.B[27] + T12: Mất cảm giác đau từ vùng bện chở xuống

+ T11: Mất cảm giác đau từ vùng giũa rốn và nếp lằn bẹn trở xuống + T10: Mất cảm giác đau từ vùng rốn trở xuống

+ T9-8-7-6: Mất cảm giác đau từ vùng trên rốn và mũi ức trở xuống -Mức độ tê bì và liệt vận động: Thang điểm Bromage[28]

+ Mo: Không liệt

+ M1: Không nhấc được cẳng chân duỗi thẳng lên khỏi giường + M2: Không co dược khớp gối nhưng vẫn cử động được bàn chân + M3: Bàn chân không cử động được

+ M4: Các ngón chân không cử động được

2.6 Xử lý số liệu

Trang 22

- Các kết quả nghiên cứu được được xử lý theo phương pháp thống kê yhọc bằng phần mền SPSS 20.0.

- Các số liệu được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình ( X ), Độ lệchchuẩn (SD), tỷ lệ ( %)

- Giá trị p < 0,05 được coi là khác biệt có ý nghĩa thống kê

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi được đồng ý của bệnh nhân và giađình bệnh nhân

- Nghiên cứu được sự đồng ý của hội đồng khoa học Bệnh viện Phụ SảnTrung Ương

- Thuốc giảm đau morphine và kỹ thuật PCA đã được phép sử dụng vànghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ở nhiều nước trên thế giới và nhiều bệnhviện lớn ở Việt Nam nên đảm bảo tính an toàn và hiệu quả

- Các số liệu thu thập của nghiên cứu chỉ sử dụng cho mục đích khoahọc Các thông tin liến quan đến bệnh nhân được giữ bí mật Mục đích củanghiên cứu nhằm đánh giá mức độ đau sau phẫu thuật điều trị đau sau phẫuthuật hiệu quả hơn, giảm các tỷ lệ biến chứng và các tác dụng không mongmuốn, giúp cho bệnh nhân mau hồi phục, nâng cao chất lượng phẫu thuật

- Trường hợp bệnh nhân không tham gia nghiên cứu sẽ được gây mê vàphẫu thuật, điều trị giảm đau sau phẫu thuật theo phác đồ điều trị thường quytại bệnh viện Bệnh nhân có quyền từ chối hoặc ngừng tham gia nghiên cứu ởbất kỳ thời điểm nào

Trang 23

Bệnh nhân nghiên cứu

(n=80)

Phẫu thuật nội soi cắt TCHT

Nhóm 1: Ropivacain0,1% và Fentanyl (n=40)Nhóm 2: Ropivacain0,125% và Fentanyl (n=40)

Kết luận

- Tác dụng giảm đau sau phẫu thuật của Ropivacain 0,1% - 0,125% kết hợp Fentanyl 1mcg/ml

- Một số tác dụng không mong muốn của phương pháp giảm đau trên

Các chỉ tiêu nghiên cứu

- Đặc điểm chung bệnh nhân nghiên cứu

- Tác dụng giảm đau 72 giờ sau phẫu thuật của 2 nhóm nghiên cứu

- Tác dụng không mong muốn 72 giờ sau phẫu thuật

SƠ ĐỒ 2.1 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 20/08/2019, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. McCaffery, M., K. Herr, and C. Pasero (2011). Assessment Tools. Pain assessment and pharmacologic management, C. Pasero and M.McCaffery, Editors, 49-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Pasero and M."McCaffery
Tác giả: McCaffery, M., K. Herr, and C. Pasero
Năm: 2011
15. Stephen McMahon Martin Koltzenburg Irene Tracey Dennis Turk (2013). Pain Measurement in Adult Patients. Wall &amp; Melzack’s Textbook of Pain - 6th Edition. 301-314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wall & Melzack’s Textbookof Pain - 6th Edition
Tác giả: Stephen McMahon Martin Koltzenburg Irene Tracey Dennis Turk
Năm: 2013
26. Wilson S.L., Vaughan R.W., and Stephen C.R. (1975). Awareness, dreams, and hallucinations associated with general anesthesia. Anesth Analg54(5), 609-617 Sách, tạp chí
Tiêu đề: AnesthAnalg
Tác giả: Wilson S.L., Vaughan R.W., and Stephen C.R
Năm: 1975
27. Favarel J.F., Sztark F., Petitjiean M.E. (1996), “Heamodynamic effects of spinal anesthesia in the elderly: single dose versus titration through a catheter”, Anesth-Analg, 80, pp.312-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Heamodynamic effects ofspinal anesthesia in the elderly: single dose versus titration through acatheter
Tác giả: Favarel J.F., Sztark F., Petitjiean M.E
Năm: 1996
28. Green N.M. (1985), “ Distribution of local ane sthetic solution within subarachnoid space”, Anesth- Analg, 64, pp. 715-730 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Distribution of local ane sthetic solution withinsubarachnoid space
Tác giả: Green N.M
Năm: 1985
29. Bộ môn Giải phẫu, Trường Đại học y Hà Nội (1994). Giải phẫu học, Nhà xuất bản y học.Tập 2, 168 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu học
Tác giả: Bộ môn Giải phẫu, Trường Đại học y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản y học.Tập 2
Năm: 1994
12. Nguyễn Toàn Thắng (2006), Đánh giá hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật bụng và tác dụng không mong muốn của Fentanyl, Morphin, Morphin- Ketamin tĩnh mạch theo phương pháp bệnh nhân tự kiểm soát, Luận án Tiến sỹ, Đại học Y Hà Nội Khác
13. Lê Toàn Thắng (2006), Nguyên cứu tác dụng giảm đau dự phòng sau mổ bụng trên của Nefopam truyền tĩnh mạch trước mổ ở các bệnh nhân có dùng PCA với Morphin sau mổ, Luận văn thạc sỹ, Đại học Y Hà Nội Khác
16. Welchek C.M (2009). Qualitative and Quantitative Assessment of Pain.Acute Pain Management. Cambridge University Press, 147-170 Khác
17. Gabriella, M G. Shorten (2006). Clinical assessment of postoperative pain. Postoperative Pain Management. Editors, W.B. Saunders:Philadelphia, 102-108 Khác
18. Hudcova J., McNicol N Quah B et al. (2006). Patient controlled °pioid analgesia versus conventional opioid analgesia for postoperative pain.Cochrane Database Syst Rev, (4), CD003348 Khác
19. Aubrun F., Monsel I Langeron o., et al. (2002). Postoperative titration of intravenous morphine in the elderly patient. Anesthesiology, 96(1), 17-23 Khác
20. NA McKeen M.J. and Quraishi S.A. (2013). Clinical review of intravenous opioids in acute care. J Anesthesiol Clin Res, 2(1), 1 Khác
22. Remérand F., Le Tendre O., Rosset P., et al. (2013). Nefopam after total hip arthroplasty: role in multimodal analgesia. Orthop Traumatol Surg Res OTSR, 99(2), 169-174 Khác
23. Kim E.M., Jeon J.H., Chung M.H., et al. (2017). The Effect of Nefopam Infusion during Laparascopic Cholecystectomy on Postoperative Pain.Int JMed Sci, 14(6), 570-577 Khác
24. Apfel C.C., Greim C.A., Haubitz I., et al. (1998). A risk score to predict the probability of postoperative vomiting in adults. Acta Anaesthesiol Scand, 42(5), 495-501 Khác
25. S. Sessler C.N., Jo Grap M., and Ramsay M.A. (2008). Evaluating and monitoring analgesia and sedation in the intensive care unit. Crit Care, 12(Suppl H S2 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w